Tôi thân gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Văn hoá Thành phố, Phòng Văn hóa Nghệ thuật Thành phố và các Nghệ sĩ ưu tú, các chuyên gia, Nghệ nhân dân gian cùng với nhiều người dân thành phố Hồ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -NGUYỄN HỮU DIỆU ĐỨC
HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn Hóa Học
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -NGUYỄN HỮU DIỆU ĐỨC
HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn Hóa Học
Mã ngành: 8229040
Người hướng dẫn khoa học: TS MAI MỸ DUYÊN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình “Hát ru của người Việt tại Thành phố Hồ Chí
Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung nghiên cứu của đề tài này
chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước cơ sở đào tạo, trước pháp luật và xã hội về công trình nghiên cứu này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2020
TÁ C GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hữu Diệu Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, với tất cả lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng, tôi xin phép được
gửi lời cảm ơn chân thành nhất của tôi đến với Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên, cô là người
đã dìu dắt, và hướng dẫn hết sức nhiệt tình, tận tâm, đã có những đóng góp rất quý
báo trong quá trình tôi thực hiện luận văn này
Ngoài ra, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô Khoa Văn hoá học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh trong thời gian qua đã luôn tận tình giảng dạy, truyền đạt những lý luận
và thực tiễn quý giá về chuyên môn cho bản thân tôi
Tôi cũng gửi lời kính trọng và biết ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa, Giáo vụ sau
đại học đã hết sức quan tâm và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học và thực
hiện luận văn
Tôi thân gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Văn hoá Thành phố, Phòng Văn hóa
Nghệ thuật Thành phố và các Nghệ sĩ ưu tú, các chuyên gia, Nghệ nhân dân gian
cùng với nhiều người dân thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện phần phỏng vấn sâu
Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn thân thương nhất đến gia đình, bạn bè
của tôi - những người luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên tôi suốt thời gian học tập và
hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả!
TÁ C GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hữu Diệu Đức
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT III MỤC LỤC IV
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 4
3.1 Sách sưu tầm, biên soạn các bài Hát ru 4
3.2 Công trình nghiên cứu Hát ru dưới góc độ liên ngành khoa học 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 9
5.1 Phương pháp nghiên cứu 9
5.2 Nguồn tài liệu 9
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
6.1 Ý nghĩa khoa học 9
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
7 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Các khái niệm 11
1.1.1 Văn hoá phi vật thể 11
1.1.2 Khái niệm về Dân Ca 12
1.1.3 Khái niệm về Diễn xướng dân gian 14
1.1.4 Khái niệm về Hát ru 16
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 18
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc- chức năng 18
1.2.2 Lý thuyết Vùng văn hoá 21
1.3 Tổng quan Thành phố Hồ Chí Minh, sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh 23
1.3.1 Tổng quan Thành phố Hồ Chí Minh 23
1.3.2 Sự hình thành và phát triển cộng đồng dân cư ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 25
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG
HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29
2.1 Đặc điểm Hát ru của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh 29
2.1.1 Nội dung ca từ 29
2.1.2 Hình thức âm nhạc 40
2.2 Đối tượng thực hành và thụ hưởng 48
2.2.1 Người thực hành Hát ru 48
2.2.2 Đối tượng được ru 52
2.3 Không gian diễn xướng 55
2.3.1 Hát ru ở ngoại thành 60
2.3.2 Hát ru ở nội thành 63
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
3.1 Vai trò và tác dụng của Hát ru 67
3.1.1 Vai trò của Hát ru 67
3.1.2 Tác dụng của Hát ru 69
3.2 Giá trị văn hóa của Hát ru 74
3.2.1 Giá trị nghệ thuật 74
3.2.2 Giá trị lịch sử 77
3.2.3 Giá trị giáo dục 78
3.2.4 Giá trị điều chỉnh hành vi xã hội 83
3.3 Hiện trạng Hát ru – định hướng và giải pháp 84
3.3.1 Hiện trạng Hát ru 84
3.3.2 Định hướng và đề xuất 88
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 110
PHỤ LỤC 1: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 110
PHỤ LỤC 2: 152
NHỮNG CÂU HÁT RU VỀ SÀI GÒ N – GIA ĐỊNH – TP HỒ CHÍ MINH 152
PHỤ LỤC 3: 156
NHỮNG CÂU RU HUẾ SƯU TẦM VÀ 156
THAM KHẢO TỪ NGUỒN GIA ĐÌNH 156
PHỤ LỤC 4 159
HÌ NH ẢNH 159
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hát ru trên phương diện âm nhạc nằm trong thể loại dân ca Việt Nam và thuộc loại hình diễn xướng dân gian xét trên phương diện sinh hoạt tinh thần Hát ru gắn với sự hình thành và phát triển gia đình, đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hình thành nhân cách của con người
Hát ru của người Việt có vị trí quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam Những câu Hát ru đã khơi nguồn cảm hứng cho những bậc tiền nhân sáng tạo ra các loại văn nghệ dân gian khác như Hò, Lý, Vè, hay đưa vào các thể loại âm nhạc, sân khấu mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền
Hát ru được lưu giữ trong dân gian rất nhiều, rất phong phú về chủ đề tác phẩm cũng như về số lượng và phổ biến trong sinh hoạt của người dân Việt Nam Ngày nay trước sự xâm nhập các loại hình nghệ thuật nước ngoài vào sinh hoạt gia đình cũng như sự phát triển công nghệ thông tin, Hát ru đang có nguy cơ dần bị mai một nếu chúng ta không có sự quan tâm đúng mức cho việc lưu giữ, sưu tầm và phát huy
Hát ru chứa nhiều ý nghĩa nội dung và có rất nhiều giá trị trong đời sống thực tiễn xưa và là một bộ phận của kho tàng văn học dân gian truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam Hát ru là một trong những chất liệu quan trọng để hình thành và phát triển nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc, nhưng đáng tiếc là trong tình hình hiện nay giới trẻ không có cơ hội học tập và hiểu biết sâu sắc
Hát ru với ca từ mộc mạc, âm điệu trữ tình nhưng chan chứa tình yêu đất nước quê hương, đề cao đạo lý của xã hội, gắn kết tình cảm giữa cá nhân với gia đình, qua đó cũng khơi gợi tinh thần dân tộc và khai mở nhận thức ban đầu của con người từ khi là đứa trẻ trước hiện thực khách quan Do đó, Hát ru có tính hướng thiện và giáo dục cho con người, Hát ru có giá trị tinh thần to lớn trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở cả nước nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trang 9Các tập sách, các chuyên đề về Dân ca, Ca dao, Tục ngữ được xuất bản rất nhiều và được lưu hành rất khổ biến hiện nay Tuy vậy, các tài liệu tương tự về Hát
ru lại còn khá ít và rất hạn chế.Theo quan điểm cá nhân, học viên cho rằng, nếu thế
hệ người Việt Nam hiện nay không thể lưu giữ, phát huy các chức năng ứng dụng thực hành từ Hát ru thì sẽ là một thiệt thòi rất lớn đối với nền văn học nghệ thuật của nước nhà Bởi vì có một thực tế rất đáng buồn rằng Hát ru dường như đang dần dần biến mất khỏi đời sống, đang bị lãng quên theo thời gian
Mỗi vùng miền của Việt Nam đều có những câu Hát ru đặc trưng về ca từ và
âm điệu Theo chân lưu dân những câu ru từ miền Bắc, miền Trung đã “bén rễ” trên vùng đất mới khai khẩn, dần trở thành một dạng thức sinh hoạt văn hóa tinh thần trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ, trong đó có vùng Sài Gòn – Gia Định nay là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hồ Chí Minh trong lịch sử hình thành, phát triển được xem là nơi là vùng “đất lành chim đậu” Đây là nơi hội tụ của văn hóa ba miền Bắc – Trung – Nam và của các dân tộc trong và ngoài nước Đây là nơi có lộ trình hội nhập giao lưu văn hóa diễn ra nhanh chóng, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sự biến đổi diễn ra trên các lĩnh vực đời sống xã hội như một quy luật vận động tất yếu Và rất là kỳ diệu, trên vùng đất này vẫn hiện tồn các di sản văn hóa dân gian, dân tộc và những truyền thống văn hóa mang đậm đặc trưng ba miền Bắc – Trung – Nam vẫn còn sức sống trong mỗi gia đình, mỗi cộng đồng cư dân, nó đã tạo nên một diện mạo văn hóa đa dạng, phong phú mà thống nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong đó không thể không nói đến vị trí, vai trò của Hát ru, một di sản văn hóa phi vật thể luôn gắn với truyền thống văn hóa của người Việt
Là một người làm công tác nghệ thuật dân tộc trên 40 năm, tham gia giảng dạy về Cải lương, Dân ca, học viên vô cùng trăn trở phải làm sao để giữ gìn và phát huy những giá trị của Hát ru Vì thế, học viên đã có thêm động lực để tìm hiểu, muốn có những nhận định và một cách nhìn đúng đắn về Hát ru Theo học viên, Hát
ru chưa bao giờ lỗi thời và xưa cũ Học viên muốn mình góp một phần nhỏ vào việc giữ gìn tiếng Hát ru qua luận văn nghiên cứu về vấn đề này, bởi từ trước đến nay chỉ tập trung vào quá trình thực nghiệm Hát ru bằng công tác giảng dạy thị phạm
Trang 10Hát ru là kỷ niệm tuổi thơ, bản thân học viên là người may mắn được lớn lên cùng lời ru của mẹ Những lời ru của mẹ đã đưa đến những điều thật mới mẻ, lời Hát ru cũng như chính tâm hồn của người mẹ, học viên yêu Hát ru vì Hát ru sâu sắc,
ý nhị và tinh tế Chính mẹ đã gieo vào suy nghĩ của học viên và vun đắp một tình cảm đặc biệt dành cho Hát ru bằng những lời ru từ thuở bé thơ
Hiện nay qua quá trình phát triển kinh tế văn hóa cũng đồng thời là quá trình sàng lọc ra những giá trị phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, nhiều thể loại văn hóa, văn nghệ dân gian bị mai một hoặc dần phai nhạt vì không thích ứng với sự biến đổi hoặc vì không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của xã hội Vậy thì Hát ru có còn được phù hợp với đời sống đương đại hay không? Có đáp ứng được mong muốn của cá nhân và cộng đồng người Việt trên hành trình đi đến tương lai ở Thành phố Hồ Chí Minh không?
