Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn: “Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Tây Ninh hiện nay” có thể khái quát theo các hướng cụ thể s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Ở TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Ở TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Vũ Toản Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn là
trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 4Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 14
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 14
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 14
7 Kết cấu của luận văn 15
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ 16
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ 16
1.1.1 Quan điểm về kinh tế 16
1.1.2 Quan điểm về chính trị 23
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ 30
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị 31
1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới 43
Kết luận chương 1 60
Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY 62
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY 62
2.1.1 Khái quát vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Tây Ninh 62
2.1.2 Khái quát đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội ở tỉnh Tây Ninh trong thời kỳ đổi mới hiện nay 65
Trang 52.2.1 Thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay 71
2.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay 92
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY 96
2.3.1 Phương hướng cơ bản trong việc thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay 96
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay 107
Kết luận chương 2 121
KẾT LUẬN CHUNG 124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản có tác động trực tiếp đến sự vận động và phát triển của mọi xã hội Do đó, trong các tác phẩm kinh điển, khi nghiên cứu về những quy luật xã hội phổ biến, C Mác (1818 – 1883), Ph Ăng-ghen (1820 – 1895) và V.I Lê-nin (1870 – 1924) đã đưa ra khá nhiều quan điểm về kinh
tế, chính trị và mối quan hệ giữa chúng C Mác và Ph Ăng-ghen đã khẳng định:
“Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến
cơ sở kinh tế” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1999c, trang 271); “ điều kiện kinh tế, rốt cuộc giữ vai trò quyết định Nhưng những điều kiện chính trị cũng đóng một vai trò nhất định, tuy không phải là vai trò quyết định” (C Mác và Ph Ăng-ghen,
1997, trang 642) Luận điểm: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” (V.I Lê-nin, 1978, trang 349), “Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại” (V.I Lê-nin,
1978, trang 147) và “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh
tế Lập luận một cách khác đi, tức là quên mất những điều sơ đẳng của chủ nghĩa Mác” (V.I Lê-nin, 1979b, trang 349) là những quan điểm căn bản của V.I Lê-nin
về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII (2016) của Đảng đã yêu cầu phải tiếp tục quán triệt và xử lý tốt
các mối quan hệ lớn, trong đó có 3 mối quan hệ liên quan trực tiếp đến mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị, đó là quan hệ “giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, trang 80) Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đây là một nội dung cốt lõi trong đường lối, chủ trương của Đảng Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy kinh
tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng đặt vấn đề cần phải giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Trang 7Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu phải nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị phù hợp với tình hình mới Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ngày càng trở thành vấn đề thực tiễn cấp bách Quá trình này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận để tìm ra hình thức và bước đi phù hợp Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được chính thức bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) cũng đã nhấn mạnh:
“Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình Đảng phải đổi mới nhiều mặt; đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới
tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, trang 124)
Đến Đại hội lần thứ VIII (1996), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định chủ trương “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996, trang 71) Kế thừa tinh thần của các kỳ đại hội trước, tại Đại hội XII, Đảng nhấn mạnh mục tiêu và nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm tới là: “Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, trang 75) Qua 35 năm đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng,
“đổi mới kinh tế luôn gắn với đổi mới chính trị một cách hợp lý” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, trang 184), “chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, xã hội từng bước đạt được công bằng, tiến bộ ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, trang 186) Những thành tựu đã đạt được đó không thể tách rời việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Tuy nhiên, công cuộc đổi mới hiện nay cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp cần giải quyết Việc nhận thức và đổi mới tư duy lý luận về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam Thực tiễn đã cho thấy, quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn bộc lộ những khuyết tật
Trang 8có nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa Việc tổ chức, chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị còn hạn chế, bất cập và chưa đồng bộ, làm cho nền kinh tế phát triển chưa bền vững, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, kém hiệu lực, hiệu quả, đổi mới chính trị và hệ thống chính trị chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội và đổi mới kinh tế Việc nhận thức, thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở một số địa phương hiện nay “còn lúng túng, bị động, thiếu nhất quán, có lúc, có nơi còn phiến diện; sự phối hợp, kết hợp giữa các bộ, ban, ngành ở Trung ương với các địa phương và cơ sở chưa thường xuyên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, trang 187) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng đã chỉ rõ hạn chế: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, trang 68) Như vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, tìm ra những giải pháp để thực hiện tốt mối quan hệ này hiện nay đã và đang là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, bởi việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể ở từng lúc, từng nơi cũng có sự khác nhau Trong quá trình thực hiện mối quan hệ này, chúng ta cũng cần phải tuân theo quy luật khách quan, tính lịch sử - xã hội cụ thể để vận dụng sao cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương
Tây Ninh là tỉnh biên giới ở miền Đông Nam Bộ, là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam Quá trình thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong những năm qua ở Tây Ninh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Kinh tế phát triển nhanh, “tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 7,2%” (Tỉnh uỷ Tây Ninh, 2020c, trang 4), cao hơn mức bình quân chung của cả nước;
“quy mô nền kinh tế tăng gấp 1,68 lần” (Tỉnh uỷ Tây Ninh, 2020c, trang 4), “năng suất lao động tăng bình quân 5,7%/năm” (Tỉnh uỷ Tây Ninh, 2020c, trang 4), nâng lên đáng kể so với giai đoạn trước; “GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.135 USD, cao gấp 1,51 lần so với năm 2015” (Tỉnh uỷ Tây Ninh, 2020c, trang 4), cao hơn bình quân chung của cả nước Chính trị - xã hội chuyển biến tích cực; đời sống của nhân dân được nâng lên, an sinh xã hội được đảm bảo; an ninh chính
Trang 9tri, trật tự an toàn xã hội trong nội địa và trên tuyến biên giới được giữ vững ổn định; Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có đổi mới, tổ chức hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả Bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn một
số hạn chế cần được khắc phục trong việc thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Tây Ninh Quy mô, năng lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế, năng suất lao động chưa cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; hạ tầng kinh tế - xã hội chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển Công tác lý luận, tư tưởng và tổ chức điều hành kinh tế - xã hội trong lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh chưa đổi mới tương xứng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế cùng sự biến đổi của cơ cấu xã hội trong nền kinh tế ở tỉnh hiện nay; cải cách hành chính chưa toàn diện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có mặt chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ Thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù ở tỉnh Tây Ninh hiện nay Vì vậy, việc thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là cần thiết để từ đó đưa ra định hướng, giải pháp phù hợp đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh
Tây Ninh hiện nay Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Tây Ninh hiện nay” làm
đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kinh tế và chính trị là chủ đề rộng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Các
công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn: “Mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Tây Ninh hiện nay” có thể khái quát theo các
hướng cụ thể sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về kinh tế và vai trò của kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Liên quan đến chủ đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã
có những phân tích về kinh tế và các yếu tố của kinh tế, từ đó đi đến khẳng định vai trò của sản xuất vật chất và phương thức sản xuất đối với sự tồn tại và phát
Trang 10triển của xã hội Những lý luận về quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng được C Mác và Ph Ăng-ghen trình bày trong nhiều tác phẩm kinh điển khác nhau, được
tập hợp lại trong công trình C Mác và Ph Ăng-ghen Toàn tập do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản Ngay trong các tác phẩm như: Phê phán triết học pháp
quyền của Hê-ghen, Hệ tư tưởng Đức, Gia đình thần thánh, Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị, Tư bản, Chống Duyhring C Mác và Ph Ăng-ghen đã
khẳng định vai trò của kinh tế đối với chính trị Trong Lời tựa cuốn Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị, C Mác viết:
“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt
xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1993b, trang 14-15)
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăng-ghen đã bước đầu
khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị “Giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị xã
hội” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995a, trang 66-67) Tiếp tục trong tác phẩm Tư
bản, C Mác khẳng định vai trò thống trị về kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến vị trí thống
trị về chính trị của giai cấp tư sản: “Ở Pháp và Anh, giai cấp tư sản đã giành được quyền lực chính trị Từ đó, trong thực tiễn cũng như trong lý luận, cuộc đấu tranh giai cấp mang những hình thái ngày càng rõ rệt và đáng sợ” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1993c, trang 29) Ph Ăng-ghen đã nhấn mạnh rằng tất cả các yếu tố của chính trị đến những quan điểm chi phối các hoạt động đó đều có nguồn gốc từ kinh
tế “Phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại” (C Mác và Ph Ăng-
ghen, 1995e, trang 321) Trong Gởi W Borgius, Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “Sự
phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1999c, trang 271)
Những lý luận về quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga được V.I Lê-nin trình bày trong nhiều tác phẩm kinh
Trang 11điển, được tập hợp lại trong công trình V.I Lê-nin Toàn tập do Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội xuất bản V.I Lê-nin cũng đã nhấn mạnh vai trò của kinh tế đối với chính trị, khẳng định cơ cấu kinh tế của xã hội sinh ra chính trị Những quan điểm
đó được thể hiện qua các tác phẩm kinh điển như: Những “người bạn dân” là thế
nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao?, Làm gì?, Lại bàn
về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng chí Trotsky
và Bukharin, Nhà nước và cách mạng Trong bài viết Lại bàn về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng chí Trotsky và Bukharin,
V.I Lê-nin đã nêu ra các luận điểm: “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” (V.I Lê-nin, 1977e, trang 349) và “chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại” (V.I Lê-nin, 1978, trang 147)
Ở Việt Nam, vấn đề về vai trò của kinh tế đối với đời sống chính trị - xã hội
đã sớm được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu Khẳng định vai trò to lớn của kinh tế đối với sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh (1890 – 1969) đã chỉ rõ phải: “1 Làm cho dân có ăn; 2 Làm cho dân có mặc; 3 Làm cho dân có chỗ ở; 4 Làm cho dân có học hành.” (Hồ Chí Minh, 2011b, trang 175) Mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh là điểm trọng tâm trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về kinh tế
và chính trị Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề về phát triển kinh tế là điều kiện để giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội Những tư tưởng đó được thể hiện trong nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết và được tổng hợp lại trong công trình
Hồ Chí Minh Toàn tập do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản Chủ đề về
phát triển kinh tế - xã hội và tăng trưởng kinh tế cũng được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu, có thể kể đến như: Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội của Lê Hữu Tầng (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Những vấn
đề chủ yếu về phát triển kinh tế của Ngô Doãn Vịnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2006 Nội dung của các công trình trên chủ yếu đề cập trên phương diện lý luận về phát triển kinh tế và vấn đề sử dụng, phát huy các nguồn lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam Bên cạnh đó, vấn đề đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với việc phát huy vai trò của các
Trang 12thành phần kinh tế đã được trình bày khá hệ thống trong các công trình: Phát
triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn của Lê Hữu
Nghĩa và Đinh Văn Ân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004; Phát triển
kinh tế thị trường ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của
Nguyễn Văn Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Liên quan đến vấn đề tăng trưởng kinh tế với việc nâng cao đời sống cho người lao động, có thể kể đến
các công trình như: Các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng ở vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam thời kỳ 2001 – 2010 của Trương Thị Minh Sâm, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, đã tập trung vào việc phân tích những thành tựu
và hạn chế trong quá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng
kinh tế giai đoạn 2001 – 2010; Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và
bền vững kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020 của Ngô Doãn Vịnh
(Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về chính trị và vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Liên quan đến chủ đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của chính trị đối với kinh tế trong nhiều tác
phẩm kinh điển và được tập hợp lại trong công trình C Mác và Ph Ăng-ghen Toàn
tập và V.I Lê-nin Toàn tập do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản C Mác
và Ph Ăng-ghen đưa ra quan điểm: “Đấu tranh cho chuyên chính chính trị vô sản
để làm gì, nếu quyền lực chính trị bất lực về kinh tế? Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) – cũng là một sức mạnh kinh tế” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1997, trang 683) C Mác và Ph Ăng-ghen cũng đã khẳng định “ điều kiện kinh tế, rốt cuộc giữ vai trò quyết định Nhưng những điều kiện chính trị cũng đóng một vai trò nhất định, tuy không phải là vai trò quyết định” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1997,
trang 642) Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I Lê-nin đã nhấn mạnh vai
trò của nhà nước khi khẳng định chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng V.I Lê-nin chỉ rõ: “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế Lập luận một cách khác đi, tức là quên mất những điều sơ đẳng của chủ
Trang 13nghĩa Mác” (V.I Lê-nin, 1979b, trang 349) V.I Lê-nin cũng đã nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, định hướng của chính trị đối với kinh tế:
“Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” (V.I Lê-nin, 1977e, trang 350)
Khi bàn về vai trò của chính trị đối với kinh tế, trong “Bài nói chuyện với cán bộ, bộ đội, công nhân, nhân viên tham gia xây dựng Viện bảo tàng Cách mạng Trung ương” (05/01/1959), Hồ Chí Minh nhận định: “Phải nhớ là chính trị đi đầu, chính trị tốt thì sản xuất mới tốt được” (Hồ Chí Minh, 2011c, trang 150) Ở Việt Nam, liên quan đến chủ đề này, tiếp cận ở góc độ vai trò của chính trị đối với kinh
tế - xã hội, có thể kể đến các công trình: Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng trong
điều kiện cơ chế thị trường của Nguyễn Phú Trọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995; Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam của Lương Xuân Quỳ (Chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2006; Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt
Nam - Thực trạng và giải pháp (Sách chuyên khảo) của Phạm Văn Dũng (Chủ
biên), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2009; Quá trình đổi mới tư duy lý luận của
Đảng từ năm 1986 đến nay của Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt &
Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Định
hướng chính trị cho sự phát triển của Việt Nam và một số giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2011 – 2020 của Phạm Văn Đức (Chủ biên), Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 2013; Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc
đổi mới của Việt Nam của Lê Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017,
bao gồm các các bài viết tạo thành một chỉnh thể khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh của Đảng vào công cuộc đổi mới; Đảng lãnh đạo kết hợp phát triển kinh
tế với thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến nay của Phạm Đức Kiên, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017; Đảng lãnh đạo giữ vững định hướng xã hội chủ
Trang 14nghĩa trong công cuộc đổi mới đất nước (Sách chuyên khảo) của Phùng Thị Hiển
(Chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018; Vai trò điều tiết kinh tế của Nhà
nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Phạm
Thị Thuỷ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Hà Nội, 2020; Vai trò định hướng xã hội chủ
nghĩa của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay của Lê
Thị Hồng, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2001; Ignatovskij P., “Về cách tiếp cận chính trị đối với kinh tế”, Tạp chí
Thông tin Khoa học xã hội, Số 19, 1984
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích làm rõ vai trò của các nhân tố chính trị, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia Từ đó, các tác giả đưa ra những giải pháp để nâng cao vai trò của chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình đổi mới ở Việt Nam
Những quan điểm, tư tưởng cơ bản của các nhà kinh điển Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được đề cập trong các tác
phẩm, bài viết và được tập hợp lại trong các công trình: C Mác và Ph Ăng-ghen
Toàn tập, V.I Lê-nin Toàn tập, Hồ Chí Minh Toàn tập do Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội xuất bản Việc luận giải, cụ thể hóa và vận dụng những quan điểm đó vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu Trong suốt quá trình xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Điển hình có thể kể đến
các công trình như: Báo cáo tổng kết: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm
đổi mới (1986 – 2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, trong Báo cáo tổng
kết, Phần 2, ở mục IX – Nhận thức và giải quyết tám mối quan hệ lớn, Đảng đã xác định tám mối quan hệ lớn, trong đó đều có liên quan đến mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Công trình trên đã chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên
Trang 15nhân và kiến nghị, đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Quan điểm của Đảng về “phát triển kinh tế -
xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt” là yêu cầu nhiệm vụ trong xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ
đổi mới được tập hợp thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới – Phần
I (Đại hội VI, VII VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019 và tiếp tục
được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới – Phần II (Đại hội
X, XI, XII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng đã được nhiều tác
giả ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu, có thể kể đến như sau: Về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay của Vũ Văn Phúc, Ngô Đình Xây, Đoàn
Xuân Thủy & Nguyễn Thị Tuyết Mai (Đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006 Công trình nghiên cứu đã trình bày về một số vấn đề cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay như: về kinh tế thị trường, nhất nguyên chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, dân chủ hóa,
phân hóa giàu nghèo; Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá
trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Công trình nghiên cứu này đề cập đến những mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới đất nước mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần phải nhận thức và thực hiện Tác giả đã nêu lên những nội dung cơ bản của quá trình đổi mới kinh tế, chính trị, quá trình nhận thức của Đảng về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; đồng thời đề ra phương pháp để giải quyết vấn đề
này khá sâu sắc và toàn diện; Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở
Việt Nam của Dương Xuân Ngọc (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2012 Tác giả đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, chỉ rõ những thành công, và cả những mâu thuẫn, cản trở để rút kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp hữu hiệu trong giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện
nay; Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh
Trang 16tế và chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay của Lê Thị Chiên
(Chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019; Mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Quốc Tuấn, Đề tài nghiên cứu khoa học, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh,
2007 Đề tài đã làm rõ các quan điểm lý luận và những bài học kinh nghiệm thực tiễn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị hiện đại đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để xây dựng thể chế kinh tế và thể chế chính trị trong quá trình phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; Quan
hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay của Vũ
Hồng Sơn, Đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, 2010; Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở nước ta hiện nay của Lưu Thị Bích Thu, Luận án Tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001; Biện chứng giữa kinh tế
và chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
của Dương Đức Hưng, Luận án Tiến sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011 Luận án đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; Mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay của Trần Thị Thu Hường, Luận văn Thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001; Biện chứng
giữa kinh tế và chính trị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay của Hồ Trần Hùng, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2009;
Biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay của Đoàn Anh Tú, Luận văn Thạc sĩ Triết
Trang 17học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2010; Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong
xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bình Phước hiện nay của Đỗ Ngọc
Hữu, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở tỉnh Bình Phước hiện nay Ngoài ra còn có một số bài báo khoa học, tạp chí khoa học chuyên ngành như: Đoàn Quang Thọ, “Quan hệ giữa kinh tế và chính trị
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, Số 2 (96), 1997; Ngô
Ngọc Thắng, “Vấn đề nhận thức và giải quyết mối quan hệ chính trị - kinh tế
trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, Số 4 (167),
2005; Trần Sỹ Phán, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế với
chính trị”, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 2, 2007; Dương Xuân Ngọc, “Nhận thức
và giải quyết thành công mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị -
điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp
chí Khoa học xã hội, Số 9, 2009; Lê Minh Quân, “Quán triệt và vận dụng Nghị
quyết Đại hội XII của Đảng vào việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, Số 887, 2016
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị; các vấn đề về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam Trên cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp để giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Trong thời gian qua, vấn đề về kinh tế và chính trị luôn được Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân tỉnh Tây Ninh quan tâm nghiên cứu và giải quyết Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là vấn đề trọng tâm được đặt ra xuyên suốt trong các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Trong suốt thời kỳ đổi mới đến nay, tỉnh đã thực hiện chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, lãnh đạo phát triển kinh tế tiến hành đồng bộ với giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội gắn
Trang 18với công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Những quan điểm đó được thể hiện khá rõ nét và toàn diện trong các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh, các Nghị quyết, các Quyết định, các Báo cáo và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
như: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IV (1986), V (1991),
VI (1996), VII (2001), VII (2006), IX (2011), X (2016), XI (2021) ; Lịch sử Đảng
bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Nxb
Chính trị quốc gia, 2010; “Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 5 năm giai đoạn 2016 – 2020”, Số 36/2015/NQ-HĐND, Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2015; “Quyết định Ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 5 năm giai đoạn 2016 – 2020”, Số 01/2016/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2016; “Báo cáo về việc tình hình thực hiện công tác cải cách TTHC và triển khai xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền điện tử trên địa bàn tỉnh Tây Ninh”, Số 160/BC-UBND, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, 2020
