LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu “Khai thác giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ” của tôi.. DANH MỤC BIỂ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN MINH TUẤN
KHAI THÁC GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 8229040
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN MINH TUẤN
KHAI THÁC GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 8229040
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Phan Thị Thu Hiền
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn v
Lời cam đoan vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Danh mục hình ix
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
7 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Các khái niệm cơ bản và khung lý thuyết 10
1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa, du lịch, văn hóa du lịch, du lịch văn hóa 10
1.1.2 Vùng văn hóa và văn hóa vùng 20
1.1.3 Khung lý thuyết .24
1.2 Tọa độ văn hóa Cần Thơ và khái quát về du lịch Cần Thơ 26
1.2.1 Không gian văn hóa .28
1.2.2 Chủ thể văn hóa .29
1.2.3 Thời gian văn hóa .31
1.2.4 Khái quát về du lịch .33
1.2.5 Khái quát về các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ………37
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC
GIA Ở CẦN THƠ VÀ THỰC TIỄN KHAI THÁC TRONG DU LỊCH 42
2.1 Giá trị của nhóm các di tích lịch sử Cách mạng và thực tiễn khai thác trong du lịch 42
2.1.1 Giá trị của nhóm các di tích lịch sử Cách mạng 43
2.1.2 Thực tiễn khai thác giá trị của nhóm các di tích lịch sử Cách mạng trong du lịch 55
2.2 Giá trị của nhóm các di tích danh nhân văn hóa và thực tiễn khai thác trong du lịch 66
Trang 42.2.1 Giá trị của nhóm các di tích danh nhân văn hóa 66
2.2.2 Thực tiễn khai thác giá trị của nhóm các di tích danh nhân văn hóa trong du lịch 70
2.3 Giá trị của nhóm các di tích kiến trúc nghệ thuật và thực tiễn khai thác trong du lịch 74
2.3.1 Giá trị của nhóm các di tích kiến trúc nghệ thuật .74
2.3.2 Thực tiễn khai thác giá trị của nhóm các di tích kiến trúc nghệ thuật trong du lịch 85
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CẦN THƠ 91
3.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của việc khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong du lịch 92
3.1.1 Điểm mạnh 92
3.1.2 Điểm yếu 97
3.1.3 Cơ hội 101
3.1.4 Thách thức 104
3.1.5 Phân tích ma trận SWOT 106
3.2 Phương hướng bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia 109
3.2.1 Lý luận về bảo tồn và phát huy di sản 109
3.2.2 Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong du lịch 111 3.3 Phương hướng khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển bền vững du lịch ……… 121
3.3.1 Lý luận về phát triển bền vững 121
3.3.2 Khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển bền vững du lịch 122
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC 136
Phụ lục 1: Danh sách các đối tượng phỏng vấn……… 136
Phụ lục 2: Các biên bản phỏng vấn sâu……… .137
Phụ lục 3: Các bảng hỏi……… 167
Phụ lục 4: Kết quả khảo sát……….175
Phụ lục 5: Hình ảnh ……… 223
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng kính trọng, lời đầu tiên tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Thu Hiền, người đã rất quan tâm, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Văn hóa học và quý thầy cô đã giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức từ lý luận đến thực tiễn vô cùng quý báu trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (nơi tôi công tác) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn đến Bảo tàng thành phố Cần Thơ, Ban Quản lý các
di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Cần Thơ, các địa phương
và quý anh chị, các doanh nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ và tham gia khảo sát, phỏng vấn
để tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn thân thương nhất đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của tôi đã luôn ủng hộ, khuyến khích, động viên tôi học tập và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả!
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu “Khai thác giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ” của tôi Tất
cả các nội dung nghiên cứu được trình bày trong đề tài này chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ thống các miền-vùng văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm 22
Bảng 1.2 Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia thành phố Cần Thơ 39
Bảng 1.3 Thống kê di tích cấp quốc gia của Cần Thơ và các tỉnh khu vực
đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.3 Số liệu thống kê khách đến tại các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc
gia ở Cần Thơ từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2020
61
Bảng 2.4 Mức độ hài lòng của du khách qua khảo sát 62
Bảng 2.5 Tóm tắt giá trị của nhóm di tích danh nhân văn hóa 70
Bảng 2.6 Tóm tắt thực tiễn khai thác nhóm di tích danh nhân trong du lịch 72
Bảng 2.7 Tóm tắt giá trị của nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật 84
Bảng 2.8 Tóm tắt thực tiễn khai thác nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật trong
du lịch
86
Trang 8
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Số liệu điều tra, thống kê các loại hình du lịch ở Cần Thơ năm 2017 36
Biểu đồ 2.1 Tình hình du khách đến tham quan các di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia ở Cần Thơ
62
Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của du khách đến tham quan các di tích lịch sử
văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ
63
Biểu đồ 2.3 Ý định quay trở lại của du khách khi đến tham quan các di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ
64
Biểu đồ 2.4 Ý định giới thiệu cho bạn bè, người thân của du khách khi đến
tham quan các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ
64
Biểu đồ 2.5 Doanh nghiệp du lịch có tour tham quan các di tích lịch sử văn hóa
cấp quốc gia ở Cần Thơ
65
Biểu đồ 2.6 Lý do đến tham quan các di tích cấp quốc gia ở Cần Thơ của du
khách
73
Biểu đồ 3.1 Sự quan tâm của các địa phương về bảo tồn và phát huy các di
tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia ở Cần Thơ
95
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn và chuyên môn của những người được khảo sát
đại diện cho chính quyền địa phương
101
Biểu đồ 3.3 Độ tuổi du khách đến tham quan các di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia ở Cần Thơ
108
Biểu đồ 3.4 Giới tính du khách đến tham quan các di tích lịch sử văn hóa cấp
quốc gia ở Cần Thơ
108
Biểu đồ 3.5 Sự quan tâm của doanh nghiệp đối với việc bảo tồn các di tích, di
vật của các di tích quốc gia ở Cần Thơ trong du lịch
115
Biểu đồ 3.6 Sự cần quan tâm của doanh nghiệp về ưu tiên phát huy sản phẩm
du lịch tại nhóm di tích lịch sử Cách mạng
117
Biểu đồ 3.7 Sự quan tâm của doanh nghiệp đối với việc phát triển sản phẩm
du lịch tại nhóm di tích danh nhân văn hóa
117
Biểu đồ 3.8 Sự quan tâm của doanh nghiệp đối với việc phát triển sản phẩm
du lịch tại nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật
118
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2 Bản đồ tổ chức không gian và hệ thống tuyến, điểm du lịch Cần Thơ 37
Hình 3.1 Phát thảo mô hình xây dựng Di tích lịch sử Lộ Vòng Cung - Cần
Thơ
234
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Cần Thơ từ xa xưa được gọi là Tây Đô, thủ phủ khu vực miền Tây Nam bộ, là nơi phồn hoa đô hội, trên bến dưới thuyền, nơi hội tụ đầu mối giao thông huyết mạch của cả vùng, là một trong những vị trí trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long Từ năm 2004, Cần Thơ trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương, đây là cơ hội và là động lực để thành phố nỗ lực vươn lên, thành phố Cần Thơ thật sự trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội của cả khu vực vùng Tây Nam bộ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật từng bước phát triển, có hệ thống thông tin, viễn thông, hệ thống ngân hàng, các dịch vụ y tế, bảo hiểm ngày càng hoàn thiện, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới ra đời, có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi trong việc kết nối với cả khu vực, trong nước và quốc tế như: Cầu Cần Thơ, Cảng quốc tế Cái Cui và sân bay quốc tế Cần Thơ được nâng cấp và mở rộng, trở thành đầu mối giao thông của cả vùng
Trong lịch sử quá trình hình thành và phát triển vùng đất Cần Thơ đến nay đã tạo ra nguồn tài nguyên du lịch khá đa dạng, phong phú, với những điểm du lịch mang đặc trưng tự nhiên miền sông nước như chợ nổi trên sông, vườn cây ăn trái, các cánh đồng phù sa, cù lao (cồn) ven sông và nhiều điểm du lịch khác Bên cạnh đó, các
di sản văn hóa phi vật thể (đờn ca tài tử, hò Cần Thơ, lễ cúng đình, văn hóa chợ nổi…), di sản văn hóa vật thể (nhà cổ, đình cổ, chùa cổ…) Trong tài nguyên du lịch của Cần Thơ phải kể đến các di tích lịch sử văn hóa, đặc biệt là 13 di tích lịch sử văn hóa được công nhận là di tích cấp quốc gia Việc khai thác các di tích lịch sử văn hóa hiện nay để phát triển du lịch không những đem lại các lợi ích về kinh tế xã hội, mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Cần Thơ được xem là một trong những thế mạnh
để phát triển loại hình du lịch văn hóa, thu hút rất nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài, góp phần đáng kể cho sự phát triển du lịch của thành phố