Qua các lý do trên, nhận thức được vai trò quan trọng, tính cấp thiết của Hát
ru trong xã hội hiện nay, cũng như để trả lời các câu hỏi đặt ra, học viên đã chọn đề
tài: “Hát ru của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn Tốt
nghiệp ngành Văn hoá học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò Hát ru của người Việt và sự cần thiết của nó trong quá trình xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
Để thực hiện mục đích nghiên cứu này luận văn đi sâu tìm hiểu:
Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển Hát ru gắn với quá trình định cư của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
Đặc điểm Hát ru thể hiện qua cấu trúc âm điệu, nội dung lời ru, chủ thể diễn xướng, không gian diễn xướng và thời gian diễn xướng
Nghiên cứu những tác động xã hội dẫn đến sự biến đổi của Hát ru và trên cơ
sở đó đưa ra khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Hát ru trong đời sống hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 113 Lịch sử vấn đề
Đề tài về Hát ru theo học viên nhận biết trong thực tế nhiều năm qua đã có nhiều nhà sưu tầm biên soạn, nhiều cơ quan nghiên cứu đã cho ra đời khá nhiều cuốn sách, các bài nhận định, những chuyên luận về Dân ca, Hò, Vè, nhưng thể loại Hát ru chưa được đề cập tới nhiều, có chăng là những bài nhận định, những cảm nghĩ và những bài sưu tầm lời ru Quá trình nghiên cứu học viên đã thu thập tài liệu liên quan đến Hát ru như sau:
3.1 Sách sưu tầm, biên soạn các bài Hát ru
Năm 1987, Nguyễn Hữu Thu đã viết tác phẩm “Mẹ hát ru con” đề cập đến ý nghĩa tiếng Hát ru trong gia đình, tình mẫu tử thiêng liêng và sưu tập một số thể loại lời ca Hát ru Tác phẩm này gồm có hai phần: Phần thứ nhất trình bày đặc trưng về thể loại và chức năng của Hát ru, trong đó nêu rõ vị trí, ý nghĩa xã hội của Hát ru, vai trò của Hát ru đối với giáo dục con trẻ Phần thứ hai của tác phẩm chủ yếu sưu tầm lời Hát ru được tập hợp theo từng chủ đề: Những câu hát về nuôi dạy con; những câu hát công cha nghĩa mẹ; những câu hát về thiên nhiên
Lê Giang và Lê Anh Trung (1991) đã biên soạn cuốn “Những bài hát ru” (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) Tác phẩm được chia thành ba phần: phần thứ nhất gồm các nội dung: Lời ru của ông bà cha mẹ, Lời ru của chị, Ru cho tình yêu, Lời
ru chồng vợ, Ru cho tình đời, tình người; Cùng với đó là những làn điệu Hát ru ba miền được ký trên bản nhạc Phần thứ hai là phần Nói thơ được thể hiện theo bài:
Mẹ dạy con bài 1, mẹ dạy con bài 2 Phần thứ ba trình bày Phụ lục gồm các bài Vè Ngoài ra, tác phẩm trích dẫn hai bài viết của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Lưu Nhất Vũ về vai trò Hát ru
Năm 2001, tác phẩm “Ru em em ngủ” của nhà xuất bản Kim Đồng, nhiều tác giả sưu tầm và dịch, bao gồm lời của các bài Hát ru các dân tộc như Tày, Thái, Dao,
Lô Lô, Mông (Tây Bắc – Thanh Hoá – Nghệ An), Mường, Chăm, CờHo, CơTu, Êđê, Gia Lai, H’rê, Khmer (Nam bộ) và tộc người Kinh
Đào Ngọc Dung (2004) sưu tầm và tuyển chọn thành tác phẩm “Lòng mẹ lời ru” (Nxb Âm nhạc) Tác phẩm chia làm ba phần gồm những bài Hát ru có bản nhạc:
Trang 12phần thứ nhất là các sáng tác mới mang chủ đề Hát ru hoặc lấy chất liệu của Hát ru
để sáng tác của rất nhiều nhạc sĩ như “Đất nước lời ru” của nhạc sĩ Văn Thành Nho;
“Mẹ yêu con” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý; “Tìm về lời ru” của nhạc sĩ Đào Đăng Hoàn; “Khúc hát của người mẹ trẻ”, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, nhạc sĩ Phạm Tuyên; “Ru con mùa đông” của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, ( gồm có 55 ca khúc) Phần thứ hai là tập hợp những bài Hát ru Dân ca của các dân tộc như: “Hát ru con” của dân ca Dao;
“Ngủ đi con” dân ca Thái; “Ru em” dân ca Tày; “Hát ru” dân ca quan họ, dân ca Phú Thọ; Dân ca Bắc bộ dân ca Nam bộ, dân ca Hà Nam; “Ru con” dân ca Hà Tĩnh,
“Ru con” dân ca Jarai, dân ca Nam bộ, dân ca Khơme, Phần thứ ba có các bài hát như: “Ru em” của nhạc sĩ Lullaby Brahms; “Khúc hát ru con” của nhạc sĩ Franz Schubert; “Lời ru đến muôn đời” của nhạc sĩ Felix Mendelssohn… là những khúc Hát ru nước ngoài
Lệ Vân (2006) giới thiệu sách “Hát ru 3 Miền” với các bài ca ba miền Bắc – Trung – Nam (lời cũ và mới) Cuốn sách còn dẫn một số ý kiến về nghệ thuật Hát ru Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Khê, Giáo sư Phan Đăng Nhật, Giáo sư Trần Ngọc Sương
Lê Thanh Nga (2010), tuyển soạn tác phẩm “Mẹ ru bé ngủ à ơi” (Nxb Phụ Nữ) gồm 2 phần: Phần thứ nhất: “Những lời hát ru đồng dao” theo chủ đề: Những lời hát ru công cha nghĩa mẹ; Tình cảm gia đình; Những lời hát đồng dao Phần thứ hai: Những bài thơ hay dùng để ru thường là thơ mới viết ở thể lục bát như “Bầm
ơi, tiếng ru” (Tố Hữu), “Thề non nước” (Tản Đà), “Nghe khúc hát Trương Chi” (Ngô Thụy Miên)
Cao Hoàng Long (2012), giới thiệu lời Hát ru đặc sắc ba miền Nam – Trung – Bắc trong tác phẩm “999 bài Hát ru 3 miền” (Nxb Văn hóa thông tin)
Các công trình trên là những tư liệu hết sức quý giá và quan trọng, và chứa đựng những số lượng rất là phong phú gồm các lời ru truyền thống của các dân tộc
và các bài Hát ru mới sáng tác
Trang 133.2 Công trình nghiên cứu Hát ru dưới góc độ liên ngành khoa học
Mai Văn Tạo (1986), trong tác phẩm “Lời ru của mẹ” (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) trình bày những nghiên cứu về ý kiến đánh giá của tác giả về Hát Ru, bằng hình thức tự bạch qua những câu chuyện kể súc tích và sinh động, những kỷ niệm tuổi thơ Cách kể so sánh, phân tích của nhà văn giúp người đọc cảm nhận rõ vai trò, giá trị của tiếng Hát ru đối với cuộc đời mỗi chúng ta
Năm 1992, cuốn “Kỷ yếu hội thảo Hát ru toàn quốc lần thứ nhất tại Huế” do Viện Âm nhạc và múa, Học viện Âm nhạc quốc gia tổ chức trình bày các bài tham luận có giá trị nghiên cứu để phục hồi và bảo tồn Hát ru
Cuốn “Tìm hiểu dân ca Việt Nam” của tác giả Phạm Phúc Minh viết về Hát
ru và nói tới Hát ru là một loại dân ca phong tục tập quán
Bùi Huyền Nga (1996), thực hiện luận văn Thạc sĩ “Hát ru dỗ ngủ người Việt” ngành Âm nhạc học, tại Học viện Âm Nhạc Quốc gia Việt Nam nghiên cứu nội dung hình thức và cấu trúc của lời ru, mối quan hệ giữa người ru với đối tượng tiếp nhận và môi trường diễn xướng của Hát ru, với ý nghĩa xã hội, sự tác động của Hát ru tới hình thành nhân cách trẻ
Lư Nhất Vũ và Lê Giang (2005), nghiên cứu công trình “Hát ru Việt Nam” trong đó trình bày các kiểu Hát ru Việt Nam, các làn điệu và lời Hát ru; các bài viết
và ca khúc Hát ru, các bài tham luận, bài báo viết về Hát ru của các tác giả: Trần Văn Khê, Tô Ngọc Thanh, Đây là công trình rất công phu, đầy đủ nhất về những làn điệu Hát ru của người Việt Ngoài ra để có được những bài Hát ru được ký xướng âm trên giấy là công trình tâm huyết, trải qua bao nhiêu ngày tháng của hai tác giả Lưu Nhất Vũ và Lê Giang nhằm tìm hiểu những điệu hát tưởng như đã sắp mất đi, thất truyền
Năm 2006, tác phẩm “Hành trang gia đình trẻ” (Nxb Thanh Niên) tập hợp nhiều bài tham dự hội thảo “Giao lưu tiếng Hát ru – Hành trang gia đình trẻ” của các tác giả trong nhiều lĩnh vực và các nhà chuyên môn như: nhạc sĩ Phạm Tuyên,
Tê Văn Toàn, Các bài viết còn cho chúng ta cái nhìn tổng quan từ nhiều góc độ
Trang 14về giá trị, về vai trò của Hát ru trong xã hội, nói về thực trạng của Hát ru hiện nay
và những biện pháp cho việc bảo tồn Hát ru
Trịnh Hà Thanh (2006), trong Luận văn thạc sĩ Văn hóa học “Hát ru trong đời sống sinh hoạt văn hóa cư dân vùng Châu thổ sông Hồng” đã đưa ra được cái nhìn bao quát về Hát ru, đặc biệt chỉ ra vai trò của Hát ru đối với đời sống sinh hoạt trong cư dân của vùng Châu thổ sông Hồng
Bùi Trọng Hiền (2010) với bài viết “Hát ru, đồng dao” đã cung cấp cái nhìn tổng thể về Hát ru của người Kinh ba miền Bắc – Trung – Nam Ở từng nơi, cấu trúc, thanh điệu và thẩm mỹ Hát ru là khác nhau Nhưng cũng có những đồng dạng trong cấu trúc với ba phần của một bài Hát ru Ngoài ra, trong lời ca, nhịp điệu, tiết tấu, cách hát, nội dung các bài hát ru, tính thực hành xã hội, cũng có những tương đồng nhất định