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu đã nêu trên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp dưới góc độ triết học về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu quý giá giúp tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu và luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
thời kỳ đổi mới ở tỉnh Tây Ninh Từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện
những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, trình bày lý luận chung về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị; Thứ hai, trình bày thực trạng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh
Tây Ninh trong thời kỳ đổi mới;
Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp để thực hiện tốt mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trang 194 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở
tỉnh Tây Ninh trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Kinh tế, chính trị, mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Tây Ninh hiện nay Về mặt thời gian, luận văn tập trung phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh trong 5 năm gần đây (2015 – 2020)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế, chính trị và mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp, phương pháp
hệ thống hóa, khái quát hóa từ các nguồn tài liệu tham khảo để phục vụ cho việc nghiên cứu và trình bày luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa lý luận: Góp phần làm rõ lý luận chung về mối quan hệ giữa kinh tế
và chính trị, thực trạng về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh
Về ý nghĩa thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị; đề xuất một số phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần giúp Đảng bộ, Chính quyền, các Sở, Ban, Ngành của tỉnh Tây Ninh tham khảo, thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối, xây dựng chính sách phù hợp trong việc kết hợp thực hiện mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở tỉnh Tây Ninh hiện nay
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết và 10 tiểu tiết
Trang 21Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
1.1.1 Quan điểm về kinh tế
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, thuật ngữ kinh tế xuất hiện từ rất sớm với
những quan niệm khác nhau Ở phương Đông thời cổ đại, trong sách cổ Chu Dịch
của Trung Quốc đã có đề cập đến kinh tế (“kinh” và “tế”) Đến thời Nhà Tuỳ, Nhà Tống, thuật ngữ kinh tế được sử dụng với nguyên nghĩa “kinh bang tế thế” tức là
“sửa nước cứu đời” hoặc “kinh thế tế dân” có nghĩa là “trị đời giúp dân” Trong
đó, “kinh” là sửa trị, còn “tế” là “lợi ích, giúp ích (Đào Duy Anh, 2005, trang 387);
“kinh” trong “kinh bang” là trị nước, “tế” trong “tế thế” là giúp đời” Như vậy, kinh tế được hiểu là các công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm trong việc chăm
lo đời sống vật chất và đời sống tinh thần của bề tôi và đất nước Ở phương Tây thời cổ đại, thuật ngữ kinh tế được dùng để chỉ nghệ thuật tiến hành công việc nội trợ, việc quản lý gia đình, sau đó được mở rộng ra thành việc quản trị tập hợp các
gia đình Khái niệm kinh tế cũng xuất hiện khá sớm trong tác phẩm Kinh tế luận
của nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại Xenophon (430 TCN – 345 TCN) với cách hiểu là
“quản lý gia đình”, nghĩa là “quản lý các mặt hàng sản xuất và sinh hoạt trong gia đình chủ nô” (Phạm Thúc Huân, 2008, trang 7) Về sau, khi đã trở thành một phạm trù trong Kinh tế học, kinh tế được hiểu là toàn bộ hoạt động có tính cộng đồng trong quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng sản phẩm nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của con người Adam Smith (1723 – 1790) – nhà kinh tế chính trị học người Anh, là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triển của trường phái kinh tế tư sản cổ điển Anh Tác phẩm nổi tiếng nhất của A Smith là
“Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân của của cải các dân tộc” (“An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations”) với bản dịch tiếng Việt là cuốn
sách Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Ông đã có công đặt
nền móng xây dựng kinh tế học hiện đại khi đặt ra câu hỏi về “nguồn gốc sự giàu
Trang 22có của các dân tộc” và chỉ rõ đó là sự phân công lao động - nghề nghiệp và sự phân công lao động hợp lý giữa nhà nước và thị trường Học thuyết kinh tế của A Smith
đã trình bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế, xuất phát từ các quan hệ kinh tế khách quan, có cương lĩnh rõ ràng về chính sách kinh tế
Các quan hệ kinh tế được phản ánh vào trong ý thức của con người, được con người nhận thức và xây dựng nên các phạm trù kinh tế, tư tưởng kinh tế, từ đó hình thành các chính sách kinh tế Các phạm trù kinh tế là những khái niệm kinh tế phản ánh bản chất của những hiện tượng kinh tế như: lao động, sản xuất, hàng hóa, tiền tệ, giá trị, giá cả, thị trường, v.v Chính sách kinh tế là sự vận dụng các quy luật kinh tế khách quan và các quy luật khác vào hoạt động kinh tế Chính sách kinh tế sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nếu phù hợp với yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người; ngược lại nếu chính sách kinh tế tác động không phù hợp, trái với quy luật kinh tế khách quan thì sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội Nhận thức và vận dụng không đúng hoặc coi thường quy luật kinh tế khách quan sẽ rơi vào khuynh hướng chủ quan, duy ý chí, và khi đó chính sách kinh tế sẽ tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh
tế hoặc thậm chí còn gây ra sự khủng hoảng kinh tế - xã hội
Ngày nay, kinh tế mang nội hàm rộng hơn với nhiều cách hiểu khác nhau Kinh tế được hiểu là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Khái niệm kinh tế đề cập đến tổng thể các yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các loại sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Bên cạnh đó, kinh
tế còn được dùng để chỉ “nền kinh tế”, “ngành kinh tế”, “cơ cấu kinh tế”, “thành phần kinh tế”, v.v
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), kinh tế là:
“1 Tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước, liên quan đến toàn bộ quá trình hay một phần của tổng quá trình bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng của sản phẩm xã hội
2 Tổng thể những mối quan hệ trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, trong tổ chức và hoạt động của cơ cấu hạ tầng
Trang 23của xã hội, bao gồm các ngành kinh tế - kỹ thuật, các loại hình sản xuất tương ứng Nền kinh tế quốc dân của một nước bao gồm các ngành, các vùng lãnh thổ, các cơ sở và các loại hình sản xuất và bao trùm các khâu của nền sản xuất xã hội (sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng) trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước Mỗi một phương thức sản xuất đều có nền kinh tế riêng Mỗi nền kinh tế đều do các quan hệ sản xuất cũng như tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quy định” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2002, trang 584)
Hay trong Từ điển Tiếng Việt (2015) đã định nghĩa “Kinh tế là tổng thể các
yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội” (Từ điển Tiếng Việt, 2015, trang 279) Kinh tế ở đây là nói đến điều kiện vật chất của đời sống xã hội Suy cho cùng, nói đến kinh
tế là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích
Trong Từ điển Kinh tế chính trị học (1987) đã định nghĩa:
“Kinh tế - toàn bộ những mối quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử, cơ
sở hạ tầng kinh tế của xã hội; hoạt động kinh doanh của một nước nhất định, bao gồm các ngành và các loại hình sản xuất tương ứng” (M.I Vôn-cốp,
1987, trang 198)
Như vậy, nói đến kinh tế là nói đến các quan hệ kinh tế, đó là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế - xã hội của một xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Khái niệm kinh tế ở đây được hiểu là toàn bộ phương thức sản xuất vật chất và trao đổi sản phẩm của một chế độ xã hội nhất định
Trong hệ thống lý luận mác-xít, kinh tế là một phạm trù cơ bản Kinh tế hay những quan hệ kinh tế là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của lịch sử xã hội, là những cách thức và phương thức sản xuất của một xã hội nhất định Nói đến kinh tế là nói đến hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng thể các quan hệ sản xuất dựa trên trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế - xã hội của một chế độ xã hội nhất định C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở cho sự phát triển của xã hội loài người Việc chuyển từ hình thái kinh
Trang 24tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, trước hết gắn liền với
sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất, bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa
là những mâu thuẫn về kinh tế (mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiến bộ và quan