Để phát huy vai trò các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, cần thiết nghiên cứu có hệ thống và toàn diện giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các di tích, phân tích thực tiễn và đi đến suy ngẫm về cách thức khai thác hiệu quả các di tích này
Trang 11trong phát triển bền vững du lịch Cần Thơ theo hướng địa phương hóa và toàn cầu hóa Việc khai thác các nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn Cần Thơ hiện nay vẫn chưa thật sự hiệu quả Một trong nhiều nguyên nhân chính do các tài nguyên du lịch còn ở dạng tiềm năng, đặc biệt là tài nguyên du lịch văn hóa, lịch sử chưa được tổ chức khai thác hợp lý, thiếu tính liên kết, chưa đầu tư đúng mức để trở thành những sản phẩm đặc thù có sức hấp dẫn đến với du khách khi tham quan, trải nghiệm tại Cần Thơ
Nhận thức được các yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, đặc biệt là đối với việc khai thác có hiệu quả các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia của địa phương tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng thu hút khách du lịch, tôi chọn đề tài
luận văn mang tính Văn hóa học ứng dụng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn “Khai thác giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong phạm vi những tài liệu chúng tôi bao quát được đã có một số công trình
liên quan gián tiếp và trực tiếp đến đề tài “Khai thác giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ”
Trong những năm giữa thế kỷ XX, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp quốc (UNESCO) đã nghiên cứu và phân chia di sản văn hóa thành hai loại, bao gồm: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Năm 2004, trong bản tuyên bố về phương pháp tiếp cận chung về bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được thông qua tại Hội nghị quốc tế về “Bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: Hướng đến phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản Trong bản tuyên bố này, các quan niệm về di sản văn hóa đã được định nghĩa cụ thể theo Công ước và Quy chế của UNESCO Có thể thấy, đây là sơ sở lý luận quan trọng để nhiều tổ chức, cá nhân và quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tiếp cận, nghiên cứu về di sản văn hóa, tìm ra những giá trị của nó
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến quan điểm và mục tiêu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch là phát triển bền vững
Trang 12gắn chặt với bảo tồn và phát huy các giá trị van hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ mội trường… (Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30/12/2011)
Từ đó, cho thấy vai trò, tầm quan trọng của di sản là một trong các tài nguyên
du lịch để xây dựng sản phẩm du lịch Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản gắn với phát triển du lịch là hết sức quan trọng và rất cần thiết Các công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp và trực tiếp đến đề tài đã được nhiều tác giả đề cập trước đó Những công trình nghiên cứu về lý luận được đề cập như:
Công trình Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh đã đưa ra quan điểm:
“Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa phương Đông với những điều sở trường về khoa học và phương Tây (Đào Duy Anh 1938: 371)”
Có thể thấy, đây được xem là một trong những quan niệm đầu tiên ở Việt Nam
về nghiên cứu về giá trị của di tích lịch sử văn hóa Từ quan niệm đầu tiên ấy, các học giả, các nhà nghiên cứu trong nước đã tiếp tục có những công trình nghiên cứu tìm hiểu về di sản, về giá trị của di sản, về di tích văn hóa, có thể kể các công trình tiêu biểu gồm: tác phẩm “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc”, năm 1997, của Hoàng Vinh; công trình nghiên cứu về “Bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa Việt Nam” của Lưu Trần Tiêu, đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật -
Hà Nội năm 2000; công trình nghiên cứu của Nguyễn Kim Loan – Nguyễn Trường Tân (2014) “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam”…
Các công trình nêu trên đã đưa ra hệ thống lý luận để nghiên cứu về di sản văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và phát huy các giá trị đó trong công tác phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta Cùng với sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 5, Khóa VIII
“Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998); Luật Di sản văn hóa, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về thực hiện Luật Di sản văn hóa… đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai nhiều công trình, đề tài, hội thảo khoa học nghiên cứu về giá trị các di sản văn hóa nói chung và giá trị các di tích lịch sử văn hóa nói riêng của cả nước và địa phương trong thời gian gần đây
Trang 13Những công trình nghiên cứu về thực tiễn và định hướng bảo tồn và phát huy các di sản trong phát triển du lịch được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, một số công trình nghiên cứu mà tác giả đã tiếp cận để thực hiện tiêu biểu như công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ (2008) “Di sản lịch sử văn hóa với vấn đề phát triển du lịch”, bài báo trên chủ yếu nói về mối quan hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển du lịch, đồng thời tác giả đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di tích
và việc phát triển du lịch
Trong công trình “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả các di tích lịch sử, văn hóa phát triển du lịch tỉnh Bình Dương” của Phan Văn Trung, khi nghiên cứu và đề xuất giải pháp ông đã đưa ra một số định hướng phát triển du lịch của địa phương về khai thác hiệu quả, bền vững phát triển kinh tế,
xã hội; hình thành các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của thị trường trong và ngoài tỉnh; định hướng phát triển kinh tế xã hội vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam; tiếp tục xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa nhằm tạo điều kiện khai thác du lịch (Phan Văn Trung, 2016) Trần Đức Nguyên trong nghiên cứu “Phát huy giá trị của các di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà Nội” đã cho rằng các di tích lịch sử cách mạng cùng với hệ thống các di tích lịch sử văn hóa khác là di sản văn hoá vô giá, góp phần tạo nên diện mạo của thủ đô Hà Nội, ông đã đưa ra những giải pháp thiết thực như đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân
về ý nghĩa giá trị của các di tích lịch sử cách mạng, kết hợp với ngành du lịch xây dựng các chương trình, các tour du lịch văn hoá và sinh thái ở Hà Nội và phụ cận Gắn các di tích lịch sử cách mạng vào các tour du lịch cũng có thể xây dựng thành một tuyến kết nối các di tích lịch sử cách mạng với những điểm văn hóa khác để phục vụ nhu cầu của khách tham quan trong và ngoài nước (Trần Đức Nguyên, 2010)
Hà Văn Siêu đã đề cập đến sự phát triển của các giá trị lịch sử văn hoá trong chiến lược phát triển trọng tâm ngành du lịch – đặc biệt là dựa trên loại hình
du lịch văn hoá Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thể hiện rõ quan điểm lấy văn hóa làm nền tảng quyết định sự phát triển du lịch bền vững (Hà Văn Siêu, 2013)
Trang 14Công trình của hai tác giả Đào Ngọc Cảnh và Ông Thị Diệu Hiền nghiên cứu
về “Thực trạng và giải pháp khai thác các di tích lịch sử văn hóa trong phát triển du lịch quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ”, công trình này chủ yếu phân tích đã đi nghiên cứu thực trạng khai thác các di tích trong du lịch ở quận Bình Thủy và đề xuất giải pháp để phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa trong du lịch, góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch ở địa phương (Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Tập 51, Phần C, 2017)
Ngoài ra, còn một nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Linh đăng trên tạp chí khoa học năm 2017, Trường Cao đẳng Cần Thơ, “Biện pháp phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tại thành phố Cần Thơ”, tác giả nghiên cứu từ thực trạng tiềm năng về di sản văn hóa để phát triển du lịch Cần Thơ, đưa ra một số biện pháp phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tại thành phố Cần Thơ
Nguyễn Thị Kim Liên “Khai thác các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch”, tác giả nghiên cứu quá trình mở cửa, giao lưu hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, hoạt động du lịch đã mang lại nguồn thu khổng lồ cho ngân
sách nhà nước (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 396, 6/2017)
Tuy nhiên, hiện nay những công trình tập trung nghiên cứu về khai thác giá trị các di lích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ nói chung và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng chưa nhiều và cụ thể Vì vậy, tác giả xin đi sâu nghiên cứu
đề tài “Khai thác giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ”
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu văn hóa học, văn hóa du lịch, tìm hiểu về tài nguyên du lịch của các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Cần Thơ Từ đó, phân tích thực tiễn, đánh giá và định hướng bảo tồn và phát huy các di tích này hiệu quả trong phát triển du lịch của Cần Thơ
Trang 15- Câu hỏi nghiên cứu:
+ Đối với giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể phải được phân tích rõ ở từng nhóm di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (nhóm di tích lịch sử cách mạng; nhóm di tích danh nhân văn hóa; nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật) như thế nào?
