1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của vốn xã hội trong việc ứng phó với thiên tai của các cộng đồng đô thị ven biển khu vực nam trung bộ

160 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ sự chia sẻ các tri thức dân gian về khí hậu và sự am hiểu về cây cối nên những người dân vùng lũ lụt nhanh trí sử dụng các ưu điểm của thân cây chuối để buộc lại với nhau để làm bè đ

Trang 1

KHOA ĐÔ THỊ HỌC

******

CHU HUỲNH THẢO ANH

VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG VIỆC ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG ĐÔ THỊ VEN BIỂN KHU VỰC

NAM TRUNG BỘ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Nam)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH ĐÔ THỊ HỌC

MÃ NGÀNH: 60.58.01.08

Người hướng dẫn khoa học

TS SƠN THANH TÙNG

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔ THỊ HỌC

******

CHU HUỲNH THẢO ANH

VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG VIỆC ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG ĐÔ THỊ VEN BIỂN

KHU VỰC NAM TRUNG BỘ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Nam)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH ĐÔ THỊ HỌC

MÃ NGÀNH: 60.58.01.08

Người hướng dẫn khoa học

TS SƠN THANH TÙNG

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Sơn Thanh Tùng – người hướng dẫn khoa học rất tận tụy, hết lòng giúp đỡ, định hướng cho tôi ngay từ những ngày đầu tiên lên ý tưởng nghiên cứu Cảm ơn Thầy luôn tạo điều kiện thuận lợi, luôn động viên, khích lệ và có những góp ý cụ thể giúp tôi có hướng nghiên cứu phù hợp và hoàn thiện luận văn tốt nhất

Tôi xin cảm ơn đội ngũ cán bộ đang công tác tại tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là khu vực huyện Điện Bàn, thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An đã hỗ trợ thông tin, số liệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thực hiện nghiên cứu tại địa phương Xin chân thành cảm ơn các hộ gia đình tại địa phương đã nhiệt tình cung cấp thông tin, dữ liệu và hỗ trợ cho việc thực hiện quá trình nghiên cứu, khảo sát của tôi

Tôi cũng vô cùng biết ơn quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Đô thị học đã luôn nhiệt tình và tận tâm giảng dạy những kiến thức bổ ích Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô tại Khoa Đô thị học và các bạn đồng môn lớp Cao học Đô thị học, cơ quan Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố

Hồ Chí Minh, đồng nghiệp và bạn bè thân thiết đã hỗ trợ, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ba Mẹ

và gia đình đã yêu thương, luôn ủng hộ và là điểm tựa vững chắc cho con

Tác giả đã thực hiện luận văn này với sự cố gắng tuyệt đối và hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên, do sự hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu cũng như về mặt thời gian nên chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận ra

Do đó, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn

Tác giả

Chu Huỳnh Thảo Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả, thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Sơn Thanh Tùng – Giảng viên hướng dẫn khoa học Tác giả cam kết không vi phạm đạo đức khoa học và các quy định của nhà nước Việt Nam cũng như quốc tế về luật sở hữu trí tuệ và luật bản quyền

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 11 năm 2020

Tác giả

Chu Huỳnh Thảo Anh

Trang 5

xã hội trong phòng chống thiên tai của cộng đồng đô thị ven biển tỉnh Quảng Nam được đánh giá là khá hiệu quả, các nhóm xã hội luôn hỗ trợ để chia sẻ kinh nghiệm, thông tin cũng như hỗ trợ tích cực lẫn nhau trước, trong và sau thiên tai Từ đó, hình thành nên một nguồn vốn xã hội trong cộng đồng đô thị khá vững chắc và có vai trò quan trọng khi thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trang 6

ABSTRACT

Quảng Nam is one of the provinces which faces many natural disasters every year in Vietnam Therefore, there is a special interest in the establishment and development of social capital for supporting citizens when it happens However, the definition of social capital in urban communities is not popular in Vietnam, although the material and spiritual aids seem familiar in their enter life The study

“ Social capital role into the responsiveness with natural disasters in the coastal urban communities in the South Central (Case study in Quang Nam province) was showed that the social network in an urban area is very diversity that including bloody relationship (family, relatives) til neighbors, friendship, and government or organization relationship However, a family relationship is the main role in these networks Considering the truth and cooperation, the citizen is truer in the bloody relationship than the government because their cooperation with the organizers or government is still weak The compatriots and clans are the main parts of the social capital in Quang Nam In general, social capital when disasters happen is used effectively, the social networks always support each other to share the natural disaster's experiences, or information, or even labor, spiritually within and without disasters In conclusion, the social capital role in coastal urban communities in Quang Nam is so important when facing natural disasters

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

- ASEAN: The Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

- BĐKH: Biến đổi khí hậu

- ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

- FAO: Food and Agriculture Organization – Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

- GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

- IOM: International Organization for Migration – Tổ chức Di cư Quốc tế

- UBND: Ủy ban nhân dân

- UNDP: United Nations Development Programme – Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNICEF: United Nations International Children's Emergency Fund – Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

- USAID: United States Agency for International Development – Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

Trang 8

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC BẢNG 6

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Đối tượng nghiên cứu 12

3.2 Khách thể nghiên cứu 13

3.3 Phạm vi nghiên cứu 13

4 Câu hỏi nghiên cứu 13

5 Khung phân tích 13

6 Ý nghĩa đề tài 14

6.1 Tính khoa học 14

6.2 Tính thực tiễn 14

7 Kết cấu 15

7.1 Phần mở đầu 15

7.2 Phần nội dung 15

7.3 Phần kết luận 15

8 Quy cách trình bày nội dung đề tài 15

PHẦN NỘI DUNG 18

Trang 9

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 18

1.1 Các khái niệm 18

1.1.1 Tổng quan về định nghĩa vốn xã hội trên thế giới 18

1.1.2 Đo lường vốn xã hội 22

1.1.3 Khái niệm mạng lưới xã hội 26

1.1.4 Khái niệm niềm tin 27

1.1.5 Sự tham gia xã hội 28

1.1.6 Các loại vốn xã hội 29

1.1.7 Khái niệm cộng đồng đô thị 32

1.1.8 Các khái niệm liên quan đến thiên tai 32

1.2 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu 33

1.2.1 Công tác phòng chống, giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai 33

1.2.2 Vốn xã hội trong ứng phó thiên tai 34

1.2.2.1 Trên thế giới 34

1.2.2.2 Tại Việt Nam 37

Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU & ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 40

2.1 Phương pháp nghiên cứu 40

2.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu 40

2.1.2 Phương pháp định lượng 40

2.1.3 Phương pháp định tính 41

2.2 Mô tả khu vực tiến hành khảo sát: 42

2.2.1 Vị trí địa lý 42

2.2.2 Đặc điểm kinh tế của tỉnh Quảng Nam 45

2.2.3 Thống kê dân số và nguồn nhân lực 46

Trang 10

2.2.4 Giao thông và cơ sở hạ tầng 47

2.2.5 Tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng phát triển 49

2.2.6 Văn hóa – Xã hội 52

2.2.7 Làng nghề truyền thống 53

2.3 Sơ lược về các khu vực tiến hành phỏng vấn, điều tra 54

2.3.1 Sơ lược về thành phố Hội An 54

2.3.2 Sơ lược về thành phố Tam Kỳ 55

2.3.3 Sơ lược về huyện Điện Bàn 57

2.4 Tình hình thiên tai của tỉnh Quảng Nam 59

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 69

3.1 Nhận diện vốn xã hội tại tỉnh Quảng Nam 69

3.1.1 Thông tin nhân khẩu học 69

3.1.1.1 Giới tính 69

3.1.1.2 Độ tuổi 70

3.1.1.3 Trình độ học vấn 71

3.1.1.4 Nghề nghiệp 72

3.1.1.5 Thời gian sống tại địa phương 73

3.1.1.6 Thành phần tôn giáo 74

3.1.2 Nhận diện mạng lưới xã hội 75

3.1.3 Nhận diện niềm tin 85

3.1.4 Nhận diện sự tham gia xã hội 92

3.2 Vai trò của vốn xã hội trong ứng phó thiên tai 102

3.2.1 Thiên tai và tác động của thiên tai 102

3.2.2 Vai trò của vốn xã hội trong việc giảm nhẹ tác động của thiên tai 106

Trang 11

3.2.3 Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của vốn xã hội trong việc ứng phó

với thiên tai của cộng đồng dân cư ven biển 116

PHẦN KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN 139

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 151

Trang 12

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Tóm tắt các bộ tiêu chí đo lường VXH 23 Bảng 1.2 Tóm tắt việc đo lường đặc điểm MLXH 24 Bảng 1.3 Tóm tắt các công cụ đo lường nguồn lực MLXH 24 Bảng 3.1 Phân bố tỉ lệ phần trăm giới tính của người dân tham gia vào các tổ

tỉnh Quảng Nam 80

Bảng 3.6 Mô tả mối quan hệ với láng giềng 82 Bảng 3.7 Tỷ lệ phần trăm về niềm tin của người dân vào các tổ chức đoàn

thể tồn tại trong MLXH của người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 88