Phạm Thị Thu Hiền (2011), trong Luận văn “Hát ru trong đời sống nông thôn Bắc bộ hiện nay” ngành Văn hóa học tại Học viện khoa học xã hội thực hiện khảo sát tại xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình đã phát hiện mối quan hệ của các thành tố của Hát ru Bắc bộ Bên cạnh đó, luận văn cung cấp thêm tư liệu về đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của Hát ru trong đời sống nông thôn Bắc bộ hiện nay
từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn Hát ru
Phạm Thiên Thư (2012) sau quá trình dài nghiên cứu đã công bố công trình nghiên cứu “Hát Ru Việt sử thi” bao gồm 3277 câu lục bát, chia thành 44 phần, lấy bối cảnh từ thời Âu Cơ Lạc Long Quân đến chiến thắng Đống Đa năm 1789 của Hoàng đế Quang Trung Các nhân vật lịch sử và các sự kiện đều được tác giả chú giải tỉ mỉ, cẩn thận Tác phẩm thể hiện sự trăn trở trước thời cuộc và những đổi thay của nhân tình thế thái, đất nước Qua tác phẩm này, “Hát ru Việt sử thi” như một bản tình ca về lịch sử rất hay, sáng ngời đạo lý làm người, về tình yêu quê hương và đất nước, nó đã thấm đậm tinh hoa văn hóa Việt theo một cách cắt nghĩa rất là duyên của tác giả Phạm Thiên Thư – một thi sĩ, một tu sĩ Phật pháp Mỗi bài trong tác phẩm này đã được chia ra làm khoảng 10 đến 20 câu lục bát, gồm Hát ru siêu
Trang 15thực, Hát ru vô thường, Hát ru sáng tạo, Hát ru đồng bào mang âm hưởng ca dao, Hát ru anh hùng, …
Hát ru như ta biết đó là vốn quý ngàn đời của dân tộc Việt Nam được tích lũy
và trao truyền qua nhiều thế hệ Tuy nhiên, hiện nay, số lượng các công trình, tác phẩm sưu tập, nghiên cứu về Hát ru còn chưa được nhiều, nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc giới thiệu cách khái quát mà chưa đi nghiên cứu chuyên biệt hoặc tiếp cận dưới góc độ liên ngành xã hội – nhân văn để nghiên cứu Hát ru ba miền trong bối cảnh xã hội của Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Văn hóa Hát ru của người Việt được thể hiện qua cấu trúc âm điệu, nội dung ca từ, đối tượng thực hành, thụ hưởng và không gian, thời gian diễn xướng Hát ru
Vì thành phố hội tụ người Việt cả ba miền, nên học viên nghiên cứu ca từ và
âm điệu của cả ba miền Bắc – Trung – Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài học viên giới hạn ở phương diện giá trị văn hóa của ca từ, tức là chủ yếu trên góc độ ngôn ngữ học, văn học kết hợp văn hóa học, không đi sâu nghiên cứu Hát ru trên phương diện âm nhạc học Về phương diện tộc người, đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vị Hát ru của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh
Không gian nghiên cứu: địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – nơi hội tụ người Việt cả ba miền Bắc – Trung – Nam và là địa bàn quen thuộc, thuận tiện cho việc khảo sát
Thời gian nghiên cứu: từ 1975 đến nay, vì từ mốc thời gian này sự hội tụ văn hóa ba miền thể hiện rõ nét ở thành phố Hồ Chí Minh, nhất là trong sinh hoạt gia đình – không gian diễn xướng chủ yếu của Hát ru
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài theo hướng tiếp cận liên ngành, xem xét Hát ru dưới góc nhìn (quan điểm, lý thuyết và phương pháp của các ngành Văn hóa học, Văn hóa nghệ thuật và Nhân học Cụ thể áp dụng một số phương pháp sau đây:
Tổng hợp – phân tích: Tổng hợp những thông tin từ các nguồn tài liệu để làm
rõ nguồn gốc hình thành, những đặc điểm của Hát ru của người Việt; những tác động và ảnh hưởng đến Hát ru ở Thành phố Hồ Chí Minh
Phỏng vấn chuyên gia: Tiếp xúc, trao đổi với các nghệ nhân, nghệ sĩ, người dân và nhà quản lý văn hóa để làm rõ vai trò Hát ru trong đời sống gia đình và cộng đồng; đồng thời tìm ra hướng bảo tồn phát huy giá trị văn hóa của Hát ru phù hợp với thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Nguồn tài liệu
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu về văn hóa người Việt, văn hóa Thành phố
Hồ Chí Minh và Hát ru của người Việt đã xuất bản hoặc được công bố chính thức Ngoài ra học viên còn sử dụng các tài liệu qua khảo sát, phỏng vấn các đối tượng liên quan đến Hát ru: người dân ở các gia đình còn lưu truyền Hát ru, cán bộ công tác văn hóa, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian
Ngoài ra, để nghiên cứu âm điệu, ca từ học viên còn thu thập các băng, đĩa hình, đĩa tiếng thu qua các cuộc liên hoan, hội thi, tọa đàm trao đổi, tập huấn về Hát
ru
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Làm rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn đặc điểm, vai trò và giá trị của Hát
ru người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nêu bật vai trò Hát ru trong việc giáo dục nhân cách con người và sự đóng góp của Hát ru vào kho tàng nghệ thuật dân tộc
Trang 17Mặt khác, với sự nỗ lực nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về nghệ thuật dân gian Việt Nam
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì đề tài này bao gồm ba chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: Trình bày các khái
niệm, các lý thuyết nghiên cứu Hát ru và trình bày nguồn gốc Hát ru, đồng thời nói lên sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Nói
lên các đặc điểm, các đối tượng thực hành và thụ hưởng Hát ru cũng như không gian diễn xướng Hát ru của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Chương này nêu bật vai trò, tác
dụng của Hát ru; nêu những tác động tiêu cực và tích cực đối với Hát ru, làm cơ sở cho những khuyến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Hát ru trong đời sống thực tiễn ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Văn hoá phi vật thể
Tùy theo mục đích mà người ta có thể phần chia Văn hóa thành các thành tố khác nhau Một trong những cách phân chia tiêu biểu của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc là nhị phân Văn hóa thành Văn hóa vật thể và Văn hóa phi vật thể Luật Di sản Văn hóa năm 2001 (sửa đổi năm 2009) quy định: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” (Điều 4, chương I, Luật Di sản Văn hóa, 2001)
Những dạng thức chính của văn hóa phi vật thể có thể được kể ra như sau:
Về ngữ văn truyền miệng như: cổ tích, thần thoại, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, truyền thuyết, vè, ngụ ngôn…
Các hình thức trình diễn và diễn xướng bao gồm: sân khấu, ca múa, nhạc Những hành vi ứng xử của con người: ứng xử giữa cá nhân - cá nhân, cá nhân - cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng với nhau
Các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo: nghi lễ, lễ hội của các tôn giáo, thờ cúng
tổ tiên, thờ mẫu, phong tục…
Tri thức dân gian: ở chừng mực nào đó tri thức dân gian tương ứng với các tri thức địa phương, tri thức bản địa…và cũng thuộc văn hóa phi vật thể Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa 2009 cung cấp thêm một cách nhìn về Văn hóa phi vật thể: “văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cá nhân hoặc cộng đồng, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền nghề,
Trang 19truyền miệng, và các hình thức khác.” (Khoản 1, điều 4, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Di sản Văn hóa, 2009)
Văn hóa phi vật thể ở Việt Nam là đại diện của nhân loại, không phải “của nhân loại” Theo Frank Proschan,1 khi một di sản văn hóa phi vật thể được công bố trong danh sách các di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại không có nghĩa là UNESCO công nhận di sản đó là của nhân loại Theo UNESCO, không có
di sản văn hóa phi vật thể nào thuộc về quốc gia mà hoàn toàn thuộc về cộng đồng,
đó là tài sản của cộng đồng Di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam được ghi danh thông qua quy trình xét duyệt hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (Frank Proschan, Báo cáo Hội thảo “Huy động truyền thông trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể”, 2019)