+ Thực tiễn khai thác từng nhóm của 13 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch như thế nào?
+ Hướng khai thác 13 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo từng nhóm trên trong phát triển du lịch Cần Thơ như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu:
+ Trong mỗi nhóm di tích lịch sử văn hóa (nhóm di tích lịch sử cách mạng, nhóm di tích danh nhân văn hóa, nhóm di tích kiến trúc nghệ thuật) có khai thác hiệu quả trong phát triển du lịch
+ Mặt mạnh, mặt yếu của từng nhóm di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch có hiệu quả, đồng đều
+ Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch phát triển bền vững ở Cần Thơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về giá trị văn hóa và thực tiễn, phương hướng khai thác 13 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và phân tích thực tiễn và định hướng khai thác các di tích này trong phát triển du lịch Cần Thơ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi chủ thể: Các chủ thể liên quan đến bảo tồn, phát huy các di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch Cần Thơ: Chính quyền địa phương, cộng đồng địa phương, các công ty du lịch và du khách
- Phạm vi không gian: Các quận, huyện có các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Trang 16- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015 – 2020 (cập nhật 6 năm gần nhất)
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các hướng tiếp cận và các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu theo quan điểm hệ thống các di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ; các di tích trên là một trong những tài nguyên du lịch trong quá trình phát triển du lịch và văn hóa du lịch của Cần Thơ Bên cạnh đó, phát triển du lịch và văn hóa du lịch chỉ là một thành tố trong phát triển Cần Thơ, văn hóa địa phương (Cần Thơ), văn hóa vùng (khu vực Tây Nam bộ)
- Phương pháp hướng tiếp cận liên ngành: Tích hợp kiến thức và phương pháp của các chuyên ngành có liên quan (Địa lý, lịch sử, nghệ thuật, xã hội, kinh tế…) trong nghiên cứu văn hóa để phân tích, làm rõ việc khai thác, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn Cần Thơ
- Phương pháp so sánh: So sánh Cần Thơ với các địa phương khác trong khu vực Tây Nam bộ Qua đó, làm nổi bật đặc trưng của văn hóa Cần Thơ, đặc điểm của các di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Cần Thơ và những thành công, hạn chế trong quá trình khai thác các di tích đó trong phát triển du lịch Từ đó, thấy được những kinh nghiệm mà Cần Thơ có thể tham khảo từ các địa phương khác ở Tây Nam Bộ và các địa phương khác qua đó so sánh, đối chiếu các thông tin, theo mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Phương pháp điền dã và khảo sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi thực hiện đi khảo sát thực địa tại các di tích cấp quốc gia ở Cần Thơ qua đó thu thập
tư liệu thực tế, ghi hình ảnh một cách trực quan đảm bảo tính chân thực, chính xác và lấy phiếu khảo sát đối với những người 60 người quản lý, chuyên gia đại diện cho chính quyền địa phương, 30 công ty du lịch lữ hành và 300 khách du lịch tham quan
ở Cần Thơ một cách ngẫu nhiên
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tìm hiểu quan niệm, ý kiến đánh giá của một
số cán bộ lãnh đạo địa phương, cán bộ phụ trách ngành văn hóa, du lịch cũng như những người trực tiếp phụ trách các di tích, các công ty du lịch để tìm hướng ra các
Trang 17sản phẩm du lịch phù hợp đồng thời nắm được thị hiếu của khách để từ đó đưa ra phương hướng khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong du lịch Cần Thơ một cách hiệu quả
Bên cạnh đó, còn sử dụng phiếu khảo sát nhằm xác định được hiện trạng quản
lý và khai thác các di tích cấp quốc gia thành phố Cần Thơ và thị trường khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm tại địa phương
5.2 Nguồn tư liệu:
Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi sử dụng các tài liệu nghiên cứu của các chuyên ngành liên quan như: địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, du lịch gắn với văn hóa vùng, văn hóa, du lịch Cần Thơ để nghiên cứu toàn diện vấn đề khai thác các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kế thừa các nhà lý luận và các nhà nghiên cứu đi trước, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu hoạt động bảo tồn và phát huy di sản trong phát triển du lịch bền vững Vận dụng trong nghiên cứu các di tích cấp quốc gia trong phát triển du lịch ở Cần Thơ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích thực tiễn và đề xuất phương pháp bảo tồn và phát huy các di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch Cần Thơ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý di tích và phát triển du lịch của địa phương
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ở địa phương, cũng như dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và các nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực về di sản văn hóa và du lịch
7 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm phần dẫn nhập, kết luận và 3 chương:
Chương 1 “Cơ sở lý luận và thực tiễn”: Chương này xây dựng cơ sở lý luận
và khung lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài và định vị tọa độ văn hóa Cần Thơ, khái quát về du lịch Cần Thơ
Trang 18Chương 2 “Giá trị của các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ở Cần Thơ và thực tiễn khai thác trong du lịch” Chương này phân tích các giá trị (vật thể và phi vật thể) của hệ thống các di tích cấp quốc gia từ góc độ tài nguyên du lịch và trình bày thực tiễn khai thác các di tích trong sản phẩm du lịch
Chương 3 “Phương hướng bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong phát triển du lịch Cần Thơ” Chương này phân tích SWOT và
đề xuất phương hướng phát triển du lịch Cần Thơ, tập trung vào mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị các di tích và phát triển bền vững du lịch
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản và khung lý thuyết
1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa, du lịch, văn hóa du lịch, du lịch văn hóa
- Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa không phải là toàn bộ hệ thống di sản văn hóa dân tộc, nhưng là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống di sản đó Loại hình di sản hữu hình này trong một thời gian dài được coi là loại hình di sản quan trọng nhất vì chúng
dễ dàng nhận biết nhất so với các di sản vô hình khác Thuật ngữ di tích lịch sử văn hoá ở nhiều nước trên thế giới đều dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hoá của con người (Tiếng Anh là: vestige, tiếng Pháp: vestige, tiếng Nga: Pomiatnic; tiếng Trung Quốc: Cổ tích)
Trong một số văn bản về bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá của một số quốc gia thì di tích lịch sử văn hoá được quan niệm cụ thể rộng hẹp khác nhau Có thể khái quát được những quan niệm sau đây:
Di tích lịch sử văn hoá được coi là di sản văn hoá nói chung, bao gồm di sản văn hoá vật thể, di sản văn hoá phi vật thể Đây là quan niệm rộng nhất về di tích lịch sử văn hoá được thể hiện trong Luật số 214 ngày 19 tháng 7 năm
1975 về bảo vệ di sản văn hoá của Nhật Bản Theo Luật này thì di tích lịch sử văn hoá bao gồm: Di sản văn hoá vật chất, di sản văn hoá phi vật chất, di sản văn hoá dân gian, các công trình lưu niệm (Nguyễn Duy Bằng, 1993, tr.13)
Di tích lịch sử văn hoá được quan niệm hẹp hơn một chút trong Luật về giữ gìn và bảo vệ di tích lịch sử của Philippin, công bố ngày 18 tháng 6 năm 1966 Theo đạo luật này thì di tích lịch sử văn hoá sẽ bao gồm cả các di sản văn hoá vật chất và phi vật chất (như các tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc), nhưng không bao gồm các di sản văn hoá dân gian như phong tục tập quán, tôn giáo, tin ngưỡng, …(Nguyễn Duy Bằng, 1993, tr.12);