hệ sản xuất lạc hậu, lỗi thời) Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, kinh tế hay những quan hệ kinh tế chính là điều kiện vật chất của đời sống xã hội của con người, là cơ
sở quyết định của lịch sử - xã hội Hay nói cách khác, kinh tế là những cách thức
và phương thức để con người tồn tại và phát triển Kinh tế là “phương thức mà con người của một xã hội nhất định dùng để sản xuất ra những tư liệu để sinh sống và trao đổi sản phẩm với nhau” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1999c, trang 270) Quan điểm về kinh tế này có nét tương đồng và bao hàm cả khái niệm phương thức sản xuất Theo đó, kinh tế được đề cập đến là bao gồm những hoạt động kinh tế và quan hệ kinh tế Khác với các nhà triết học trước đó, C Mác lấy “con người hiện thực” làm tiền đề xuất phát khi nghiên cứu về lịch sử - xã hội Đó không phải là con người trừu tượng, chung chung, phi lịch sử, phi giai cấp mà là con người cụ thể, gắn với một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Ở mỗi thời đại khác nhau, con người có thể khác nhau nhưng đều có chung những nhu cầu cơ bản, đó là ăn, uống, ở, mặc, đi lại, v.v Để tồn tại và phát triển, con người cần phải có những như
cầu thiết yếu đó Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăng-ghen đã chỉ
rõ: “Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995a, trang 39-40) Do vậy, lịch sử của xã hội, trước hết cũng là lịch sử của sản xuất vật chất Như C Mác và Ph Ăng-ghen đã chỉ ra, con người muốn sống được trước hết cần phải ăn, uống, mặc, ở, đi lại, v.v Hai ông gọi đó “hành vi lịch sử đầu tiên” của con người nhằm tạo ra “đời sống vật chất” giúp con người thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của mình Hoạt động cơ bản nhất của con người là sản xuất của cải vật chất bởi vì dù ở mọi giai đoạn lịch
sử và chế độ xã hội nào thì con ngu ời cũng có nhu cầu cơ bản đó là ăn, uống, mặc,
ở, đi lại, v.v để duy trì sự tồn tại của mình Muốn vậy, con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu đó Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và sự phát triển xã hội Vì thế, tất cả những
Trang 25hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn những nhu cầu của con người đều thuộc về kinh tế Như vậy, xã hội tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất
Trong quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người không thể tiến hành sản xuất một cách biệt lập, riêng lẻ, mà trái lại, muốn tiến hành sản xuất, con người không những phải có quan hệ với tự nhiên mà còn phải có quan hệ với nhau Quá trình lao động biểu hiện ngay ra một quan hệ “song trùng” (theo cách nói của Mác): một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ với xã hội Kinh tế theo quan điểm của C Mác chứa đựng trong nó cả mối quan hệ “song trùng” Đó
là mối quan hệ “kép”: quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người nảy sinh trong quá trình lao động sản xuất C Mác khẳng định:
“Người ta không thể sản xuất được, nếu không biết hợp tác với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó” (C Mác
và Ph Ăng-ghen, 1993a, trang 552)
Theo quan điểm của C Mác, phạm trù kinh tế chứa đựng cả những quan hệ giữa con người với tự nhiên (phản ánh trong phạm trù lực lượng sản xuất) và quan
hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất (phản ánh trong phạm trù quan hệ sản xuất) “Sự vận động của nền sản xuất, mối quan hệ giữa người với người trong quá trình ấy được C Mác phân tích như biện chứng sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng” (Đinh Ngọc Thạch & Doãn Chính (Đồng chủ biên), 2016, trang 234) Do đó, kinh tế là toàn bộ hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải và những quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và tự nhiên, giữa xã hội và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, toàn bộ những quan hệ sản xuất cũng như sự tác động lẫn nhau giữa các mặt của chúng tạo thành cơ sở kinh tế của một xã hội nhất định Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó
Trang 26Đặc trưng kinh tế của một xã hội cụ thể, trước hết biểu hiện ở kiểu quan hệ sản xuất thống trị (quan hệ sản xuất chủ đạo) cho xã hội ấy
“Hình thức xã hội của sản xuất phản ánh những quan hệ bất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của con người – tức là các quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1999a, trang 14-15) Như vậy, theo quan điểm của C Mác và Ph Ăng-ghen, có thể hiểu kinh tế với phạm vi rộng là tổng thể các hoạt động sản xuất của một cộng đồng người trong một giai đoạn lịch sử nhất định Các hoạt động kinh tế bao gồm quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội Theo nghĩa rộng, kinh
tế là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi Với phạm vi hẹp, kinh tế là toàn bộ các quan hệ sản xuất (bao gồm cả quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn
dư và quan hệ sản xuất mầm mống), là tổng thể các lực lượng sản xuất trong một chế độ xã hội xác định hay của một quốc gia ở một thời điểm cụ thể tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã hội xác định – đồng nghĩa với khái niệm cơ sở hạ tầng Theo nghĩa hẹp, thực chất của kinh tế là lợi ích và sở hữu, kinh tế là các quan hệ kinh tế - được hiểu đồng nhất với các quan hệ sản xuất, là hạt nhân của cơ sở hạ tầng Vì thế, khái niệm kinh tế với cả nội dung rộng, hẹp khác nhau không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm cơ sở hạ tầng
V.I Lê-nin, mặc dù chưa nêu ra một định nghĩa hoàn chỉnh về kinh tế trong các tác phẩm của mình, song, căn cứ vào những tư tưởng căn bản của Lê-nin, có thể hiểu “kinh tế là tổng thể các hoạt động sản xuất của một cộng đồng người, một nước, liên quan đến toàn bộ quá trình hay một phần của tổng quá trình bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội” (Lương Đình Hải, 2010, trang 7) Các nhà kinh điển mác-xít đã sử dụng khái niệm
“kinh tế” ở cả hai phương diện nội dung rộng và hẹp nói trên, nhưng các ông nhấn mạnh phương diện nào trong nội dung của khái niệm này còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của vấn đề cần phân tích và luận chứng Như vậy, có thể nói kinh tế “phản ánh một lĩnh vực của đời sống xã hội, gắn liền với việc tạo ra các điều kiện vật chất cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu của toàn xã hội trong từng
Trang 27hoàn cảnh lịch sử cụ thể” (Vũ Văn Phúc, Ngô Đình Xây, Đoàn Xuân Thủy & Nguyễn Thị Tuyết Mai, (Đồng chủ biên), 2006, trang 7)
Ngày nay, các tiêu chí để đánh giá một nền kinh tế là: GDP (Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội), GNI (Gross National Income – Tổng thu nhập quốc gia/Tổng thu nhập quốc dân) và GDP bình quân đầu người Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GNP (Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc dân) hoặc GDP (tổng sản phẩm quốc nội) trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Phát triển kinh tế không đồng nhất với tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn chỉnh về cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống Phát triển kinh tế biểu hiện ở
những nội dung sau đây: Một là, sự gia tăng của GNP, GDP của toàn bộ nền kinh
tế hoặc theo đầu người Hai là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ
trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ và giảm tỉ trọng của ngành nông nghiệp
trong cơ cấu GDP nhưng giá trị tuyệt đối của mỗi ngành đều tăng lên Ba là, chất
lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện, mức sống được nâng lên Trong đó, giữ vững ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng định hướng
sự tăng trưởng kinh tế theo những mục tiêu mong muốn, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ xã hội và công bằng xã hội, tạo ra sự ổn định và bền vững cho sự phát triển
Tóm lại, trên cơ sở kế thừa các quan điểm của các nhà khoa học, quan điểm
mác-xít về kinh tế, có thể hiểu: Thứ nhất, kinh tế là cơ sở tồn tại và phát triển của chế độ chính trị - xã hội Thứ hai, kinh tế là toàn bộ các yếu tố của nền sản xuất xã
hội, bao gồm tổng thể quá trình các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu
dùng các sản phẩm của xã hội Thứ ba, kinh tế là tổng thể các quan hệ trong quá
trình sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm) dựa trên nền tảng tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định, hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội xác định Kinh tế được biểu hiện cụ thể thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, vùng hay địa phương cụ thể trong một thời gian nhất định
Trang 281.1.2 Quan điểm về chính trị
Thuật ngữ chính trị có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại, được hiểu theo nghĩa là nhà nước và các công việc nhà nước, công việc xã hội, công việc của quốc gia hay liên quan đến công dân Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt có tính lịch sử và chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước Quan niệm chính trị được hình thành đồng thời với sự xuất hiện của giai cấp
và nhà nước Vì thế, chính trị và các vấn đề chính trị chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp Có nhiều quan điểm chính trị khác nhau là do cách tiếp cận với chính trị từ những lập trường giai cấp khác nhau Trước khi Chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học đã xuất hiện rất nhiều các quan niệm, quan điểm, tư tưởng, học thuyết khác nhau về chính trị