Theo quy trình một quốc gia, quy trình hồ sơ lên UNESCO, một bộ phận thẩm định của ủy ban công ước sẽ tiếp nhận và đánh giá Bộ phận này sẽ thẩm định
về tất cả các mặt nội dung, hình thức, tiêu chí rồi sau đó ra đến cuộc họp ủy ban liên chính phủ về công ước UNESCO Đây là một quy trình chặt chẻ, một cuộc thẩm định gắt gao, theo từng bước và không phải quốc gia nào cũng có thể được ghi danh theo quy chế chắn các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trong danh sách vinh danh của UNESCO là một sự thừa nhận quốc tế
Theo học viên thì văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần, đó là tài sản của cộng đồng, gắn với cá nhân hoặc cộng đồng, có bản sắc của cộng đồng.Nó có giá trị
về lịch sử, về văn hoá, về khoa học và không ngừng được tái tạo, lưu truyền bằng các hình thức truyền nghề, truyền miệng, trình diễn…từ thời nầy sang thời khác Các di sản văn hoá phi vật thể rất quan trọng, cần được tôn trọng và giữ gìn.Và trong đó có Hát ru cũng là di sản văn hoá phi vật thể
1.1.2 Khái niệm về Dân Ca
Dân ca bắt nguồn từ những sinh hoạt hàng ngày, từ lao động sản xuất hay trong các nghi lễ tâm linh… Theo dòng chảy của thời gian, Dân ca tích tụ và chứa
1 Frank Proschan: nhà Nhân học người Mỹ, chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (2006-2015)
Trang 20đựng những giá trị to lớn, mang đậm bản sắc dân tộc, trở nên đa dạng, phong phú và thật sự là một di sản văn hóa vô cùng quý báu trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam
Và tùy theo mỗi vùng miền Dân ca có những thể loại và những đặc điểm riêng, mang dấu ấn riêng của môi trường văn hóa ở một vùng, miền, một dân tộc hay của một không gian văn hóa riêng biệt
Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải (1989) trong biên khảo “Âm Nhạc Việt Nam” đã chỉ rõ: “Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người, từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng, bền vững cùng với thời gian” (Trần Quang Hải, 1989, tr.1)
Theo Phạm Phúc Minh (1994) trong “Tìm hiểu dân ca Việt Nam”, thì: “Dân
ca là những bài hát cổ truyền cho nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc” (Phạm Phúc Minh, 1994, tr.11)
Nguyễn Thụy Loan (2005) trong giáo trình Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, đã dựa vào sự giống nhau của những kiểu bài và đã chia các thể loại dân ca gồm: các điệu ru; ca nhạc trẻ em đồng dao; Hò; Lý; Dân ca dành cho những hội chơi bài; hát
kể chuyện thơ và hát kể trường ca; hát rong; các thể loại dân ca lễ nghi tín ngưỡng
và dân ca nghi lễ phong tục…( Nguyễn Thụy Loan, 2005, tr.114-115)
Dân ca là những bài hát không xác định rõ tác giả Trong việc truyền khẩu của những bài dân ca này, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác, ứng khẩu, tự do,
từ đó đã góp sự sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình lưu diễn Tính dị bản cũng là đặc điểm của dân ca Vì vậy, khi khảo sát các bài dân ca được phổ biến
ở một vùng miền nào đó thì người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong các bài hát đó như những địa danh, phương ngữ, những đặc trưng của vùng miền
Tính địa phương giúp dễ nhận ra xuất xứ của một bài dân ca Ví dụ trong các bài dân ca ở miền Bắc thì thường xuất hiện những từ đệm như: rằng, thì, chứ…
Trang 21Trong các bài dân ca miền Trung thì chúng ta thường thấy có những chữ như ni, nớ, chừ, rứa, mô, răng xuất hiện Còn trong những bài dân ca ở Nam bộ thì thường thấy có các chữ như má (mẹ), bậu (em), đặng (được), tợ (tự như) …
Dân ca là những bài hát của nhân dân, và hoạt động ca hát đặc biệt là dân ca gắn liền với mọi hoạt động trong đời sống của quần chúng như lao động, giải trí, tâm linh… Những làn điệu, giai điệu của các bài dân ca này bắt nguồn từ những tình cảm, trải nghiệm của cá nhân và tập thể được sáng tác do khả năng tự nhiên của mọi người Trong lao động, trong sinh hoạt mọi người đã hát cho nhau nghe rồi người này học của người kia, cải biên để trở thành bài hát như là riêng của mình
Trong dân ca của dân gian, phương thức lưu truyền thường là cách truyền khẩu Nếu người này nghe thấy phù hợp, hay vui thì ghi nhớ và trong một dịp nào
đó truyền lại cho người khác, và cứ như thế phổ biến các bài dân ca Đây là một trong những đặc điểm tiêu biểu của loại hình nghệ thuật dân gian này
Qua tham khảo khái niệm của các tác giả khác, theo quan điểm của học viên
về Dân ca: Dân ca là những bài hát được nhân dân sáng tác và lưu truyền nó bằng phương thức truyền khẩu Dân ca có các đặc điểm là luôn được biến đổi, linh hoạt, tạo nên được các dị bản và thông thường dân ca không xác định được tên tác giả
Và theo những nhận định về Dân ca thì Hát ru cũng nằm trong Dân ca, là một phần của Dân ca
1.1.3 Khái niệm về Diễn xướng dân gian
Diễn xướng là trình bày, biểu diễn tác phẩm Theo Trần Hoàng Tiến (2009) thì: “Diễn xướng còn là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ” (Trần Hoàng Tiến, 2009, “Diễn xướng dân ca - phương thức trao truyền dân gian trong bối cảnh hiện nay”)
Diễn xướng dân gian là những tác phẩm được sáng tác, diễn xướng bằng quá trình truyền miệng So với văn học viết thì văn học dân gian được diễn xướng bằng nhiều hình thức hơn và ở những môi trường sinh hoạt dân gian khác nhau (nghi lễ, lao động, sinh hoạt) Mỗi một môi trường, bằng tài năng và sự cảm thụ hồn nhiên
Trang 22nhưng cũng không kém phần sâu sắc con người đã tạo ra rất nhiều hình thức diễn xướng mà cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong đời sống cộng đồng, trong đó có Hát ru
Tính diễn xướng như điều kiện sống của văn học dân gian, nhờ diễn xướng
mà tác phẩm dân gian được trao truyền lan rộng đến đông đảo người dân
Một tác phẩm văn học dân gian có thể do bởi rất nhiều người khác nhau diễn xướng rất nhiều lần khác nhau và trong những hoàn cảnh điều kiện khác nhau Tác phẩm cũng sẽ thay đổi, biến đổi tùy theo những điều kiện khác nhau
Diễn xướng dân gian cũng được xem là một hình thức sinh hoạt văn nghệ của người dân Bằng lối: kể, ví, hò, nói, vè, hát, trò, múa, ca, lễ, nhạc, họa, ru… mọi người dân đã thể hiện sáng tạo tất cả những tâm trạng trong lúc buồn, trong lúc vui của cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, quá trình lao động, tiếp xúc với thiên nhiên Chính vì thế Diễn xướng dân gian rất đa dạng và rất phong phú trong cuộc sống của người dân
Diễn xướng dân gian bao gồm:
Diễn xướng ca dao (lễ hội)
Diễn xướng truyện: cổ tích, ngụ ngôn (cười)
Diễn xướng tục ngữ
Hát ru, Hò, Lý, Nói thơ, Nói vè, Nói tuồng…
Nghệ thuật diễn xướng dân gian là một loại hình của văn hóa phi vật thể, giá trị văn hóa của đó đã và đang được lưu truyền, tiếp nối trong các hoạt động biểu diễn mang tính tập thể, làm cho nó mang tính dân gian đặc thù Việc bảo tồn và trưng bày nghệ thuật diễn xướng dân gian cũng đặt ra yêu cầu khó vì nó là cái vô hình, chỉ thể hiện qua các khả năng diễn xuất, không phải tài liệu hiện vật gốc
Nghệ thuật diễn xướng được sáng tạo bởi người Việt, phù hợp với điều kiện, môi trường sống, hoàn cảnh sống Việt Nam Các trò diễn dân gian, đồng dao trẻ em,
tổ chức theo lối hội làng… Xuất phát từ sự cộng sinh, cộng cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần Diễn xướng ở đây là mối dây liên kết, mời gọi tất cả mọi người cùng tham gia, hình thành nên cộng đồng với ý thức cùng chung sống bền vững
Trang 23Như vậy, diễn xướng mang tính nguyên hợp không phân tích: diễn là hành động xảy ra; xướng là hát lên, ca lên Hai thành tố đặc hữu trên là đặc hữu và cùng tham gia với nhau Do vậy thông qua diễn xướng, người ta tiếp tục mạch sống không ngừng của nghệ thuật dân gian truyền thống