Di tích lịch sử văn hoá là toàn bộ các di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật chất
cụ thể, bao gồm cả các cổ vật bất động sản (các công trình, các địa điểm, ) và
Trang 20động sản (các đồ vật, hiện vật cụ thể) Quan niệm này được thể hiện ở Pháp lệnh của nhà vua Ả Rập Xêut quy định về quản lý di tích, công bố ngày 03 tháng 8 năm 1972, Luật số 117 của Cộng hoà Ai Cập ban hành ngày 08 tháng
6 năm 1983, đạo luật số 16 của Tây Ban Nha công bố ngày 25 tháng 6 năm
1976 của Liên Xô (Đạo luật gìn giữ và sử dụng di tích, di vật lịch sử ở Liên
Xô, công bố năm 1976 Bản dịch lưu tại Cục di sản văn hóa, tr.12-16)
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của nền khoa học Bảo tàng Xô Viết các tác giả giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá” đã đưa ra một khái
niệm mang tính khái quát về di tích lịch sử văn hoá như sau: “Di tích lịch sử văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân hoạt động sáng tạo ra
trong lịch sử để lại” Định nghĩa này đã phân biệt di tích lịch sử văn hoá với
các hình thái di sản vật thể khác như danh thắng, cổ vật và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO được thông qua vào ngày 16/11/1972, nhìn nhận di tích là một bộ phận nằm trong Di
sản văn hóa, là “Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động
và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học” (Chu Quang Trứ, 1996, tr.229)
Luật Di sản văn hóa của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009, “Di tích lịch sử, văn hóa là công trình xây dựng, địađiểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” Đây là định nghĩa chính thức và có tính pháp
Trang 21lý cao nhất được vận dụng làm căn cứ trong các hoạt động giáo dục, nghiên cứu và quản lý di tích ở Việt Nam hiện hành
Di tích lịch sử văn hóa có một trong các tiêu chí: (a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
Ví dụ: Các công trình tiêu biểu thuộc loại này như Đền Hùng, Cổ Loa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột Cờ…; (b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Ví dụ: Các công trình tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, Đền Đồng Nhân…; (c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Ví dụ: Các công trình tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích cách mạng Pắc Pó, Phòng tuyến Tam Điệp, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, theo thống kê thì di tích lịch sử chiếm 51,2% số di tích được xếp hạng Các di tích này không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội
An, Nhà Thờ Phát Diệm, chùa keo, Đình Tây Đằng, Chùa Phật Tích Năm
2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa, thánh địa Mỹ Sơn Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng
Di tích thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: Cảnh quan
Trang 22thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng
An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam Năm 2010, di tích danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng
Di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những
sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ(Theo wikiwand.com)
Như vậy, di tích lịch sử văn hóa là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện hoặc nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử
Một di tích lịch sử văn hóa thường có những bộ phận: Các di tích bất động sản như: địa điểm, hạng mục công trình xây dựng; Các di tích động sản (đồ thờ tự, đồ lưu niệm, đồ dùng sinh hoạt ); Môi trường cảnh quan sinh thái – nhân văn (trong đó có môi trường kiến trúc) bao quanh di tích Di tích lịch sử văn hóa có thể là một di tích đơn lẻ, cũng có thể là một quần thể hay một tổng thể di tích liên hoàn với nhiều hạng mục công trình và địa điểm khác nhau, hoặc cũng có thể là cả một khu phố cổ, một
Trang 23làng cổ, một trung tâm văn hóa, thương mại Di tích lịch sử văn hóa có thể là cả một
đô thị với quy hoạch, diện mạo kiến trúc đô thị, môi trường thiên nhiên, lối sống, nếp sống của cư dân đô thị
Có thể nói rằng, Việt Nam tự hào về cội nguồn và lịch sử lâu đời của nhiều dân tộc anh em (54), trong quá trình phát triển đến nay đã để lại cho chúng ta một kho tàng các di sản văn hóa rất nhiều giá trị, vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, đến năm 2018 ở Việt Nam, có 24 di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản
thế giới; đó có 8 di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh Hạ Long, Hoàng
Thành Thăng Long, quần thể danh thắng Tràng An, Thành Nhà Hồ, Phong Nha Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Di tích Mỹ Sơn); 12 di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Lễ hội Gióng, Ca Trù, Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ kéo co, Đờn ca Tài
tử Nam Bộ; Bài Chòi Trung Bộ); và 4 di sản tư liệu (Bia Tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Mộc bản Triều Nguyễn, Châu bản Triều Nguyễn, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang) Cùng với đó là hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được công nhận di sản Chỉ tính riêng di sản văn hóa vật thể ước tính có hơn 3.000 di sản cấp quốc gia và khoảng 7.500 di sản cấp tỉnh và nhiều công trình di tích vẫn đang được thống kê; hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; các di sản văn hóa văn nghệ dân gian… (Báo cáo của Tổng cục du lịch, 2018)
Tại Cần Thơ đến năm 2019 có 36 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng (13 di tích cấp quốc gia, 23 di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố); 2 công trình văn hóa tưởng niệm; nhiều di sản, cổ vật được công nhận cấp quốc gia
Phân cấp di tích
Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam thì di tích được chia thành:
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh;
Trang 24Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia;
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; Quyết định việc
đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào danh mục di sản thế giới
Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó
Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa năm 2018, Việt Nam có 3.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 di sản thế giới được UNESCO cộng nhận
Như vậy, các di tích lịch sử văn hóa có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngành du lịch nói chung, đó là tài nguyên du lịch văn hóa Việc phát huy di tích lịch sử văn hoá trong linh vực du lịch luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ này ngày càng thể hiện rõ trong sự liên hệ giữa việc bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử văn hoá nói chung và việc bảo tồn di tích lịch sử văn hoá nói riêng với việc khai thác phục vụ mục đích phát triển du lịch
Theo nghiên cứu của Trần Đức Thanh (2005): “Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisne (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh)…Theo Robert Lanquar, từ tourist lần đầu xuất hiện trong
Trang 25tiếng Anh vào khoảng năm 1800 Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải” Trần Đức Hải, 2005, tr.7)
Theo Trần Văn Thông (2006) cho rằng: “Du lịch là một quá trình bao gồm tất
cả sinh hoạt của một chuyến đi, từ lúc dự trù chuyến đi, di chuyển đến một nơi lưu trú tạm thời (không phải với mục đích kiếm sống) với mục đích thỏa mãn nhu cầu đa dạng: ăn, ở, nghĩ dưỡng, tham quan giải trí, mua sắm, thể thao, tín ngưỡng, học tập, hội nghị… đến lúc trở về và hồi tưởng”