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, khi nói đến chính trị là nói đến hoạt động thiết lập, duy trì địa vị thống trị và thực thi quyền lực của giai cấp cầm quyền Các quan điểm về chính trị - xã hội đã được các nhà tư tưởng trong lịch sử ở cả phương Đông lẫn phương Tây đề cập khá nhiều Ở phương Đông, các nhà tư tưởng Trung Quốc thời cổ đại đã hiểu chính trị là hoạt động của bộ máy cai trị để duy trì địa vị của tầng lớp thống trị và công việc đảm bảo sự ổn định trật tự xã hội của quốc gia
Ở thời kỳ này có hai tư tưởng chính trị cơ bản là “Đức trị” (lấy đạo đức giáo hóa con người và cai trị xã hội) và “Pháp trị” (trị nước bằng pháp luật) Có thể thấy, trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông cổ đại, chính trị được hiểu là cách thức cai trị, cầm quyền, dẫn dắt và quản lý xã hội Ở phương Tây, các nhà chính trị
Hy Lạp thời cổ đại cũng đã bàn luận khá nhiều về các vấn đề của chính trị Herodotos (484 TCN – 425 TCN) – được mệnh danh là “cha đẻ của chính trị học”, ông đã khẳng định chính trị tốt nhất là thể chế hỗn hợp của 3 hình thức chính thể: quân chủ, quý tộc và dân chủ Platon xem “chính trị là nghệ thuật cai trị”, ông cho rằng cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng nghệ thuật mới là đích thực Ông
đã đưa ra mô hình về một “nhà nước lý tưởng” Aristotle (384 TCN – 322 TCN),
trong tác phẩm Chính trị luận đã quan niệm “chính trị” là sản phẩm của sự phát
triển tự nhiên, là hình thức giao tiếp cao nhất của con người; con người là “động vật chính trị” và quyền lực chính trị có thể được phân chia thành lập pháp, hành
Trang 29pháp và tư pháp Có thể thấy, trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây cổ đại, chính trị được hiểu là cái liên quan đến nhà nước; là khoa học và nghệ thuật; là công việc tìm kiếm thể chế chính trị hợp lý và hiệu quả Ở thời kỳ cận – hiện đại
đã xuất hiện hai trào lưu tư tưởng chính trị tư sản và vô sản Trào lưu tư tưởng chính trị tư sản cho tự do là quyền tự nhiên của con người, là giá trị chủ đạo về chính trị và pháp quyền Trào lưu tư tưởng chính trị vô sản cho rằng chính trị là một phạm trù lịch sử, nó xuất hiện và tồn tại với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước; bản chất của chính trị xét đến cùng là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia, các lực lượng xã hội, v.v trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Có một thời kỳ trong giới học giả của giai cấp tư sản xuất hiện quan điểm xem chính trị như là một “nhà hát”, trong đó có “vở diễn, nghệ sĩ, khán giả,
sự bố trí, dàn dựng sân khấu và nhà phê bình” Do vậy, chính trị phụ thuộc đáng kể vào nghệ thuật vốn có của nhà hát nói chung (theo Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2014, trang 162) Trong tác phẩm Quân vương, N Machiavelli (1469 –
1527) đã đưa ra quan niệm chính trị là một lĩnh vực tự mình xác định những mục tiêu cho mình, xác định phương pháp và phương tiện để thực hiện những mục tiêu
đó mà không dựa vào bất kì chuẩn mực bên ngoài nào N Machiavelli cho rằng:
“Nhà chính trị tốt phải biết nắm lấy thời cơ, nhạy bén tiên đoán những diễn biến trong tương lai, và đưa ra các giải pháp trong những trường hợp cần thiết, biết lạnh lùng bỏ qua những lời chỉ trích Đó là mẫu người lãnh đạo có tài và có đức” (N Machiavelli, 1971, trang 33)
Trong tác phẩm Về Khế ước xã hội (1762), J.J Rousseau (1712 – 1778) đã
đưa ra quan niệm “trị quốc”, bàn về khế ước xã hội và mô hình nhà nước dân chủ:
“Thực chất của khế ước xã hội là gì? Với khế ước xã hội, - Rousseau nhấn mạnh, - con người mất đi cái tự do thiên nhiên và cái quyền hạn chế được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người lại có quyền tự do dân sự (công dân) và quyền sở hữu cái mà anh ta có” (J.J Rousseau, 1992, trang 47)
Theo J.J Rousseau, chính trị có nhiệm vụ xây dựng một “khế ước” – “bản hợp đồng” giữa nhà nước và công dân, cho phép tạo ra một xã hội dân sự và các
Trang 30quy định để mọi người cùng chung sống trong xã hội đó Max Weber (1864 – 1920) đã cho rằng chính trị là “khát vọng” tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữa các tập đoàn người trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau Nhìn chung, các quan niệm về chính trị trên mặc dù có chứa đựng những giá trị nhất định nhưng vẫn chưa làm rõ bản chất giai cấp của chính trị, tính quy định của quan hệ lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế giữa các giai cấp đối với chính trị
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chính trị cho rằng vấn đề quan trọng nhất của chính trị là chính quyền nhà nước, đó là sự tham gia vào công việc nhà nước gắn với thực hiện lợi ích giai cấp Các quan điểm về chính trị cần được hiểu và phân tích trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể và ở những quốc gia cụ thể, vì vậy mà:
“Những quan niệm và tư tưởng của mỗi thời đại lịch sử, đều giải thích một cách dễ dàng bằng những điều kiện sinh hoạt kinh tế của thời đại ấy và bằng những quan hệ xã hội và chính trị bắt buộc từ những điều kiện ấy Lần đầu tiên, lịch sử đã được đặt trên cơ sở thực tế của nó Cái sự thật hiển nhiên
là trước hết con người phải lao động, trước khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học, v.v.” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995c, trang 166)
Như vậy, trên quan điểm duy vật lịch sử về chính trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đòi hỏi phải xem xét chính trị trong mối quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với lợi ích giai cấp, với nhà nước cùng với những thiết chế chính trị tương ứng đảm bảo hiện thực hóa (hoặc vô hiệu hóa) những nhu cầu chính trị và kinh tế, vì thế phải xây dựng một “lý luận chính trị duy vật” (V.I Lê-nin, 1980a, trang 287)
Ngày nay, trong các tài liệu khác nhau, nội hàm của khái niệm “chính trị”
đã mở rộng hơn và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Chính trị trong Từ
điển Bách khoa triết học đã định nghĩa:
“Chính trị là những công việc nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân
Trang 31của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước” (Từ điển Bách khoa Triết học, 1983, trang 507)
Trong Từ điển Triết học đã định nghĩa “chính trị”:
“Chính trị - sự tham gia vào các công việc của nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Lĩnh vực chính trị bao hàm các vấn đề về chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, v v Những lợi ích căn bản của các giai cấp và những quan hệ qua lại của các giai cấp biểu hiện ra trong chính trị” (M Rô-den-tan, P I-u-đin, 1986, trang 85-86)
Theo đó, chính trị là bộ phận cấu thành quan trọng và đặc trưng nhất của kiến trúc thượng tầng Lĩnh vực chủ yếu của chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, việc thực hiện chính quyền nhà nước Chính trị thể hiện một cách tập trung quyền lợi của các giai cấp trong xã hội
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng,
bao gồm hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái, xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2002, trang 162)
Từ các quan điểm nêu trên, nhìn chung, ngày nay chính trị được hiểu là:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, giữa các quốc gia,
dân tộc, giữa công dân với nhà nước Thứ hai, mục đích của chính trị là giành, giữ
và thực thi quyền lực nhà nước hoặc gây áp lực đối với quyền lực nhà nước Như vậy, vấn đề trung tâm của chính trị là nhà nước và quyền lực nhà nước Có 4 cách
tiếp cận về chính trị: Một là, chính trị là quan hệ giữa các giai cấp (quan hệ về lợi ích – lợi ích kinh tế); Hai là, trung tâm của chính trị là quyền lực nhà nước; Ba là, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế; Bốn là, chính trị là khoa học và nghệ
thuật (chính trị là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”)
Chính trị là một phạm trù cơ bản trong hệ thống lý luận mác-xít Là một bộ phận rất quan trọng của kiến trúc thượng tầng, chính trị bao gồm những quan điểm,
hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội, v.v.) và những mối quan hệ giữa các giai cấp,
Trang 32các dân tộc, các tập đoàn xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là một thiết chế quan trọng, tiêu biểu cho chế độ chính trị hiện tồn Nhà nước là dấu hiệu đặc trưng và tập trung nhất của chính trị Hoạt động giành, giữ và củng cố quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của chính trị, cho nên nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị Trên quan điểm duy vật lịch sử, khi xem xét chính trị phải đặt nó trong mối quan
hệ với kinh tế, với giai cấp và lợi ích giai cấp, với nhà nước cùng thiết chế chính trị đảm bảo hiện thực hóa những nhu cầu kinh tế, chính trị và phải xây dựng một “lý luận chính trị duy vật” (V.I Lê-nin, 1980a, trang 287) “Chính trị” là một phạm trù mang tính lịch sử - xã hội, nó chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp và đến một lúc nào đó nó cũng sẽ mất đi khi không còn cơ sở tồn tại (giai cấp và nhà nước) Mối quan hệ giữa các giai cấp chỉ trở thành chính trị khi chúng là hình thức biểu hiện của cuộc đấu tranh với mục đích giành quyền lực nhà nước để đạt tới sự thống trị V.I Lê-nin viết:
“Chủ nghĩa Mác thừa nhận rằng chỉ khi nào đấu tranh giai cấp không những bao trùm lĩnh vực chính trị, mà nó còn nắm lấy cái căn bản nhất trong chính trị: tức là việc tổ chức chính quyền nhà nước, thì khi đó nó mới là một cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đầy đủ” (V.I Lê-nin, 1980b, trang 301-302)
Do đó, hoạt động giành, giữ và củng cố quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của chính trị
Khi bàn về vấn đề chính trị, trong Lời tựa viết cho tác phẩm Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị, C Mác viết:
“Toàn bộ những quan hệ ấy (quan hệ sản xuất) hợp thành cơ cấu kinh tế của
xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995b, trang 15)
Luận điểm trên cho thấy chính trị được C Mác xem xét ở phương diện kiến trúc thượng tầng – chính trị, và khi nói đến kiến trúc thượng tầng là nói đến sự thống trị của một giai cấp đối với toàn xã hội Với tư cách một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chính trị giữ vị trí trung tâm và chi phối mạnh mẽ các hình thái ý
Trang 33thức xã hội khác Bất cứ vấn đề chính trị nào cũng có liên quan đến lợi ích của nhà nước và các giai cấp Theo quan điểm của Mác – Ăng-ghen, chính trị phản ánh quan hệ về địa vị, lợi ích kinh tế giữa các giai cấp, các cộng đồng, các tập đoàn xã hội cũng như quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc Theo đó, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan đến vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Ph Ăng-ghen khẳng định nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” hay “hình ảnh và hiện thực của lý tính” theo quan điểm của Hê-ghen mà nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định, xuất hiện khi mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đó không thể điều hòa được Trong mọi xã hội giai cấp, bộ phận cơ bản và quan trọng nhất cấu thành
hệ thống chính trị là nhà nước bởi vì nó là thiết chế có hiệu quả nhất trong việc bảo
vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Điều này đã giải thích cho lý do tại sao C Mác
và Ph Ăng-ghen khẳng định rằng giai cấp công nhân và nhân dân lao động muốn giải phóng mình, trước phải lật đổ giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền nhà nước
và chỉ khi làm được như vậy, họ mới có công cụ chính trị hữu hiệu để phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Nhà nước là một nhân tố quan trọng nhất của chính trị nhưng không có nghĩa nó là nội dung duy nhất của chính trị Bên cạnh đó, chính trị còn bao gồm các yếu tố như ý thức chính trị, tâm lý chính trị, hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị và tổ chức chính trị tương ứng cùng với các mối quan hệ chính trị tác động qua lại trong hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước để hướng tới quyền lực nhà nước Ngoài hoạt động của nhà nước, hoạt động chính trị còn bao gồm hoạt động của các đảng chính trị, đặc biệt là đảng cầm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị Chính trị được thực hiện trong đời sống nhờ hệ thống thiết chế và
tổ chức chính trị Các yếu tố đó xuất hiện trên cơ sở các quan hệ kinh tế và giai cấp “Các thiết chế chính trị đều là kiến trúc thượng tầng, xây dựng trên một cơ sở kinh tế” (V.I Lê-nin, 1980b, trang 54)
Trong hoạt động của nhà nước bao giờ cũng bao hàm quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội về phương diện chính trị và hoạt động giành,
Trang 34giữ và củng cố quyền lực nhà nước Như vậy, theo quan điểm của Mác – ghen, chính trị được biểu hiện tập trung và cô đọng ở nhà nước và hệ tư tưởng chính trị nhìn từ hai góc độ thống nhất Từ góc độ tổ chức thực tiễn, nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của chính trị Từ góc độ lý luận, hệ tư tưởng chính trị là biểu hiện tập trung và cô đọng của chính trị
Ăng-Cũng như khái niệm kinh tế, V.I Lê-nin chưa nêu ra định nghĩa hoàn chỉnh về chính trị trong các tác phẩm của mình Trên quan điểm của C Mác và
Ph Ăng-ghen, V.I Lê-nin đã kế thừa và cụ thể hóa khái niệm chính trị bằng các luận điểm: “Chính trị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, chính trị là thái độ của giai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp tư sản toàn thế
giới” (V.I Lê-nin, 1977d, trang 482) Trong Đề cương bài báo “Về vấn đề vai
trò của nhà nước”, V.I Lê-nin cho rằng “chính trị là sự tham gia vào những công
việc của nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” (V.I Lê-nin, 1976, trang 404) Như vậy, chính trị là nội dung và phương hướng hoạt động của nhà nước và nó phản ánh những quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia
Vì thế, có thể hiểu:
“Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” (Lương Đình Hải, 2010, trang 6)
Như vậy, chính trị theo nghĩa rộng là toàn bộ những hoạt động liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, các tập đoàn xã hội xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà cơ bản nhất là hướng đến quyền lực nhà nước Theo nghĩa hẹp, chính trị là “những tư tưởng về phát triển đất nước, những hoạt động cơ bản của Đảng và Nhà nước nhằm lãnh đạo, quản lý đất nước; là quá trình đưa ra và thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách lớn” (Phạm Văn Đức (Chủ biên), 2013, trang 11)
Trang 35Tóm lại, trên cơ sở kế thừa các quan điểm của các nhà khoa học, quan điểm
mác-xít về chính trị, có thể hiểu: Thứ nhất, chính trị là mối quan hệ giữa các nhóm
xã hội, các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong việc giành, giữ và thực thi quyền
lực chính trị hướng đến quyền lực nhà nước Thứ hai, chính trị là biểu hiện tập trung
của kinh tế, đồng thời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh
tế Thứ ba, chính trị là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước để
hiện thực hóa lợi ích căn bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác Chính trị được biểu hiện qua các phương diện chủ yếu: Tư tưởng, lý luận (phương diện lý luận khoa học); các quan điểm, chủ trương, chính sách và thể chế chính trị, con người và hệ thống chính trị (phương diện tổ chức chính trị); các hoạt động, các quan hệ chính trị (phương diện hoạt động thực tiễn); văn hóa chính trị (phương diện chuẩn mực - thước đo trình độ hoàn thiện của chính trị)
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được đặt ra từ rất sớm Ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các nhà tư tưởng đều cố gắng đi tìm bản chất sâu xa của quan hệ giữa kinh tế và chính trị Tuy nhiên, hầu hết các nhà triết học trước Mác đều đi tìm nguyên nhân của những biến đổi trong lịch sử - xã hội không phải trong kinh tế mà ở trong chính trị, tôn giáo hoặc trong các yếu tố tinh thần khác Họ xem các yếu tố tinh thần là nguyên nhân thúc đẩy sự vận động của kinh tế và xã hội Vì đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình nên họ chưa thể tìm ra được nguyên nhân căn bản của những biến đổi trong lịch sử và chưa chỉ ra được lực lượng nào có thể giải quyết được những mâu thuẫn trong đời sống xã hội Khác với các nhà triết học trước đó, C Mác và Ph Ăng-ghen đã đi tìm nguyên nhân của các động cơ tư tưởng trong lĩnh vực tồn tại xã hội, tìm nguyên nhân của chính trị trong kinh tế
Trong Luận cương về Feuerbach, C Mác đã nhận định: “Các nhà triết học đã chỉ
giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995a, trang 8) Đứng trên lập trường duy vật lịch sử, các nhà kinh điển mác-xít khi bàn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã khẳng định vai trò quyết định của kinh tế với chính trị nhưng đồng thời cũng chỉ ra tính
Trang 36độc lập tương đối, sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế Như vậy, không
có kinh tế và chính trị thuần tuý, tách rời nhau, mà giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị
Cơ sở lý luận cho việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong lý luận hình thái kinh
tế - xã hội “Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt đối lập biện chứng trong chỉnh thể thống nhất của hình thái kinh tế - xã hội, chúng luôn tác động, thúc đẩy nhau phát triển” (Nguyễn Thế Nghĩa & Thái Thị Thu Hương (Đồng chủ biên),
2014, trang 286) Trong đó, xét đến cùng, cơ sở hạ tầng – kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng nhưng kiến trúc thượng tầng – chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ tầng Với tư cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội, vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được
thể hiện: Thứ nhất, mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng, quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng Thứ hai, khi cơ sở hạ tầng
thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Kiến trúc thượng tầng không phải chỉ là sản phẩm thụ động của cơ sở hạ tầng, mà nó còn có khả năng tác động mạnh mẽ trở lại đối với cơ cấu kinh tế của xã hội Trong các yếu tố, các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng có sự tác động qua lại lẫn nhau Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động cùng chiều với sự vận động của những quy luật kinh tế khách quan, phản ánh đúng đắn và phù hợp quy luật phát triển khách quan của cơ sở hạ tầng (thông qua chính sách, pháp luật và hành động thực tiễn) thì sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Trái lại, nếu kiến trúc thượng tầng tác động ngược chiều với những quy luật đó, phản ánh không đúng đắn và phù hợp quy luật phát triển khách quan của cơ sở hạ tầng thì sẽ kìm hãm sự phát triển hoặc thậm chí là phá hủy cơ sở hạ tầng, gây hại cho sự phát triển của sản xuất và cản trở sự phát triển của
xã hội Bản chất của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đó là
Trang 37sự phù hợp (hoặc không phù hợp) của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá
sự phù hợp (hay không phù hợp) này Nếu thiết lập một kiến trúc thượng tầng “lạc hậu” hoặc “vượt trước quá xa” so với sự phát triển của cơ sở hạ tầng thì sẽ dẫn đến
sự “khập khiễng”, không phù hợp và mâu thuẫn giữa chúng, và khi đó sự tác động này tất yếu trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
Để bác bỏ và khắc phục những quan niệm duy tâm khi giải thích sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội bằng những nguyên nhân thuộc về ý thức, tư
tưởng hoặc thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền, trong Lời tựa cuốn Góp
phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C Mác viết:
“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ [ ] Cơ
sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn
ít nhiều nhanh chóng” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1993b, trang 14-15)
Đây là một luận điểm quan trọng của C Mác khi bàn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, có ý nghĩa phương pháp luận khi nghiên cứu nguyên nhân của các động cơ tư tưởng trong lĩnh vực tồn tại xã hội, tìm nguyên nhân của chính trị trong kinh tế Chủ nghĩa Mác khẳng định các quan hệ kinh tế và quan hệ sản xuất là những quan hệ xã hội cơ bản quyết định các quan hệ chính trị, pháp luật, tư tưởng
Khi nghiên cứu hình thành kinh tế - xã hội, C Mác nhấn mạnh vai trò quyết định (“suy đến cùng”) của kinh tế, nhưng ông không coi kinh tế là yếu tố duy nhất trong tiến trình lịch sử xã hội Ph Ăng-ghen cũng nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng chỉ khi “xét đến cùng” thì kinh tế mới là yếu tố quyết định tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Quan điểm duy vật lịch sử khẳng định nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là “sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực” Theo đó, xét đến cùng, kinh tế quyết định chính trị, kinh tế thay đổi thì sớm muộn chính trị cũng phải thay đổi theo Trình độ kinh tế nhất định sẽ có một trình độ chính trị nhất định tương ứng, chính trị suy cho cùng là sản phẩm của kinh tế Bởi
vì, “ trước hết con người cần ăn, uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước
Trang 38khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo ” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995c, trang 166)
Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăng-ghen, vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được thể hiện ở chỗ: Kinh tế tạo ra những cơ sở cho sự xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp; kinh tế tạo ra điều kiện để hình thành các chính đảng của các giai cấp thông qua đấu tranh giai cấp, đồng thời kinh tế còn là cơ sở cho sự ra đời của nhà nước Do đó, Ph Ăng-ghen đã nhấn mạnh:
“Tôi đã nhận thấy rất rõ ràng rằng những sự kiện kinh tế mà từ trước tới nay những tác phẩm sử học cho là không đóng một vai trò nào, hoặc có chăng nữa thì chỉ đóng một vai trò thảm hại, thì ít nhất trong thế giới hiện đại, cũng đã là một lực lượng lịch sử quyết định” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995e, trang 321)
C Mác và Ph Ăng-ghen cho rằng kinh tế là tiền đề, là cơ sở cho sự xuất hiện của giai cấp và đối kháng giai cấp, những đối kháng giai cấp ấy là cơ sở của sự hình thành các chính đảng, của các cuộc đấu tranh giữa các đảng và do đó, kinh tế là cơ
sở của chính trị Trong tác phẩm Chống Duyhring, Ph Ăng-ghen đã chỉ ra rằng:
“Phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta về chân lý vĩnh cửu và chính nghĩa vĩnh cửu, mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995d, trang 371)
Vì vậy, cần phải tìm nguyên nhân của sự xuất hiện giai cấp, của những biến đổi xã hội, đặc biệt là những biến đổi về chính trị ngay trong kinh tế Kinh tế không chỉ là nguyên nhân hình thành giai cấp mà còn là cơ sở làm nảy sinh đối kháng giai cấp Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì giai cấp đó nắm giữ vị trí thống trị trong đời sống xã hội Giai cấp nào nắm giữ những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn những
tư liệu sản xuất tinh thần Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph
Trang 39Ăng-ghen đã khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì tất yếu sẽ thống trị về mặt tinh thần, tư tưởng, tức là địa vị chính trị C Mác và Ph Ăng-ghen chỉ rõ:
“Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những
tư liệu sản xuất tinh thần” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995a, trang 66)
Điều đó có nghĩa là lực lượng kinh tế nào giữ vai trò thống trị sẽ quyết định kiến trúc thượng tầng – chính trị, kể cả tư tưởng lẫn thiết chế tương ứng Quan hệ sản xuất thống trị là cơ sở để tạo ra giai cấp thống trị và tư tưởng chính trị
C Mác – Ph Ăng-ghen tiếp tục luận chứng rõ hơn về vai trò quyết định của
kinh tế đối với chính trị trong tác phẩm Tư bản khi phân tích về sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh C Mác tiếp tục khẳng định sự thống trị về kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản
Sự đối lập về kinh tế không thể điều hoà được tất yếu sẽ dẫn đến đối kháng giai cấp về chính trị Vì thế, Ph Ăng-ghen đã chỉ ra kinh tế là cơ sở trực tiếp làm nảy sinh những đối kháng giai cấp Kinh tế còn là cơ sở gián tiếp cho sự hình thành các chính đảng và cuộc đấu tranh chính trị giữa các chính đảng đó với nhau trong đấu tranh giai cấp Hơn nữa, sự ra đời của nhà nước và sự xuất hiện các quan điểm chính trị của một giai cấp nhất định đều bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp đối kháng trong xã hội Tất cả những điều đó đều bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ những nguyên nhân kinh tế Do đó, Ăng-ghen đã khẳng định: “Tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất, trao đổi của mỗi một xã hội nhất định trong lịch sử” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995d, trang 303) Sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước là do yêu cầu tất yếu của các quan hệ kinh tế Khi bàn về mối quan hệ giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của một xã hội nhất định, Mác – Ăng-ghen coi chính trị (bao gồm hệ tư tưởng chính trị và các thiết chế chính trị - xã hội tương
Trang 40ứng) là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được sinh ra từ quan hệ kinh tế nhất định và phản ánh những quan hệ kinh tế đó Vì thế, những mâu thuẫn trong đời sống chính trị bao giờ cũng là sự phản ánh của những mâu thuẫn về kinh tế Như C Mác đã khẳng định, mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng xã hội Như vậy, các yếu tố của chính trị, những hoạt động chính trị và những quan điểm, tư tưởng chi phối những hoạt động đó đều có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ kinh tế Chính vì thế, Ph Ăng-ghen đã nhấn mạnh: “Phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995e, trang 321)
Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị không chỉ biểu hiện ở chỗ kinh tế là cơ sở hình thành của chính trị, mà còn ở những biến đổi căn bản trong kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi căn bản trong chính trị Theo Ph Ăng-ghen, do kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai nên sự biến đổi của chính trị bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi trong kinh tế Tuy nhiên, không phải sự biến đổi nào về kinh tế cũng ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi về chính trị Song, một khi kinh tế đã biến đổi thì sớm hay muộn chính trị cũng biến đổi theo Trên quy luật về quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C Mác khẳng định “khi cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995b, trang 15) Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì “sự đảo lộn” trước tiên của kiến trúc thượng tầng là
chính trị Trên tinh thần đó, trong Chống Duyhring, Ph Ăng-ghen đã phê phán
quan điểm của Duyhring khi cho rằng chính trị quyết định kinh tế, giải thích các hiện tượng kinh tế bằng nguyên nhân chính trị Bác bỏ quan điểm đó, Ăng-ghen nhấn mạnh “bạo lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế trái lại, là mục đích” (C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995d, trang 226) Như vậy, tất cả các yếu tố của chính trị,
từ giai cấp và đấu tranh giai cấp, nhà nước, chính đảng và hoạt động của nhà nước đến những quan điểm, tư tưởng chi phối các hoạt động đó đều có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ kinh tế Như vậy, xét đến cùng, kinh tế đóng vai trò quyết