Bảng 3.8 Niềm tin của người dân vào sự minh bạch của các tổ chức 90 Bảng 3.9 Số lượng người tham gia vào các lĩnh vực xã hội 93 Bảng 3.10 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động thể dục thể thao,

sở thích, giải trí 94

Bảng 3.11 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động Phòng chống

thiên tai 95

Bảng 3.12 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động Quản lý thủy lợi,

nguồn nước, bảo vệ môi trường 95

Bảng 3.13 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động xúc tiến nông

nghiệp, trồng trọt, quản lý sinh kế 96

Trang 13

Bảng 3.14 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động Sản xuất đồ thủ

công 96

Bảng 3.15 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động Các hoạt động ở

nơi làm việc (công đoàn, đoàn thể ở cơ quan) 97

Bảng 3.16 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động Phòng chống tội

phạm 97

Bảng 3.17 Tần suất tham gia của người dân vào hoạt động khác 98 Bảng 3.18 Lợi ích của những hoạt động xã hội mà người dân tham gia 98 Bảng 3.19 Mô tả dữ liệu số lượng và tỷ lệ các tổ chức trong MLXH của

người dân địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phân theo giới tính nam nữ 101

Bảng 3.20 Ảnh hưởng của thiên tai tại khu vực nghiên cứu 103

Trang 14

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính của tỉnh Quảng Nam 42

Hình 2.2 Bản đồ thành phố Hội An 54

Hình 2.3 Bản đồ thành phố Tam Kỳ 55

Hình 2.4 Bản đồ huyện Điện Bàn 57

Hình 2.5 Nhiều nhà dân ở thành phố Tam Kỳ bị ngập sâu 65

Hình 2.6 Thành phố Tam Kỳ chìm trong nước 66

Hình 2.7 Lúa ở huyện Quế Sơn bị ngã đổ do lốc xoáy 67

Hình 3.1 Phân bố trình độ học vấn của người được phỏng vấn tại Quảng Nam 71

Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ phần trăm người dân tham gia vào các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 74

Hình 3.3 Mức độ tiếp xúc của các mối quan hệ trong MLXH 76

Hình 3.4 Mức độ quan trọng của các mối quan hệ tồn tại trong MLXH tại tỉnh Quảng Nam 77

Hình 3.5 Đánh giá chung của các cá nhân về niềm tin đối với người khác 86

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện sự quan trọng trong niềm tin giữa người với người 87

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện lòng tin người khác sẽ giúp đỡ mình khi gặp khó khăn 87 Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện tần suất tham gia các hoạt động xã hội 92

Hình 3.9 Dự định của người dân vào việc tham gia vào các hoạt động xã hội trong tương lai 99

Hình 3.10 Đánh giá mức độ tích cực của hoạt động nhóm xây dựng trên cơ sở liên kết hàng xóm láng giềng 100

Hình 3.11 Thiệt hại về tài chính của các hộ gia đình sau thiên tai 106

Hình 3.12 Nguồn hỗ trợ phục hồi sau thiên tai 109

Hình 3.13 Mức độ niềm tin khi gặp thiên tai sẽ được giúp đỡ từ các tổ chức 113

Hình 3.14 Thời gian phục hồi sau thiên tai 115

Hình 3.15 Hiệu quả của các biện pháp giảm thiểu thiệt hại của thiên tai 116

Hình 3.16 Mức độ trông cậy vào các cá nhân/tổ chức khi xảy ra thiên tai 121

Trang 15

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thiên tai vẫn là một trong những vấn đề đáng quan ngại nhất trên thế giới, có sức tàn phá khủng khiếp đối với loài người nhiều hơn cả nạn khủng bố Động đất ở Haiti năm 2010 làm thiệt mạng 230000 người; động đất ở Chile năm 2010 cướp đi

700 người và động đất kết hợp sóng thần tại Nhật năm 2011 làm chết khoảng 16000 người và hơn 2000 người mất tích (Aldrich, 2010) Tần suất xuất hiện thiên tai ngày càng nhiều hơn cùng với sự xuất hiện của hiện tượng biến đổi khí hậu

Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng

nề của thiên tai hằng năm Bão và lũ lụt là hai dạng thiên tai xuất hiện thường xuyên

và tạo ra nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân trong vùng thiên tai xuất hiện Với hơn 300 000 km bờ biển, các vùng ven biển là khu vực tiếp nhận hầu hết các đợt thiên tai xảy ra vì vậy dân cư ven biển được xem là nhóm cộng đồng dễ bị tổn thương nhất, trong đó có cộng đồng sinh sống tại các khu vực Nam Trung Bộ

Theo UBND tỉnh Quảng Nam, tính đến chiều 30/10/2020, toàn tỉnh Quảng Nam có 22 người chết, 46 người bị thương và 24 người mất tích do ảnh hưởng của cơn bão số 9 (Molave) Bão số 9 gây thiệt hại hoàn toàn 2372 căn nhà, 748 nhà thiệt hại 50 – 70%, 1 893 nhà thiệt hại 30 – 50%; 14725 nhà hư hỏng một phần Nhiều trường học, nhà công vụ giáo viên, học sinh, trạm y tế bị tốc mái, khoảng 465 ha diện tích hoa, rau màu, 7580 ha cây keo, 90 ha cây ăn quả bị đổ ngã Mưa lũ đã làm tỉnh Quảng Nam thiệt hại khoảng 1480 tỷ đồng

Trong công tác phòng chống thiên tai hay hồi phục các cộng đồng vừa trải qua thiên tai trên thế giới, ngay tại những quốc gia rất phát triển như ở Bắc Mỹ và Tây Âu, các chính phủ chủ yếu tập trung vào phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng

“cứng” hoặc cơ sở hạ tầng xã hội Quan điểm truyền thống cho rằng để cách tốt nhất để giúp đỡ một cộng đồng gặp thiên tai là hỗ trợ thật nhiều về tài chính và vật chất Tuy nhiên, Việt Nam có một lịch sử đáng khâm phục về việc đối mặt và giảm

Trang 16

nhẹ tác động của thiên tai bằng cách khai thác nguồn vốn xã hội Những mối quan

hệ xã hội của nó có khả năng tương trợ kịp thời trước các tình huống xảy ra trong đời sống, và khả năng ứng phó của mỗi gia đình là rất đáng ghi nhận Trước thiên tai, khi có những dự báo khí tượng, trong sự chuẩn bị ứng phó, người dân cần đến

sự tương hỗ nhau trong cộng đồng, trong dòng họ Trong trận bão lốc xoáy, sóng thần ở miền Trung Việt Nam, các gia đình đã biết hợp tác cùng nhau chuẩn bị các bao cát để chắn mái nhà, chia sẻ kỹ năng đào “hầm” tránh lốc xoáy, nhà đổ Nhờ sự chia sẻ các tri thức dân gian về khí hậu và sự am hiểu về cây cối nên những người dân vùng lũ lụt nhanh trí sử dụng các ưu điểm của thân cây chuối để buộc lại với nhau để làm bè đi lại, kiếm thức ăn… Sau thiên tai, đứng trước những rủi ro, thiệt hại và mất mát, VXH - qua các mối quan hệ của hệ thống mạng lưới bên trong gồm thân tộc, dòng họ, trong cộng đồng hạt nhân là các tổ chức xã hội có thể hoạt động theo hình thức tương hỗ, chia sẻ khó khăn, hoặc với các quan hệ của mạng mở rộng giữa các cộng đồng lớn, có khả năng trợ giúp nhanh hoặc như hoạt động của các tổ chức thiện nguyện Trong đó, một trong những khía cạnh quan trọng trong công tác chuẩn bị ứng phó với thiên tai của người dân chính là sự tham gia tích cực của họ vào các khóa tập huấn về ứng phó với rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng do chính quyền địa phương tổ chức, cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế khác nhau Bằng cách thiết kế các khóa tập huấn dựa trên kinh nghiệm của người dân về cách đối phó với thiên tai, họ đã hướng mục tiêu vào sự tham gia của cộng đồng là nhân

tố chính của thành công Như vậy, những thay đổi khắc nghiệt của thời tiết không phải lúc nào cũng dẫn tới thảm họa, mà những cố gắng và nỗ lực của cả một cộng đồng mới là yếu tố quan trọng nhất để ứng phó với thiên tai, giảm bớt thiệt hại về người và tài sản, và phục hồi nhanh hơn, hay nói cách khác “người dân chính là cứu tinh của chính mình” Theo đó, VXH chính là những giá trị tinh thần tồn tại trong cộng đồng