Ban đầu thuật ngữ du lịch chỉ để nhấn mạnh đến sự di chuyển của con người vì mục đích vui chơi, giải trí, thăm viếng là chủ yếu Định nghĩa du lịch xuất hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1811 “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” (Nguyễn Minh Tuệ, 1999, tr.5)
Năm 1930, Glusman cho rằng “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người hướng tới một điểm nhất định nhưng không phải là nơi thường xuyên của họ” Nhóm nghiên cứu Thụy Sĩ là Hunziker và Kraff cũng đồng quan điểm này nên khẳng định “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở
và nơi làm việc thường xuyên của họ” (Trần Đức Thanh, 2005, tr.8) Định nghĩa này
về sau được Hiệp hội các chuyên gia khoa học du lịch thừa nhận
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành IUOTO (Internationnal Union of Official Travel Orangnization): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…” Theo các chuyên gia trong hội nghị của Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma-Italia (21/9/1963) đã định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay người nước ngoài họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” (dẫn theo Trần Văn Thông, 2006, tr.16)
Tổ chức du lịch thế giới UNWTO (World Tourism Organization) đã khẳng định: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi nào khác với nơi sinh sống
Trang 26thường xuyên của một con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, hay các mục đích khác ngoài hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” (dẫn theo Nguyễn Minh Tuệ, 1999, tr.12)
Khái niệm về du lịch ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú Các khái niệm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nêu ra
Theo Nguyễn Khắc Viện: “Du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người” (Dẫn theo Trần Đức Thanh, 2005, tr.8); theo Trần Nhạn (1995): “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền” (Trần Nhạn, 1995, tr.20) Theo Đào Đăng Kiên, với cách tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch, có thể khái niệm: “Di lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị” (Giáo trình kinh tế du lịch, 2008, tr.8)
Theo định nghĩa về du lịch của Luật Du lịch Việt Nam: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân
cư có liên quan đến du lịch Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nơi diễn ra các hoạt động du lịch (Luật Du lịch Việt Nam, 2017) Qua nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về du lịch nêu trên, có thể thấy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, với nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể đa dạng
Du lịch là một hoạt động xã hội ngày càng mang tính phổ biến trong thời đại hiện nay, đó là “Hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác nhằm chủ yếu thỏa mãn nhu cầu văn hóa vật chất, tinh thần thông qua tiêu dung các sản phẩm du lịch mang những giá trị văn hóa độc đáo
Trang 27nhất định và có thể đem lại hiệu quả kinh tế quan trọng cho người (địa phương) làm du lịch” (Huỳnh Quốc Thắng, 2013)
Trong đề tài này, chúng tôi kế thừa quan điểm về du lịch của Huỳnh Quốc Thắng để tìm hiểu về hoạt động du lịch trong mối quan hệ biện chứng với các giá trị văn hóa của địa phương, đặc biệt là về giá trị các di tích cấp quốc gia ở Cần Thơ trong phát triển du lịch
Các loại hình du lịch
Về các loại hình du lịch chúng ta có thể tìm hiểu về các hoạt động của du lịch,
sự đa dạng của các sản phẩm du lịch là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch ở nhiều quốc gia và ở Việt Nam
Trên cơ sở của Luật Du lịch Việt Nam (2017) và các tư liệu về du lịch, chúng
ta có thể chia ra nhiều nhóm du lịch khác nhau:
Du lịch cộng đồng: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cơ quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi
Du lịch sinh thái: Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo
vệ môi
Du lịch văn hóa: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại
Du lịch MICE (hội thảo, hội nghị, sự kiện): Mục đích chính của loại hình du lịch này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó Với mục đích này, khách du lịch đi tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ, các cuộc triễn lãm, hội chợ
Du lịch nghỉ dưỡng: Là loại hình du lịch mà ở đó có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, các vùng ven bờ nước, vùng núi, vùng nông thôn
Trang 28Du lịch thể thao: Bao gồm thể thao chủ động và du lịch thể thao bị động Du lịch thể thao chủ động: Là loại hình du lịch mà du khách tham gia trực tiếp vào một hay nhiều môn thể thao, trong đó có cả các môn thể thao mạo hiểm, nhằm mục đích thể hiện bản thân, rèn luyện sức khoẻ…như leo núi, lướt ván, săn bắn, câu cá, trượt tuyết
Du lịch thể thao thụ động: Là các chuyến đi để xem các cuộc thi đấu thể thao
mà du khách ưa thích Trong trường hợp này các cổ động viên chính là du khách
Du lịch tôn giáo: Là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo cuả tín đồ, hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của người dị giáo Điểm đến của các luồng du khách này là chùa chiền, nhà thờ, thánh địa
Du lịch chữa bệnh: Mục đích của chuyến đi là để điều trị hoặc phòng ngừa một căn bệnh tiềm tàng nào đó dựa vào từng loại tài nguyên cụ thể và hoạt động du lịch phù hợp
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đi vào du lịch văn hóa vì đây là loại hình
du lịch được xây dựng và phát triển trên nền tảng khai thác các giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
- Văn hóa du lịch
Đối với văn hoá du lịch là sự thể hiện nội dung văn hoá trong lĩnh vực du lịch, được tích lũy, sáng tạo trong hoạt động du lịch như: khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, chính quyền các cấp, và cộng đồng dân cư nơi diễn ra hoạt động du lịch
Văn hóa du lịch được hình thành, phát triển cùng với hoạt động du lịch, thể hiện những giá trị văn hóa trong các hoạt động về quản lý, nghiên cứu, kinh doanh, trải nghiệm
Văn hóa du lịch đã trở thành một thành tố mới trong phạm trù văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc, vừa mang tính dân tộc vừa mang tính quốc tế và đóng vai trò rất quan trọng (Nguyễn Văn Lưu (2018)
Trang 291.1.2 Vùng văn hóa và văn hóa vùng
Theo Ngô Đức Thịnh: Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh
tế, xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, thể hiện những sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64)
Vùng văn hóa là một không gian lãnh thổ liên tục với hoàn cảnh tự nhiên tương đối đồng nhất ở bên trong và khu biệt với các không gian lãnh thổ liền
kề bên nhau, trong đó tồn tại một cộng đồng người thống nhất tương đối (gồm một hay nhiều tộc/ nhóm người), đã cùng cư trú và tiếp xúc giao lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nên một hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệ thống giá trị của những vùng có liên quan (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.147)
Có thể nói, mỗi vùng văn hóa nổi lên những hiện tượng văn hóa mang sắc thái riêng biệt, khác với các vùng khác Dựa trên môi trường sống và xã hội khác nhau mỗi vùng văn hóa đã sáng tạo cho mình những sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch riêng thu hút khách tham quan
- Phân vùng văn hóa
Việt Nam hiện nay, có 54 dân tộc Hầu như mỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng Dân tộc Kinh, tức người Việt, chiếm đa số, sống trải dài từ Bắc xuống Nam và rải đều khắp cả nước Mỗi vùng miền lại có những nét văn hóa rất đặc trưng Nhất là giọng nói và cách phát âm chỉ cần nghe qua là biết ngay người đó ở vùng miền nào
Trang 30Hoặc một số từ thông dụng nhất chỉ các đồ vật, cây trái, vật nuôi… của người miền Bắc và miền Nam cũng khác nhau Tiếng Việt tuy cùng một nguồn gốc nhưng qua thời gian với những đợt di dân của tiền nhân đến những vùng đất mới, giao thoa với văn hóa bản địa đã phát sinh ra nhiều từ ngữ, phương ngữ, cách nói và cả tính cách con người cũng dần đổi thay Đó là sự phong phú và nét độc đáo của văn hóa Việt
Trần Ngọc Thêm định nghĩa phân vùng văn hóa là sự phân chia một không gian văn hóa thành những đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn theo một bộ tiêu chí xác định sao cho mỗi đơn vị được phân chia có sự đồng nhất nội tại và sự toàn vẹn thể hiện bằng những dải ranh giới cho phép khu biệt nó với các đơn vị khác
“Sự đồng nhất nội tại” là sản phẩm của sự xem xét đối tượng nhìn từ bên trong (nội dung) căn cứ vào bộ tiêu chí, còn “tính nguyên vẹn” là sản phẩm của việc xem xét đối tượng nhìn từ bên ngoài (hình thức) do sự liền mạch của không gian lãnh thổ tạo thành “Dải ranh giới” phân vùng chính là một miền chuyển tiếp tại thành đường biên mà trong đó các đặc tính của đơn vị lãnh thổ đang xem xét được thay thế dần bằng các đặc tính của đơn vị lãnh thổ cận với nó (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr.222)
- Các cách phân vùng văn hóa: Phân vùng văn hóa ở nước ta không thể không
đặt nó trong khung cảnh chung của khu vực Đông Dương và rộng ra là cả vùng Đông Nam Á Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu khác nhau:
Theo Đinh Gia Khánh chia thành 9 vùng văn hóa là: Vùng văn hóa đồng bằng miền Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Nghệ - Tĩnh; Vùng văn hóa Thuận Hóa – Phú Xuân; Vùng văn hóa Nam Trung Bộ; Vùng văn hóa Tây Nguyên; Vùng văn hóa đồng bằng miền Nam; Vùng văn hóa Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội (Đinh Gia Khánh, 1995) Theo Trần Quốc Vượng thì văn hóa Việt Nam chia thành 6 vùng văn hóa là: Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ; Vùng văn hóa Trung Bộ; Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên; Vùng văn hóa Nam Bộ (Trần Quốc Vượng, 1998)
Theo Ngô Đức Thịnh có thể chia cả nước thành 7 vùng văn hóa (trong mỗi vùng văn hóa lại chia ra thành các tiểu vùng): Vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung
Trang 31Bộ; Vùng văn hóa duyên hải Bắc Trung Bộ; Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên; Vùng văn hóa Nam Bộ (Ngô Đức Thịnh, 1993) (Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 2018, tr41)
Theo Trần Ngọc Thêm “Phân vùng văn hóa là sự phân chia một không gian văn hóa cấp trên thành những đơn vị không gian văn hóa đồng cấp nhỏ hơn sao cho mỗi đơn vị được chia ra có sự đồng nhất nội tại và không gian toàn vẹn, thể hiện bằng những dải ranh giới cho phép khu biệt nó với các đơn vị giáp ranh” (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.50) Ông chia miền văn hoá Bắc Bộ thành 3 vùng, miền văn hóa Trung Bộ cũng thành 3 vùng, còn miền văn hóa Nam Bộ được chia thành 2 vùng, tổng số có 8 vùng văn hóa ở Việt Nam
I Miền văn hóa Bắc Bộ 1 Vùng văn hóa Việt Bắc
2 Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ
3 Vùng văn hóa Tây Bắc
II Miền văn hóa Trung Bộ 4 Vùng văn hóa Bắc Trung Bộ
5 Vùng văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ
6 Vùng văn hóa Tây Nguyên
III Miền văn hóa Nam Bộ 7 Vùng văn hóa Đông Nam Bộ
8 Vùng văn hóa Tây Nam Bộ
Bảng 1.1: Hệ thống các miền - vùng văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm
(Nguồn: Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ NXB Văn hóa–Nghệ thuật (2018), tr.60)
Từ những nhà nghiên cứu trên, mỗi cách phân vùng đều có những đặc trưng giá trị riêng, tuy nhiên ở góc độ người viết đồng tình cao với quan điểm và cách phân chia vùng văn hóa của Trần Ngọc Thêm và sử dụng cách phân chia này làm cơ sở phân chia vùng văn hóa trong phần luận văn này
- Khái niệm văn hóa vùng
Văn hóa được con người sáng tạo trong những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nhất định Giữa khu vực tự nhiên xã hội này với khu vực tự nhiên xã hội khác vốn không giống nhau, nên sắc thái văn hóa ở mỗi nơi có khác nhau, tạo nên sắc thái văn hóa vùng
Trang 32Văn hóa vùng có thể được coi là hệ thống các giá trị văn hóa được sáng tạo và tích lũy qua quá trình lịch sử của nhóm cư dân sinh sống trong những điều kiện, kinh tế xã hội và môi trường sinh thái (vùng) cụ thể Văn hóa vùng thể hiện trên các mặt của đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, mang đặc trưng “trội”, tạo nên cái hồn, cái “tính cách” riêng của vùng đó (Ngô Đức Thịnh, 1993, tr 70)
Để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù theo từng vùng trên cả nước Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 03 tháng 8 năm 2016) Xác định mục tiêu tổng quát phát triển là xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch đặc sắc, đa dạng, đồng bộ, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao, thu hút thêm nhiều thị trường khách du lịch và đầu tư vào lĩnh vực du lịch
Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi, kênh, rạch dày đặc, Tây Nam bộ có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm và
du lịch Đây là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước Bên cạnh đó, vùng còn đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu của cả nước (Theo Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ)
Về văn hóa, với những đặc trưng về thời gian, không gian và chủ thể văn hóa, trong sự so sánh với các vùng văn hóa khác, Tây Nam bộ có đầy đủ các yếu tố của một vùng văn hóa; Đây là một vùng văn hóa vừa riêng biệt vừa thống nhất trong đa
dạng so với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam
Ở Việt Nam, để phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-
2020 (tên tiếng Anh là: One commune one product, gọi tắt là Chương trình OCOP) theo Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018:
Chương trình mỗi xã một sản phẩm thì OCOP là chương trình phát triển kinh
tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị; là giải pháp, nhiệm vụ trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Trọng tâm của Chương trình OCOP là phát triển sản
Trang 33phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ sản xuất) và kinh tế tập thể thực hiện Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh
để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam (Trích nội dung Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018)
Tại thành phố Cần Thơ, thành phố đã phê duyệt Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn thành phố (Quyết định
số 2863/QĐ-UBND ngày 05 tháng 11 năm 2018), trong đó mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 20 sản phẩm theo tiêu chuẩn OCOP
Hiện nay, sau thời gian triển khai Đề án mỗi xã một sản phẩm, theo thông tin
từ Sở Công thương thành phố Cần Thơ thì Ủy ban nhân dân thành phố đã công nhận (9/2020) được 04 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP gồm: Mắm cá tra, bánh tráng dừa, bánh tráng ngọt, rượu mận Sáu Tia
1.1.3 Khung lý thuyết
- Lý thuyết chức năng
Thuyết chức năng xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi của Bronislaw Maninowski (1884 - 1942) và sau đó là Arthur Reginald Radcliffe Brown (1881 - 1955)
Đối với Bronislaw Maninowski, ở cấp độ cấu trúc xã hội có 4 yêu cầu cơ bản mang tính phổ quát: sản xuất và phân phối vật phẩm tiêu dùng, kiểm soát và điều chỉnh hành vi, giáo dục (xã hội hóa), tổ chức và điều hành các quan hệ quyền lực Những yêu cầu này được đáp ứng bởi những thiết chế tương ứng… những đặc trưng chung nhất của mọi thiết chế bao gồm: người tham gia, điều