Những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc trong diễn xướng dân gian hiện nay đang tan chảy trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại và đang được các nghệ nhân ngày đêm gìn giữ bảo tồn để truyền lại cho thế hệ mai sau Mọi người đang giữ sức sống trường tồn cho nền nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam này và
đó cũng chính là tình yêu mãnh liệt của những nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân dân gian, những con người mà luôn luôn nặng lòng, tâm huyết với văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước
Theo nhận định của mình, học viên xem Diễn xướng dân gian là các loại hình gồm nhiều thể loại như Hò, Vè, Hát ru, Lý, Múa, Hát trò …, được người dân hát lên, diễn lên, trong quá trình lao động, sinh hoạt trong thiên nhiên Thể hiện những cảm xúc của mình và thường mang tính tập thể, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người Trong đó, Hát ru là một thể loại diễn xướng dân gian có tính đại chúng rộng rãi so với các thể loại khác
1.1.4 Khái niệm về Hát ru
Tác giả Nguyễn Hữu Thu (1987) trong cuốn “Mẹ hát ru con” đã khái quát:
“Hát ru hay còn gọi là Hát ru em ở các vùng nông thôn Việt Nam, trong những gia đình nghèo cha mẹ thường phải làm lụng suốt ngày kiếm ăn, con cháu của họ vào lứa tuổi thiếu niên ở nhà phải trông em và ru em ngủ Vì thế còn gọi là Hát ru em hoặc Hát đưa em Vùng Tĩnh Gia (Thanh Hoá) gọi Hát ru con là “Hát khúc”, Nghệ Tĩnh gọi Hát ru con là hát “Nựng con” Hát nựng có nghĩa là hát yêu con, giỡn con lúc bế trên tay và khi đứa trẻ chưa ngủ và để hướng đó vào giấc ngủ” (Nguyễn Hữu Thu, 1987, tr.20) Tác giả dẫn nhiều tên gọi của Hát ru tại các vùng miền khác nhau Thông qua liệt kê, tác giả cũng xác định được hai thành phần đối tượng ru và được
ru trong đó, người ru thường là mẹ, bà, chị còn đứa bé là đối tượng được ru
Trang 24Theo nhạc sĩ Phạm Phúc Minh (1994) trong “Tìm hiểu dân ca Việt Nam” thì:
“Hát ru hay gọi ru con hoặc ru em là một lối hát theo tập quán truyền thống và rất phổ biến ở các vùng, các dân tộc trên khắp mọi miền đất nước Tuy mỗi vùng, mỗi dân tộc đều có điệu Hát ru được gọi bằng những tên khác nhau và nét nhạc cũng mang màu sắc riêng, nhưng có những đặc điểm chung như: nét nhạc êm dịu, du dương, trìu mến, tiết tấu êm dịu, nhẹ nhàng, lời ca giàu hình tượng, dạt dào tình yêu thương tha thiết đối với trẻ thơ, tất cả những yếu tố đó đã như đôi cánh nhẹ nhàng đưa em bé vào tổ ấm với giấc ngủ ngon lành Đối với những người lớn, hoặc những thanh thiếu niên khi nghe Hát ru ít nhiều được sưởi ấm, vỗ về bằng những tình cảm trìu mến của thời bé thơ, đều có cảm giác gợi nhớ những ký ức xa xưa, những tình cảm yêu thương thắm thiết cao đẹp của những người thân trong gia đình” (Phạm Phúc Minh, 1994, tr.196) Nhạc sĩ đã đưa ra khái niệm mang tính quát cao, trong đó chỉ ra những đặc điểm chung và riêng của Hát ru ở từng vùng miền, thêm nữa là các công dụng đặc biệt mà Hát ru mang lại
Lê Văn Chưởng (2004) đã có nhận thức về đặc trưng của Hát ru trong cuốn
“Dân ca Việt Nam những thành tố của chính thể nguyên hợp”, đã viết: “Ru là lối diễn xướng phổ nhạc vào những bài thơ theo âm Ngũ cung chủ yếu là thơ dân gian với những thể lục bát, lục bát biến thể… để đưa trẻ vào giấc ngủ Ru là một lối hát dân gian, miền Bắc gọi là Hát ru, ở Bình Trị Thiên gọi là hò ru, bởi vì nơi đây ru theo làn điệu hò Thông thường thì mẹ ru con nhưng có khi bà ru cháu, chị ru em… chủ yếu là mẹ ru con, nhưng ru cũng là cách để mẹ giải bài tâm sự, ru cảnh ngộ của mình” (Lê Văn Chưởng, 2004, tr.34) Cũng có những nhận định tương tự hai tác giả trên, nhưng nét tiêu biểu trong khái niệm của Lê Văn Chưởng là đã định vị Hát
ru là một lối diễn xướng phổ nhạc và xác định được các chất liệu làm nên Hát ru
Lư Nhất Vũ & Lê Giang (2005) trong “Hát ru Việt Nam” viết: “Hát ru là một thể loại đặc biệt trong kho tàng âm nhạc dân gian Việt Nam, vì hầu như 54 dân tộc trên đất nước ta thì dân tộc nào cũng có điệu Hát ru của dân tộc mình Nội dung Hát
ru thường mang tâm sự của người vợ đối với chồng, của người con đối với cha mẹ, ông bà, chứ ít khi bày tỏ tình cảm trực tiếp với đứa trẻ đang ôm ru trong lòng” (Lư
Trang 25Nhất Vũ & Lê Giang, 2005, tr.21-22) Khái niệm Hát ru của hai tác giả nhấn mạnh
sự đa dạng và phổ biến của Hát ru, đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa người ru và người được ru kèm theo những nội dung của lời ru gia đình
Qua tham khảo các khái niệm được nêu ở trên, trên cơ sở ứng dụng vào đề tài nghiên cứu học viên đề xuất khái niệm Hát ru như sau: “Hát ru là một thể loại dân ca, thường được hát để ru trẻ em đi vào giấc ngủ Giai điệu của Hát ru thường là nhẹ nhàng, êm dịu, đơn giản Lời ca của Hát ru thường có xuất xứ từ ca dao, đồng dao, tục ngữ, dân ca, hò vè dân gian Hát ru được sáng tác theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể, nội dung phong phú, giàu hình tượng, lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang đậm nét đặc trưng văn hóa của mỗi vùng miền và thường gắn với hình ảnh người phụ nữ”
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc- chức năng
Thuyết cấu trúc và thuyết chức năng là hai lý thuyết riêng biệt, nhưng nhiều học giả trong lĩnh vực khoa học xã hội đã nghiên cứu, xây dựng và cho ra đời một biến thể đặc biệt là thuyết cấu trúc và chức năng Trong nhiều nghiên cứu về thuyết cấu trúc và chức năng Talcot Parsons2, Robert Mertons3 và Athony Giddens4 là các học giả phát hiện ra những biến thể mới nổi bật
Parsons đề xuất khái niệm cấu trúc trong mối tương quan đồng cấp với khái niệm hệ thống, ông cho rằng trong hệ thống có cấu trúc, trong cấu trúc lại có những thành phần giữ chức năng riêng đối với hệ thống “Khái niệm cấu trúc là các yếu tố tạo thành khuôn mẫu, khái niệm hệ thống là một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định Khái niệm hệ thống vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh” (Lê Ngọc Hùng, 2016) Đối với Parsons, hệ thống được đặt trong không gian ba chiều: chiều cấu trúc, chiều chức năng và chiều kiểm soát “Về cơ bản, cấu trúc xã hội là cấu trúc của các mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình tương tác đó Mỗi thành phần của hệ thống xã hội phải
Trang 26thực hiện vai trò, nhiệm vụ để bảo đảm cho cả hệ thống xã hội tồn tại, vận động và phát triển một cách phù hợp” (Lê Ngọc Hùng, 2016)
Robert K.Merton cho rằng trên thực tế luôn có các cấu trúc – chức năng thay thế nhau chứ không có sự phân công duy nhất cho các cấu trúc –chức năng và qua
đó thỏa mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra” (Lê Ngọc Hùng, 2016)
Athony Giddens nhấn mạnh về quá trình của hệ thống xã hội, trong đó con người là những hành thể, là cốt lõi của hệ thống xã hội Con người sống trong xã hội thì bị cấu trúc xã hội quy định, nhưng chính con người cũng nắm khả năng tái tạo ra các cấu trúc xã hội của họ Vì con người là thực thể sống, liên tục biển đổi phát triển nên hành động của họ sẽ mà tái tạo cấu trúc xã hội liên tục và sinh động
“Cấu trúc bao gồm các quy tắc và các nguồn lực được sử dụng trong quá trình tái tạo các hệ thống xã hội mà con người phải làm khi tương tác xã hội, ngoài ra còn có các nguồn lực vật chất tinh thần mà qua đó giúp con người đạt được mục đích Qua
lý thuyết cấu trúc này ông Giddens nhấn mạnh về tính chất hai mặt của hành động con người và cũng qua đó cấu trúc xã hội cũng như quá trình chuyển hóa và tái tạo lẫn nhau của chúng” (Lê Ngọc Hùng, 2016)
Qua tìm hiểu về lý thuyết cấu trúc và chức năng trên ta thấy Hát ru là loại hình âm nhạc dân gian nên có có những chức năng và cấu trúc riêng như sau:
* Cấu trúc Hát ru
Hát ru có hầu hết các cấu trúc phù hợp với thanh điệu và thẩm mỹ âm nhạc của cả ba miền Bắc Trung Nam và tùy theo từng vùng miền mà có những điểm khác biệt Chúng ta thấy rằng cả ba làn điệu Bắc Trung Nam đều có cấu trúc đơn giản về nhịp điệu về tiết tấu, về lời ca, về cách hát và về nội dung cũng như là tính thực hành xã hội của nó Hát ru có cấu trúc rất co giãn và linh động