Bên cạnh đó, hiện nay Chính phủ Việt Nam đã xây dựng “Chiến lược quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến 2020” Chiến lược này nhấn mạnh đến phương pháp tiếp cận quản lý thiên tai tổng hợp với sự tham gia của cộng đồng Do

Trang 17

đó, mối quan hệ xã hội, cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng – một thành tố của VXH - đóng vai trò quan trọng trong ứng phó với thiên tai, kể cả giai đoạn trước, trong và sau khi sự kiện xảy ra Vì vậy, tác giả chọn hướng tiếp cận này nhằm nhận

diện và đánh giá “Vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của các cộng

đồng đô thị ven biển khu vực Nam Trung Bộ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Nam)” phù hợp với thực tiễn của đất nước và kế hoạch hành động của chính

phủ

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng dân cư đô thị ven biển Mục tiêu tổng quát được thể hiện bằng các mục tiêu cụ thể như sau:

1 Nhận diện VXH tại cộng đồng dân cư đô thị ven biển tại khu vực nghiên cứu

2 Phân tích vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng

đô thị tại khu vực nghiên cứu

3 Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng dân cư đô thị ven biển tại khu vực nghiên cứu nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm và các yếu tố liên quan đến VXH của các cộng đồng tại khu vực chịu tổn thương bởi thiên tai: mạng lưới xã hội (MLXH), Niềm tin (niềm tin), và sự tham gia

- Phân tích - đánh giá vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

- Nhận diện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành VXH của cộng đồng trong việc ứng phó với thiên tai

Trang 18

- Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của VXH trong điều kiện của các cộng đồng dân cư đô thị ven biển khu vực nghiên cứu nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng dân cư ven biển Cụ thể hóa đối tượng trên, tác giả

đã nghiên cứu vai trò của VXH thông qua những yếu tố như: các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, các MLXH trong cộng đồng, và tương tác xã hội, các thể chế trong cộng đồng bao gồm thói quen, cách hành xử, lòng tin, thái độ và giá trị… được chấp nhận trong cộng đồng

Vì có nhiều quan điểm khác nhau về VXH nên việc xác định tiêu chí đo lường VXH cho đề tài này đòi hỏi sự tham khảo các quan điểm này cũng như bối cạnh đặc thù của cộng đồng đô thị được nghiên cứu Trên thế giới đã có nhiều học giả đưa ra các chỉ tiêu đo lường VXH Tác giả tập trung vào các chủ đề chính sau đây:

1 Sự tham gia xã hội

2 Các MLXH, tương trợ và tương tác xã hội

3 Niềm tin và sự gắn kết xã hội

Đối với chủ đề thứ nhất, các tiêu chí đo lường sẽ bao gồm sự tham gia của cá nhân vào các tổ chức xã hội, và vào các hoạt động xã hội - chính trị Chủ đề thứ hai bao gồm các tiêu chí sau: mối quan hệ tình thân và gia đình, các hệ thống tương trợ

và sự sâu sắc trong các mối quan hệ cá nhân Chủ đề thứ ba bao gồm các tiêu chí: niềm tin của cá nhân vào sự công bằng trong đời sống xã hội, nhận thức về sự phân biệt đối xử, niềm tin vào người khác và vào các thiết chế xã hội, dịch vụ công và các giá trị chung trong cộng đồng đô thị

Trang 19

3.2 Khách thể nghiên cứu

Để nhận diện và đánh giá vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai tại các cộng đồng đô thị ven biển khu vực tỉnh Quảng Nam trên phương diện nêu lên vai trò của VXH và đưa ra các giải pháp nâng cao vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng dân cư đô thị ven biển tại khu vực nghiên cứu nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung, tác giả tập trung khảo sát những khách thể nghiên cứu như sau:

- Cộng đồng đô thị tại các địa bàn của đề tài là tỉnh Quảng Nam

- Các thành viên của các MLXH tại cộng đồng đô thị

- Các cán bộ của chính quyền địa phương

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại cộng đồng đô thị tại khu vực huyện Điện Bàn, thành phố Tam Kỳ, và thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Đây là các khu đô thị nằm trong vùng Nam Trung Bộ thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề từ các trận bão và lũ lụt hàng năm

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi chung: Vai trò của VXH trong việc ứng phó với thiên tai của các cộng đồng đô thị ven biển khu vực tỉnh Quảng Nam là gì?

5 Khung phân tích

Trang 20

Khung 1: Khung phân tích của đề tài – Nguồn: Tác giả, 12/2018

6 Ý nghĩa đề tài

6.1 Tính khoa học

Đề tài cung cấp những kiến thức tổng hợp để nhận diện khái niệm VXH của cộng đồng đô thị trong hoạt động ứng phó và hồi phục sau thiên tai, từ đó nghiên cứu vai trò của VXH nhằm ứng phó với thiên tai của cộng đồng đô thị khu vực ven biển vùng Nam Trung Bộ Đã có một số nghiên cứu về VXH trước đó, tuy nhiên tính mới của đề tài là đây chính là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu về yếu

tố VXH dành cho cộng đồng đô thị khu vực ven biển Nam Trung Bộ trong ứng phó thiên tai

6.2 Tính thực tiễn

Đề tài cung cấp thông tin và các phân tích có tính ứng dụng cao cho người dân và chính quyền trong việc sử dụng VXH nhằm ứng phó với thiên tai Những nội dung này giúp khai thác và tận dụng các tiềm lực của VXH trong cộng đồng đô thị, giảm thiểu nguy cơ tổn thương từ ảnh hưởng của thiên tai và nâng cao khả năng ứng phó, khả năng đàn hồi trước các tác động của thiên tai

Trang 21

7 Kết cấu

Nội dung nghiên cứu của đề tài được kết cấu thành 03 phần và 03 chương

với nội dung từng chương, từng phần như sau:

7.1 Phần mở đầu

Phần mở đầu bao gồm những nội dung cơ bản của một bài nghiên cứu: lý do chọn đề tài; tình hình nghiên cứu; mục đích và mục tiêu của đề tài; đối tượng, khách thể, phạm vi và nội dung nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu của đề tài

7.2 Phần nội dung

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU & ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

7.3 Phần kết luận

Để tổng kết nội dung đề tài và kết quả nghiên cứu, phần kết luận tóm tắt ngắn gọn và đầy đủ những thông tin đã được đề cập, nhấn mạnh việc hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Đánh giá kết quả về mặt thực tiễn và chất lượng của đề tài nghiên cứu

8 Quy cách trình bày nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài tập trung vào phần nội dung nghiên cứu chính gồm 3 chương

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Tổng quan về định nghĩa vốn xã hội trên thế giới

1.1.2 Đo lường vốn xã hội

1.1.3 Khái niệm mạng lưới xã hội

1.1.4 Khái niệm niềm tin

Trang 22

1.1.5 Sự tham gia xã hội

1.1.6 Các loại vốn xã hội

1.1.7 Khái niệm cộng đồng đô thị

1.1.8 Các khái niệm liên quan đến thiên tai

1.2 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về thiên tai ở Việt Nam

1.2.2 Vốn xã hội trong ứng phó thiên tai

1.2.2.1 Trên thế giới

1.2.2.2 Tại Việt Nam

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu

2.1.2 Phương pháp định lượng

2.1.3 Phương pháp định tính

2.2 Mô tả khu vực tiến hành khảo sát

2.2.1 Vị trí địa lý

2.2.2 Đặc điểm kinh tế của tỉnh Quảng Nam

2.2.3 Thống kê dân số và nguồn nhân lực

2.2.4 Giao thông và cơ sở hạ tầng

2.2.5 Tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng phát triển

2.2.6 Văn hóa – Xã hội

2.2.7 Làng nghề truyền thống

2.3 Sơ lược về các khu vực tiến hành phỏng vấn, điều tra

2.3.1 Sơ lược về thành phố Tam Kỳ

Trang 23

2.3.2 Sơ lược về thành phố Hội An

2.3.3 Sơ lược về huyện Điện Bàn

2.4 Tính hình thiên tai của tỉnh Quảng Nam

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nhận diện vốn xã hội tại tỉnh Quảng Nam