lệ, chuẩn mực, cơ sở vật chất, công cụ, hoạt động và chức năng (Bùi Chí Cường chủ biên, 2010, tr.95)
Trang 34Dựa trên khung phân tích thiết chế này người viết vận dụng vào việc phân tích
để đưa ra hướng khai thác những giá trị văn hóa từ các di tích cấp quốc gia để vận hành đưa vào phát triển du lịch một cách hợp lý và triệt để nhằm tôn vinh những giá trị vừa làm cho đa dạng hóa sản phẩm du lịch cũng như tạo một cú hích cho du lịch Cần Thơ phát triển bền vững
- Lý thuyết về tính nguyên gốc và bảo tồn di sản
Trong nghiên cứu về du lịch thì tính nguyên gốc/tính xác thực có ý nghĩa rất quan trọng Cohen, Eric (1988) cho rằng thuật ngữ tính nguyên gốc (tính xác thực) xuất phát từ trong bảo tàng, nhằm đánh giá xem hiện vật đặc trưng có xứng đáng được trưng bày hay không? Một hiện vật được xem có tính xác thực (tính nguyên gốc) nếu nó được tạo từ chất liệu của địa phương, do người địa phương, cho người địa phương sử dụng; hoặc nó được được tạo ra theo phong cách địa phương, theo một cách thức truyền thống bởi nghệ nhân truyền thống Các nhà nghiên cứu như Hutnyk (2000); MacCannell (1973, 1976); Nash (1977, 1996); Picard (1996); Phillips và đồng nghiệp (1999); Rojek và đồng nghiệp (1997); Smith và đồng nghiệp (1977); Urry (1990); Yamashita (2003) trong thời gian dài nghiên cứu đều cho rằng du lịch vừa là hoạt động kinh tế, vừa là hoạt động văn hóa nên đã tác động mạnh mẽ lên văn hóa địa phương và làm mất tính nguyên gốc của các nét văn hóa này Nguyên nhân được lý giải là do “sự hàng hóa hóa” của các nền văn hóa chủ nhà được vận dụng trình diễn cho du khách Thực tế cho thấy, khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến nhận thức của du khách về “tính xác thực/tính chân thật”; hoặc so sánh một nền văn hóa theo góc độ “trước và sau” khi trở thành đối tượng thưởng lãm của du lịch Ngược lại, một số tác giả như Abram (1997), Cohen (1988), Macdonald (1997),
Nuttall (1997) đều xác định việc nghiên cứu xem người địa phương cảm nhận như thế
nào về tính nguyên gốc; hay người địa phương có cho rằng du lịch tác động biến đổi bản chất văn hóa của họ hay không?” rất ít được tìm hiểu Từ những khuynh hướng nghiên cứu về tính xác thực/ tính nguyên gốc trong du lịch, Cohen, Eric (1988) cho rằng sự hàng hóa không nhất thiết tàn phá đi sự chân thật/nguyên gốc của văn hóa chủ nhà Đồng quan điểm này, tác giả Causey, Andrew (1999) khẳng định bản thân chủ nhà và văn hóa của họ có năng lực chủ thể và vận động riêng mà du lịch chỉ là một chất xúc tác trong quá trình sáng tạo văn hóa đó Do đó sự thay đổi các giá trị văn hóa, hay sự sáng tạo các giá trị này phục vụ trong du lịch có khi là điều tích cực
Trang 35Vì vậy, Tucker (1997) đã cho rằng khái niệm tính nguyên gốc là mang tính tương đối
và do xã hội tạo nên và phải được xem như thế khi chúng ta xem xét trải nghiệm của
du khách và các mối quan hệ trong du lịch
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm về tính nguyên gốc; trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xin kế thừa quan điểm của hai tác giả Cohen (1988) và Causey (1999) về “tính nguyên gốc/tính xác thực“ trong văn hóa và du lịch Đó là chúng tôi quan tâm đến nhận thức của du khách về “tính xác thực/tính chân thật”; đến các giá trị văn hóa “theo góc độ trước và sau khi trở thành đối tượng thưởng lãm của du lịch như thế nào?” Tính xác thực/ tính nguyên gốc trong đề tài này được chúng tôi xác nhận là những giá trị “được tạo từ chất liệu của địa phương; được tạo ra theo phong cách địa phương”
Chúng tôi nhận thấy: nét văn hóa mà du khách thưởng thức, trải nghiệm tại các
di tích ở Cần Thơ gắn với việc tái hiện của chủ nhân văn hóa, cho nên sự chân thật
mà du khách tìm kiếm được nhận thức từ ba gốc độ khác nhau, từ chính bản thân nét văn hóa đó, từ gốc trải nghiệm, đánh giá của du khách và từ góc độ của chủ nhà Nguyên tắc bảo tồn các di tích cấp quốc gia nói riêng và các di sản văn hóa nói chung phải dựa trên tính nguyên gốc, đây là yêu cầu bắt buộc, là nguyên tắc bao trùm mọi khâu bảo tồn di sản văn hóa Tính nguyên gốc có thể được định nghĩa như một cái gì đấy mà tự đứng vững và chứng tỏ bản thân mình, nó nói lên tính sáng tạo, tính đồng nhất sâu xa giữa nhận thức và nội dung Đối với một di tích nguyên gốc được biểu hiện ở các mặt như nguyên gốc về kiểu dáng, phong cách Do vậy, công tác quản lý di sản văn hóa là hướng tới hoạt động nhằm giữ gìn tính nguyên gốc trong công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo di tích
1.2 Tọa độ văn hóa Cần Thơ và khái quát về du lịch Cần Thơ
Trần Ngọc Thêm nhận định tọa độ văn hóa của một vùng nào đó: “Giống như một điểm trong không gian, vị trí của một nền văn hóa trong xã hội loài người phải được xác định bởi một hệ tọa độ Một hệ tọa độ ba chiều: thời gian văn hóa – không gian văn hóa – chủ thể văn hóa” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.53)
Vì vậy, muốn thấy rõ được những đặc điểm văn hóa của vùng đất Cần Thơ, chúng ta cũng phải theo hướng nghiên cứu này để dễ dàng xác định những đặc trưng
Trang 36văn hóa một cách chính xác nhất Cần Thơ nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hay còn gọi là khu vực Tây Nam bộ gồm 13 tỉnh, thành phố gồm: (1) Long An, (2) Tiền Giang, (3) Bến Tre, (4) Trà Vinh, (5) Đồng Tháp, (6) Vĩnh Long, (7) An Giang, (8) Kiên Giang, (9) Hậu Giang, (10) Sóc Trăng, (11) Bạc Liêu, (12) Cà Mau và (13) thành phố Cần Thơ Đây là vùng đồng bằng châu thổ với nhiều đặc điểm chung như trồng lúa nước, cây ăn trái, Đờn ca tài tử…
Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên 55km dọc bờ sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên hơn 1409km vuông Cần Thơ có tọa độ địa lý 105º13’38’’ – 105º50’35’’ kinh độ Đông và 9º55’08’’ – 10º19’38’’ vĩ độ Bắc Đơn vị hành chính hiện nay gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh) và 83 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (5 thị trấn, 36 xã, 42 phường) (Theo Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ)
Hình 1.1: Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ (Nguồn Cổng thông tin điện tử
thành phố Cần Thơ: http://cantho.gov.vn)
Trang 371.2.1 Không gian văn hóa
Trong ký ức của người miền Tây Nam bộ, thì quê hương của dân cư sở tại vốn là một vùng đồng bằng châu thổ được gọi là đồng bằng sông Cửu Long (sông MêKong khi chảy vào Việt Nam) nhìn đâu cũng thấy toàn là đồng ruộng nhuộm màu xanh, vườn tược sum suê, hoa quả chín vàng Còn lại, là hình ảnh của cả một không gian bao la trời mây, sông nước Và bức tranh tổng thể đó đều cùng được nằm chung nhau trong một địa hình tương đối bằng phẳng, với hệ thống sông ngòi chằng chịt tự nhiên trải dài ra như mạng nhện Dòng sông Mê Kong thì các con số
về độ dài của sông dao động được ước tính trong khoảng chừng 4.200km cho đến 4.850km, được xếp vào danh sách của 12 con sông dài nhất trên thế giới Khi chảy vào địa phận Việt Nam, thì nó chia ra thành hai nhánh gọi là sông Tiền và sông Hậu
Sông Hậu chảy qua địa phận Cần Thơ, với tổng chiều dài hơn 55km, còn đối với sông Cần Thơ là một nhánh của sông Hậu với chiều dài hơn 30km chảy qua các quận Ô Môn, quận Ninh Kiều, Cái Răng và huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, với hơn 158 sông rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng lưới đường thủy phát triển của
đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau thuận lợi cho việc trồng cây ăn trái, hoa màu và trồng lúa thâm canh Cần Thơ nằm tiếp giáp với các tỉnh: phía Bắc giáp với tỉnh An Giang, phía Nam giáp với tỉnh Hậu Giang, phía Tây giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long Với vị trí ở ngay trung tâm của cả dải đất miền Tây,
là trục giao thông huyết mạch nối liền giữa các thành phố liên tỉnh miền Tây với thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Cần Thơ nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169km, cách Cà Mau 178km, cách Rạch Giá 128km, cách Biển Đông theo thủy lộ sông Hậu chừng 100km (Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ)
Ngày 24.4.2010, Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, đây là cây cầu dây văng dài nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ (2010), đã khánh thành và đưa vào hoạt động đa rút
Trang 38ngắn thời gian đi lại giao thương của các tỉnh thành Do vậy, nhu cầu giao thông giải tỏa ách tắc xe cộ, vận chuyển hàng hóa, và sự đi lại của người dân càng được thực hiện dễ dàng mau lẹ hơn Hơn thế nữa, “nhờ” hình ảnh của cây cầu Cần Thơ hiện đại, các tổ chức du lịch cũng đã không ngần ngại đưa nó thêm vào trong mục danh sách quảng bá về các thắng cảnh địa phương Đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại vào năm 2013, nhiều công ty khách, tour đã xây dựng những lộ trình du thuyền trên sông Hậu nghe Đờn ca tài tử
và ngắm cầu Cần Thơ trên sông nước hữu tình để khách có thể chiêm ngưỡng nét đẹp duyên dáng Tây Đô
Cần Thơ còn nổi tiếng là đất lúa với nhiều nông trường rộng lớn: nông trường sông Hậu, nông trường Cờ Đỏ… nhiều cánh đồng mẫu lớn…Cần Thơ có cảnh quan như là một miền Tây thu nhỏ nổi bật với nếp sống kinh tế, nét văn hóa đặc trưng của
03 dân tộc Việt, Hoa, Khmer Vì vậy, Cần Thơ còn được mệnh danh là Tây Đô, một
đô thị của miền sông nước với cảnh quan ruộng vườn màu lục có đồng lúa chín mênh mông, đất trồng cây trái bạt ngàn Đặc biệt, là các dòng nước sông ngòi thông nhau tạo thành một hệ thống giao thông đường thủy vô cùng thuận tiện cho cuộc sống người dân địa phương đã tạo nên một thành phố trẻ nên thơ như đúng tên gọi của nó
“Cầm Thi Giang” - Cần Thơ
Từ khi là thành phố trực thuộc Trung ương, Cần Thơ vươn mình phát triển với nhiều công trình giao thông được đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng, kết nối lan tỏa, tạo động lực mới cho phát triển như: cầu Cần Thơ, sân bay quốc tế Cần Thơ; những tuyến đường mới như đường Võ Văn Kiệt, đường Nguyễn Văn Linh, quốc lộ Nam sông Hậu… Bên cạnh đó, cầu Vàm Cống mới được khánh thành (2019) và đưa vào sử dụng, góp phần thay đổi diện mạo thành phố Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung, làm đòn bẩy thúc đẩy thành phố Cần Thơ phát triển trong tiến trình hội nhập quốc tế Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Cần Thơ có 06 Trường Đại học lớn, trong
đó Trường Đại học Cần Thơ là Trường Đại học lớn nhất khu vực
1.2.2 Chủ thể văn hóa
Cần Thơ là một vùng đất trẻ được hình thành khoảng 300 năm, khi những lưu dân đầu tiên: Người Việt từ miền Trung sông Hồng, Ngũ Quảng; người Hoa vượt sóng biển Đông, người Khmer băng qua các đầm lầy đến đến vùng đất này khai cơ
Trang 39lập nghiệp Với vốn sống cùng điều kiện tự nhiên, cả 03 dân tộc cùng đoàn kết sinh sống đấu cật chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt với thú dữ vây quanh để tạo nên vùng đất trù phú cho con cháu an cư lạc nghiệp Trong hành trình đó, người Viêt, người Hoa, người Khmer mang theo cả những kinh nghiệm sống, những bí kiếp
“truyền nghề” cùng sự sáng tạo thích ứng đã tạo nên văn hóa của vùng đất Cần Thơ tuy trẻ nhưng vô cùng phong phú và đa dạng Thêm vào đó, địa hình khí hậu nơi đây thật hài hòa ôn đới, mưa nắng hai mùa, sông ngòi chằng chịt đã giúp cho cư dân nơi đây tạo nên những miệt vườn cây trái sum xuê, những cánh đồng mẫu mới… sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên thiên nhiên cùng những vốn kinh nghiệm sống đã tạo nên những làng nghề đặc sắc như: làng chiếu cái chanh Cần Thơ, nghề đan lọp, hay nghề đan đát của Thới Long - Ô Môn Cùng với tích ứng điều kiện tự nhiên mưa nắng hai mùa, sống cùng nước lũ còn có nghệ lưới Thơm Rơm, hay địa hình đặc biệt phù sa bồi đắp đã tạo nên Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn hay Cù lao Tân Lộc cũng tạo nên những nét độc đáo Bên cạnh đó, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán những lễ nghi riêng biệt phần nào làm cho Cần Thơ luôn là điểm đến đặc sắc, hấp hẫn
và lạ sđối với các địa phương đó
Thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông, có vị trí trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích tự nhiên là 1.409 km2, với 9 đơn vị hành chính quận, huyện bao gồm
(05 quận, 04 huyện): quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy, quận Cái Răng, quận
Thốt Nốt, quận Ô Môn, huyện Phong Điền, huyện Thới Lai, huyện Cờ Đỏ, huyện Vĩnh Thạnh và 83 xã, phường, thị trấn Dân số Cần Thơ khoảng 1,3 triệu dân (năm 2019), có 3 dân tộc chính sinh sống đó là Kinh, Khơmer, Hoa (Cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ)
Hiện nay, thành phố Cần Thơ sống tập trung 03 dân tộc Việt, Hoa, Khmer trong đó phần đông là người Việt, người Hoa chiếm chỉ hơn 1% gồm 2 nhóm người chính: Triều Châu và Quảng Đông, Người Khmer chiếm gần 2% đa sống ở nơi phum sóc, thôn xóm… các dân tộc hỗ trợ, đoàn kết sống đan xen nhau Mỗi lễ hội của dân tôc nào thì các dân tộc cùng tham dự, bên cạnh đó sự kết hợp đa dân tộc phần nào cũng góp phần cho văn hóa Cần Thơ thêm đa màu sắc Mặt văn hóa, thì dường như người ta thường được nhìn thấy các bản sắc phong tục của người Kinh, người Hoa và người Khmer là có thay nhau tổ chức các ngày lễ hội Người Việt ở Cần Thơ chủ yếu
Trang 40sống theo nghề nông, trồng trọt và trồng cây ăn trái Những năm gần đây đô thị hóa, người dân di dân ra các khu đô thị, gần những khu công nghiệp đã tạo nên mật độ dân
số dày đặc, thờ ông bà tổ tiên, coi trọng việc đạo nghĩa Người Hoa ở Cần Thơ đa phần buôn bán nhỏ và bốc thuốc
1.2.3 Thời gian văn hóa
Theo thời gian, vào cuối thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ nói chung và Cần Thơ (Trấn Giang – Tây Đô) nói riêng, có các đợt chuyển cư các các cư dân từ miền Bắc vào, nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống như người Việt, Hoa, Chăm, Khmer Từ lâu, người ta được biết đến Cần Thơ là một vùng đất từng đã có một bề dày lịch sử kể
từ thời phong kiến với cái tên là Trấn Giang do Mạc Thiên Tích dày công mở mang
khai phá (Thư viện thành phố Cần Thơ “Cần Thơ xưa và nay”)
Cần Thơ sở dĩ được trở thành quen thuộc sớm nhất trong hệ thống hành chánh,
là do sự kiện người Pháp giải thể tổ chức hành chánh Nam Kỳ Lục Tỉnh của triều vua Minh Mạng để lập ra thành 21 tỉnh mới vào năm 1900 Từ đó cho đến nay trải qua nhiều thời kỳ sau bao lần thay đổi, ngày 26/11/2003 theo Nghị quyết số 22/2003/QH của Quốc hội, tỉnh Cần Thơ lại được điều chỉnh địa giới hành chánh tách ra làm hai lấy trục địa giới nằm ngang, một phần của huyện Châu Thành thuộc thành phố Cần Thơ, phần theo hướng Nam thuộc tỉnh Hậu Giang và tỉnh lị của Hậu Giang đặt tại thị
xã Vị Thanh (nay là thành phố Vị Thanh), còn Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương
Cần Thơ được xác định phát triển kinh tế xã hội với định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững (Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17.02.2005 của Bộ Chính trị)
Từ đó, đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, trong đó có sự pha trộn, đan xen giữa cái cũ và cái mới, dân cư đô thị hiện tại là quá trình đô thị nhanh làm thay đổi con người từ “nông dân” thành “thị dân”
Theo Quyết định số 492/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, thành lập Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý, các lợi thế so sánh của vùng, từng bước phát triển vùng kinh tế trọng