Lời ca và âm nhạc trong Hát ru đó là hai yếu tố gắn liền, luôn luôn mật thiết với nhau, cả hai yếu tố ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển và định hình của cấu trúc Hát ru của tất cả các vùng miền đều có cấu trúc ba phần đó là: phần mở – phần thân – và phần đóng, mà trong đó thì phần đóng và phần mở nó có cùng chất liệu
Trang 27Phần mở của Hát ru: đây là một nét nhạc ngắn, thường gồm 4 nhịp 24, tính chất âm nhạc mềm mại, du dương, phần mở về lời ca đó là những hư từ như à ơi, à
ơi à ời, ơ ầu ơ…
Phần thân của Hát ru: đây được coi là phần chính của bài Hát ru, bao hàm toàn bộ nội dung của bài hát Ở phần thân này các đặc trưng âm nhạc được thể hiện một cách đầy đủ nhất với các thành tố như thang âm, giai điệu, điệu, tiết tấu, nhịp…
và đây là một mối quan hệ rất đặc biệt giữa nhạc và thơ Nếu so sánh với các phần
mở và phần đóng thì phần thân của Hát ru có độ dài lớn hơn nhiều Phần thân của Hát ru thường có một số dạng như: dạng hai cặp thơ lục bát, và mỗi cặp thơ là một câu nhạc, mỗi câu nhạc thường gồm 6 đến 8 nhịp 24; dạng thứ hai gồm 3 cặp thơ lục bát hoặc 4, mỗi tập thơ là một câu nhạc và ở đây mỗi câu nhạc thường gồm 6 đến 8 nhịp 24 Phần thân của Hát ru được hát lên với phong cách trữ tình, ngâm ngợi, êm ái và dịu dàng
Phần đóng: phần đóng trong Hát ru gần giống như phần mở, đây là một nét nhạc ngắn và thường gắn với tiếng Hát ru như à ơi, à ơi à ời, ầu ơ Phần đóng thông thường có cấu trúc giống phần mở của Hát ru, ở đây tùy theo từng người hát thì nét nhạc của phần đóng cũng được hát lại 2 hoặc thậm chí là 3 lần
Hát ru có thể hát những câu lục bát với nhiều nội dung khác nhau theo giai điệu Lời Hát ru khác nhau, thanh điệu lời ca do đó cũng khác nhau và tạo nên những giai điệu cũng có khác nhau Ở đây phần đóng trong Hát ru không có nghĩa
là kết thúc, Hát ru cho trẻ ngủ mà trong thực tế khi hát để ru cho trẻ ngủ người ta thường hát lên rất nhiều bài và tạo thành dạng cấu trúc liên khúc Hát ru
* Chức năng Hát ru
Trong chúng ta, trong cuộc đời của mỗi con người, từ thuở ấu thơ dường như không ai là chưa nghe đến tiếng Hát ru của mẹ, của bà, của chị…những lời ru rất ngọt ngào rất êm dịu đã trở thành tiềm thức
Dường như trên thế giới, không một dân tộc nào lại không có Hát ru Hát ru tái hiện lại những kỉ niệm, ký ức của cả một thời đã xa Hát ru chính là tiềm thức tâm hồn dân tộc, Hát ru gợi nhớ tình yêu thương đất nước trong lòng những người
Trang 28xa xứ, giúp cho con người ghi nhớ và gìn giữ nguồn cội của mình, Hát ru có thể tránh sự tha hóa về ý thức dân tộc và rời xa cộng đồng
Chức năng đầu tiên của Hát ru là ru bé ngủ, tiếp theo đó là chức năng gắn kết tình cảm giữa những người thân Ngoài ra, Hát ru là những lời hát có chức năng giáo dục, thẩm mỹ cao và đã góp phần hình thành, phát huy và nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ nhỏ Hát ru giúp trẻ nhỏ phát triển về thể chất và tâm hồn, góp phần giúp cho trẻ nhỏ phát triển một cách toàn diện về mọi mặt Nhiều nghiên cứu cho thấy những trẻ nhỏ hằng ngày được kích thích bằng Hát ru thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so với trẻ không được nghe Những lời ru người mẹ, người bà, người chị đã gửi gắm tất cả niềm mong mỏi tin tưởng và tình cảm của mình đến với trẻ nhỏ
Qua những lời Hát ru ngay từ nhỏ đứa trẻ đã được tiếp xúc và cũng một cách ngẫu nhiên đã giúp cho trẻ thuộc lời bài hát, thuộc những sáng tác dân gian, những câu hát về thiên nhiên, về loài vật Và đó chính là sự bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc một cách bền vững và sinh động vì những câu Hát ru trong dân gian đã mang rất nhiều yếu tố giáo dục trong đó
1.2.2 Lý thuyết Vùng văn hoá
Có thể hiểu khái quát Vùng văn hóa là một không gian văn hóa có những tương đồng về địa lý tự nhiên, nguồn gốc lịch sử, đặc điểm dân cư và có những đặc trưng nhất định, phân biệt tương đối với các vùng văn hóa khác Trong một vùng văn hóa có thể tồn tại một hay nhiều chủ thể
Tương tự, theo Ngô Đức Thịnh: “Văn hóa vùng là một dạng thức của không gian văn hóa mà ở đó do quá trình giao lưu văn hóa lâu dài giữa các tộc người đã tạo nên các sắc diện văn hóa chung” (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.7)
Trong nghiên cứu vùng văn hóa nổi lên các trường phái và lý thuyết nghiên cứu sau:
Thuyết Khuếch tán văn hóa: trường phái này cho rằng có sự lan truyền/ thiên di/ mô phỏng các đặc điểm văn hóa từ nơi này sang nơi khác thông qua tiếp xúc, tiếp biến Tiêu biểu trong trường phái này là Franz Boas, ông cho rằng nền văn hóa
Trang 29phát triển thông qua sự tương tác và sự khuếch tán Về cơ chế, tựu chung lại có ba
cơ chế khuếch tán chính là: trực tiếp, gián tiếp và cưỡng bức
Thuyết vùng văn hóa và Trung tâm văn hóa: được nhà nhân học người Mỹ, Clark D Wissler đề xướng để chỉ một không gian văn hóa mà ở đó, cộng đồng dân
cư có những mô típ văn hóa đặc trưng Ông chủ trương xem xét nghiên cứu vùng văn hóa trên cơ sở tập hợp nhiều yếu tố văn hóa thay vì một đặc trưng hạn hẹp Wissler cũng đã tiến xa hơn đến việc xác định một “Trung tâm văn hóa” trong vùng văn hóa mà ông tin rằng Trung tâm văn hóa đó có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với vùng văn hóa của nó Ông cũng cho rằng vùng văn hóa được tạo thành nhờ
sự khuếch tán văn hóa từ trung tâm Giữa hai trung tâm văn hóa chính là vùng chuyển tiếp và văn hóa ở trung tâm thì mang tính đặc trưng và điển hình hơn
Thuyết loại hình kinh tế - văn hóa: “là một tổng thể các đặc điểm kinh tế và văn hóa hình thành trong quá trình lịch sử của các dân tộc khác nhau cùng ở một trình độ phát triển kinh tế xã hội và sinh sống trong môi trường địa lý tự nhiên như nhau” (Trêbôxacốp, Trêbôxaropva, 1971) Điều này giải thích sự tương đồng và khác biệt giữa các cộng đồng người sống ở khoảng cách địa lý xa nhau Mỗi loại hình kinh tế văn hóa gắn với sự phát triển của một cộng đồng người trong một điều kiện tự nhiên nhất định và một thời gian lích sử nhất định Đây là lý do vì sao những cộng đồng sống rất xa nhau lại có những điểm tương đồng về sinh hoạt với nhau
Liên hệ lý thuyết trên trong nghiên cứu thì Thành phố Hồ Chí Minh được xem là một tiểu vùng văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh là một vùng đô thị nằm ở vị trí trung tâm về nhiều mặt của Nam Bộ Thành phố vừa nằm ở trung tâm về địa lý, lại
vừa mang vị trí trung tâm về kinh tế, chính trị và cả văn hóa
Về địa lý, Thành phố là điểm tiếp giáp nhiều mặt, nếu chia Nam Bộ thành Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ thì thành phố Hồ Chí Minh là điểm giao giữa hai vùng này, nếu lấy địa hình làm tiêu chí thì Thành phố là điểm nối giữa vùng cao (Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh) và vùng thấp, vùng biển (Cần Giờ, Bà Rịa Vũng Tàu)
Trang 30Về kinh tế, dù là thời kỳ Pháp thuộc, thời Mỹ - Diệm, đến cả hiện nay, Thành phố luôn là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại quan trọng, là điểm tập trung buôn bán, trao đổi hàng hóa quy mô lớn của toàn vùng, là trung tâm giao dịch uy tín, hiện đại và tiện lợi trong mọi hoạt động kinh tế tài chính
Thành phố Hồ Chí Minh không mang tính kỳ thị, đó là một vùng mà được mệnh danh là “Đất lành chim đậu” Đó là nơi mà tất cả cư dân trên rất khắp đất nước Việt Nam đã hội tụ về cùng với nhiều sắc dân trên thế giới Tại đây, tinh hoa văn hóa nhân loại đã được chắt lọc tiếp nhận và hấp thụ Ở thành phố có văn hóa Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ đi theo từng lớp di dân, lại có ảnh hưởng văn hóa các nước lớn ở châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ… Trải qua bao nhiêu biến động của lịch sử, những thăng trầm đã khiến cho thành phố này có một bộ mặt rất nhiều sắc thái và đa dạng
Lý Tùng Hiếu đã xác định ba đặc trưng nổi bật của Thành phố gồm:
tính chất đô thị trong văn hóa, tính chất đa tộc người trong văn hóa và sự giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người, các nền văn hóa (Lý Tùng Hiếu, 2013, tr.46-53)
Có thể nói Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh là một tiểu vùng văn hóa đô thị tiêu biểu của vùng Nam Bộ, tiểu vùng này được hình thành bởi sự đóng góp của văn hóa nội sinh và sự tiếp biến các luồng ảnh hưởng văn hóa lớn cả trong và ngoài nước
Do nằm trong vùng văn hóa Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh có những đặc trưng tiêu biểu của vùng lại có ảnh hưởng lớn nhất đối với văn hóa của toàn vùng Nam
bộ Bên cạnh đó, Thành phố lại có những nét đặc trưng riêng do quá trình hấp thụ, chắt lọc tinh hoa từ nhiều nguồn mà có
1.3 Tổng quan Thành phố Hồ Chí Minh, sự hình thành và phát triển cộng đồng người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1 Tổng quan Thành phố Hồ Chí Minh
Theo Văn phòng Ủy ban Nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm, có diện tích tự nhiên 2.095,24 km2 Cuộc tổng
Trang 31điều tra dân số năm 2019 đã cho báo cáo Dân số Thành phố là 8.993.082 người Toàn thành phố có 19 quận, 5 huyện và 322 phường xã, thị trấn
Thành phố Hồ Chí Minh đóng vài trò là Trung tâm Kinh tế - Thương mại, Trung tâm Giáo dục – Khoa học Công nghệ – Y tế và trung tâm Văn hóa – Du lịch của phía Nam và cả nước Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lý và giao thông rất quan trọng Là đầu mối về hàng không, vận tải biển và cả đường sắt, đường bộ nên Thành phố Hồ Chí Minh cũng là đầu mối giao lưu quốc tế, đón đầu những thời cơ, thuận lợi Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và các cấp lãnh đạo Thành phố đang tích cực xây dựng một Thành phố Hồ Chí Minh: Văn minh – Hiện đại – Nghĩa tình
* Về kinh tế: thành phố Hồ Chí Minh luôn là một trung tâm kinh tế, tài chính,
thương mại, dịch vụ của cả nước; giữ vai trò hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn ở tốp cao, dẫn đầu cả nước, có quy mô về diện tích và dân số khá khiêm tốn nhưng đóng góp của thành phố vào các chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc gia, giá trị sản xuất công nghiệp đầu tư nước ngoài là rất đáng kể Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng , Thành phố Hồ Chí Minh cũng là lớn nhất cả nước, dẫn đầu về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín dụng (chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc) Với đà phát triển không ngừng, thành phố Hồ Chí Minh sẽ trở thành thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực và châu lục
* Về giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ: Với truyền thống năng
động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tích cực đổi mới, luôn là lá cờ đầu của cả nước, Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Trình độ dân trí, chất lượng nhân lực ngày càng được nâng cao Các sáng kiến mới về khoa học công nghệ cũng lần lượt xuất hiện với tốc độ nhanh chóng Ngành giáo dục và năng lực khoa học của thành phố đang đáp ứng tốt cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sẵn sàng cao độ hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới
* Về văn hoá – xã hội: đất Sài Gòn - Gia Định là nơi hội tụ của nhiều luồng
văn hóa, ở cấp độ tộc người là Việt - Hoa và các tộc người đến từ châu Âu, ở cấp độ
Trang 32vùng miền là văn hóa của nhiều vùng, tiểu vùng văn hóa trong cả nước Điều này là kết quả của thành phần dân cư đa dạng mà Thành Phố Hồ Chí Minh đang sở hữu
Có thể gọi Thành phố là một “phức thể văn hóa” trong đó có sự đa dạng của phong tục tập quán, phương thức sinh hoạt, cách thức ứng xử và tôn giáo tín ngưỡng Song song với đó, Thành phố vẫn có những nét tiêu biểu chung của bản sắc Việt Nam, đó
là tình đoàn kết dân tộc, lòng yêu nước, tự hào dân tộc Ở Thành phố lại có những nét hiện đại trong sự năng động sáng tạo, dễ tiếp cận và hòa nhập, ý chí tự lực tự cường… vốn là truyền thống, những phẩm chất tốt đẹp của con người Thành phố
1.3.2 Sự hình thành và phát triển cộng đồng dân cư ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2.1 Giai đoạn Nam tiến (Khai phá Đồng Nai – Gia Định từ năm 1698)
Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai Tại đây, Nguyễn Hữu Cảnh tiến hành thiết lập những đơn vị hành chính đầu tiên, xứ Đồng Nai được đặt là huyện Phước Long, lại cho xây dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa ngày nay), xứ Sài Gòn đặt là huyện Tân Bình, cho dựng dinh Phiên Trấn (Gia Định ngày nay), thấy vùng đất còn hoang vu, ông cho chiêu mộ lưu dân từ nhiều nơi đến ở và khai hoang lập đất, đặc biệt là lưu dân vùng Thuận Quảng Khi dân cư đông đúc, Nguyễn Hữu Cảnh hoạch định xã thôn, phường ấp, chia cắt địa giới, chiếu theo lệ mà định tô thuế, làm sổ đinh điền cho dân Lúc bấy giờ, một số thương nhân người Trung Hoa đến buôn bán, định cư Chúa Nguyễn đã chính thức xác lập chủ quyền và quyền quản lý đối với các xứ Đồng Nai – Sài Gòn tại thời gian này Bước đầu biến Sài Gòn – Gia Định trở thành trung tâm hành chính – chính trị và từng bước hình thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng đất mới Đây là tiền đề để tiếp tục xác lập và thực thi chủ quyền với vùng đất Nam Bộ
Trước tình hình phát triển nhanh chóng của khu vực Gia Định – Đồng Nai và
sự lớn mạnh của triều đình Chúa Nguyễn, Mạc Cửu đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản (vùng Hà Tiên) dâng cho Chúa Nguyễn, được phong chức Tổng binh Sau
sự kiện này, nhân dân đến sinh sống ngày càng đông, biến vùng này trở nên trù phú,
Trang 33sầm uất Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng qua Hà Tiên đến tận mũi Cà Mau và các đảo ngoài Biển Đông, vịnh Thái Lan
Mạc Cửu qua đời, Chúa Nguyễn tiếp tục phong Mạc Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên Thiên Tứ cắt đặt nha thuộc, cho xây đắp thành lũy kiên cố, tuyển mộ quân ngũ, mở phố lập chợ, thương buôn các nước đến rất đông Đặc biệt, Mạc Thiên Tứ cho mở Chiêu Anh Các để thu hút thi nhân, thi sĩ đến tham gia, tạo nên điểm nhấn
về văn hóa, văn học lúc bấy giờ
Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương, Chúa chú trọng tổ chức bộ máy hành chính, chia Đàng Trong thành 1 trấn phụ thuộc và 12 dinh để tiện
bề cai quản Cuối năm 1755, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thua trận trong cuộc loạn binh đã chạy về Hà Tiên, nương nhờ đô đốc Mạc Thiên Tứ Chúa Nguyễn chấp nhận đặt đất đai do vua Chân Lạp dâng cống vào châu Định Viễn, lại giao Mạc Thiên Tứ xem xét chia cấp ruộng đất cho quân và dân người Chân Lạp, định ranh giới rõ ràng Đến đây, trên đất đai Chúa Nguyễn đã xuất hiện lớp người Chân Lạp – Khmer đến sinh sống
Chúa Nguyễn đặc biệt khuyến khích khai phá đất hoang Nam Bộ, cho phép người dân sở hữu ruộng đất khai hoang được Chúa lại cho người đứng ra tổ chức các cuộc di cư này và lập thành các xã, thôn, phường, ấp cho những người nông dân Thuận – Quảng di cư vào khai khẩn đất Nam Bộ Lực lượng khai hoang chủ yếu là lưu dân người Việt, người Chân Lạp, Chăm Pa và một số lưu dân Trung Quốc, người dân tộc thiểu số, một số lính đồn trú…
Tính từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XVIII, toàn Nam Bộ đã thuộc quyền Chúa Nguyễn, phát triển kinh tế – xã hội rất năng động Đây chính là thành quả lao động cần cù và sáng tạo của tất cả các cộng đồng dân cư trong guồng máy phát triển chung của đất nước, trong đó vai trò người Khmer, người Hoa và nhất là vai trò của lớp cư dân người Việt rất nổi bật
1.3.2.2 Giai đoạn phân chia Nam – Bắc (từ năm 1954)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết, nước Việt Nam bị tạm thời chia cắt qua vĩ tuyến 17, người dân có quyền lựa chọn ở
Trang 34miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian 300 ngày, họ được tự do đi lại Lúc này, Việt Nam xảy ra cuộc di dân nội bộ lớn theo 2 dòng chính, dòng di dân thứ nhất là cuộc “tập kết ra Bắc” của nhân dân miền Nam và ở dòng ngược lại, một lượng lớn người dân đang sinh sống phía Bắc (đa phần là người theo Công giáo) vào Nam dưới chế độ Ngô Đình Diệm
