1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở tây nam bộ

138 102 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 1990, Đờn ca tài tử đã được khai thác vào hoạt động du lịch ở ba tỉnh thành trên một cách hiệu quả thông qua việc quảng bá, giới thiệu với du khách trong và ngoài nước như m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-   -

LÊ HỒNG TÚ

NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Ở TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 8229094

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-   -

LÊ HỒNG TÚ

NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Ở TÂY NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS MAI MỸ DUYÊN

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 3

Tôi cũng xin chân thành gởi lời cám ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long; Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch thành phố Cần Thơ; Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Mỹ Tho; Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Long Hồ; Ban quản lý homestay Út Trinh; Ban quan lý du thuyền Cần Thơ; Ban quản lý điểm du lịch sinh thái Công Đoàn; Công ty

du lịch Tuổi Trẻ; cùng những nghệ nhân, tài tử đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập tài liệu nghiên cứu, khảo sát thực tế cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên tôi, luôn động viên, khích

lệ, chia sẻ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu luận văn này

Tác giả luận văn

Lê Hồng Tú

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này

Tác giả luận văn

Lê Hồng Tú

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Các khái niệm liên quan đề tài 11

1.1.2 Các lý thuyết và quan điểm nghiên cứu ứng dụng trong luận văn 16

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch 19

1.2 Khái quát nghệ thuật Đờn ca tài tử 24

1.2.1 Nguồn gốc và diễn trình lịch sử 24

1.2.2 Đặc trưng nghệ thuật Đờn ca tài tử 26

1.2.3 Giá trị loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử 29

1.3 Các loại hình du lịch phổ biến ở Tây Nam Bộ 32

1.3.1 Loại hình du lịch sinh thái – văn hóa 32

1.3.2 Loại hình du lịch nghỉ dưỡng 33

1.3.3 Loại hình du lịch hội nghị 34

Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG ĐỜN CA TÀI TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TÂY NAM BỘ 37

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 37

2.1.1 Tỉnh Tiền Giang 38

2.1.2 Tỉnh Vĩnh Long 40

2.1.3 Thành phố Cần Thơ 43

Trang 6

2.2 Hiện trạng Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tiền Giang 45

2.2.1 Chủ thể trình diễn và thụ hưởng Đờn ca tài tử tại điểm sinh thái Công Đoàn ……… 45

2.2.2 Không gian trình diễn Đờn ca tài tử tại điểm sinh thái Công Đoàn 46

2.2.3 Bài bản trình diễn Đờn ca tài tử tại điểm sinh thái Công Đoàn 47

2.2.4 Nguồn thu nhập của nghệ nhân, tài tử tại điểm sinh thái Công Đoàn 48

2.3 Hiện trạng Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Vĩnh Long 49

2.3.1 Chủ thể trình diễn và thụ hưởng Đờn ca tài tử tại homestay Út Trinh 49

2.3.2 Không gian trình diễn Đờn ca tài tử tại homestay Út Trinh 50

2.3.3 Bài bản trình diễn Đờn ca tài tử tại homestay Út Trinh 51

2.3.4 Nguồn thu nhập của nghệ nhân, tài tử tại homestay Út Trinh 51

2.4 Hiện trạng Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Cần Thơ 52

2.4.1 Chủ thể trình diễn, thụ hưởng Đờn ca tài tử trên du thuyền Cần Thơ 52

2.4.2 Không gian trình diễn Đờn ca tài tử trên du thuyền Cần Thơ 53

2.4.3 Bài bản trình diễn Đờn ca tài tử trên du thuyền Cần Thơ 53

2.4.4 Nguồn thu nhập của nghệ nhân, tài tử trên du thuyền Cần Thơ 54

2.5 Những điểm tương đồng và khác biệt Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch tại các địa bàn khảo sát 54

2.5.1 Những điểm tương đồng Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch tại các địa bàn khảo sát 54

2.5.2 Những điểm khác biệt Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch của các địa bàn khảo sát 55

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ ĐỜN CA TÀI TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TÂY NAM BỘ 58

3.1 Nhận định qua nghiên cứu Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch 58

Trang 7

3.1.1 Nhận thức về nghệ thuật Đờn ca tài tử 58

3.1.2 Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ hành nghề 64

3.1.3 Xác định tính chất “chung” và “riêng” trong việc đưa Đờn ca tài tử vào hoạt động du lịch của các tỉnh Tây Nam Bộ 68

3.1.4 Nguồn thu nhập từ hoạt động Đờn ca tài tử của nghệ nhân, tài tử 72

3.2 Một vài gợi ý nâng cao hiệu quả Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ 74

3.2.1 Nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật Đờn ca tài tử 74

3.2.2 Khai thác yếu tố đặc thù và liên kết sức mạnh của các địa phương 77

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 93

Trang 8

Việt Nam có 13 loại hình nghệ thuật, lễ hội dân gian được Tổ chức Giáo dục, Khoa

học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (viết tắt UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi

Nam Bộ, đó là Đờn ca tài tử, hay còn gọi là nhạc Tài tử

Đờn ca tài tử không chỉ là một loại hình nghệ thuật đặc trưng của người Việt ở Nam Bộ mà còn là “đặc sản văn hóa” của 21 tỉnh thành (tính cả Bình Thuận và Ninh Thuận) Đặc biệt, đây là loại hình nghệ thuật nổi trội nhất được khai thác trong hoạt động du lịch ở nhiều địa phương ở Tây Nam Bộ, trong đó: Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ Từ những năm 1990, Đờn ca tài tử đã được khai thác vào hoạt động du lịch

ở ba tỉnh thành trên một cách hiệu quả thông qua việc quảng bá, giới thiệu với du khách trong và ngoài nước như một loại hình nghệ thuật dân gian của Việt Nam Thực tế cho thấy, hoạt động du lịch địa phương và Đờn ca tài tử có mối quan hệ chặt chẽ, tác động,

hỗ trợ lẫn nhau Mặc dù việc đưa Đờn ca tài tử vào trong du lịch tại địa phương đạt được những kết quả khả quan nhưng đồng thời nảy sinh những bất cập trong quá trình hoạt động Chẳng hạn như: Việc tổ chức lỏng lẻo, không khai khác hết tiềm năng vốn có; cách tổ chức hoạt động đơn lẻ không tạo kết nối giữa các ban nhóm nghệ thuật; chưa mang lại đời sống vật chất ổn định cho nghệ nhân, tài tử làm nghề; việc sử dụng các bài Tổ (những bài nhạc kinh điển trong hệ thống nhạc Tài tử) ngày càng hạn chế…

Từ đó làm cho du khách chưa thưởng thức được những sản phẩm “thuần chất” của Đờn

ca tài tử và đôi khi cảm nhận sai lệch về loại hình nghệ thuật này Điều đó làm ảnh hưởng tới giá trị vốn có của nghệ thuật Đờn ca tài tử, đồng thời ảnh hưởng tới thương hiệu hoạt động du lịch của địa phương

1 Theo trang web chính thức của UNESCO:

https://ich.unesco.org/en/state/viet-nam-VN?info=elements-on-the-lists

Trang 9

Do vậy, việc nghiên cứu Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ nói chung, tại Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ nói riêng là rất cần thiết, góp phần nâng cao tầm vóc loại hình nghệ thuật mà đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại Đồng thời, bảo tồn và phát huy hiệu quả Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch nhằm góp phần thúc đẩy phát triển đời sống kinh tế của người

Mặt khác, bản thân tôi được đào tạo chuyên ngành hướng dẫn viên, thường xuyên đưa du khách trong và ngoài nước đến tham quan tại khu vực Tây Nam Bộ Do đó, tôi

có điều kiện tiếp xúc nghệ nhân, tìm hiểu và yêu thích nghệ thuật Đờn ca tài tử Đây

cũng là lý do dẫn đến việc chọn lựa đề tài luận văn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Tìm hiểu nghệ thuật Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ Qua

đó làm rõ những tác động và ảnh hưởng đến Đờn ca tài tử trong quá trình khai thác và phát triển hoạt động du lịch

2.2 Nhiệm vụ

Thứ nhất, luận văn khảo sát hiện trạng việc khai thác Đờn ca tài tử trong hoạt

động du lịch ở Tây Nam Bộ

Thứ hai, luận văn cũng sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề căn bản, đó là làm thế nào

để phát huy hiệu quả những giá trị của Đờn ca tài tử vào hoạt động du lịch mà không gây ảnh hưởng đến những giá trị của loại hình nghệ thuật này ở Tây Nam Bộ nói chung,

và ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ nói riêng

Thứ ba, từ đó nêu ra những khuyến nghị để bảo tồn Đờn ca tài tử trong hoạt động

du lịch ở Tây Nam Bộ, đặc biệt tại Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ

Trang 10

3 Lịch sử vấn đề

Trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn một thế kỷ, Đờn ca tài tử đã có

nhiều công trình ghi chép, sưu tầm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, như:

3.1 Những tài liệu nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển

Công trình đầu tiên chúng tôi đề cập đến là Hồi ký Trần Văn Khê (2005) xuất bản

lần thứ I Nội dung cuốn sách đề cập đến rất nhiều loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam (nhất là của Người Việt) một cách cơ bản nhất Đặc biệt, trong cuốn sách này tác giả có đề cập chi tiết liên quan tới ông Trần Quang Diệm, ông nội của chính tác giả, người mà đã có ý thức soạn thảo tuyển tập các bản ghi nhạc Huế với phương pháp ký

âm Đây là một hồi ký mà ông kể về chuyện nghề và chuyện tình yêu dành cho âm nhạc truyền thống dân tộc, trong đó hiển nhiên có nhạc Tài tử Tuy nhiên, công trình được viết dưới dạng hồi ký, mỗi tuyển tập, mỗi kỳ đều có những câu chuyện khác ngoài

âm nhạc như chuyện gia đình, bôn ba bốn biển năm châu, quy cố hương

Luận án Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam bộ (2007) của

Mai Mỹ Duyên, tiếp cận nghệ thuật Đờn ca tài tử theo phương pháp nghiên cứu liên ngành; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển Đờn ca tài tử gắn với những tác động của địa lý tự nhiên, của môi trường văn hóa- xã hội; nghiên cứu đặc trưng sinh hoạt của Đờn ca tài tử dẫn đến việc hình thành các dạng thức phổ biến của cư dân vùng Tây Nam bộ; nghiên cứu đặc trưng sinh hoạt và âm nhạc của Đờn ca tài tử; qua đó nêu bật giá trị văn hóa của loại hình nầy, khẳng định được vị thế của Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân

Công trình tiếp theo có tựa đề Góp phần nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ của

Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2011) Đây là công trình đề cập đến nhiều khía cạnh của Đờn

ca tài tử Trong công trình này, tác giả đã lý giải Đờn ca tài tử Nam Bộ là nghề chơi hay chuyên nghiệp, khái quát con đường xây dựng và phát triển Đờn ca tài tử Nam Bộ trong tương lai Chính sự kế thừa và sáng tạo thể hiện qua hơi, điệu, đặc điểm cấu trúc, phương pháp sáng tạo đã tạo nên nét đặc trưng của Đờn ca tài tử

Trang 11

Đờn ca tài tử là một trong những đối tượng nghiên cứu đặc sắc đã thu hút sự quan

tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Công trình Hát bội, Đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 của Nguyễn Lê Tuyên và

Nguyễn Đức Hiệp (2013) là kết quả nghiên cứu khoa học của hai học giả Việt Nam hiện đang làm việc tại Australia và Mỹ Công trình cung cấp những tài liệu quý giá về những lần tham gia hội chợ quốc tế tại Paris, tuy nhiên không đi sâu nhiều trong việc nghiên cứu về thang âm, lịch sử diễn trình về loại hình nghệ thuật nhạc Tài tử này Một công trình nghiên cứu khác được xuất bản của tác giả Võ Trường Kỳ (2014)

với tựa đề Đờn ca tài tử Nam Bộ Công trình này đề cập một số vấn đề như: Đất và

người Nam Bộ; nguồn gốc phát sinh Đờn ca tài tử; phong trào Đờn ca tài tử; quá trình hình thành hệ thống bài bản Đờn ca tài tử; giá trị của nghệ thuật, cách thức bảo tồn và phát triển giá trị Đờn ca tài tử Đây là một công trình đã được tác giả bỏ nhiều công sức để tập hợp những nghiên cứu lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của Đờn

ca tài tử thông qua phương pháp nghiên cứu lịch sử và thực tiễn Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa chú trọng nhiều về các vấn đề lý thuyết trong công trình nghiên cứu trên

3.2 Những nghiên cứu về bài bản, thang âm, điệu thức Đờn ca tài tử

Công trình nghiên của Nguyễn Thụy Loan (1979) với chủ đề Thử dẫn giải lại về một lý thuyết điệu thức của người Việt qua bài bản Tài tử Cải lương (tạp chí Văn hóa

– Nghệ thuật số 5,6-1978 và số 1,2-1979) Công trình này đã đi sâu nghiên cứu các yếu

tố âm nhạc truyền thống dân tộc Việt thông qua trường hợp của Đờn ca tài tử - Cải lương Nam Bộ Công trình được giới âm nhạc đánh giá cao ở góc độ tiếp cận và luận giải các vấn đề liên quan đến âm nhạc cổ truyền của người Việt, đặc biệt ở Nam Bộ

Luận án của Vũ Nhật Thăng (1998) với đề tài Thang âm của nhạc Tài tử Cải lương đã hệ thống lại thang âm Đờn ca tài tử Đặc biệt, tác giả đã vận dụng âm nhạc

phương Tây để đo thang âm của Đờn ca tài tử và đã nghiên cứu nguyên lý cấu tạo thang

âm nhạc Tài tử và nhấn mạnh năm thang âm: Bắc-Xuân-Ai-Oán dạng I và Oán dạng

II Đây là công trình có giá trị cao về mặt âm nhạc

Trang 12

Kỷ yếu hội thảo quốc tế Đờn ca tải tư - Lối hòa đàn ngẫu hứng và sáng tạo

do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kết hợp với Ủy ban nhân dân TP HCM (2011)

tổ chức gồm 45 bản tham luận đề cập đến các vấn đề liên quan đến lịch sử, bài bản, đặc điểm, phong cách trình diễn Trong số các tham luận nói trên có tham luận của các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc, Singapore, Thái Lan … đề cập đến những vấn đề âm luật, lịch sử, mối quan hệ đồng văn giữa âm nhạc cổ truyền Việt Nam với các loại âm nhạc khác trong khu vực, cùng với những hình thức hoạt động của Đờn ca tài tử ở vùng đất Nam Bộ

Công trình Suy nghĩ về nhạc luật cổ truyền Việt Nam của Thế Bảo (2011) đề

cập đến cấu trúc về thang âm, điệu thức của nhạc cổ truyền vận hành theo quy luật đặc thù; trong đó đề cập đến yếu tố lòng bản và hơi điệu của Nhạc tài tử Nam bộ

Giáo trình Âm nhạc truyền thống Việt Nam của Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2014),

công trình để cập tới nhiều loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam; trong

đó, tác giả đi sâu phân tích sự ảnh hưởng nhạc thính phòng cổ truyền đến việc ngẫu hứng sáng tạo trên lòng bản

Công trình Văn hóa cải lương Nam bộ - Từ Đờn ca tài tử đến sân khấu Cải lương,

từ lý luận đến thực tiễn do Huỳnh Công Tín chủ biên (2016), tập hợp 24 tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia, soạn giả gửi tham dự Hội thảo về Văn hóa cải lương Nam Bộ do Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM tổ

chức Nội dung công trình chia làm 3 phần:1/ Trình bày nguồn gốc, sự hình thành và phát triển Đờn ca tài tử và sự chuyển đổi từ hình thức ca nhạc thính phòng sang sân khấu biểu diễn là Cải lương 2/ Đi sâu nghiên cứu đặc điểm, giá trị văn hóa của nghệ thuật Cải lương – một thể loại sân khấu tổng hợp, dung nạp nhiều yếu tố: âm nhạc, mỹ thuật, hóa trang, trang phục, kỹ thuật biểu diễn, …3/ Một vài chân dung tiêu biểu của những soạn giả, nghệ sĩ biểu diễn và những vở Cải lương có giá trị nhân văn sâu sắc

có tầm ảnh hưởng đến công chúng, góp phần quan trọng trong tiến trình sân khấu Cải lương Tuy cuốn sách dành nhiều trang để nói về Cải lương, song nội dung liên quan đến Đờn ca tài tử được phân tích khá sâu sắc, giúp người viết có cái nhìn rõ hơn về loại hình âm nhạc này

Trang 13

Một công trình nghiên cứu của Nguyễn Phúc An (2018) với tựa đề Đờn ca tài tử Nam Bộ, khảo và luận Tác giả trọng tâm nghiên cứu vào những gì thuộc về Đờn ca tài

tử nguyên thủy, đặc biệt về phần bài bản, về hơi điệu, về nhịp nhàng, về nhạc cụ, về

nghệ nhân (đờn và ca) và cả về nghệ thuật thưởng thức của người thưởng thức như một nghệ sĩ am tường, mộ điệu Với những người không chuyên về loại hình nghệ thuật này, hoặc những người mới tập tành nghiên cứu về thang âm, nhịp phách, nhạc cụ… thì có thể nói công trình như một kim chỉ nam để hiểu thêm và sâu hơn những gì thuộc

về loại hình nhạc Tài tử

3.3 Những nghiên cứu Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch

Song hành với việc khai thác Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch là những công trình nghiên cứu liên quan Ban đầu, chủ yếu là những bài tham luận trong các hội thảo, tiếp đến là những giáo trình chuyên ngành du lịch có đề cập tới Đờn ca tài tử Những năm gần đây, cũng có nhiều đề tài về Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch, nhưng chỉ khu biệt trong phạm vi nghiên cứu một địa phương cụ thể

Bài tham luận Khai thác Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long của Phạm Thái Bình (2015), tác giả đã phản ảnh về thực trạng khai thác nghệ

thuật Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch địa phương Tuy nhiên trong giới hạn của một bài tham luận, tác giả chỉ đưa ra một số vấn đề bất cập và một vài đề xuất liên quan

để việc khái thác này có hiệu quả hơn

Công trình Tổng quan du lịch của Võ Văn Thành (2015), đây là tài liệu tham khảo

chuyên dùng cho sinh viên ngành Du lịch Tác giả vừa là nhà giáo, vừa là người có kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu và làm du lịch nên cách trình bày rõ ràng, dễ hiểu Công trình chia làm 9 chương và có phụ lục trình bày các vấn đề liên quan Trong số các chương của cuốn sách, người viết nhận thấy Chương I, II, III, IV và VIII liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi Giúp chúng tôi nhận ra được việc khai thác Đởn

ca tài tử trong hoạt động du lịch cần được xem đây là 1 loại tài nguyên văn hóa và là sản phẩm văn hóa du lịch đặc sắc cần được đầu tư và khai thác đúng mức

Trang 14

vi không gian nghiên cứu, xác định rõ ràng chủ thể cần nghiên cứu để hoàn thành một công trình mang lại kết quả tốt hơn

Nhìn chung, các công trình trên đều đi sâu vào nghiên cứu Đờn ca tài tử dưới góc

độ âm nhạc truyền thống hoặc dưới góc độ lịch sử hay mối quan hệ giữa Đờn ca tài tử với Cải lương Có nhiều bài viết đề cập đến Đờn ca tài tử trong lĩnh vực hoạt động du lịch nhưng chỉ dùng lại ở mức sơ lược và khái quát khi đưa Đờn ca tài tử vào hoạt động

du lịch Do vậy, luận văn này xin mạn phép kế thừa những thành quả nghiên cứu của những người nghiên cứu trước về những nét chung nhất của nghệ thuật Đờn ca tài tử, nhưng nét mới của đề tài là đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy Đờn ca tài tử

trong việc hài hòa giữa chính bản thân nó với hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nghệ thuật Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ Chúng tôi sẽ tiếp cận đề tài thông qua việc hình thành một bức

tranh khái quát về: (i), nguồn gốc, đặc trưng và giá trị cũng như đánh giá việc đưa Đờn

ca tài tử ; (ii), hiện trạng khai thác nghệ thuật Đơn ca tài tử trong hoạt động du lịch địa phương; (iii), đề ra những biện pháp để vận dụng hiệu quả hơn và góp phần bảo vệ nét đặc sắc, những giá trị của loại hình nghệ thuật này

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: Để việc nghiên cứu có chiều sâu và sát hợp với mục đích của

đề tài, người viết chọn địa điểm khảo sát theo 03 tiêu chí sau:

Có ban Đờn ca tài tử ổn định về tổ chức và trình diễn hằng ngày

Có thời gian hoạt động Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch từ 05 năm trở lên

Có đặc sắc riêng về không gian trình diễn Đờn ca tài tử

Từ những tiêu chí trên, chúng tôi đã ra soát, phân tích, đánh giá và quyết định lựa chọn 03 địa phương có khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử đồng thời đáp ứng được các tiêu chí trên gồm có: Xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Về mặt thời gian: Chúng tôi tập trung khảo sát thực tế Đờn ca tài tử trong hoạt

động du lịch tại các địa phương đã được lựa chọn trong 05 năm trở lại đây (từ 2020) Tuy nhiên, để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển loại hình du lịch văn hóa này ở ba địa phương nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng một số tài liệu sưu tầm liên quan đến thời điểm mà Đờn ca tài tử được đưa vào trong hoạt động du lịch (từ năm 1990)

2015-5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 16

nghệ thuật truyền thống vào hoạt động du lịch

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng Phương pháp tiếp cận liên ngành, vận dụng lý thuyết và thao

tác nghiên cứu của các ngành khoa học: Xã hội học, Dân tộc học, đặc biệt là kết hợp với Du lịch học và Nghệ thuật học để giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài Cụ thể:

Quan sát, tham dự: Với mục đích tiếp cận và chứng kiến để có cái nhìn thật tổng

quát với nghệ thuận Đờn ca tài tử nói chung và cái nhìn chi tiết khi Đờn ca tài tử được song hành cùng du lịch tại địa phương Theo người viết, để có thể cảm nhận rõ và đưa

ra những nhận định chính xác thì phương pháp quan sát và tham dự là một lựa chọn

phù hợp đối với đề tài này

Phỏng vấn sâu: Với mục đích tìm hiểu tâm tư, suy nghĩ, nhận thức của một số

thành phần liên quan đến Đờn ca tài tử Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi phỏng vấn 21 người, trong đó có đại diện cơ quan chức năng của ngành Văn hóa và Du lịch của tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ; ban quản lý các điểm du lịch Công

biệt chúng tôi còn phỏng vấn những nghệ nhân, tài tử đang sinh hoạt tại những điểm

du lịch trên, những hướng dẫn viên, sinh viên du lịch cũng như nhà tổ chức tour du lịch

liên quan

Lựa chọn trường hợp điển hình: chúng tôi lựa chọn những trường hợp đặc trưng

để việc nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu, tiết kiệm thời gian so với nghiên cứu đại trà mà vẫn đảm bảo được tính khách quan, cũng nhưng độ tin cậy của kết quả Việc chọn lựa những địa điểm cho việc nghiên cứu điển hình này sẽ dựa trên căn cứ của 03

tiêu chí trong phạm vi nghiên cứu đã nêu

2 Tour, còn được gọi là tua, là một chương trình du lịch

3 Homestay là một loại hình lưu trú của chính người dân địa phương, du khách lưu trú, sinh hoạt như một thành viên trong gia đình

Trang 17

So sánh: phương pháp này được vận dụng nhằm chỉ ra những tương đồng và khác

biệt để dẫn đến kết quả “cái chung” và “cái riêng” trong việc khai thác nghệ thuật Đờn

ca tài tử trong hoạt động du lịch tại những địa phương ở Tây Nam Bộ

6.2 Tư liệu nghiên cứu

Ngoài việc kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn thì những tư liệu điền

dã bằng cách ghi âm, ghi hình các buổi sinh hoạt, liên hoan Đờn ca tài tử từ cấp quốc gia đến cơ sở; tham dự, phỏng vấn các đối tượng là nghệ nhân, tài tử, các nhà nghiên cứu, du khách… cũng là nguồn tư liệu cơ bản để hoàn thành luận văn này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn (Các khái niệm liên quan; các lý thuyết

được vận dụng trong quá trình hoàn thành luận văn; mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật Đờn ca tài tử; các loại

hình du lịch phổ biến tại Tây Nam Bộ)

Chương 2: Hiện trạng Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ

(Tổng quan địa bàn nghiên cứu; hiện trạng khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch tại ba địa phương: Tiền Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ Từ đó, đưa

ra những điểm tương đồng và khác biệt trong việc khai thác Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch của các tỉnh Tây Nam Bộ)

Chương 3: Vai trò Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ (Nhận

thức của các đối tượng liên quan đến hoạt động Đờn ca tài tử và du lịch trong đó có nghệ nhận, tài tử, các chủ cảnh điểm du lịch có biểu diễn loại hình nghệ thuật này và đặc biệt là nâng cao nhận thức của các đơn vị tham gia công tác tổ chức, khai thác giá trị loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử vào hoạt động du lịch; đưa ra khuyến nghị để phát huy tối đa việc khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử vào hoạt động du lịch có hiệu quả nhất)

Trang 18

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm liên quan đề tài

 Khái niệm nghệ thuật

Nghệ thuật, tiếng Anh là art, là thuật ngữ có hàm nghĩa rất rộng với nhiều cách tiếp cận Phương Tây: Art có nghĩa là nghệ thuật/mỹ thuật được hiểu là nghệ thuật làm đẹp; Phương Đông: Nghệ nghĩa là tay nghề/kỹ thuật và thuật được hiểu là khéo léo, tinh tế/năng khiếu độc đáo Nhìn chung, hiện nay, nghệ thuật có 03 cách hiểu chính: Thứ nhất, chỉ những hoạt động khéo léo, đạt đến một trình độ điêu luyện, có tay nghề cao Ðây là nghĩa đen, nghĩa rộng nhất của từ nghệ thuật Theo nghĩa gốc, nghệ hay kỹ tức là kỹ năng, tài năng, thuật là hoạt động, là kỹ thuật Trong tiếng Anh và tiếng Pháp,

từ art cũng có nghĩa ban đầu là kỹ xảo, khéo léo Thứ hai, chỉ những hoạt động và sản

phẩm hài hòa, đẹp mắt, có thể mang lại cho người ta khoái cảm thẩm mĩ Ðây là nghĩa

được sử dụng khá phổ biến hiện nay Khái niệm nghệ thuật ở đây gần với cái đẹp, tạo được sự chú ý ở người thưởng thức Thứ ba, chỉ một hoạt động đặc thù của con người

nhằm tạo ra một loại sản phẩm đặc biệt, không những chỉ đẹp mắt, êm tai, gây được sự hứng thú về cái đẹp mà còn có ý nghĩa tư tưởng, tình cảm sâu sắc Ở đây, mỗi loại hình nghệ thuật khác nhau sẽ sử dụng những phương tiện và chất liệu khác nhau để hình thành nên tác phẩm của mình nhằm biểu đạt một tư tưởng, tình cảm, một chân lý nghệ thuật Trong ý nghĩa này, khái niệm nghệ thuật được dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật sau đây: Văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu, múa, điện ảnh, ảnh nghệ thuật Trong luận văn, khái niệm nghệ thuật được hiểu theo nghĩa trên Theo học thuyết C.Mác và Ph.Ăngghen, nghệ thuật thuộc về thượng tầng kiến trúc, quan điểm này được thể hiện rõ ràng trong khái niệm: “Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định” (Bộ Giáo dục và Đào

Trang 19

tạo, 2009, tr 397) Văn hóa nghệ thuật được xem là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc chịu sự chi phối của cơ sở kinh tế, của các thành phần khác trong kiến trúc thượng tầng, đăc biệt là chính trị

Nghệ thuật nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân, hay nói cách khác sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học – nghệ thuật dân gian Tác phẩm nghệ thuật dân gian thường có tính ứng dụng cao Ví

dụ, bài hát ru gắn với việc ru con ngủ - một hình thức sinh hoạt gia đình Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các loại diễn xướng gắn với tín ngưỡng, lễ hội Từ đặc trưng này mà nghệ thuật dân gian có tính đa chức năng, trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt và đáp ứng nhu cầu giải trí, sáng tạo của con người Trong đó có nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ

Khái niệm về dân gian (folk) thì theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, dân

gian là phạm vi đông đảo những người dân thường trong xã hội Tuy nhiên, cách giải thích đơn thuần từ nghĩa Hán Nôm giữa hai từ dân và gian thì chưa giải quyết được nội hàm bên trong Còn theo Kiều Thu Hoạch (2015) nhận định rằng: “Dân gian là một thuật ngữ khoa học mới xuất hiện khoảng nửa cuối thế kỉ XIX ở châu Âu, đến đầu thế

kỉ XX nó mới được sử dụng rộng rãi Đây là một thuật ngữ khá phức tạp về ngữ nghĩa khi gắn với các thành tố của văn hóa - nghệ thuật, do nó có quan hệ hữu cơ với khái niệm nhân dân, một phạm trù có tính chất lịch sử - xã hội (tr 85-86)”

Còn khái niệm về văn hóa dân gian, Ngô Đức Thịnh (2007) phát biểu rằng:

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức,

lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng

Song hành với văn hóa dân gian chính là văn hóa bác học Trong khi văn hóa dân

gian là cội nguồn dân tộc, thì văn hóa bác học là thứ văn hóa cao cấp xuất phát từ cung đình, tầng lớp quý tộc và chỉ phục vụ tầng lớp thượng lưu trong xã hội Một số loại

Trang 20

hình nghệ thuật có xuất phát và được sử dụng trong cung điện dành cho các tầng lớp vua, quan thường được xem là các loại hình nghệ thuật bác học bởi lẽ để hiểu, để “cảm” được các loại hình trên đòi hỏi người nghe phải có những hiểu biết nhất định về nghệ thuật, lịch sử, điển cố, điển tích

Văn hóa dân gian lẫn văn hóa bác học đều là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau, có nhiều sản phẩm văn hóa xuất phát từ dân gian nhưng lại được thịnh hành trong văn hóa bác học và ngược lại Đờn

ca tài tử tuy có nguồn gốc Nhã nhạc cung đình và Ca Huế của giai cấp quý tộc phong kiến song đã được hình thành và phát triển trong dân gian, được xếp vào loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian trong nền văn hóa dân gian của dân tộc Việt Nam

Đờn ca tài tử là tên gọi một dòng âm nhạc đặc sắc của người Việt ở Nam Bộ có

nguồn gốc từ âm nhạc miền Trung (Nhã nhạc cung đình, Ca Huế) và Nhạc lễ dân gian Hình thành vào khoảng nửa cuối thế kỷ 19, với rất nhiều dạng cách thức tổ chức trong sinh hoạt và biểu diễn, là món ăn tinh thần trong đời sống của người dân Nam Bộ

Hai chữ tài tử trong Đờn ca tài tử mang nhiều ý nghĩa khác nhau theo cách nhìn nhận khác nhau Theo Trần Văn Khê (2014) thì tài tử ở đây có nghĩa là người có tài,

đặc biệt hơn nữa là tài tử ở đây còn được dùng để chỉ sự không lấy đó làm cái nghề, không dùng tiếng đàn hát làm kế sinh nhai (tr 211) Nhà văn Sơn Nam (2013) cho rằng: “Tài tử là người phong lưu, không đặt vấn đề danh lợi trong lúc làm văn nghệ Đờn ca là để di dưỡng tính tình, giao cảm tri âm Tuyệt nhiên không dùng nghệ thuật

để khai thác thương mại” (tr 313) Còn đối với Nguyễn Phúc An (2018) ông nhận định rằng: “Tài tử hay nhạc tài tử là một biểu hiện của loại hình văn nghệ theo quan niệm

nho giáo” (tr.89) Hai chữ tài tử trong quan niệm của rất nhiều người được cho là không chuyên, nghiệp dư dẫn đến nhạc Tài tử khi được dịch ra tiếng Anh thì gọi là Amateur Music, có nghĩa là nhạc không chuyên Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà làm

du lịch trong khi làm chương trình tour Hầu hết các chương trình du lịch đến hướng

dẫn viên địa phương đều ghi và thuyết minh rằng là Amateur Music, kể cả trên pa nô

Trang 21

giới thiệu của tỉnh Tiền Giang cũng ghi tiếng anh là Southern Amateur Music, điều này

ảnh hưởng rất nhiều đế vị thế của loại hình âm nhạc đặc sắc này [PL 4, hình 02] Trong đời sống thực tiễn, người hoạt động Đờn ca tài tử được chia làm 2 loại: 1/

Tài tử: dùng chỉ những người trẻ tuổi mới tham gia hoạt động đờn ca hoặc đã có quá

trình hoạt động nhưng chưa được Nhà nước công nhận danh hiệu (Nghệ nhân nhân

dân, Nghệ nhân ưu tú) 2/Nghệ nhân: dùng chỉ những người có thâm niên (trên 15 năm)

hoạt động đờn ca hoặc đã được Nhà nước công nhận danh hiệu Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng cả hai thuật ngữ trên khi đề cập đến các trường hợp cụ thể để phân tích hoặc đánh giá

Mặt khác, nói đến Đờn ca tài tử là nói đến 2 yếu tố âm nhạc luôn gắn bó với nhau

là đờn và ca Đờn (đàn) là cách sử dụng nhạc cụ và là hoạt động căn bản nhất của dòng nhạc này Để đờn được mỗi người phải học lòng bản (hay còn gọi là bản nhạc) Lòng bản là khung bản nhạc trên đó quy định số lớp, số câu, số nhịp của mỗi câu và những

chữ nhạc tương ứng với câu Thí dụ: bản Nam Xuân chia làm 9 lớp; trừ lớp 9 có 4 câu, còn lại từ lớp 1-8 mỗi lớp có 8 câu, mỗi câu có 4 nhịp (gọi là nhịp tư) Người học đờn

sẽ nhìn vào lòng bản để biết cách thực hành Trên mỗi lòng bản các nghệ nhân, tài tử đặt lời ca (ca từ) theo những chủ đề khác nhau để phổ biến bản nhạc được dễ dàng, rộng rãi; đồng thời nêu lên quan niệm và tình cảm của tác giả đối với cuộc sống Người

ta gọi phần soạn lời của bản nhạc là bài ca Thí dụ: bài ca Vọng cổ nhịp 32 Tình anh bán chiếu do soạn giả Viễn Châu viết lời; còn bản ký âm các chữ nhạc của Vọng cổ

nhịp 32 là kết quả của rất nhiều thế hệ nghệ nhân góp công sáng tạo và hoàn thiện

Như vậy, hoạt động đờn ca cũng tương ứng với bài bản là một trong những thuật

ngữ chuyên dụng của Đờn ca tài tử Nam Bộ

 Khái niệm du lịch

Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization, viết tắt UNWTO) thì:

“Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế kéo theo sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa điểm bên ngoài môi trường sống của họ vì mục đích

cá nhân hoặc kinh doanh / nghề nghiệp”

Trang 22

Võ Văn Thành (2015) trong Tổng quan du lịch phát biểu rằng:

Du dịch có hai mặt, một mặt du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ) để nghỉ dưỡng chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật lịch sử, giao lưu tình cảm, công vụ… Mặt khác du lịch được hiểu là tập hơp các hoạt động kinh doanh nhằm giúp đỡ thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người, thông qua việc tổ chức vận chuyển, phục vụ lưu trú, phục vụ ăn uống, phục vụ hướng dẫn tham quan… Tất cả những hoạt động nêu trên tạo ngành kinh doanh du lịch (tr 21)

Theo Luật du lịch 2005 thì: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (tr 6)

Nói đến du lịch thì cần đề cập tới khái niệm loại hình du lịch, có nhiều tiêu chí

để phân biệt các loại hình du lịch, chẳng hạn căn cứ: Phạm vi lãnh thổ hoạt động, căn

cứ vào mục đích chuyến đi, theo đặc điểm của các điểm đến du lịch, theo độ dài chuyến

đi, căn cứ phương tiện du lịch, theo hợp đồng du lịch, căn cứ vào tiêu chuẩn lưu trú Tuy nhiên việc phân loại theo những tiêu chí này cũng mang tính chất tương đối, với một luận văn không chuyên về du lịch học, chúng tôi lựa chọn nhận biết một loại hình

du lịch thông qua mục đích chuyến đi của du khách Từ việc phân loại theo mục đích chuyến đi, có thể phân loại một vài loại hình du lịch như: Du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thảo, du lịch tôn giáo, du lịch nghiên cứu và học tập, du lịch hội nghị

du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh, du lịch sinh thái – văn hóa,

Từ việc nhận biết các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi, chúng tôi có cơ

sở nhận định về các loại hình du lịch phổ biến đang diễn ra trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ

Sau cùng, để luận văn có cơ sở lý luận vững chắc, chúng tôi cần đề cập tới khái

nhiệm tài nguyên du lịch Theo Luật du lịch 2005: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan

thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của

Trang 23

con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị

du lịch (tr 10)”

1.1.2 Các lý thuyết và quan điểm nghiên cứu ứng dụng trong luận văn

 Lý thuyết vùng văn hóa

Trong nghiên cứu văn hóa học thì khái niệm văn hóa vùng và vùng văn hóa rất dễ

có cái nhìn nhầm lẫn Ở đây chúng tôi không đi vào sự khác biệt của hai khái niệm trên

mà tập trung chủ yếu tiếp cận khái niệm nào, của tác giả nào để phù hợp nhất cho luận văn Khái niệm về vùng văn hóa thì theo Ngô Đức Thịnh (1993) cho rằng:

Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác”(tr 99) Trong khi đó Trần Ngọc Thêm (2013) thì chú trọng nhiều đến hệ thống giá trị với định nghĩa rằng:

Vùng văn hóa là một không gian lãnh thổ liên tục với hoàn cảnh tự nhiên tương đối đồng nhất ở bên trong và khu biệt với các không gian lãnh thổ liền

kề bên ngoài, trong đó tồn tại một cộng đồng người thống nhất tương đối (gồm một hay nhiều tộc/ nhóm người), đã cùng cư trú và tiếp xúc giao lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nên được một hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệ thống giá trị của những vùng

có liên quan (tr.147)

Từ hai khái niệm về vùng văn hóa trên, người viết rút ra mấy luận điểm cơ bản

sau đây:

Trang 24

- Vùng văn hóa còn là vùng lãnh thổ được hình thành bởi những điều kiện lịch

sử, tự nhiên và xã hội

- Vùng văn hóa là vùng cư trú lâu dài của những cộng đồng, có nguồn gốc lịch

sử, sắc thái văn hóa khác nhau song lại có cùng một nền văn hóa chung đươc chi phối bởi tư tưởng và thể chế của thời đại Từ đó hình thành một hệ giá trị chung được tất cả cộng đồng trong vùng công nhận; đồng thời giá trị chung đó còn tạo thành sự khác biệt

so với các vùng khác trên lãnh thổ quốc gia

Trong quá trình tiếp nhận âm nhạc Miền Trung để hòa nhập với Nhạc lễ ở Nam

Bộ, nghệ thuật Đờn ca tài tử được hình thành và phát triển trên vùng đất Nam Bộ do nhu cầu của đời sống thực tiễn Quá trình đó có sự tác động bởi những điều kiện tự nhiên và xã hội; mà trong đó yếu tố sông nước, lối sống dựa vào tự nhiên và tính cách hào phóng, làm cho tới cùng, chơi cho tới bến của con người Miền Tây đã là cái nôi nuôi dưỡng nghệ thuật Đờn ca tài tử ngày một lớn mạnh và làm cho nó lan tỏa nhanh chóng khắp cả vùng Nam Bộ

Lý thuyết về du lịch bền vững

Song hành với các chính sách phát huy hiệu quả trong hoạt động du lịch đó là làm thế nào để phát triển du lịch theo hướng bền vững “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai" (Bùi Thị Minh Nguyệt, 2012, tr.149)

Theo tổ chức UNWTO (2012) thì phát triển du lịch bền vững cần phải đáp ứng

03 yêu cầu như sau:

Thứ nhất, về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai

trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên

Thứ hai, về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về các vấn đề xã hội

và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa

Trang 25

Thứ ba, về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp

những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận

ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo

Còn Lê Hồng Tú (2017) đã phát biểu rằng:

tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế,

xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống Mục tiêu của

Du lịch bền vững là: (i), phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh

tế và môi trường; (ii), cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển; (iii), cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa; (iv), đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách; (v), duy trì chất lượng môi trường (tr.15)

Khái niệm phát triển du lịch bền vững nhấn mạnh, chúng ta chú trọng bảo vệ môi trường và duy trì những di sản văn hóa của địa phương, nhằm đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã khai khác nhiều loại hình nghệ thuật bản địa để phục vụ cho hoạt động du lịch địa phương Việc khai thác giá trị của những loại hình nghệ thuật đặc sắc của bản địa trước hết làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy kinh tế địa phương Tuy nhiên, xét theo lý thuyết phát triển du lịch bền vững thì cần chú trọng tới việc gìn giữ và tôn trọng nét đặc sắc của những loại hình nghệ thuật dân gian, tránh sa đà vào lợi nhuận kinh tế mà làm mất đi bản sắc vốn có của nó

Trong quá trình nghiên cứu Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch Tây Nam Bộ nói chung và tại 03 địa phương trong phạm vị nghiên cứu nói riêng, chúng tôi mong muốn dùng những luận cứ trên để đánh giá tính phát triển bền vững của những địa

Trang 26

phương tại Tây Nam Bộ trong việc khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử vào phục vụ du khách

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch

 Di sản văn hóa phi vật thể với du lịch

Văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng, đều có mối quan hệ khăng khít với du lịch, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển

Trước hết, đó là vai trò của di sản văn hóa phi thể với sự phát triển du lịch, từ những quan điểm Lê Hồng Tú (2013), chúng tôi kế thừa và phát triển để có những nhận định như sau:

Thứ nhất, di sản văn hoá phi vật thể là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch,

là nguồn nguyên liệu để hình thành lên hoạt động du lịch, là sức hút để người

du lịch tìm đến Di sản văn hoá phi vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…có thể cảm nhận rõ qua thị giác và thính giác

Thứ hai, mối quan hệ giữa di sản văn hoá phi vật thể và du lịch còn được biểu

hiện qua hành vi ứng xử, đạo đức trong phục vụ, hay trong giao dịch kinh doanh du lịch

Thứ ba, xét ở một khía cạnh khác, mối quan hệ mật thiết này được thể hiện:

nếu muốn phát triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm

cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn - hai yếu tố này không tách rời)

Thứ tư, các di sản văn hóa phi vật thể góp phần trong việc xây dựng các sản

phẩm du lịch đặc thù, quyết định thương hiệu và hình ảnh địa (tr.17-19) Ngược lại, du lịch cũng thể hiện một vai trò hết sức quan trọng trong mối quan

hệ này, nó tác động không nhỏ đến giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể:

Thứ nhất, du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị

văn hoá của một địa phương, một dân tộc để mọi khách du lịch trong nước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức

Trang 27

Thứ hai, du lịch là cầu nối văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc gia được tăng

cường và mở rộng

Thứ ba, du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị văn

hoá dân tộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian trước những biến cố của lịch sử

Thứ tư, du lịch tạo ra nhiều công việc tại chỗ cũng như nâng cao thu nhập của

người dân địa phương, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có văn hóa

Khi khai thác những di sản văn hóa phi vật thể trong hoạt động du lịch địa phương,

sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch địa phương, tăng thêm sức thu hút đối với

du lịch, đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho cộng động liên quan tới di sản văn hóa phi vật thể đó Ngoài ra du lịch được ví như kênh quảng bá hữu hiệu để mang di sản văn hóa phi vật thể địa phương đến bạn bè quốc tế, tuy nhiên cần khai thác bền vững theo đúng những tiêu chí phát triển du lich bền vững đã nêu trên

 Văn hóa du lịch và du lịch văn hóa

Quan niệm về văn hóa du lịch, Đổng Ngọc Minh & Vương Lôi Đình (2001) đã

phát biểu rằng:

Văn hoá du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hoá và du lịch mà

là sự kết hợp giữa du lịch và văn hoá, là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tương hỗ lẫn nhau giữa 03 loại: Nhu cầu văn hoá và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch (du khách); nội dung và giá trị văn hoá của khách thể du lịch (là tài nguyên du lịch có thể thoả mãn sự hưởng thụ tinh thần và vật chất của người du lịch); ý thức và tố chất văn hoá của người môi giới phục vụ du lịch (hướng dẫn viên, thuyết minh viên, người thiết kế sản phẩm, nhân viên phục vụ… ) sản sinh ra ( tr 325-326)

Theo Nguyễn Phạm Hùng thì cho rằng:

Trang 28

Văn hóa du lịch là một bộ phận của văn hóa, bao gồm toàn bộ các thực thể văn hóa do con người tạo ra, được bảo vệ, gìn giữ khái thác và sử dụng trong du lịch; cũng như toàn bộ các thực thể văn hóa đặc thù được tạo ra trong hoạt động

du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch (tr.67)

Từ hai khái niệm trên, chúng tôi nhận định văn hoá du lịch là được sinh ra và phát triển cùng với hoạt động du lịch

Mặc khác, du lịch văn hóa là một khái niệm đã có một lịch sử lâu dài trên thế giới

và dần trở nên quen thuộc cho bất kỳ ai làm trong hoạt động du lịch Theo Luật du lịch 2005: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” (tr 9) Nguyễn Phạm Hùng (2019) cho rằng: “ Du lịch văn hóa có thể được nhìn nhận trên nhiều tư cách khác nhau, nhưng quan trọng nhất với hai tư cách, thứ nhất là một thực thể văn hóa, và thứ hai, là một thực thể du lịch” (tr 264)

Từ các khái niệm về du lịch và về du lịch văn hóa đề cập như trên, chúng tôi nhận thấy du lịch văn hóa xét cho cùng cũng là những chuyến đi có mục đích chủ yếu hoặc thứ yếu trong việc tham quan các địa điểm, sự kiện, lễ hội được công nhận là di sản văn hóa của một cộng đồng người Việt Nam là một quốc gia có nhiều tài nguyên nhân văn như các công trình nghệ thuật kiến trúc cung đình, lăng tẩm, đình miếu, chùa chiền, những khu di tích khảo cổ học Cùng với đó là 13 di sản văn hóa thế giới phi vật thể, nhiều lễ hội, ẩm thực, trang phục dân tộc, Đây là một điều kiện lý tưởng để phát triển

du lịch văn hóa mà nhiều quốc gia quốc khác trên thế giới không có

Trong khi văn hoá du lịch là một phạm trù rộng, thể hiện toàn bộ giá trị văn hoá được nảy sinh trong hoạt động du lịch thì du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đang thịnh hành hiện nay trên thế giới cũng như ở Tây Nam Bộ Tuy nhiên, trong hoạt động chúng tôi nhận thấy chưa có sự nhận thức đồng bộ về quan điểm của các nhà quản lý văn hóa, nhà quản lý du lịch, các nhà kinh doanh du lịch về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa Đây cũng là một lý do khiến việc khai thác nghệ thuật Đờn ca tài tử chưa hiệu quả, chưa thực sự thu hút du khách trong nước và quốc tế Trong bối cảnh hiện nay,

Trang 29

nếu chúng ta quan tâm nhiều hơn văn hóa du lịch, cụ thể là những tiết mục Đờn ca tài

tử được đầu tư và chuẩn bị kỹ lưỡng, những món quà lưu niệm đẹp và ý nghĩa, ít nhiều

sẽ tác động tích cực đến hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ

yếu tố mang sắc thái dân tộc, địa phương, vùng miền

Còn sản phẩm du lịch, nói một cách dễ hiểu, là những sản phẩm được tạo ra để

phục vụ nhiều đối tượng du khách khác nhau Theo Luật du lịch 2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến

đi du lịch” (tr 8) Nguyễn Phạm Hùng đã phát biểu rằng:

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp tối ưu giữa tài nguyên du lịch với dịch vụ du lịch thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa của du khách trong không gian và thời gian nhất định (tr.290)

Những nhu cầu này khá phong phú và đa dạng phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội, sức khỏe, khả năng tài chính và các yếu tố tâm sinh lý khác… Từ thực tế trong hoạt động du lịch ở Việt Nam, chúng tôi quan niệm về sản phẩm du lịch là những dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng những

Trang 30

nhu cầu du khách qua đó mang lại lợi ích cá nhân cũng như cộng động địa phương tạo

ra dịch vụ đó

Để làm rõ hơn hai khái niệm này, chúng tôi vận dụng những quan điểm của

Dương Văn Sáu (2013) và thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng so sánh sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch

Bên cạnh dấu ấn cá nhân còn mang nặng

dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa

Mang nặng dấy ấn của các cá nhân, các

nhà tổ chức, khai thác Dùng cho tất cả các đối tượng khác nhau

khi có nhu cầu, phục vụ mọi người

Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch Sản xuất ra không nhất thiết để bán, chủ

yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa

– tinh thần của cư dân bản địa

Hàng hóa sản xuất phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng khách du lịch là

cư dân của các vùng miền khác nhau Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị không

đo được hết bằng giá cả

Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế - xã hội Giá trị đo được bằng giá cả Quy mô hạn chế, thời gian và không

gian xác định

Quy mô không hạn chế, thời gian và không gian không xác định Sản phẩm mang nặng định tính, khó xác

định định lượng Giá trị của sản phẩm

mang tính vô hình thể hiện qua ấn

tượng, cảm nhận

Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được Với những đặc điểm trên, Đờn ca tài tử là một sản phẩm văn hóa đặc sắc của người Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung Việc đưa Đờn ca tài tử vào trong hoạt động du lịch thì hiển nhiên nó trở thành một phần trong sản phẩm du lịch liên quan và

Trang 31

chịu sự tác động từ những yếu tố kinh tế du lịch liên quan Đờn ca tài tử là một sản phẩm văn hóa đặc biệt, là niềm tự hào dân tộc nên chúng ta tuyệt đối không đặt lợi nhuận kinh tế hàng đầu khi đưa nó thành sẩn phẩm du lịch Mỗi tiết mục Đờn ca tài tử cần được đầu tư kỹ lưỡng từ trang phục, hình thức biểu diễn, chất lượng hình ảnh và

âm thanh để du khách có cảm nhận được các giá trị của nó, xứng đáng với sự kỳ vọng của họ

1.2 Khái quát nghệ thuật Đờn ca tài tử

1.2.1 Nguồn gốc và diễn trình lịch sử

Nói đến Đờn ca tài tử Nam Bộ (thường được gọi là nhạc Tài tử), một loại hình nghệ thuật đặc sắc của người Việt tại Nam Bộ, chúng ta sẽ nghĩ đến những địa phương nổi tiếng về loại hình nghệ thuật này như Bạc Liêu, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ… Tuy nhiên, theo đa số các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc nổi tiếng như Trần Văn Khê

(2004) trong Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam , Nguyễn Thụy Loan (2013) trong Đờn ca tài tử đặc trưng và đóng góp - tuyển tập 2, Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2011) trong Góp phần nghiên cứu Đờn ca tài tử Nam bộ … cùng có quan điểm cho

rằng nguồn gốc lịch sử của loại hình nghệ thuật này cũng giống như chủ nhân vùng đất Nam Bộ xưa kia, đó là có lịch sử liên quan tới những đợt di dân của người Việt từ vùng Thuận Hóa vào Nam Bộ, họ đã mang đến vùng đất mới những phong tục tập quán, nghệ thuật âm nhạc trong đó có Nhạc lễ cùng kết hợp với nét văn hóa cư dân bản địa

và từ đó bắt đầu hình thành nhạc Tài tử

Vào khoảng thế kỷ 19 thì ở Nam Bộ chỉ có dàn Nhạc lễ hay là dàn nhạc ngũ âm thường được hát trong những buổi cúng đình, những kỳ lễ cúng thần linh hằng năm, hay cũng có khi được mời hát trong dịp chay của những gia đình khá giả

Mặc dù lịch sử Đờn ca tài tử có từ lâu đời nhưng chỉ bắt đầu thoát ra khỏi lễ hội

và được công chúng biết đến chỉ từ đầu thế kỷ 20 Trong thời kỳ manh nha này, nhạc giới cho rằng đã hệ thống đầy đủ bài bản hơi điệu nhạc Tài tử Một dấu ấn quan trọng đối với nhạc Tài tử đó là sự kiện ban nhạc của ông Nguyễn Tống Triều được chọn qua

Trang 32

Cũng trong thời gian này, Nam Bộ hình thành hai nhóm Đờn ca tài tử gọi là hai trường phái: “nhóm miền Đông” nổi tiếng với bộ “Ngũ Châu”, “Bát Ngự” … được đứng đầu bởi nhạc sư Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), ông vốn là một quan nhạc triều Nguyễn vào Nam dạy nhạc Lễ, Đờn ca tài tử và “nhóm miền Tây” nổi tiếng với bộ

“Tứ Bửu”, “Thập thủ liên hườn” … được đứng đầu bởi nhạc sư Trần Quang Quờn (Kí Quờn), một người tài hoa cả “cầm - kỳ - thi - họa” Cùng với đó là một số nhạc sư nổi tiếng như Nhạc Khị (Lê Tài Khị), Trần Quang Diệm, …

Đờn ca tài tử trong những năm từ 1930 – 1956 bắt đầu phân hóa thành 2 hình

thức: Một là, vẫn thủy chung với lối chơi đờn ca thính phòng của những người tri âm tri kỷ và tiếp tục phát triển ở các giai đoạn sau; hai là, trở thành cội nguộn cho hình

thành một nghệ thuật mới, nghệ thuật sân khấu Cải lương

Giai đoạn từ năm 1956 thì nghệ thuật Đờn ca tài tử đã được đưa vào giảng dạy ở các trường âm nhạc dù là bối cảnh nào của lịch sử nước nhà Những năm 1990, Đờn

ca tài tử bắt đầu đưa vào khai thác trong hoạt động du lịch địa phương, khởi điểm là các điểm du lịch sinh thái trên cồn Thới Sơn, thành phố Bến Tre

Trang 33

Suốt quá trình hình thành và phát triển của Đờn ca tài tử, đại đa số người dân Nam Bộ yêu thích loại hình nghệ thuật này, luôn có thể ngẫu hứng chia sẽ nhau lời ca tiếng đờn dù giữa họ phải chăng có khoảng cách về hoàn cảnh, lối sống cũng như là tư tưởng Ngày 05/12/2013, nghệ thuật Đờn ca tài tử chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới phi vật thể đại diện của nhân loại và lịch sử dường như

đã bước sang trang mới đối với loại hình nghệ thuật bình dân này

Trải qua gần hai thế kỷ hình thành và phát triển, nghệ thuật Đờn ca tài tử luôn mãi trong tâm trí người dân Nam Bộ cho dù họ bất cứ nơi đâu Đờn ca tài tử luôn thể hiện cái nét rất riêng biệt của nó so với các loại hình nghệ thuật cổ truyền ở trong và ngoài nước Trong giới hạn của bài viết, chúng tôi đã cố gắng phát thảo sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật Đờn ca tài tử

1.2.2 Đặc trưng nghệ thuật Đờn ca tài tử

 Tính chuyên nghiệp của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Tính chuyên nghiệp của Đờn ca tài tử được thể hiện đầu tiên qua hệ thống bài bản

rõ ràng với 20 bài tổ ở các loại hơi khác nhau

Tính chuyên nghiệp của Đờn ca tài tử thể hiện thông qua cấu trúc bài bản rõ ràng

có độ chính xác về số lượng câu, nhịp, thang âm, âm cuối câu,…

Tính chuyên nghiệp được thể hiện trong cách truyền dạy đờn ca Việc truyền dạy

nghệ thuật này theo hai hình thức: Một là, truyền ngón, truyền miệng trực tiếp tại nhà, câu lạc bộ, gia đình, dòng họ; hai là, truyền ngón, truyền miệng kết hợp với giáo án,

bài giảng tại một số trường văn hóa nghệ thuật địa phương và quốc gia

Tính chuyên nghiệp được thể hiện rõ nét từ các nhạc cụ có trong một ban Đờn ca tài tử, bao gồm: đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, đờn tỳ bà, song lang, ống tiêu Khoảng từ năm 1920, có thêm lục huyền cầm (đàn ghi ta), hạ uy cầm và violon trong dàn nhạc Người dạy trong hoạt động đờn ca luôn thể hiện sự chuyên nghiệp để truyền dạy cho thế hệ mai sau Trong khi người dạy đờn (thầy Đờn) có kỹ thuật đàn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy cách chơi các nhạc cụ; người đặt lời (thầy Tuồng) nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bản mới; người dạy ca (thầy Ca) thông thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu luyện, dạy cách ca ngân, luyến láy

Trang 34

Tính chuyên nghiệp của Đờn ca tài tử thể hiện qua thời gian người học đờn ca cần bỏ ra học để hoàn thành những kỹ năng cơ bản Như chúng tôi đã nói phần trên, có rất nhiều người cứ nghĩ Đờn ca tài tử là loại hình âm nhạc không chuyên Tuy nhiên,

để học đờn cần ít nhất 3 năm để có được những kỹ năng cơ bản, như: rao, rung, nhấn, khảy, búng, phi, vê, láy, day, chớp, chụp,…; rồi học chơi độc chiếc hoặc hòa tấu với bạn đờn ( tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, lục tấu) với các nhạc cụ khác nhau kết hợp các điệu (hơi): Bắc, Hạ (nhạc), Xuân, Ai, Oán,…để diễn tả tâm trạng, tình cảm vui, buồn Trên những lòng bản cụ thể, người học ca cần nắm vững nhịp điệu, luyện tập cách nhấn nhá

và luyến lấy để thể hiện “bản sắc riêng” của giọng ca mình, người học ca phải cố gắng nắm vững kỹ năng đề hòa vào tiếng đờn, tạo ấn tượng với người nghe

Khi biểu diễn Đờn ca tài tư, các nghệ nhân thường chú trọng đến sự kết hợp của nhạc cụ có âm sắc khác nhau, để kết hợp các âm sắc từ nhiều nhạc cụ thì cần phải có

sự chỉnh chu, chuyên nghiệp từ các thành viên trong ban nhạc Từ đó mới thể hiện được cái hồn của loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng đất Nam Bộ

Tính chuyên nghiệp của Đờn ca tài tử không chỉ xung quanh những nội hàm bên trong mà được nền công nghiệp âm nhạc thừa nhận Cụ thể, khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, Đờn ca tài tử được nhiều hãng đĩa nhựa trong và ngoài nước như hãng Việt Hải, Hồng Hoa, Pathe, Beka, Ocora thu thanh và phát hành khắp vùng đất Nam Bộ cũng như nước ngoài

 Tính ngẫu hứng, sáng tạo của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Tính ngẫu hứng được thể hiện rõ qua việc không gian, thời gian, nhạc cụ, cũng như cách đờn ca của những nghệ nhân Không gian chơi nhạc cũng có thể từ trong nhà khách của những gia đình khá giả, hay không gian mát mẻ của những vườn trái cây chỉ cần trải chiếc chiếu cho các ban nhạc ngồi là có thể chơi nhạc Thời gian không quan trọng thời điểm nào trong ngày, có thể là sáng sớm, trưa, chiều hay tối, quan trọng nhất chính là các nghệ nhân có hứng thú chơi thì có thể trao nhau những tiếng đờn tri kỷ Tính ngẫu hứng, sáng tạo được thể hiện rõ nét qua việc liên tục tiếp nhận những nhạc cụ mới, trong đó phải kể đến là cải biên cây guitar phím lõm, violon, guitar hawaii đưa vào bộ nhạc cụ

Trang 35

Người đàn dùng rao - người ca dùng nói lối, ngâm thơ (phần hát tự do) – để gợi

cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu Ngoài ra khi trình diễn các nghệ sĩ

có thể dùng tiếng đờn của mình để “ đối đáp” hoặc “thách thức” với người đồng diễn Đây cũng là điểm tạo sự mới lạ, hấp dẫn, cuốn hút của loại hình nghệ thuật dân tộc này Buổi sinh hoạt càng thu hút thính giả cùng tham gia, không gian càng được mở rộng, lúc đầu chỉ có đờn, sau đó kết hợp với đờn cùng ca, nên gọi là đơn ca

Sự sáng tạo của nghệ thuật Đờn ca tải từ diễn ra liên tục từ lúc nảy sinh cho tới ngày này Từ việc dựa trên nền tảng Nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình để hình thành nên hệ thống 20 bài tổ cho 4 điệu hơi và rất nhiều bài nhạc cổ khác Từ Đờn ca tài tử, các bậc tiền bối sáng tạo lối ca ra bộ, đây là sự khởi đầu của nghệ thuật sân khấu Cải lương Tuy nhiên, ngày nay người chơi đờn ca đang có xu hướng sơ lược, rút gọn bài bản các bậc tiền nhân để lại, đây cũng thể hiện tính liên tục sáng tạo của Đờn ca tài tử

 Tính giao lưu của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Nghệ thuật Đờn ca tài tử chủ yếu được các nghệ nhân chơi theo nhóm, câu lạc bộ

và thậm chí chơi trong gia đình Người say mê hát, người đờn thì say mê gảy, họ biểu đạt tâm tư, tình cảm và đờn ngẫu hứng mà vẫn đảm bảo tính thống nhất khi cả nhóm hợp vào âm, nhịp chính ở giữa hay cuối câu nhạc So nhiều loại hình nghệ thuật khác, thính giả của Đờn ca tài tử có thể tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo

Trang 36

Có một minh chứng sống động nhất về giao lưu của Đờn ca tài tử là những người chơi luôn tôn trọng, quý mến, học hỏi Nhạc giới luôn trân trọng sự sáng tạo, sự đóng góp và mến mộ tài năng của nhau, đặc biệt là dành cho những người mới quen Họ không chỉ chơi đờn ca giao lưu, mà thông qua những biểu trình diễn, người chơi đờn

ca còn thể góp ý, rèn luyện cùng nhau để bản thân được nâng cao kỹ năng cũng như sự hiểu biết

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật trình diễn phổ biến, bình dân phản ánh tâm

tư, tình cảm của người dân Nam Bộ ở miệt vườn, sông nước với lối sống cần cù, phóng khoáng và can trường Cho nên, Đờn ca tài tử khuyến khích được sự cởi mở và thưởng thức nghệ thuật, không chỉ với những người chơi mà cả đối với công chúng nói chung Tính giao lưu được thể hiện rõ nét trong buổi biểu diễn giữa các câu lạc bộ trong địa phương, hay tham gia biểu diễn giao lưu trong những liên hoan Đờn ca tài tử hằng năm được tổ chức luân phiên tại 21 tỉnh thành phía Nam

Đờn ca tài tử có tính giao lưu nên hầu hết các điểm biểu diễn trong các điểm du lịch từ Thới Sơn, tới homestay Út Trinh cho tới du thuyền Cần Thơ và nhiều địa điểm khác, thường có phần giao lưu với du khách trong nội dung biểu diễn

1.2.3 Giá trị loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử

 Giá trị nghệ thuật của Đờn ca tài tử

Người dân vùng đất Nam Bộ luôn coi nghệ thuật Đờn ca tài tử là nét sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và di sản quý giá của chính họ Vào ngày 12/8 âm lịch hằng năm, lễ giỗ Tổ được tổ chức một cách rất trang trọng

Lê Hồng Tú (2013) đã phát biểu rằng:

Nghệ thuật Đờn ca tài tử có lịch sử hình thành muộn so với nghệ thuật Tuồng (Bội), Chèo, Ca trù…nhưng điều đáng quan tâm là loại hình nghệ thuật này đã chứa đựng đầy đủ, đậm đặc các giá trị văn hoá Việt với những đặc trưng đa dạng riêng Nghệ thuật Đờn ca tài tử vừa mang tính chuyên nghiệp vừa có chất dân dã Những đặc điểm đó thể hiện đậm nét từ hình thức tổ chức đến nội dung

Trang 37

sinh hoạt; từ không gian diễn tấu đến hệ thống bài bản, từ tập tục thói quen, ngón đờn, giọng ca đến sự giao tiếp, ứng xử; từ sự giao hoà tâm hồn đến nỗi niềm vui buồn, tri âm, tri kỷ của những người tham gia hoà đờn, hoà ca (tr.30) Giá trị nghệ thuật của Đờn ca tài tử thể hiện rõ nét qua sự điêu luyện trong kỹ thuật độc tấu và ca, phối hợp nhuần nhuyễn, tế nhị trong hòa tấu, sáng tạo linh động trong cách trình diễn ngẫu hứng từ lòng bản

Không chỉ vậy, Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không quá phụ thuộc vào không gian và thời gian Sau khi kết thúc một vụ mùa, sau một ngày lao động, cho đến hội hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều có thể tổ chức sinh hoạt hoặc biểu diễn Đờn

ca tài tử

Tại các tỉnh Tây Nam Bộ, từ lâu Đờn ca tài tử đã trở thành món ăn tinh thần hết sức bình dị của bà con miền sông nước Khi mừng vụ mùa màng bội thu, bà con chơi những bản Bắc nhằm diễn tả sự vui tươi, phóng thoáng; trong những buổi lễ có tính trang nghiêm thì tiếng đờn bản Hạ sẽ giúp không khí thêm phần trang trọng hơn; vào những ngày an nhàn, thảnh thơi thì tiếng đờn bản Nam sẽ khiến người chơi lẫn người nghe như hòa quyện với khung cảnh yên tĩnh của miền sông nước; khi muốn nói lời

từ biệt, oán hờn, thì tiếng đờn bản Oán sẽ diển tả cảnh đau thương, chia ly như không muốn rời nhau

 Giá trị giáo dục của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Chúng ta có thể giáo dục thế hệ trẻ về tình yêu quê hướng đất nước qua văn chương, thơ ca, hội họa, còn với người dân Nam Bộ thì tiếng đờn, lời ca sẽ là phương tiện mang thông điệp giáo dục rất hiệu quả

Từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, có rất nhiều bản đờn ca mang thông điệp giáo dục tinh thần yêu nước, lên án sự tàn bào của thực dân xâm lược Chẳng

hạn, Nhị Tấn (1997) phát biểu rằng: “Văn Thiên Tường của Trần Văn Thọ để tưởng

nhớ Thủ khoa Nguyễn Hữa Huân bị thực dân Pháp giết tại Mỹ Tho trong sự liên tưởng tới một nhân vật trong lịch sử Trung Hoa – bị bắt nhưng vẫn giữ vũng khí tiết hiên

Trang 38

ngang ngay cả khi bị xử tử” (tr.15) Trong công trình nghiên cứu về nhạc sư Hai Khị, Trần Phước Thuận (2007) phát biểu rằng: “ Ông đã thành lập một ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc, như các ban nhạc khác để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một lò luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bà ca yêu nước” (tr.22)

Ngày nay, những bản chào mừng đến với Vĩnh Long, Tiền Giang, Thới Sơn luôn dạy bảo thế hệ mai sau phải tự hào và yêu quê hương sâu đậm hơn nữa Những bản về đạo lý, nhân nghĩa, cách làm người giáo dục người thưởng thức nhận thức về thái độ sống đẹp trong một xã hội nhiều biến đổi Hay những bản giới thiệu cảnh đẹp quê hương, giới thiệu đặc sản phong phú của sông Tiền, sông Hậu; hoặc những lời ca

dí dỏm, hài hước nói về hoạt động thường ngày của người dân miền sông nước như làm đồng, cuốc đất, giăng câu…Đây là cách quảng bá rất hiệu quả đối với du khách

về quê hương, con người và văn hóa vùng đất Nam Bộ nói chung cũng như Tây Nam

Bộ nói riêng

 Giá trị gắn kết cộng đồng của nghệ thuật Đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng bằng nghệ thuật, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng Đồng thời, Đờn ca tài tử đã trở thành cầu nối cho sự giao tiếp của các cộng đồng, nhóm người và cá nhân góp phần hình thành sự hài hòa và nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội

Trên con đường hình thành nghệ thuật Đờn ca tài tử đã có gắn kết và kế thừa văn hóa đa dạng giữa Trung Bộ và Nam Bộ Không những thế ngoài có sự tích hợp giá trị nhạc Cung đình và dân gian, còn dung nạp nhiều giá trị văn hóa của người Khmer, Hoa

và phương Tây Từ đó, vai trò của Đờn ca tài tử thể hiện rõ nét trong cộng đồng các dân tộc trong vùng đất Nam Bộ nói chung và của Tây Nam Bộ nói riêng, nơi phần đồng dân số là người Việt, Hoa và Khmer Việc thực hành, sáng tạo, thưởng thức, trao truyền Đờn ca tài tử giữa các thế hệ không vi phạm quyền con người, vì mọi người đều có thể

tự nguyện, bình đẳng tham gia, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, trình độ, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp…

Trang 39

Nghệ thuật Đờn ca tài tử phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Trong

đó sáng tạo và giải trí là 2 nhu cầu căn bản đã thúc đẩy sự phát triển và lan tỏa của loại hình này khắp vùng Nam Bộ Do đó bản thân Đờn ca tài tử đã mang tính gắn kết cộng đồng Thông qua việc thực hành Đờn ca tài tử, cộng đồng còn giới thiệu và bảo tồn các nét văn hóa khác như: lễ hội, truyền miệng, nghề thủ công

Tóm lại, Đờn ca tài tử là tinh hoa của nghệ thuật dân tộc, gắn bó với đời sống của người Tây Nam Bộ, từ những ngày đầu mở đất, là hơi thở, là tiếng lòng của những con người hào sảng và nghĩa khí; là sức sống mãnh liệt đậm tính nhân văn của một vùng sông nước, phong phú cây trái, mênh mông ruộng đồng Loại hình nghệ thuật này như một viên ngọc quý cần được bảo tồn và phát huy, nhằm góp phần tăng thêm sức mạnh văn hoá truyền thống của vùng Tây Nam Bộ nói riêng, văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung

1.3 Các loại hình du lịch phổ biến ở Tây Nam Bộ

Như đã thống nhất trong mục 1.1, chúng tôi căn cứ mục đích chuyến đi của du khách để phân loại các loại hình du lịch Tuy nhiên, trong một chuyến tham quan, du khách không chỉ có một mục đích duy nhất, có nhiều chuyến đi có đến hai hoặc nhiều mục đích khác nhau Vì thế, việc nhận biết loại hình du lịch mà du khách tham gia thông qua mục đích chuyến đi chỉ mang tính chất tương đối, nếu một chuyến đi có trên hai mục đích thì chúng tôi căn cứ vào mục đích chính của du khách

Trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ, nếu phân loại theo mục đích chuyến đi thì khu vực này có khá nhiều loại hình du lịch, trong đó có: Du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái – văn hóa, du lịch nghĩ dưỡng, du lịch tôn giáo, du lịch kinh doanh Từ kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi nhìn nhận tại khu vực Tây Nam Bộ có 03 loại hình du lịch phổ biển nhất đó là: Du lịch sinh thái – văn hóa, du lịch nghĩ dưỡng,

du lịch hội nghị

1.3.1 Loại hình du lịch sinh thái – văn hóa

Du lịch sinh thái – văn hóa (Eco- cultural tourism) là loại hình du lịch được tạo thành từ sự kết hợp hài hòa giữa du lịch sinh thái gắn với văn hóa bản địa, giữa việc

Trang 40

tham quan các điểm đến thiên nhiên với những lễ hội, trải nghiệm nét văn hóa địa phương trong cùng một chuyến tham quan Vì bản thân đây là một loại hình được hình thành từ hai loại hình du lịch nên hiển nhiên du khách tham gia những chuyến đi thường

có hai mục đích trở lên, du khách không chỉ dừng lại việc tham quan những cảnh điểm sinh thái mà có muốn tìm hiểu nhiều hơn nữa những nét văn hóa nơi đến

Trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ có rất nhiều tuyến điểm, nhiều địa phương khai thác chương trình tham quan thuộc về loại hình du lịch sinh thái – văn hóa Tại Bến Tre và Tiền Giang có những chương trình tham kết hợp tham quan nhà vườn, ngồi

đò chèo, nghe Đờn ca tài tử trên các cồn Thới Sơn, cồn Phụng, Cái Bè Cần Thơ có chương trình du lịch tại cồn Sơn, chợ nổi Cái răng, những nhà vườn trái cây Phong Điền, thưởng thức ẩm thực và nghe Đờn ca tài tử trên du thuyền Tại An Giang với những chương trình kết hợp tham quan rừng trà Trà Sư, núi Cấm với các cơ sơ tín ngưỡng, tôn giáo như miếu Bà Chúa Xứ Tại Trà Vinh có chương trình du tham quan cồn Chim, cồn Hô vừa trải nghiệm cảnh quan sinh thái nơi này và vừa tìm hiểu nét văn hóa khá thú vị

Ngoài ra còn nhiều địa phương có chương trình du lịch sinh thái – văn hóa như: Tham quan rừng ngập mặn ở Cà Mau, khu tưởng niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu, những ngôi chùa khmer ở Sóc Trăng; Trong hoạt động du lịch ở Tây Nam Bộ, những chương trình du lịch không chỉ tham quan một địa phương, có những chương trình tham quan 2 cho tới 3 địa phương, cũng có những chương trình đi hầu hết những các địa phương ở Tây Nam Bộ, điều này càng khẳng định loại hình du lịch sinh thái – văn hóa là một loại hình du lịch phổ biến, đặc sắc nhất ở Tây Nam Bộ

1.3.2 Loại hình du lịch nghỉ dưỡng

Nghỉ dưỡng là một nhu cầu, một mục đích khá quan trọng trong mỗi chuyến đi Đối với loại hình du lịch này thì nó diễn ra trong nhiều điều kiện địa lý khác nhau Du khách đến Tây Nam Bộ với nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng thường chọn những khu nghỉ dưỡng nằm gần bãi biển và những homestay miệt vườn yên tĩnh để lưu trú

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Radugin – Vũ Đình Phong (dịch). 2001. Từ điển bách khoa Văn Hóa Học. Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Văn Hóa Nghệ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Văn Hóa Học
2. Chales K. Goeldner & Bren Ritchie, J.K. (2009), Eleventh Edition Tourism: Principles, Practices, Philosophies. Hoa Kỳ: Viley Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eleventh Edition Tourism: "Principles, Practices, Philosophies
Tác giả: Chales K. Goeldner & Bren Ritchie, J.K
Năm: 2009
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2009. Giáo trình: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. 2010. “Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”. Số: 803/QĐ-BVHTTDL Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”
6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. 2015.“ Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Số 194/ QĐ-BVHTTDL Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long”
7. Bùi Thị Minh Nguyệt. 2012. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại vườn quốc gia Ba Vì . Hà Nội: Tạp chí Khoa học và công nghệ Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại vườn quốc gia Ba Vì
8. Bùi Trọng Hiền .1999. Mối quan hệ giữa nhạc cung đình - thính phòng Huế, nhạc tuồng và nhạc Tài tử Cải lương Nam bộ. Tư liệu nhạc cung đình Việt Nam: Viện Âm nhạc số (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa nhạc cung đình - thính phòng Huế, nhạc tuồng và nhạc Tài tử Cải lương Nam bộ
9. Đào Duy Anh. 1992. Việt Nam văn hóa sử cương. TP Hồ Chí Minh: Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
10. Đỗ Dũng. 2003. Sân khấu Cải lương Nam bộ 1918- 2000 . TP Hồ Chí Minh: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu Cải lương Nam bộ 1918- 2000
11. Đổng Ngọc Minh & Vương Lôi Đình. 2001. Kinh tế du lịch và du lịch học. TP Hồ Chí Minh: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch và du lịch học
12. Dương Văn Sáu. 2013. Văn hóa du lịch: Sản phẩm của văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay . Hà Nội: Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm của văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay
13. Dương Văn Sáu. 2018. Di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng Việt Nam. Hà Nội: ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử- văn hóa và danh thắng Việt Nam
14. Goodwin, H. 2016. Responsible Tourism: Using Tourism for Sustainable Development. Oxford: Oxford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Responsible Tourism: Using Tourism for Sustainable Development
15. Hoàng Đạm. 2003. Hòa tấu biến hóa lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt. Hà Nội: Viện Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa tấu biến hóa lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt
16. Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ. 2004. Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam bộ. Hà Nội: Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam bộ
17. Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam và Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn TP HCM. 2002. Văn hóa dân gian và sự phát triển văn hóa đô thị. Hà Nội:Đại Học Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian và sự phát triển văn hóa đô thị
18. Huỳnh Công Tín. 2016. Văn hóa cải lương Nam bộ - Từ Đờn ca tài tử đến sân khấu Cải lương, từ lý luận đến thực tiễn. TP Hồ Chí Minh: Văn hóa – Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa cải lương Nam bộ - Từ Đờn ca tài tử đến sân khấu Cải lương, từ lý luận đến thực tiễn
19. Huỳnh Lứa. 1987. Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ. TP Hồ Chí Minh: Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ
20. Kiều Thu Hoạch. 2015. Văn hóa dân gian người Việt – Góc nhìn so sánh. Hà Nội: Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Việt – Góc nhìn so sánh
12. Website tổng cục thống kê: https://www.gso.gov.vn/. Truy cập 26/02/2020 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w