3.1.1 Thông tin nhân khẩu học

3.1.2 Nhận diện mạng lưới xã hội

3.1.3 Nhận diện niềm tin

3.1.4 Nhận diện sự tham gia xã hội

3.2 Vai trò của vốn xã hội trong ứng phó thiên tai

3.2.1 Thiên tai và tác động của thiên tai

3.2.2 Vai trò của vốn xã hội trong việc giảm nhẹ tác động của thiên tai

3.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của vốn xã hội trong việc ứng phó với thiên tai của cộng đồng dân cư ven biển

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 24

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Tổng quan về định nghĩa vốn xã hội trên thế giới

VXH là một khái niệm đa chiều phức tạp bao gồm nhiều thành phần của hệ thống giá trị văn hóa và xã hội Gần đây, nó đã trở thành một khái niệm rất phổ biến

và hấp dẫn trong các nhà khoa học xã hội Ngày càng nhiều nhà xã hội học, nhà nhân chủng học, nhà khoa học chính trị và nhà kinh tế học đã sử dụng khái niệm này để giải thích các kết quả kinh tế và xã hội khác nhau Khái niệm cơ bản của VXH là kết hợp các yếu tố văn hóa xã hội để giải thích kết quả phát triển Nó đã nổi lên như một chủ đề thảo luận nổi bật giữa các học giả, chuyên gia phát triển và các nhà hoạch định chính sách Khái niệm VXH chỉ được chú ý vào cuối những năm

1980 và thu hút sự quan tâm nghiên cứu ngày càng tăng sau đó Các nghiên cứu khoa học về VXH là tương đối mới, nhưng sự phát triển của các nghiên cứu về chủ

đề này là rất lớn Mặc dù số lượng nghiên cứu đồ sộ, nhưng lại không có định nghĩa duy nhất, phổ quát về VXH Nó thường được định nghĩa và đo lường theo kiểu thực dụng và không hệ thống (van Schaik, 2002) Sự quan tâm ngày càng tăng và nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã điều chỉnh tốt khái niệm và phương pháp

đo lường Hiện nay, đã có một số nhất quán về khái niệm hóa và các thành phần chính của VXH VXH là một ý tưởng trừu tượng hơn là một hiện tượng hữu hình vững chắc Lý thuyết về VXH đặc biệt bắt nguồn từ khái niệm sự tin cậy, chuẩn mực và MLXH không chính thức và nó tin rằng “quan hệ xã hội là tài nguyên quý giá” VXH được định nghĩa rộng rãi là một hiện tượng đa chiều bao gồm một loạt các chuẩn mực xã hội, giá trị, niềm tin, nghĩa vụ, mối quan hệ, MLXH, bạn bè, thành viên, sự tham gia của công dân, luồng thông tin và các tổ chức thúc đẩy hợp tác và hành động tập thể để cùng có lợi và đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội

Lịch sử của khái niệm VXH có thể được bắt nguồn từ Karl Marx (1818−1883), Emile Durkheim (1858−1917), Georg Simmel (1858−1918), John

Trang 25

Dewey (1859−1952) và Max Weber ( 1864−1920); những học giả này nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế Cụ thể, theo Smith (2007), khái niệm VXH lần đầu tiên được Lyda J Hanifan đưa ra vào năm 1916 để giải thích tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng trong việc nâng cao thành tích học tập Rất lâu sau đó, khái niệm về VXH đã được một nhóm các nhà xã hội học Canada (Seely và cộng sự, 1956) đưa ra trong khi nghiên cứu các cộng đồng đô thị, một lý thuyết về tương tác xã hội được đưa ra bởi Homans (1961), trong khi thảo luận về cuộc sống đô thị và mối quan hệ láng giềng được đề cập bởi Jacobs (1961), và nghiên cứu phân phối thu nhập được nhắc tới bởi Loury (1977) Tất cả các tác giả này nhấn mạnh giá trị của các MLXH và cần phải bảo tồn chúng

Bourdieu phân biệt giữa ba hình thức vốn: kinh tế, văn hóa và xã hội Ông định nghĩa VXH là: “ tổng tài nguyên thực tế hoặc tiềm năng có liên quan đến việc sở hữu một MLXH bền vững của các mối quan hệ được thể chế hóa ít nhiều của sự quen biết và công nhận lẫn nhau, nói cách khác là các thành viên trong nhóm” (Bourdieu, 1986:248) Định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của MLXH, cơ hội và lợi thế có sẵn cho các thành viên trong nhóm Bourdieu coi VXH như một tài sản thuộc sở hữu chung mang lại cho các thành viên trong nhóm những lợi ích cá nhân và cả lợi ích tập thể Những lợi ích tích lũy từ tư cách thành viên trong một nhóm là cơ sở của sự đoàn kết Sự phong phú của VXH phụ thuộc vào quy mô của MLXH và vào khối lượng vốn (kinh tế, văn hóa…) trong các kết nối này sở hữu vốn được duy trì và củng cố miễn là các thành viên tiếp tục đầu tư vào các mối quan

hệ Định nghĩa của Bourdieu vào năm 1984 đã xác định ba yếu tố của VXH: (i) mối quan hệ xã hội cho phép các tác nhân có được quyền tiếp cận vào tài nguyên của các cộng sự của họ (tức là, đó là tài nguyên được sử dụng trong các kết nối xã hội); (ii) số lượng các tài nguyên được tạo ra bởi tổng số các mối quan hệ giữa các tác nhân, thay vì chỉ là một phẩm chất chung của nhóm; và (iii) chất lượng của các tài nguyên đó

Coleman (1990:302) định nghĩa VXH bằng chức năng của nó Nó không phải là một thực thể đơn lẻ, mà là sự kết hợp của các thực thể khác nhau có hai đặc

Trang 26

điểm chung: đó là một khía cạnh của cấu trúc xã hội và nó tạo điều kiện cho các hành động nhất định của các cá nhân nằm trong cấu trúc đó Các thực thể bao gồm nghĩa vụ, kỳ vọng, tin tưởng và luồng thông tin Đó là một nguồn lực sản xuất tạo điều kiện cho sản xuất và có thể đạt được những mục đích nhất định mà không thể

có được nếu không có VXH VXH kế thừa trong cấu trúc quan hệ giữa các chủ thể,

nó tạo điều kiện cho hành động của các tác nhân riêng lẻ và tạo thành cơ sở của VXH Những nỗ lực để trở thành thành viên trong một nhóm có thể được coi là đầu

tư hợp lý vào VXH Coleman xác định ba hình thức VXH: có đi có lại (bao gồm cả niềm tin), kênh thông tin và luồng thông tin, và các quy tắc được thi hành bằng sự chế tài Không giống như các hình thức vốn khác, nó không hoàn toàn có thể thay thế được qua các cá nhân hoặc hoạt động Hầu hết các hình thức vốn được phát triển thông qua các hành động kết hợp của các thành viên nhóm Đối với Coleman, VXH

là một lợi ích công cộng vì nó tồn tại trong mối quan hệ giữa người với người Đối với Bourdieu và Coleman, MLXH được xem là phương tiện để có thể duy trì và củng cố vốn tập thể

Robert Putnam đã đóng một vai trò nổi bật trong việc phổ biến khái niệm VXH Ông định nghĩa VXH là: “… các tính năng của tổ chức xã hội, chẳng hạn như niềm tin, chuẩn mực và MLXH có thể cải thiện hiệu quả của xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các hành động phối hợp” (Putnam, 1993:167) VXH đề cập đến các kết nối giữa các cá nhân, MLXH và các chuẩn mực về tính tương hỗ, độ tin cậy phát sinh từ họ (Putnam, 2000:18−19) Đối với ông, MLXH có giá trị và các mối liên hệ xã hội ảnh hưởng đến năng suất của các cá nhân và nhóm VXH có liên quan mật thiết đến “đạo đức công dân” Số hiệp hội và mức độ tham gia vào các hiệp hội

đó của công dân cho thấy sự phong phú của VXH trong một xã hội Theo nghĩa đó, VXH có liên quan chặt chẽ với sự tham gia của công dân, tham gia vào các tổ chức

tự nguyện và kết nối xã hội, thúc đẩy các chuẩn mực vững chắc về sự có đi có lại và tin tưởng MLXH tham gia của công dân tạo điều kiện cho hợp tác xã hội, phối hợp

và giao tiếp; tăng cường danh tiếng; do đó, các công việc tập thể khó khăn có thể được giải quyết VXH ảnh hưởng đến năng suất của các tác nhân (cá nhân và nhóm)

Trang 27

và nó sở hữu các đặc điểm của lợi ích công cộng Sự tích lũy của vốn (niềm tin, chuẩn mực và MLXH) được tích lũy trong việc sử dụng và sẽ giảm dần nếu chúng không được sử dụng

Một đóng góp đáng kể cho lý thuyết VXH đã được thực hiện bởi Francis Fukuyama, ông đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về VXH nhưng có sự khác biệt đáng kể Ông định nghĩa VXH về mặt niềm tin là: “ khả năng của mọi người làm việc cùng nhau vì các mục đích chung trong các nhóm và tổ chức” (Fukuyama, 1995:10) Ngoài ra, ông định nghĩa VXH đơn giản là sự tồn tại của một tập hợp các giá trị hoặc chuẩn mực không chính thức được chia sẻ giữa các thành viên của một nhóm cho phép sự hợp tác giữa họ (Fukuyama, 1995) Ông cho rằng niềm tin giữa các cá nhân là nền tảng cho các mối quan hệ xã hội xuất hiện Sự tin tưởng lẫn nhau cải thiện sự hợp tác giữa các cá nhân, giảm chi phí giao dịch và tăng các giao dịch trong kinh doanh Fukuyama nhấn mạnh vào các phẩm chất trong các mối quan hệ

xã hội (tin tưởng giữa các cá nhân, có đi có lại, các chuẩn mực và hiểu biết chung,

…), cho phép mọi người liên kết với người khác, và nó giúp phát triển VXH Sự đóng góp đáng kể của Fukuyama vào lý thuyết về VXH là ông đã cung cấp một phương tiện đơn giản nhất để đo lường VXH: niềm tin

Lin (2001:19) định nghĩa VXH là: “ đầu tư vào các mối quan hệ xã hội với lợi nhuận kỳ vọng trên thị trường” Theo đó, VXH là “ tài nguyên được sử dụng trong các MLXH được các cá nhân trong MLXH có quyền tiếp cận và sử dụng cho các hành động” (Lin, 2001:24−25) Khái niệm của Lin về VXH có cách tiếp cận cá nhân hơn Các cá nhân tham gia vào các tương tác và kết nối MLXH để tạo ra lợi ích Lin coi VXH như một tài sản xã hội nhờ vào sự kết nối của các cá nhân và tiếp cận các nguồn tài nguyên trong MLXH hoặc nhóm mà họ là thành viên

Robison và cộng sự (2002) đã định nghĩa VXH là: “ một người hay nhóm thông cảm với một người hoặc nhóm khác có thể tạo ra lợi ích, lợi thế và sự đối xử

ưu đãi cho một người hoặc nhóm người khác ngoài dự kiến trong mối quan hệ trao đổi.” Họ cho rằng định nghĩa này chứa các thuộc tính của vốn cổ điển Nó tách biệt

Trang 28

ở chỗ nó là gì (đồng cảm) với những gì nó làm (lợi ích tiềm năng) và tập trung vào khả năng biến đổi của vốn thể hiện trong các mối quan hệ của con người

Các tổ chức quốc tế lớn, đặc biệt là Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới đã áp dụng định nghĩa riêng của họ OECD (2001:41) định nghĩa VXH là: “ MLXH cùng với các chuẩn mực, giá trị và hiểu biết chung tạo điều kiện cho sự hợp tác trong hoặc giữa các nhóm.” Ngân hàng Thế giới có cái nhìn rộng hơn và định nghĩa VXH là: “ các thể chế, mối quan hệ và các chuẩn mực hình thành nên chất lượng và số lượng của một xã hội VXH không chỉ là tổng số các tổ chức làm nền tảng cho một xã hội Nó là chất keo gắn kết họ lại với nhau” (Word Bank, 2007)

Quibria (2003) đã xem xét các định nghĩa và các nhận xét khác nhau, kết luận rằng VXH là tài sản cá nhân xuất phát từ việc tiếp cận vào các MLXH và kết nối xã hội, trong khi những người khác coi đó là tài sản chung nằm trong một thực thể tập thể đồng nhất như một cộng đồng có lợi ích chung và các giá trị được chia sẻ Một số học giả khác đã tập trung vào sự tin tưởng và khoan dung, trong khi những người khác tập trung vào mức độ tham gia xã hội của công dân như là phương tiện của VXH Một số người khác đã nhấn mạnh các vấn đề về văn hóa và các chuẩn mực xã hội

1.1.2 Đo lường vốn xã hội

Như đã thấy, VXH là một khái niệm đa chiều và tùy theo cấp độ nghiên cứu

và lĩnh vực tương ứng mà tác giả sẽ chọn một khái niệm thống nhất Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, để xác định được chính xác khái niệm VXH một cách phù hợp nhất trong từng điều kiện sử dụng thì chúng ta cần có một thước đo để đo lường VXH cụ thể và rõ ràng vì điều này ảnh hưởng tới việc ứng dụng và đề ra các quy tắc trong một MLXH hình thành nên VXH Hiện nay đã có khá nhiều những nhà khoa học tiến hành nghiên cứu về đo lường VXH trên các quốc gia và thể giới Dưới đây sẽ là một số tóm lược về phương pháp đánh giá, đo lường về VXH và kết quả đã đạt được của các nghiên cứu trước đây

Trang 29

Bảng 1.1 Tóm tắt các bộ tiêu chí đo lường VXH Tác giả Chỉ số đo lường

Bộ tiêu chí của cơ

8) kích thước MLXH 9) tính chuyển tiếp/di động 10) quan hệ tình thân 11) tần số và mức độ truyền thông trong các MLXH 12) quan hệ quyền lực

Bộ tiêu chí của Ngân

hàng Thế giới (WB,

2004)

1) nhóm và MLXH 2) lòng tin

3) chuẩn mực 4) quan hệ qua lại

Bộ câu hỏi tích hợp đo

lường VXH gồm 27

hạng mục của

Các câu hỏi tập trung đo lường 6 yếu tố:

1) Nhóm và MLXH 2) Lòng tin và đoàn kết

Trang 30

Grootaert và công sự

(2004)

3) Hành động tập thể và hợp tác 4) Thông tin và truyền thông 5) Bao gồm và gắn kết xã hội 6) Hoạt động tạo quyền lực và chính trị

Nguồn: Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2016)

Nhìn chung, các bộ tiêu chí đo lường VXH theo hai loại, VXH cấu trúc và VXH cho nhận Trong VXH cấu trúc thì MLXH là biến đại diện với đặc điểm MLXH (network properties) là chỉ số đo lường cho phép các nhà nghiên cứu dự báo

về tiềm năng của nguồn lực MLXH Việc đo lường đặc điểm của MLXH và cách đo lường nguồn lực MLXH được thể hiện tóm tắt trong Bảng 1.2 và Bảng 1.3 Bên cạnh đó thì lòng tin và kết quả của lòng tin là biến cần quan tâm trong VXH cho nhận Lòng tin nên được chia thành 3 kiểu, tương ứng với 3 chức năng của VXH đó

là i) lòng tin cụ thể (gắn kết) ii) lòng tin tổng quát (bắc cầu nối) và iii) lòng tin vào thể chế, nhà nước (kết nối) Ngoài ra, việc đo lường trực tiếp lòng tin là một công việc không hề dễ Quan hệ qua lại chính là yếu tố tri nhận ám chỉ việc cá nhân hay nhóm trao đổi nguồn lực cho nhau

Bảng 1.2 Tóm tắt việc đo lường đặc điểm MLXH Tiêu chí về MLXH Câu hỏi

Số lượng MLXH Việc tham gia các tổ chức, hội, nhóm, hoạt động xã hội Cấu trúc MLXH Tính đa dạng của các thành viên trong MLXH

Mật độ MLXH Độ gắn kết của mối liên hệ, tần suất sinh hoạt

Vị trí MLXH Vai trò của cá nhân trong MLXH

Nguồn: Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2016)

Bảng 1.3 Tóm tắt các công cụ đo lường nguồn lực MLXH

Danh mục tên Định hướng theo 3 cấp độ:

1) giao tiếp xã hội 2) tham gia các tổ chức, hội, nhóm

Trang 31

3) tham gia hoạt động mang tính chính trị Danh mục nghề

nghiệp

Các bước áp dụng công cụ này 1) xây dựng danh mục các nghề nghiệp trong xã hội và bảng xếp hạng uy tín nghề nghiệp

2) hỏi đối tượng phỏng vấn về sự quen biết các thành viên trong MLXH thuộc nhóm ngành nghề nào

3) điều tra mức độ quen biết để đo lường việc các thành viên sẵn lòng cho đối tượng được nghiên cứu tiếp cận nguồn lực

4) xác định VXH dựa trên uy tín ngành nghề của thành viên trong MLXH mà các thành viên sẵn lòng cho đối tượng được nghiên cứu tiếp cận

Danh mục nguồn

lực

Kết hợp những ưu điểm của phương pháp đo lường theo danh mục tên và phương pháp đo lường theo danh mục nghề nghiệp

Hỏi đối tượng được phỏng vấn có “biết” ai có thể cho phép mình tiếp cận một nguồn lực cụ thể nào đó hay không

Nguồn: Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2016)

Các tiêu chí đo lường VXH trong nghiên cứu này:

Qua việc tham khảo các bộ tiêu chí đo lường cũng như định nghĩa VXH hiện

nay ở trong nước và trên toàn thế giới, theo tác giả: “Vốn xã hội là những mối quan

hệ được hình thành giữa người với người trong một cộng đồng, một tổ chức bao gồm cả tổ chức chính quyền và phi chính quyền Những mối quan hệ này được duy trì và phát triển dựa trên niềm tin của những cá nhân dành cho nhau và dành cho tập thể Từ đó xây dựng nên những sợi dây gắn kết cộng đồng và hỗ trợ nhau những khi có sự cố xảy ra”

Tác giả thấy rằng, ba nhân tố cơ bản và quan trọng của VXH chính là các MLXH (bao gồm MLXH có mối quan hệ huyết thống và không huyết thống), niềm

Trang 32

tin của người dân vào các MLXH cũng như sự tham gia của người dân vào việc duy trì và phát triển các MLXH Do đó, nghiên cứu này đã xây dựng các tiêu chí để đo lường VXH dựa trên hệ thống lý thuyết đo lường VXH đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu và hệ thống hóa như đã trình bày ở trên Các tiêu chí này dựa vào điều kiện KT-XH cụ thể của Việt Nam để có thể thu được các dữ liệu đáng tin cậy

và đo lường được Cụ thể, để đo lường VXH, tác giả đã chia thành ba nhóm tiêu chí: mạng lưới xã hội, niềm tin và sự tham gia MLXH bao gồm các mối quan hệ giữa cá nhân với gia đình, bà con, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức, đoàn thể Nhà nước, và các hội đoàn phi chính thức như hội gia tộc, hội đồng hương, nhóm nghề nghiệp và các tổ chức tôn giáo Các chỉ số đánh giá MLXH là “mức độ tiếp xúc”, “mức độ đến thăm”, “sự mô tả người láng giềng”, “mức độ quan trọng của mối quan hệ”; “mức độ trông cậy hỗ trợ khi gặp thiên tai Nhóm tiêu chí về

“Niềm tin” bao gốm các chỉ số “tầm quan trọng của niềm tin”, “niềm tin vào cộng đồng”, “niềm tin vào các tổ chức”, và “mức độ niềm tin vào sự giúp đỡ khi gặp thiên tai” Nhóm tiêu chí về “Sự tham gia” bao gồm các chỉ số “sự tham gia vào các hoạt động xã hội” (như là phòng chống thiên tai, cứu trợ, bảo vệ rừng, thể dục thể thao, và sản xuất nông nghiệp), sự tham gia các hoạt động thiện nguyện và sự tham gia các đoàn thể địa phương

1.1.3 Khái niệm mạng lưới xã hội

John A Barnea là người đầu tiên đã đề ra khái niệm “Mạng lưới xã hội” trong nhóm ngành khoa học xã hội (Merkle, 2003) MLXH là một cấu trúc xã hội được tạo thành từ một tập hợp những cá nhân hay các tổ chức có sự tương tác lẫn nhau thông qua các mối quan tâm chung hay có sự trao đổi về kinh tế cũng như những nhóm người có chung mối quan hệ huyết thống như gia đình, họ hàng hay có chung niềm tin về tri thức và uy tín Việc nghiên cứu các cấu trúc này sử dụng phân tích MLXH để xác định những cá nhân và tổ chức, xác định các nhân tố có ảnh hưởng và kiểm tra sự vận hành của MLXH MLXH và việc phân tích về MLXH là một lĩnh vực học thuật liên ngành, bao gồm từ tâm lý học xã hội, xã hội học, thống

kê Georg Simmel là tác giả của các lý thuyết cấu trúc ban đầu trong xã hội học

Trang 33

nhấn mạnh đến "MLXH liên kết nhóm" Jacob Moreno được ghi nhận là người phát triển các biểu đồ xã hội đầu tiên vào những năm 1930 để nghiên cứu các mối quan

hệ giữa các cá nhân Những cách tiếp cận này đã được công nhận về mặt toán học vào những năm 1950 và các lý thuyết và phương pháp của MLXH ngày càng trở nên phổ biến trong khoa học xã hội và hành vi vào những năm 1980

Tác giả cho rằng, MLXH là một cấu trúc lý thuyết hữu ích trong khoa học xã hội về nghiên cứu các mối quan hệ giữa các cá nhân, nhóm, tổ chức, hoặc thậm chí toàn bộ xã hội Thuật ngữ này được sử dụng để mô tả một cấu trúc xã hội được xác định bởi các tương tác xã hội Các mối quan hệ mà qua đó, mỗi đơn vị xã hội trong một tổ chức cần có sự kết nối lẫn nhau cũng như kết nối với các tổ chức khác được gọi là tương tác xã hội hay kết nối MLXH Chính vì có nhiều kiểu quan hệ khác nhau, đơn lẻ hoặc kết hợp mà tạo thành các nhóm trong MLXH Nhìn chung, MLXH có tính tự tổ chức, có sự tương tác giữa các nhóm và các cá nhân từ đó hình thành nên một thể thống nhất Khi nhắc đến MLXH, chúng ta cần quan tâm đến tần suất tiếp xúc giữa các thành phần hay còn gọi là các mắt xích tồn tại trong MLXH Đây chính là cách duy trì, tồn tại và phát triển của các mắt xích trong MLXH

1.1.4 Khái niệm niềm tin

Trong hai thập kỷ qua, niềm tin (niềm tin) đã được khám phá qua các lăng kính của nhiều nhóm ngành khác nhau như kinh tế học, tâm lý học, nhân chủng học, triết học và lịch sử Các câu hỏi cơ bản về MLXH bao gồm: bản chất của niềm tin là gì? Những điều kiện nào thúc đẩy sự phát triển của niềm tin? Làm thế nào để duy trì

và củng cố niềm tin? Khi nào niềm tin bị coi là mất đi trong MLXH? Hiện nay, cách đo lường niềm tin (và mức độ phổ biến của niềm tin trong các xã hội khác nhau), cách thức (và tại sao) niềm tin có liên quan đến một số hệ thống chính trị nhất định và sự khác biệt về niềm tin giữa các quốc gia đang được quan tâm Định nghĩa về niềm tin thường đề cập đến các tình huống được đặc trưng bởi các yếu tố sau: một bên (người tin cậy) sẵn sàng dựa vào hành động của một bên khác (người được ủy thác) và tình huống để đánh giá mức độ của mối quan hệ trong tương lai

Trang 34

(Mayer, 1995) Hoặc, người được ủy thác (tự nguyện hoặc bị ép buộc) từ bỏ quyền kiểm soát đối với các hành động được thực hiện bởi người được ủy thác Kết quả là, người ủy thác không chắc chắn về kết quả của hành động của người kia; người ủy thác chỉ có thể phát triển và đánh giá các kỳ vọng (Bamberger, 2010) Những kỳ vọng như vậy được hình thành dựa trên mục đích của người được ủy thác, phụ thuộc vào đặc điểm, tình huống và sự tương tác của họ Sự không chắc chắn bắt nguồn từ rủi ro thất bại hoặc tổn hại cho người được ủy thác nếu người được ủy thác không hành xử như mong muốn (Hardin, Russell, 2002) Hay, mọi người thường nghĩ tốt về người lạ nhưng mong đợi sự đối xử tốt hơn từ các thành viên trong nhóm so với các thành viên ngoài nhóm Sau đó, kỳ vọng lớn hơn này chuyển thành xu hướng cao hơn để tin tưởng một thành viên trong nhóm hơn là ngoài nhóm Người ta chỉ ra rằng việc hình thành những kỳ vọng như vậy đối với một người lạ trong nhóm chỉ có lợi nếu họ cũng biết thành viên nhóm của người nhận (Platow, 2012) Niềm tin vào những người lạ ngoài nhóm tăng lên khi các dấu hiệu cá nhân

về danh tính được tiết lộ Trong khoa học xã hội, sự tinh tế của niềm tin là một chủ

đề đang được nghiên cứu nhận (Platow, 2012) Trong xã hội học và tâm lý học, mức

độ mà một bên tin tưởng người khác là thước đo niềm tin vào sự trung thực, công bằng của một bên khác Sự thất bại trong lòng tin có thể được tha thứ dễ dàng hơn nếu nó được hiểu là sự thất bại về năng lực chứ không phải là sự thiếu trung thực Theo nghiên cứu của Putnam vào năm 1995, ông cho rằng sự tham gia của người dân vào cộng đồng và lòng tin giữa các thành viên của cộng đồng sẽ góp phần làm tăng lòng tin xã hội của một quốc gia Do đó, niềm tin được coi như một thành tố hình thành nên VXH

1.1.5 Sự tham gia xã hội

Sự tham gia là một thuật ngữ không thể thiếu khi nhắc đến MLXH, ngoài MLXH và lòng tin, thì sự tham gia của người dân là một yếu tố không thể thiếu Sự tham gia của người dân được đo lường thông qua các hoạt động mà người dân tham gia cũng như mức độ tham gia vào các tổ chức có trong MLXH Prohaska, Anderson và Binstock (2012) lưu ý rằng thuật ngữ tham gia xã hội thường được sử

Trang 35

dụng để chỉ sự tham gia của một người vào các hoạt động của một nhóm xã hội Thuật ngữ này đã được Avison, McLeod và Pescosolido (2007) định nghĩa là "mức

độ mà một cá nhân tham gia vào một loạt các vai trò và mối quan hệ xã hội." và bởi Zhang, Jiang, và Carroll là "cam kết của một thành viên ở lại nhóm và giao lưu với các thành viên khác"

Tham gia xã hội liên quan đến việc tham gia vào các hoạt động tập thể, điều này củng cố VXH và các chuẩn mực xã hội Các yếu tố chính của sự tham gia xã hội bao gồm hoạt động (làm điều gì đó), tương tác (cần ít nhất hai người tham gia vào hoạt động này), trao đổi xã hội (hoạt động liên quan đến việc cho hoặc nhận thứ

gì đó từ người khác) và thiếu sự ép buộc (không có bên ngoài ép buộc một cá nhân tham gia vào hoạt động) (Zhang, S., Jiang, H., & Carroll, J M, 2011) Phần lớn, sự tham gia xã hội không bao gồm các hoạt động mà một người được trả tiền hoặc các nghĩa vụ gia đình (Thomas R Prohaska, 2012)

Một thước đo chung về mức độ tham gia xã hội là khối lượng hoạt động có thể định lượng được Một hình thức tham gia xã hội truyền thống, chẳng hạn như đi nhà thờ, có thể được đo bằng số lần đến nhà thờ của một người (Zhang, S., Jiang, H.,

& Carroll, J M, 2011) Một trong những chủ đề chính trong việc nghiên cứu sự tham gia xã hội của các nhà khoa học xã hội liên quan đến việc các cá nhân có tương tác nhiều hơn hay ít hơn với các cộng đồng khác nhau Một số nghiên cứu đã gợi ý rằng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại đã giúp các cá nhân dễ dàng tham gia vào xã hội hơn trong các cộng đồng ảo, và do đó đã giảm sự tham gia của họ vào các cộng đồng địa phương (Zhang, S., Jiang, H., & Carroll, J M, 2011)

1.1.6 Các loại vốn xã hội

Dựa trên các đặc điểm và chức năng khác nhau, các nghiên cứu đã phân loại VXH thành các nhóm khác nhau Các hình thức phổ biến nhất của VXH trong các nghiên cứu bao gồm VXH cấu trúc và tri nhận; VXH gắn kết, bắc cầu và liên kết; quan hệ mạnh và yếu; và MLXH theo chiều ngang và dọc

Trang 36

VXH cấu trúc và cho nhận: VXH cấu trúc có liên quan đến mô hình của các

MLHX và các cấu trúc khác như hiệp hội, câu lạc bộ, nhóm văn hóa và các tổ chức được chi phối bởi các quy tắc, thủ tục và tiền lệ VXH cho nhận bao gồm chủ yếu là một tập hợp các chuẩn mực, giá trị, thái độ và niềm tin chung của các cá nhân liên quan đến niềm tin, có đi có lại và hợp tác (Uphoff và Wijayaratna, 2000) VXH cấu trúc khách quan và có thể quan sát được bên ngoài tạo điều kiện cho các hành động tập thể cùng có lợi thông qua vai trò được thiết lập và MLHX bền vững được chi phối bởi các quy tắc, thủ tục và tiền lệ (Uphoff, 2000; Hitt và cộng sự, 2002) VXH cấu trúc cung cấp một số lợi ích nhất định cho các cá nhân, như tìm việc làm, thu thập thông tin hoặc truy cập tài nguyên (Burt, 1992; Tsai và Ghoshal, 1998) VXH cho nhận mang tính chủ quan và vô hình khiến con người hướng tới hành động tập thể cùng có lợi thông qua các giá trị và thái độ chung (Uphoff, 2000) Putnam (1993) lập luận rằng việc tham gia vào các MLHX và các tổ chức tự nguyện hình thành thói quen hợp tác, đoàn kết và có tính cộng đồng Bên cạnh đó, nó thúc đẩy

sự phát triển và lan truyền niềm tin Do đó, VXH được hiểu là cả khía cạnh cấu trúc

và tri nhận (Paxton, 2002; Van Oorschot và cộng sự, 2006) Các hình thức cấu trúc

và tri nhận này thường được kết nối và củng cố (Uphoff và Wijayaratna, 2000) Đặc tính kép này thường tạo ra các vấn đề trong việc đo lường VXH khi các phép đo lường thường chỉ tập trung vào một mà không phải cả hai chiều

VXH gắn kết, bắc cầu nối và liên kết: Từ góc độ gắn kết xã hội, các nghiên

cứu gần đây phân biệt VXH thành ba hình thức quan trọng (Putnam, 2000; Woolcock, 2001) VXH gắn kết biểu thị mối quan hệ giữa những người rất thân thiết và quen biết với nhau, chẳng hạn như gia đình, bạn bè thân thiết và hàng xóm Thông thường mọi người trong các mạng liên kết giống nhau về các đặc điểm cá nhân chính (ví dụ: giai cấp, chủng tộc, dân tộc, giáo dục, tuổi tác, tôn giáo, giới tính

và quan điểm chính trị) VXH gắn kết có xu hướng hướng nội, bảo vệ và tồn tại trong mối quan hệ thân thiết, do đó đảm bảo tính tương hỗ và vận động sự đoàn kết không chính thống (van Oorschot và cộng sự, 2006) VXH gắn kết thúc đẩy giao tiếp và các mối quan hệ cần thiết để theo đuổi các mục tiêu chung Hơn nữa, nó ảnh

Trang 37

hưởng đến việc thành lập và nuôi dưỡng các tổ chức cộng đồng, như các nhóm tự lực và hiệp hội địa phương VXH bắc cầu nối đề cập đến mối quan hệ xa hơn của những người như như tình bạn và đồng nghiệp “lỏng lẻo” Thông thường mọi người trong các mạng bắc cầu nối khác nhau về các đặc điểm cá nhân quan trọng Mối quan hệ bắc cầu nối có xu hướng hướng ngoại hơn, gắn kết công dân, thu hẹp khoảng cách giữa các cộng đồng khác nhau và có mối quan hệ thành viên mở, do đó rất quan trọng để tổ chức đoàn kết và theo đuổi các mục tiêu chung (van Oorschot

và cộng sự, 2006) VXH bắc cầu nối là rất quan trọng để giải quyết các vấn đề của cộng đồng thông qua việc giúp mọi người biết nhau, xây dựng mối quan hệ, chia sẻ thông tin và huy động các nguồn lực của cộng đồng VXH liên kết đề cập đến mối quan hệ và MLXH giữa các cá nhân và các nhóm chiếm vị trí và quyền lực xã hội rất khác nhau Nó tiếp cận với những người không giống nhau trong những tình huống không giống nhau, chẳng hạn như những người hoàn toàn nằm ngoài cộng đồng VXH liên kết có thể liên quan đến các MLXH và mối quan hệ của một cộng đồng cụ thể với các cơ quan chính quyền địa phương Những hình thức khác nhau của VXH có thể phục vụ các chức năng khác nhau VXH gắn kết với những người gắn bó chặt chẽ có thể hoạt động như một MLXH an toàn hỗ trợ xã hội; VXH kết nối mối quan hệ với mọi người qua các phân chia xã hội khác nhau có thể cung cấp liên kết đến các tổ chức và hệ thống và cho phép mọi người và cộng đồng tận dụng một loạt các nguồn lực, hơn là tồn tại sẵn trong cộng đồng VXH gắn kết tạo ra sự tin tưởng sâu sắc và bền vững, rất hữu ích cho việc “sống cùng nhau” trong cuộc sống, trái ngược thì VXH bắc cầu nối tạo ra niềm tin mở rộng và mỏng manh có thể hữu ích cho việc “vượt lên trước” (Anheier và Kendall, 2002; Woolcock, 2001) Trong thực tế, các mối quan hệ xã hội có thể tạo thành “gắn kết” với nhau ở một khía cạnh và “bắc cầu nối” ở một khía cạnh khác Sự khác biệt này rất hữu ích để suy nghĩ về các loại mối quan hệ xã hội khác nhau giữa những người trong cộng đồng và kết quả của họ có thể khác nhau (Field, 2003)

Trang 38

1.1.7 Khái niệm cộng đồng đô thị

Cộng đồng đô thị có nền tảng dựa trên các đơn vị chính trị cấp quận với mật

độ dân số tối thiểu theo quy định là 400 người/km2 Ngoài ra, cộng đồng đô thị phải

có tỷ lệ hoạt động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% so với tổng số lao động Bên cạnh đó các yêu cầu về cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật cũng như các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị dựa trên nghị định số 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị

Khái niệm đô thị dưới khía cạnh xã hội học được xem xét dựa trên các yếu tố

về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Đô thị được xem là một hệ thống xã hội thu nhỏ với đầy đủ các yếu tố vấn đề cũng như thiết chế xã hội Đô thị được đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân bên cạnh các tầng lớp giai cấp khác như trí thức, viên chức, tư sản Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, là các lĩnh vực sản xuất của cộng đồng đô thị Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp vẫn chiếm

tỷ trọng cao Cộng đồng đô thị còn đặc trưng với lối sống đô thị từ hệ thống dịch

vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, chuẩn mực, hành vi, … thậm chí là sinh hoạt kinh tế Đa phần cộng đồng đô thị có lối sống tách biệt nhau Đây chính là đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học khi phân tích về cộng đồng đô thị

1.1.8 Các khái niệm liên quan đến thiên tai

Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (ví dụ lũ lụt, bão, phun trào núi lửa, động đất, hay lở đất) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và con người Thiệt hại do thảm họa tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm họa (Bankoff và cộng sự, 2003) Sự hiểu biết này được tập trung trong một công thức: “thảm họa xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương” (Wisner và cộng sự, 2004) Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm họa tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở Thuật ngữ tự nhiên do vậy đã bị tranh cãi bởi các sự kiện đơn giản không phải là rủi ro hay thảm họa nếu không liên quan tới con người (Alexander, 2002)

Trang 39

Tai biến tự nhiên là một mối đe dọa của các sự kiện xảy ra một cách tự nhiên

mà nó có những tác động tiêu cực đến con người hoặc môi trường Một số tai biến

tự nhiên có quan hệ qua lại với nhau như động đất có thể gây ra sóng thần và hạn hán có thể dẫn đến nạn đói một cách trực tiếp Một ví dụ cụ thể giữa tai biến tự nhiên và thảm họa tự nhiên là trận động đất San Francisco 1906 là một thảm họa, mặc dù các trận động đất là dạng tai biến Tai biến tự nhiên có thể trở thành thảm họa tự nhiên khi nó ảnh hưởng lớn tới con người, thường với số lượng tử vong lớn hơn 10, bị thương trên 100, và gây thiệt hại 100.000 USD

1.2 Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Công tác phòng chống, giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai

Những năm gần đây, trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay và Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới, công tác phòng chống, giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai đã được Chính phủ ngày càng chú trọng Điển hình là việc nước ta đã và đang tích cực hợp tác có trách nhiệm, có hiệu quả với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu Việt Nam đã tham gia ký kết và tổ chức thực hiện một số những nghị định, công ước, khung hành động, … quốc tế như Nghị định thư Kyoto

và Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu, Khung hành động Hyogo về giảm nhẹ thiên tai, Hiệp định ASEAN về quản lý thiên tai và ứng phó khẩn cấp (AADMER) và Hướng dẫn tuyên truyền trong nước về ứng phó và khắc phục hậu quả ban đầu sau thảm họa Đáng chú ý là Hiệp định ASEAN về quản lý thiên tai và ứng phó khẩn cấp là điều ước có hiệu lực ràng buộc và trực tiếp nhất đối với lĩnh vực phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Thêm vào đó, hiện nay, Việt nam cũng có rất nhiều văn bản hướng dẫn và pháp lý có liên quan đến lĩnh vực phòng tránh và quản lý rủi ro thiên tai Trong số những văn bản này, nổi bật là Chiến lược Quốc gia về Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 và Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TT ngày 02/12/2008 Năm 2009, nhằm nâng cao nhận thức của mỗi người dân trong

Trang 40

phòng, ứng phó để giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây nên, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và Quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng” tại quyết định số 1002/QĐ-TT, ngày 13/7/2009 Những hành động trên được xem là những nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ trong việc huy động mọi nguồn lực xã hội, người dân trong công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Tuy nhiên, mặc dù văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống thiên tai của Việt Nam được bổ sung và hoàn thiện liên tục, nhưng các văn bản này vẫn rất tản mạn và chồng chéo Đến nay, chưa có một văn bản quy định tổng thể về công tác phòng ngừa, ứng phó và tái thiết đối với các loại hình thiên tai

ở Việt Nam Các yếu tố liên quan đến thiên tai tuy có được đề cập trong văn bản nhưng chỉ ở phạm vi hẹp đối với lĩnh vực quản lý của từng bộ, ngành Sự phân tán trong quản lý nhà nước đối với thiên tai có thể dẫn tới khó khăn trong phối hợp hành động khi xảy ra đồng thời nhiều loại thiên tai, phân tán nguồn lực của nhà nước, gây tốn kém và giảm hiệu quả (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010) Thiên tai và những diễn biến cực đoan của thời tiết được dự báo là sẽ ngày càng khắc nghiệt, khó lường, gia tăng về cường độ và tần suất, khiến người dân, doanh nghiệp và các thành phần xã hội khác phải gánh chịu những nguy cơ và rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết Rất nhiều đại diện cơ quan và chính quyền địa phương nơi thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai tin rằng, nếu công tác chuẩn bị và ứng phó tốt, có thể giảm được 50% những thiệt hại về người và của, mặc dù hiện nay chưa có nghiên cứu khoa học và số liệu cụ thể nào đề cập đến việc này Trong những năm trở lại đây, những thiệt hại do thiên tai gây ra như bão, lũ, … cho thấy vẫn còn nhiều việc cần phải làm để giảm nhẹ thiệt hại và tổn thất do thiên tai gây ra

1.2.2 Vốn xã hội trong ứng phó thiên tai

1.2.2.1 Trên thế giới

Những thảm họa gần đây cho thấy rằng chính các MLXH đã tạo ra sự phục hồi hiệu quả chứ không phải mức độ hỗ trợ hoặc thiệt hại Khoảng một thập kỷ gần đây, các học giả trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về vai trò của VXH trong cộng đồng trong việc ứng phó với thiên tai Kết quả nghiên cứu này được minh họa qua

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w