Như vậy, một sự pha trộn lớn về thành phần dân cư đã diễn ra cả nước nói chung và Sài Gòn nói riêng Lúc này, Sài Gòn đón thêm những người dân từ Bắc mới vào, cộng thêm lớp dân cư bản địa đã sinh sống lâu năm, ngoài ra, còn là sự có mặt của thành phần người nước ngoài (chủ yếu là Mỹ, Pháp và các nước đồng minh)
1.3.2.3 Giai đoạn hiện đại (1975 đến nay)
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, giao thương được thuận lợi, việc đi lại của dân chúng được tự do và nhanh chóng Thành Phố Hồ Chí Minh lúc này lại sở hữu thành phần cư dân đa dạng và đông đúc hơn lúc nào hết Với vị thế là đô thị lớn, mang tầm vóc trung tâm, Thành Phố Hồ Chí Minh dễ dàng thu hút cư dân từ khắp đất nước đổ về sinh sống, làm việc, học tập Thành phần dân cư lúc này gồm nhân dân có quê gốc khắp ba miền tổ quốc, có cả thành phần các dân tộc ít người và đặc biệt là sự du nhập, giao lưu và cộng sinh của một lượng lớn người nước ngoài
đa quốc tịch, đa chủng tộc và đa văn hóa
Trang 35Qua nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết cấu trúc và chức năng, học viên đưa
ra nhận định về cấu trúc và chức năng của Hát ru, với những đặc tính riêng biệt:
Về cấu trúc, Hát ru gồm 3 phần: Phần Mở, Phần Giữa và Phần Đóng Trong
đó, phần đóng không có nghĩa là kết thúc mà có thể tiếp nối rất nhiều bài tạo thành dạng cấu trúc liên khúc Hát ru
Về chức năng, Hát ru thể hiện nổi bật ở chức năng tái hiện, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ và chức năng bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc
Trên cơ sở lý thuyết Vùng văn hóa, học viên tổng quan những vấn đề chung
về thành phố Hồ Chí Minh và quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng người Việt tại Thành phố từ lúc là những lưu dân miền Trung, đến quá trình Nam tiến, đến khai cơ lập nghiệp tại nơi này Học viên cũng xem xét Thành Phố Hồ Chí Minh là một tiểu vùng của văn hóa Nam Bộ, vừa có những nét tương đồng, vừa có nét đặc biệt của nơi hội tụ các luồng ảnh hưởng văn hóa lớn từ Việt Nam và thế giới Qua quá trình phát triển, Thành Phố Hồ Chí Minh đã trở thành một tiểu vùng văn hóa có ảnh hưởng lớn đối với văn hóa toàn vùng Nam Bộ
Trên cơ sở quá trình phát triển của Hát ru, học viên tiếp tục khái thác đến đặc điểm, đối tượng, không gian diễn xướng của Hát ru tại Thành Phố Hồ Chí Minh tại chương 2
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG HÁT RU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nếu xét về lịch sử thì Hát ru chưa khẳng định được thời điểm ra đời Người Babylon cổ đại cách đây bốn thiên niên kỷ đã bắt đầu có sáng tác những bài Hát ru bằng những giai điệu riêng biệt đó là phương tiện hữu ích để đưa em bé vào giấc ngủ say nồng Bài hát ru đầu tiên được khắc trên một phiến đất sét nhỏ vào khoảng niên đại 2000 trước Công nguyên dưới dạng hình Nêm và bút viết làm bằng cây sậy Các giai đoạn nuôi con của người mẹ như cho con bú, cho ăn, cho con ngủ và trong quá trình ru con ngủ thì người mẹ chính là tác giả đầu tiên sáng tạo ra các làn điệu Hát ru Các điệu Hát ru đến từ trên toàn thế giới và như vậy tất cả các bà mẹ đều là những người phát minh ra Hát ru Ở Việt Nam những câu Hát ru trong thời phong kiến đã được sưu tầm lại bên cạnh những câu tục ngữ, ca dao, thơ dân gian
và chuyện kể Các giới nghiên cứu lý luận nghệ thuật dân gian của Việt Nam mới bắt đầu tiếp cận với nghệ thuật Hát ru vào khoảng đầu thập niên 60 thế kỷ trước
2.1 Đặc điểm Hát ru của người Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh
Hát ru của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ ba miền Bắc Trung Nam nên học viên khu biệt theo đặc trưng trong cách ru của từng vùng miền như: miền Nam là “ơ ầu ơ”, miền Bắc là “à ơi à ời” và miền Trung ru Huế là
“chân lắm tay bùn” đã thể hiện tài năng hết sức tuyệt vời của họ
Hát ru qua ca dao tục ngữ thường dùng lối so sánh đó là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại, giống nhau một thuộc tính nào đó hay cùng có chung
Trang 37một dấu hiệu tương đồng Hát ru cũng thường “dùng cảnh để gợi hứng và mượn cảnh để tả tình” theo lối so sánh cổ truyền mà ta thường sử dụng, qua đó thì cảnh và tình không tách biệt nữa:
“À ơi à ời…
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền vào đậu sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình Sông bao nhiêu nước, thương mình bấy nhiêu”
(Nguồn: Dương An, 2018, tr.143) Hát ru thường dùng lối so sánh ẩn dụ qua đó chủ thể với những sự vật và những hiện tượng dùng để so sánh có mối quan hệ về mặt hình ảnh:
“À ơi à ời…
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
(Nguồn: Dương An, 2018, tr.153) Hay:
Trang 38vật đều được người xưa nhân cách hóa thành suy nghĩ, thành lời nói, thành hành động của con người Nó đã tạo nên những sự ngộ nghĩnh, sống động của Hát ru về thế giới sự vật Những điều này rất là phù hợp với cách nói của dân gian, với cách suy nghĩ, với cách diễn đạt rất thích hợp với tâm hồn của trẻ con, đó là sự ngây thơ
là sự hồn nhiên và nhất là sự tò mò của trẻ
Và cũng với cách nhân hoá nầy những câu Hát ru trở nên thâm thuý, sâu sắc
vì thông qua những loài vật mà nói chuyện con người, với ý đồ châm biếm, phê phán những sai trái, những tật xấu Khi sử dụng nhân hoá đã làm cho câu chuyện kể trong câu Hát ru trở nên rất là sinh động hấp dẩn
Hà Châu, nhà nghiên cứu về văn học đã có những lời bình rất là dí dỏm, hóm hĩnh về lời ru có nội dung: “Cái cò, cái vạc cái nông…” lời bình như sau: “Khi có quyết định vặt lông con vạc cho tao”, đồng thời một nồi xáo măng cũng được bắc lên, và trong lúc “cái cốc kiếm củi tung tăng” thì “cò bay đi mất nồi măng vẫn còn” Trong nội dung của bài này phải thấy rằng tác giả dân gian đã rất là tài tình trong cách dùng từ ngữ và cách nhân hóa các con vật để qua đó người nghe, người hát đều cảm thấy thú vị vì sự vô lý mà có lẽ”
“À ơi à ời…
Cái cò, cái vạc, cái nông
Ba con cùng béo, vặt lông con nào?
Vặt lông cái vạc cho tao Hành răm mắm muối đổ vào xáo măng Cái cốc kiếm củi tung tăng
Cò bay đi mất nồi măng vẫn còn”
(Khuyết danh Việt Nam) Một số nhân hoá được thể hiện ở một số câu sau:
“À ơi à ời…
Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Trang 39Nhện ơi nhện hỡi nhện đi đàng nào”
(Nguồn: Dương An, 2018, tr.193) Hay:
“À ơi à ời…
Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày là nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công”
(Nguồn: Châu Nhiên Khanh, 2015,tr.120)
Hay:
“À ơi à ời…
Cái cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần Chào mào thì đánh trống quân Chim chích cởi trần vác mõ đi rao”
(Khuyết danh Việt Nam)
2.1.1.3 Tượng trưng
Bên cạnh phương thức nhân hóa, trong hệ thống Hát ru của người Việt, chúng ta còn nhận thấy một cách nói quen thuộc với tư duy dân gian thể hiện trong Hát ru đó là tính tượng trưng, chúng ta có thể bắt gặp nhiều câu Hát ru với phần thể hiện tượng trưng về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với đức tính cam chịu, lam lũ luôn biết giữ mình để tròn vẹn phận vợ hiền:
“À ơi à ời…
Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo Gấm xông hương mặc người”
(Nguồn: Dương Phong, 2014, tr.49)
Trang 40Vì chồng vì con, dẫu cho áo có sờn có vá hoặc có rách đi chăng nữa thì người vợ cũng thầm lặng hy sinh:
“Ơ ầu ơi…
Trăm năm duyên nợ vẹn toàn Dầu cho áo rách, vá quàng cũng thương”
(Nguồn: Dương An, 2018, tr.198) Hoặc về cây cỏ thiên nhiên, trong lòng người Việt có hoa Sen, loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp tươi sáng, thuần khiết mang đậm tính dân tộc:
(Nguồn: Dương Phong, 2014, tr.223) Ngoài hoa Sen, ta còn có hoa Đào, tượng trưng cho tình yêu Hình ảnh quen thuộc
ta thấy qua lời ru sau, đó cũng là lời tỏ tình tinh tế: