1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảng dạy tiếng nhật trong các trường cao đẳng và đại học tại một số quốc gia đông nam á

126 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC BÙI ĐÌNH LAN HƯƠNG ĐỀ TÀI GIẢNG DẠY TIẾNG NHẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ; HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

BÙI ĐÌNH LAN HƯƠNG

ĐỀ TÀI GIẢNG DẠY TIẾNG NHẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 8310602

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2021

Trang 2

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

BÙI ĐÌNH LAN HƯƠNG

ĐỀ TÀI GIẢNG DẠY TIẾNG NHẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 8310602 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN TIẾN LỰC

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2021

Trang 3

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Tiến Lực Các số liệu, tài liệu nêu trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tích khách quan, khoa học, đã được trích dẫn nguồn và chú thích rõ ràng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bộ môn, khoa và nhà trường về sự cam đoan này

Tác giả Luận văn Bùi Đình Lan Hương

Trang 4

3

LỜI TRI ÂN

Để thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Quý Thầy Cô, bạn học, đồng nghiệp và gia đình Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Tiến Lực, người đã cho tôi những định hướng rõ ràng, truyền đạt tri trức và hướng dẫn tôi ngay từ đề cương ban đầu Thầy đã tận tâm góp ý cho tôi từ cách chọn lọc tài liệu tham khảo, cách thức lên dàn ý ban đầu, bố cục chương mục cho đến cách diễn đạt ngôn từ, sắp xếp hình ảnh, biểu đồ sao cho phù hợp, rõ ràng Tôi thật sự trân trọng và tri ân sự hướng dẫn của Thầy trong suốt chặng đường vừa qua

Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô trường ĐH KHXH&NV, Thầy trưởng khoa Đông phương học và Anh Chị giáo vụ đã nhiệt tình tư vấn, hỗ trợ tôi trong thời gian học tại trường

Đồng thời, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn lớp Châu Á Học đợt 2/2016 thân thương đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua Thời gian học tập cùng với mọi người đã trở thành một kỷ niệm vô cùng đáng nhớ

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ việc học của tôi

Tp.HCM, tháng 9, năm 2020

Tác giả Luận văn Bùi Đình Lan Hương

Trang 5

4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

LỜI TRI ÂN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH 10

DẪN NHẬP 11

1 Lý do chọn đề tài 11

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 14

4.1 Nguồn tài liệu: 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu: 15

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 15

5.1 Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt 16

5.2 Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng Nhật 17

6 Đóng góp của đề tài 21

7 Bố cục của luận văn 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 23

1.1 Khái quát về quan hệ Nhật Bản - Đông Nam Á 23

1.2 Những hợp tác về văn hóa, giáo dục giữa Nhật Bản và Đông Nam Á 30

1.3 Vai trò thiết yếu của việc giảng dạy tiếng Nhật tại Đông Nam Á 33

Trang 6

5

1.4 Chính sách phát triển giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài của chính phủ

Nhật Bản và một số chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ 37

1.4.1 Chính sách phát triển giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài của chính phủ Nhật Bản 37

1.4.2 Một số chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ 43

Tiểu kết chương 1 46

CHƯƠNG 2 GIẢNG DẠY TIẾNG NHẬT TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TẠI THÁI LAN, INDONESIA VÀ VIỆT NAM 48

2.1 Giảng dạy tiếng Nhật trong các trường cao đẳng, đại học tại Thái Lan 48

2.1.1 Nhu cầu nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật tại Thái Lan 48

2.1.2 Lịch sử giảng dạy tiếng Nhật tại Thái 50

2.1.3 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Thái Lan hiện nay 52

2.1.3.1 Số lượng các trường 52

2.1.3.2 Số lượng và chất lượng giảng viên, sinh viên 53

2.1.3.3 Chương trình đào tạo và giáo trình 55

2.1.3.4 Phương pháp giảng dạy, đánh giá 57

2.1.3.5 Những vấn đề còn tồn đọng 57

2.2 Giảng dạy tiếng Nhật trong các trường cao đẳng, đại học tại Indonesia 57

2.2.1 Nhu cầu nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật tại Indonesia 57

2.2.2 Lịch sử giảng dạy tiếng Nhật tại Indonesia 60

2.2.3 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Indonesia hiện nay 61

2.2.3.1 Số lượng các trường 62

2.2.3.2 Số lượng và chất lượng giảng viên, sinh viên 62

2.2.3.3 Chương trình đào tạo và giáo trình 63

Trang 7

6

2.2.3.4 Phương pháp giảng dạy và đánh giá 65

2.2.3.5 Những vấn đề còn tồn đọng 65

2.3 Giảng dạy tiếng Nhật trong các trường cao đẳng, đại học tại Việt Nam 67

2.3.1 Nhu cầu nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật tại Việt Nam 67

2.3.2 Lịch sử giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam 72

2.3.3 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam hiện nay 73

2.3.3.1 Số lượng các trường 73

2.3.3.2 Số lượng và chất lượng giảng viên, sinh viên 75

2.3.3.3 Chương trình đào tạo và giáo trình 76

2.3.3.4 Phương pháp giảng dạy và đánh giá 79

2.3.3.5 Những vấn đề còn tồn đọng 80

Tiểu kết chương 2 80

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ TRIỂN VỌNG TRONG TƯƠNG LAI 82 3.1 Một số nhận xét 82

3.1.1 Số lượng các trường 82

3.1.2 Số lượng và chất lượng giảng viên, sinh viên 82

3.1.3 Chương trình đào tạo và giáo trình 85

3.1.4 Phương pháp giảng dạy và đánh giá 88

3.1.5 Những vấn đề còn tồn đọng 89

3.2 Triển vọng phát triển trong tương lai và đề xuất một số biện pháp 94

3.2.1 Triển vọng việc làm của sinh viên sau khi ra trường 94

3.2.2 Đề xuất một số biện pháp 96

Tiểu kết chương 3 97

Trang 8

7

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

A Tài liệu tiếng việt 103

B Tài liệu tiếng nước nhật 104

C Tài liệu tiếng nước anh 106

D INTERNET 107

PHỤ LỤC 109

PHỤ LỤC 1: CÁC MỐC CHÍNH TRONG GIÁO DỤC TIẾNG NHẬT CÁC NƯỚC 109

1.1 Thái Lan (giai đoạn 1965~2016) 109

1.2 Indonesia (giai đoạn 1961~2016) 113

1.3 Việt Nam (giai đoạn 1961~2017) 115

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM CÓ CÁC KHOA, NGÀNH GIẢNG DẠY TIẾNG NHẬT LÀ NGOẠI NGỮ THỨ NHẤT 118

PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NỔI BẬT Ở CÁC NƯỚC 120

3.1 Thái Lan 120

3.2 Indonesia 122

3.3 Việt Nam 124

Trang 9

8

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tổng sản phẩm quốc nội

JASSO Japan Student Services Organization

Tổ chức Hỗ trợ Sinh viên Nhật Bản

Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản

Kỳ thi Năng lực Tiếng Nhật

Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản

Trang 10

9

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

Viện trợ phát triển của chính phủ; Viện trợ phát triển chính thức

Ministry of Foreign Affairs

Trang 11

10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH

Biểu đồ 1: Xu hướng đầu tư ODA của Nhật Bản vào một số nước Đông Nam Á (2014~2017) 28 Biểu đồ 2: 10 quốc gia có số lượng người học tiếng Nhật đông nhất (2018) 36 Biểu đồ 3: 5 quốc gia Đông Nam Á có số lượng cộng sự tiếng Nhật đông nhất (2020) 39 Biểu đồ 4: Phân bố các trường đại học giảng dạy tiếng Nhật tại Thái Lan theo khu vực 53 Biểu đồ 5: Số lượng người học tiếng Nhật tại các cơ sở giáo dục Thái Lan (2009~2015) 54 Biểu đồ 6: Tỷ lệ người học tiếng Nhật theo các cơ sở giáo dục của Indonesia (2015) 63 Biểu đồ 7: Số lượng người Nhật Bản tại Việt Nam (2011~2017) 69 Biểu đồ 8: Số lượng người Việt Nam tại Nhật Bản (2011~2017) 70 Biểu đồ 9: Số lượng người học tiếng Nhật tại các cơ sở giáo dục Việt Nam (2006~2015) 75 Biểu đồ 10: Tỷ lệ người học tiếng Nhật tại các bậc học ở Đông Nam Á (2015) 83 Biểu đồ 11: So sánh tỷ lệ du học sinh Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và các quốc gia khác tại Nhật Bản (2016) 84 Biểu đồ 12: Một số mục đích và lý do học tiếng Nhật 85 Biểu đồ 14: Tỷ lệ dự thi các cấp độ của kỳ thi JLPT tại Indonesia (2019) 91

Trang 12

Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia là 11 quốc gia là Việt Nam, Lào, Campuchia, Singapore, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei, Đông timo Đây là một khu vực năng động, có nhiều tiềm năng phát triển

về nhiều mặt như kinh tế, văn hóa, chính trị Các hoạt động phát triển đối ngoại, ngoại giao hiện đang diễn ra hết sức sôi động Đặc biệt, trong những năm gần đây, các quốc gia lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc cũng đang chuyển hướng chiến lược sang khu vực này

Hiện nay, sự tiếp xúc giao lưu giữa các quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản ngày càng mạnh mẽ, ngày càng có nhiều công ty Nhật Bản đầu tư vào khu vực này

Về cơ bản, những quyền lợi về kinh tế vẫn là điều khiến cốt yếu giúp mối quan hệ Nhật Bản và các nước trong khu vực gắn bó mật thiết, đặc biệt là sau thời kỳ chiến tranh lạnh

Sự gắn bó về kinh tế này nhìn chung vẫn là thông qua các dự án hợp tác và đầu tư khi mà ngay từ những năm 1950, Nhật Bản đã tiến hành các dự án đầu tư vào khu vực Đông Nam Á Cũng từ đó tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho nhân sự các nước tại các công ty Nhật Cơ quan xúc tiến thương mại Nhật Bản (dưới đây gọi tắt là JETRO) cho biết, khối lượng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước

Trang 13

12

Đông Nam Á luôn có sự gia tăng mạnh mẽ Năm 2017 các doanh nghiệp Nhật Bản

đã đầu tư trực tiếp vào khu vực này là 22,33 tỷ USD (tăng gấp đôi so với thời điểm năm 2012) Con số tiếp tục tăng vào năm 2018 là 29,75 tỷ USD Chỉ tính riêng tới tháng 05/2019, con số này đã đạt 15,04 tỷ USD với 5 nước trụ cột là: Singapore, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Tăng cường hợp tác song phương đã làm tăng cả số lượng người Nhật cũng như các quốc gia Đông Nam Á thường trú tại khu vực bên kia Theo thống kê từ Bộ Ngoại giao Nhật Bản, số lao động của nước này đang làm việc ở các quốc gia Đông Nam Á hiện ở mức hơn 83.000 người trong năm 2017, tăng hơn 32% so với năm

2012

Khi các mối quan hệ song phương ngày càng gắn kết, vai trò của ngôn ngữ, chiếc cầu nối giúp các đối tác thông hiểu lẫn nhau, ngày càng quan trọng Quan hệ Nhật Bản - Đông Nam Á càng phát triển thì nhu cầu giao tiếp, trao đổi ngôn ngữ và văn hóa cũng từ đó mà tăng theo, thúc đẩy số lượng người học tiếng Nhật tại Đông Nam Á tăng nhanh

Nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ ngôn ngữ cao ngày càng cấp thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh phát triển hợp tác ngày càng mật thiết Điều này lại đặt ra những nhiệm vụ và khó khăn mới cho công tác giáo dục tại các trường đại học khi đây là bậc học quan trọng có vai trò to lớn trong đào tạo nhân lực “đạt chuẩn”, có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp

Hiện nay, ở các trường đại học tại Việt Nam cũng như các nước Đông Nam

Á, ngày càng có nhiều Khoa, Bộ môn tiếng Nhật, Nhật Bản Học, Ngôn ngữ Nhật được thành lập để đáp ứng nhu cầu của xã hội Số sinh viên và điểm thi đầu vào của các ngành này cũng tăng lên đáng kể Tuy Đông Nam Á là khu vực có sự khác biệt

ở các mặt văn hóa, giáo dục và xã hội nhưng nhìn chung các vấn đề thực tế trong giáo dục ở các trường đại học của các nước có nhiều điểm giống nhau Tìm hiểu việc đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật ở các quốc gia Đông Nam Á sẽ góp phần

Trang 14

đề tài luận văn Thạc sĩ của mình

Trong điều kiện thời gian và nguồn tài liệu cho phép, tôi quyết định giới hạn trong khảo sát về tình hình giảng dạy tiếng Nhật ở 3 nước Thái Lan, Indonesia và Việt Nam Đây là 3 nước có số lượng người học tiếng Nhật đông nhất tại khu vực Đông Nam Á (xem xét ở các trường phổ thông, cao đẳng, đại học và các cơ sở đào tạo khác)

Cụ thể, theo khảo sát của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation, dưới đây gọi tắt là JF) vào năm 2018 thì trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia đứng đầu về số lượng người học với 706.603 người, tiếp theo là Thái Lan với 184.902 người, Việt Nam xếp thứ ba với 174.461 người

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn này gồm 3 điểm chính sau đây:

Thứ nhất, làm sáng tỏ mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, giáo dục làm cơ sở hình thành những hợp tác về giáo dục tiếng Nhật giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á

Thứ hai, khảo sát tình hình giảng dạy tiếng Nhật ở ba nước Việt Nam, Thái Lan và Indonesia ở các yếu tố: số lượng các trường cao đẳng, đại học thực hiện giảng dạy tiếng Nhật, số lượng và chất lượng giáo viên, chương trình đào tạo và giáo trình đang được sử dụng, phương pháp giảng dạy và đánh giá

Thứ ba, phân tích một số điểm tương đồng và khác biệt giữa ba quốc gia ở các yếu tố được nêu ra ở chương 2 Từ đó đề xuất một số một số biện pháp nhằm tăng cường chất lượng giáo dục tiếng Nhật tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam

Trang 15

14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính mà bài viết này tìm hiểu chính là việc giảng dạy tiếng Nhật trong các trường Cao đẳng và Đại học tại ba quốc gia Đông Nam Á có số người học tiếng Nhật cao nhất hiện nay là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian: từ năm 1960 đến nay (năm 2020) Lý do chọn mốc thời gian năm 1960 bởi vì đây là thời điểm Nhật Bản đã khôi phục kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ II và bước vào thời điểm phát triển kinh tế cao độ Cũng từ thời điểm này, chính phủ Nhật Bản bắt đầu có những quan tâm đến việc phát triển văn hóa cũng như giáo dục tiếng Nhật trên thế giới nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng

+ Không gian: các trường cao đẳng và đại học tại ba nước Việt Nam, Thái Lan và Indoneisa

+ Nội dung: các yếu tố trong việc giảng dạy tiếng Nhật (số lượng các trường cao đẳng, đại học thực hiện giảng dạy tiếng Nhật, số lượng và chất lượng giáo viên, chương trình đào tạo và giáo trình đang được sử dụng, phương pháp giảng dạy và đánh giá)

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu:

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau đây: 1) Các báo cáo tài liệu thống kê của JF cũng như các cơ quan giáo dục, các trường cao đẳng, đại học tại Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản

2) Các công trình nghiên cứu của các học giả Nhật Bản về giáo dục tiếng Nhật trên thế giới

3) Các ấn phẩm sách, các công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt Nam, Thái Lan và Indonesia có liên quan đến giảng dạy tiếng Nhật tại các trường cao đẳng, đại học ở các nước đó

Trang 16

15

4) Các bài phát biểu, các bản tin thời sự trong và ngoài nước về tình hình hợp tác văn hóa, giáo dục giữa Nhật Bản và các nước thuộc khu vực Châu Á và Đông Nam Á

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Khi nghiên cứu, trình bày luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

Sử dụng phương pháp lịch sử để xem xét quá trình phát triển của giáo dục tiếng Nhật tại ba nước Việt Nam, Thái Lan và Indonesia từ năm 1960 đến nay (2019) để thấy được quá trình phát triển

Sử dụng phương pháp logic để xem xét việc giảng dạy tiếng Nhật ở 3 nước: Việt Nam, Thái Lan và Indonesia trong mối quan hệ tương quan với bối cảnh, điều kiện của từng nước Cụ thể, người viết sẽ sử dụng các thao tác nghiên cứu sau đây:

Tổng hợp: thu thập những tài liệu về giảng dạy tiếng Nhật tại Đông Nam Á

nói riêng và ba quốc gia Việt Nam, Thái Lan, Indonesia nói riêng Từ đó phân thành hai nhóm: tài liệu cung cấp các thông tin và tài liệu dùng để triển khai, xử lý vấn đề

Phân tích: tìm hiểu tình hình giảng dạy ở Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

So sánh: nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của từng quốc gia

Từ đó nêu lên những kết luận, phán đoán và dự báo về những triển vọng, thách thức cũng đưa ra một số giải pháp phát triển giảng dạy tiếng Nhật ở khu vực Đông Nam

Á trong tương lai

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập được, từ đó thực hiện chọn lọc các số liệu thích hợp và thực hiện các bảng, biểu đồ minh họa phù hợp

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong giới hạn tìm hiểu, đã có nhiều bài báo cáo, phát biểu và phân tích của các tác giả nước ngoài và Việt Nam về đề tài “giáo dục tiếng Nhật” cũng như phân

Trang 17

16

tích về tình hình giảng dạy thực tế, các giáo trình cũng như khó khăn của công tác giảng dạy ngôn ngữ này tại từng quốc gia cũng như toàn khu vực Đông Nam Á nói chung Chúng tôi phân loại nguồn tài liệu tiếp cận được thành hai nhóm gồm: (1) Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt (2) Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài

5.1 Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt

Ở Việt Nam, hiện tại chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu trực tiếp về vấn

đề này mà chủ yếu vẫn tập trung trình bày tình hình tại Việt Nam nói chung hoặc cụ thể tại đơn vị công tác của các tác giả Điểm chung của các bài viết này là các tác giả luôn quan tâm đến việc đổi mới công tác giảng dạy tiếng Nhật, phù hợp xu hướng của thế giới và đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội

Ngô Minh Thủy (2014) trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc

gia mang tên “Thực trạng giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam và một số biện pháp

nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy (nhìn từ góc độ triết học ngôn ngữ của nhóm Bakhtin)” nêu khái quát thực trạng giảng dạy tiếng Nhật và phân tích các mặt

“được” và “chưa được”, từ đó nêu ra các đề xuất

Hồ Thị Lệ Thủy (2014) trong bài viết “Hợp tác nguồn nhân lực giữa Việt

Nam và Nhật Bản – Trường hợp Trung tâm Hợp tác Nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC)” nhấn mạnh về các thành tựu hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản

trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nêu lên các định hướng trong tương lai

Nguyễn Tiến Lực (2010) trong bài viết “Khảo sát việc giảng dạy văn hóa

trong giờ đọc hiểu – Tại Khoa Đông Phương Học Trường ĐH KHXH & NV TP Hồ Chí Minh” đã trình bày khái quát tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại đơn vị công tác

của tác giả và nêu lên những đề xuất cũng như các tiến triển bước đầu trong việc đưa yếu tố văn hóa vào các giờ dạy Đây có thể xem là một hướng đổi mới giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam

Trang 18

17

Cao Lê Dung Chi (2017) trong bài viết “Dạy và học tiếng Nhật trong thời

đại toàn cầu” đã trình bày khái quát thực trạng đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam và

đề xuất một số biện pháp đổi mới nhằm hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật tại Việt Nam cũng như phát triển giáo dục tiếng Nhật trong tương lai Xuất phát từ thực tế tại đơn vị công tác của tác giả là trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, trong bài viết này tác giả nhấn mạnh nếu ở quá khứ và hiện tại việc giảng dạy tiếng Nhật phụ thuộc khá nhiều vào các hỗ trợ phát triển thì trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào “nội lực” của đội ngũ giáo viên trong nước

5.2 Nhóm các công trình nghiên cứu bằng tiếng Nhật

Bài viết “Sự vận động của thế giới và Đông Nam Á xoay quanh giáo dục

tiếng Nhật – Từ quan điểm toàn cầu và khu vực” trình bày tại Hội thảo quốc tế

Triển vọng giáo dục tiếng Nhật tại Đông Nam Á năm 2018 của tác giả Katsumi

Kazu (nêu lên tình hình cũng như xu hướng phát triển giáo dục ngôn ngữ này trên thế giới cũng như tại khu vực Đông Nam Á.(勝美嘉数、「日本語教育を巡る世

アの日本 語教育 の 役割-グ ローバ ル 人材育成 とつな が るネット ワーク

-』)

Trang 19

18

Đối với tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Thái Lan, bài viết “Giáo dục tiếng Nhật tại Thái Lan, nhìn từ chính sách ngôn ngữ” của Harada Akiko vào năm 2004 ngoài việc nêu lên các chính sách phát triển ngôn ngữ của chính phủ Thái Lan thì tác giả đề cập đến khó khăn hiện nay của giáo dục tiếng Nhật tại đây nằm ở số lượng và chất lượng các giáo viên cũng như thiếu hụt giáo trình phù hợp Cùng trong bài viết này, tác giả đề xuất một số phương án cải thiện như xây dựng các chương trình đào tạo và tạo nguồn giáo viên ổn định, cải thiện tính nhất quán trong

Cuốn “Đề xuất cải thiện các mặt hạn chế trong việc học tiếng Nhật của người Việt Nam” của Matsuda Makiko xuất bản năm 2016 tập trung các nghiên cứu về những hạn chế của người Việt Nam trong việc học tiếng Nhật trên các phương diện như ngữ pháp, từ vựng, hội thoại và phát âm Ngoài ra, tác giả còn nêu lên những triển vọng và các vấn đề trong dạy và học tiếng Nhật tại Việt Nam.(松田真希子、

「ベトナム語母語話者のための日本語教育、ベトナム人の日本語学習にお

Cuốn “Giáo dục tiếng Nhật tại Việt Nam - lịch sử và thực tiễn” của Miyahara Akira xuất bản năm 2014 đề cập đến lịch sử phát triển giáo dục tiếng Nhật tại đây trong giai đoạn 1960 và tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại đại học Ngoại thương Hà Nội vào những năm đầu thập niên 2000 Các số liệu về số lượng người học, giáo viên và giáo trình đề cập trong nghiên cứu giúp người viết có cái nhìn khái quát về việc giảng dạy tiếng Nhật tại đây vào những năm 2000 Tuy nhiên, các số liệu này

so với hiện nay, đã không còn tính cập nhật.(宮原彬、「ベトナムの日本語教育

Trang 20

19

Nội, Đại học Ngoại Thương Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội (Việt Nam) và Đại học Dharmapursada, Đại học Sional, Đại học Ngoại ngữ Saraswati, Đại học Udayana (Indonesia) Tất cả đều là các trường nổi tiếng về giáo dục tiếng Nhật ở cả hai quốc gia.(宮脇俊哉、寺田淳仁、中島勝重、「ベトナムとインドネシアにおける日本語教育」)

Bài viết “Giáo dục tiếng Nhật ở Đông Nam Á – Những bước đầu bước sau chiến tranh thế giới” của tác giả Voravudhi Chirasombutti viết năm 2008 đề cập đến những nỗ lực đầu tiên của chính phủ Nhật Bản trong việc truyền bá ngôn ngữ ra nước ngoài trong những năm 1960 Trong đó, nổi bật là chương trình phái cử giáo viên bản xứ đến 5 quốc gia và vùng lãnh thổ: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Hồng Kông vào năm 1966 Bên cạnh đó, tại các trường đại học cũng

tổ chức các lớp học tiếng Nhật đầu tiên với sự tham gia giảng dạy của các giáo viên người Nhật cũng chính là các chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á Tuy nhiên, giới hạn của bài viết chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu trong giai đoạn những năm

Đối với tình hình giáo dục tiếng Nhật tại Việt Nam, có các tài liệu như sau: Luận văn tiến sĩ “Chính sách giáo dục ngoại ngữ tại Việt Nam và triển vọng giáo dục tiếng Nhật” của Cao Lê Dung Chi vào năm 2017 đề cập đến tình hình giáo dục tiếng Nhật ở miền Nam Việt Nam (chương 3) cũng như một số đề xuất phát triển đào tạo giáo viên tại đây (chương 5) (「ベトナムの外国語教育政策と日本語教育の展望」)

Bài viết “Thực trạng giáo dục tiếng Nhật tại Việt Nam - hiện trạng và những

kỳ vọng trong tương lai” của Đoàn Thị Nga My vào năm 2018 nêu lên sơ lược khái quát về lịch sử giáo dục tiếng Nhật tại Việt Nam, xu hướng và các vấn đề cũng như những bước phát triển, kỳ vọng trong tương Tuy nhiên, tác giả lại không đi cụ thể vào công tác giảng dạy tại bậc đại học cũng như các vấn đề tác giả đề cập đến vẫn

Trang 21

Bài viết “Thiết kế lại mô hình hợp tác giữa các giáo viên dạy tiếng Nhật ở Thái Lan- Dựa trên khảo sát phỏng vấn với giáo viên người Nhật” của Nakayama Eiji trong năm 2016 xem xét mô hình hợp tác giảng dạy giữa giáo viên người Nhật

và người Thái dựa trên khảo sát, phỏng vấn kinh nghiệm của các giáo viên Nhật Bản Nghiên cứu này tuy chỉ giới hạn trong phạm vi một số trường đại học ở Thái Lan nhưng những đề xuất cũng như các ý kiến về tổ chức lớp học bài viết nêu lên

có thể ứng dụng trong các môi trường khác bên ngoài Thái Lan mà điển hình là ở

Đối với tình hình giáo dục tiếng Nhật tại Indonesia, có các tài liệu như sau:

Bài viết “Thực trạng và các vấn đề trong giáo dục tiếng Nhật đại học ở

Indonesia” của Wawan Danasasmita vào năm 2006 đề cập đến lịch sử giáo dục tiếng Nhật tại đại học ở Indonesia, một số nét tổng quan về số lượng người học, giáo viên, cơ sở đào tạo, mục đích học tập của học viên, các vấn đề tồn đọng chung cũng như đưa ra ví dụ cụ thể trong tại đại học Sư phạm Indonesia là nơi công tác của tác giả Các nội dung được tác giả trình bày khá cụ thể, mang đến một cái nhìn khái quát về vấn đề, tuy nhiên, do bài viết được thực hiện đã lâu nên các số liệu đã

Trang 22

21

語教育現状と問題」)

Bài viết “Tình hình giáo dục ngoại ngữ, tập trung vào tiếng Nhật ở

Indonesia” trong Hội thảo Quốc tế Triển vọng giáo dục tiếng Nhật tại Đông Nam Á

tổ chức tại đại học Thammasat, Thái Lan, tháng 10/ 2008 của Nandang Rahmat đề cập đến lịch sử giáo dục tiếng Nhật tại đất nước này qua các giai đoạn từ giai đoạn

bị chiếm đóng bởi quân đội Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ II (1942~1945) đến sau những năm 1970 Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên những nét khái quát về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại các trường cao đẳng, đại học cũng như sau đại học tại Indonesia (「インドネシアにおける日本語を中心とした外国語教育の」、『実情東南アジアにおける日本語教育の展望』)

Ngoài ra, trong các bài báo cáo dựa trên khảo sát giáo dục được thực hiện ba năm một lần của JF về tình hình giảng dạy chung của từng quốc gia, khu vực (海外日本語教育機関調査) đều nêu lên số lượng người học ở từng bậc học, số lượng giáo viên và số lượng cơ sở giáo dục của từng quốc gia nói riêng và toàn khu vực nói chung

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở khía cạnh phân tích tình hình của từng quốc gia mà chưa có một công trình nào thực hiện công tác tổng hợp và so sánh về tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại các trường cao đẳng, đại học của các quốc gia

6 Đóng góp của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa khoa học vừa có giá trị thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: luận văn góp phần làm sáng tỏ tình hình giảng dạy tiếng

Nhật tại các trường cao đẳng, đại học tại ba quốc gia Đông Nam Á có lượng người học ngôn ngữ này đông nhất hiện nay là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Ý nghĩa thực tiễn: luận văn hy vọng sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích

cho các bạn sinh viên ngành Nhật Bản học, Ngôn ngữ Nhật và những ai có quan

Trang 23

22

tâm tìm hiểu về công tác giảng dạy ngôn ngữ này tại các trường cao đẳng và đại học tại Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành ba chương

Chương 1: Tổng quan

Đây là chương nền tảng để phát triển những nội dung sẽ được người viết triển khai ở hai chương sau Nội dung nêu lên những tổng quan trong mối quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Nam Á trên một số lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh ở lĩnh vực văn hóa và giáo dục Ngoài ra, trong chương này, người viết cũng đề cập đến một số chính sách của chính phủ Nhật trong việc phát triển giáo dục ngôn ngữ ra thế giới

Chương 2: Tình hình giảng dạy tiếng Nhật ở một số quốc gia Đông Nam Á

Nội dung chương 2 đi vào trình bày cụ thể tình hình giảng dạy tiếng Nhật tại Thái Lan, Indonesia và Việt Nam dựa trên các yếu tố: số lượng các trường cao đẳng, đại học thực hiện giảng dạy tiếng Nhật, số lượng và chất lượng giáo viên, chương trình đào tạo và giáo trình đang được sử dụng, phương pháp giảng dạy và đánh giá cũng như những tồn đọng

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích yếu tố làm nền tảng dẫn đến tình hình giảng dạy tiếng Nhật là nhu cầu nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật cũng như đề cập đến lịch sử giảng dạy tiếng Nhật tại các quốc gia này

Chương 3: Một số nhận xét và triển vọng phát triển trong tương lai

Trong chương 3, chúng tôi thực hiện so sánh các yếu tố trong tình hình giảng dạy tiếng Nhật đã được đề cập ở chương 2 Ngoài ra, chương này còn đề cập đến những triển vọng, thách thức cũng như nêu lên một số phương pháp đề xuất nhằm cải thiện, giải quyết những khó khăn, thách thức trong công tác giáo dục tiếng Nhật tại đây

Trang 24

23

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về quan hệ Nhật Bản - Đông Nam Á

Nhật Bản (Tiếng Anh: Japan Tiếng Nhật: 日本, đọc là Nippon hay Nihon)

có nghĩa là “dòng dõi mặt trời”, vì người Nhật tin rằng đất nước của họ chính là nơi đón ánh sáng mặt trời đầu tiên trong ngày

Trong các quốc gia thuộc khối Đông Bắc Á chỉ duy nhất Nhật Bản là một đảo quốc hình cánh cung khủng lồ, nằm ở vùng biển xa xôi phía Đông của lục địa châu Á Bao gồm khoảng bốn ngàn hòn đảo lớn nhỏ khác nhau và bốn đảo chính là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushuu Bởi vì đặc điểm địa lý tách biệt đã tạo nên ở Nhật Bản một nền văn hóa cũng như ngôn ngữ vô cùng đặc biệt với nhiều đặc tính riêng

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khi các quốc gia châu Á đứng trước làn sóng dữ dội và mạnh mẽ của nền văn minh phương Tây thì Nhật Bản với công cuộc Minh Trị Duy Tân đã có một bước chuyển mình vô cùng to lớn từ một quốc gia phong kiến thành cường quốc duy nhất ngoài Âu- Mỹ

Tuy nhiên, sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc vào năm 1945, kinh tế Nhật Bản gần như kiệt quệ Vậy nhưng, chỉ trong vòng bốn mươi năm, vào năm

1986, nước này đã vượt qua Mỹ, trở thành quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới

Vào những năm 1980, các công ty Nhật Bản bắt đầu đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Họ xây dựng nhiều nhà máy và xuất khẩu hàng hóa đi khắp thế giới và Đông Nam Á là một trong những điểm đến quan trọng của họ

Đông Nam Á (Tiếng Anh: Southeast Asia) là một khu vực nằm ở phía Nam châu Á, tiếp giáp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Có thể nói, đây là khu vực cầu nối giữa lục địa Á-Âu với lục địa Úc Đông Nam Á gồm 11 quốc gia là Việt Nam, Lào, Campuchia, Singapore, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Indonesia,

Trang 25

Đông-24

Philippines, Brunei, Đông timo Khu vực bao gồm hệ thống nhiều bán đảo, đảo, quần đảo xen giữa biển rất phức tạp Nơi đây có vị trí quan trọng, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa lớn, nơi các cường quốc cạnh tranh ảnh hưởng

Ðông Nam Á là một khu vực có những nét riêng và chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử thế giới Khu vực này vốn được coi là hành lang, cầu nối giữa phương Ðông và phương Tây Nơi đây có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng; án ngữ con đường yết hầu thế giới từ Tây sang Ðông và là một trong những khu vực quan trọng nhất cho tương lai của các mối quan hệ giữa các nước lớn

Hiện nay, trong 20 năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Nhật Bản ngày càng mong muốn gia tăng vai trò của mình ở khu vực Đông Nam Á, để tạo thế đối trọng với Trung Quốc Có thể nói Nhật Bản (và cả Trung Quốc) đều đang tìm kiếm một vai trò to lớn hơn ở Đông Nam Á, nơi đang có sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Nhật hiện vẫn đứng đầu trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở Đông Nam Á1

Các dự án được Nhật Bản hỗ trợ tại sáu nền kinh tế lớn nhất trong khu vực - Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam - được định giá

367 tỷ USD Con số này cao hơn 255 tỷ USD của Trung Quốc cho dù chính phủ nước này hiện không ngừng rót vốn cho những danh mục thuộc Chiến lược “Vành đai, Con đường” (Tiếng Trung: 一带一路Nhất đới nhất lộ)

Nhìn chung sự hợp tác giữa Nhật Bản và khu vực này chủ yếu vẫn dựa trên các hợp tác về kinh tế, đặc biệt thông qua các dự án ODA So với các nước tài trợ khác, ODA của Nhật Bản nhấn mạnh về kinh tế và các hỗ trợ nhân đạo

Bên cạnh Hoa Kỳ tuyên bố rõ ràng rằng ODA của mình là vì lợi ích quốc gia, được sử dụng như một công cụ chính trị hay Pháp với chủ trương thúc đẩy văn hóa và nền kinh tế của các khu vực thuộc địa cũ ODA Nhật Bản khuyến khích sự

tự giúp đỡ của các nước tiếp nhận nhưng được sử dụng như một công cụ ngoại giao

1 Theo tạp chí South China Morning Post Bài đăng ngày 23/06/2019

https://www.scmp.com/news/asia/southeast-asia/article/3015732/japan-still-leads-southeast-asia-infrastructure-race-even

Trang 26

Ông đã từng phát biểu vào năm 1952 như sau: “Nhằm thúc đẩy thương mại,

chính phủ sẽ thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế, tức là ký kết các hiệp định thương mại, mở rộng và phát triển các cơ hội thương mại thông qua số lượng tàu thương mại ra nước ngoài, củng cố các ngành công nghiệp xuất khẩu và tận dụng

dự trữ ngoại tệ Làm như vậy, chúng ta sẽ đặc biệt phát triển mối quan hệ kinh tế với các quốc gia Đông Nam Á” [Trần Quang Minh, 2007:52]

Từ đó chúng ta có thể thấy quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Đông Nam

Á ban đầu nằm trọng tâm ở việc viện trợ kinh tế, hay nói cách khác là Nhật Bản sử dụng “ngoại giao kinh tế” để tạo nền móng quan hệ ban đầu với các nước trong khu vực này

Năm 1997, Thủ tướng Nhật Bản Fukuda Takeo (Tiếng Nhật: 福田赳夫) công bố “Học thuyết Fukuda” về quan hệ với các nước Đông Nam Á tại Hội nghị Thượng đỉnh Hiệp hội các nước Đông Nam Á (dưới đây gọi tắt là ASEAN) lần thứ hai Có thể nói, cho đến ngày nay, học thuyết này vẫn đang đóng vai trò cốt lõi trong đường lối ngoại giao của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á

Năm 1977, Thủ tướng Fukuda tham gia Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần hai và đã xây dựng nên những nền tảng đầu tiên của quan điểm: Nhật Bản là cầu nối giữa ASEAN và thế giới Chuyến thăm của Thủ tướng Fukuda Takeo đã đánh dấu một kỷ nguyên mới trong quan hệ song phương

Trang 27

26

Sau đó, chuyến thăm của người kế nhiệm của ông, thủ tướng Nakasone Yasuhiro (Tiếng Nhật: 中曾根康弘), vào năm 1983 đã làm sâu sắc thêm mối quan hệ này

Từ năm 1997, Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto Ryutaro (Tiếng Nhật: 橋本 龍太郎) đã đề xuất mở rộng và làm sâu sắc thêm đối thoại ở các lĩnh vực và các cấp giữa ASEAN và Nhật Bản

Nhằm nâng cao vai trò, vị thế của mình ở Biển Đông, Nhật Bản từng bước gia tăng sự hiện diện ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương; điều chỉnh hàng loạt chính sách đối với các nước ASEAN ở bốn khía cạnh chủ chốt:

“Một là, nâng cấp vấn đề cứu trợ nhân đạo và giảm nhẹ thiên tai (HA/DR) trong chiến lược đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Hai là, điều chỉnh, sửa đổi chính sách viện trợ phát triển chính thức (ODA) Trước đây, theo điều lệ sử dụng ODA, ODA của Nhật Bản chủ yếu phục vụ các mục đích dân sự, như phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng

Những năm gần đây, do yêu cầu cấp bách khi tình hình thay đổi, Nhật Bản

đã tiến hành sửa đổi điều lệ sử dụng ODA theo hướng sử dụng ODA để đóng góp cho hòa bình, ổn định của cộng đồng quốc tế và phục vụ lợi ích của Nhật Bản với

ba trụ cột:

1- Tạo ra một môi trường quốc tế thuận lợi

2- Hỗ trợ các nước đang phát triển trong khu vực phát triển cùng Nhật Bản 3- Thúc đẩy an ninh con người và tăng cường lòng tin vào Nhật Bản

Ba là, sửa đổi chính sách kiểm soát xuất khẩu theo hướng mở rộng diện xuất khẩu, tạo thuận lợi hơn cho việc chuyển giao nhiều loại công nghệ, nhất là công nghệ lưỡng dụng, các trang thiết bị cứu hộ cứu nạn, bảo vệ bờ biển, cho các nước ASEAN

Trang 28

27

Bốn là, tăng cường giúp ASEAN xây dựng năng lực an ninh biển”2

Hội nghị cấp cao ASEAN - Nhật Bản tổ chức không định kỳ trước đây chuyển thành hội nghị thường niên Trong đó, Việt Nam chúng ta đã trở thành quốc gia điều phối quan hệ đối thoại ASEAN-Nhật Bản từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2021 Đây chính là minh chứng cho mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp giữa Nhật Bản và khu vực

Trên lĩnh vực hợp tác chính trị, an ninh trong những năm gần đây, cả Nhật Bản và ASEAN đều nhận thức được đây là mối quan trọng ưu tiên trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc

Trên bình diện kinh tế, nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức của chính phủ Nhật Bản (ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật vào các nước thành viên ASEAN đã lên đến hàng trăm tỉ USD và góp phần hình thành các nền kinh tế hướng đến xuất khẩu Nhật Bản là một quốc gia công nghiệp với thế mạnh về sản xuất, chế tạo với trình độ kĩ thuật cao

Theo số liệu của Bộ Ngoại giao Nhật Bản (Tiếng Anh: Ministry of Foreign

Affairs of Japan – dưới đây gọi tắt là MOFA Tiếng Nhật: 外務所), ODA của nước này vào Đông Nam Á luôn cao hơn các khu vực khác

Dựa vào các số liệu của Bộ Ngoại giao Nhật Bản3, chúng tôi đã tổng hợp thành biểu đồ dưới đây, thể hiện xu hướng đầu tư ODA của Nhật Bản vào các nước: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Campuchia, Lào, Malaysia và Đông Timor (tổng cộng 9 nước) Trong đó, Việt Nam được xem là một trong những nước nhận số vốn ODA lớn của Nhật Bản

2 Tạp chí Mặt Trận, Cơ quan của của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Bài đăng ngày 30/10/2017

http://tapchimattran.vn/the-gioi/nhat-ban-dieu-chinh-chinh-sach-doi-voi-dong-nam-a-10319.html

3 Số liệu tham khảo từ trang chủ của Bộ Ngoại giao Nhật Bản Ngày truy cập: 20/5/2020)

https://www.mofa.go.jp/policy/oda/data/index.html

Trang 29

Nguồn: MOFA Tác giả dịch và biên tập

Rất nhiều tập đoàn đa quốc gia Nhật đã lập cơ sở sản xuất và đầu tư lớn vào khu vực FDI của Nhật không chỉ tạo ra công ăn việc làm cho các quốc gia khu vực

mà còn là hoạt động chuyển giao công nghệ Mối quan tâm của nước này đến ASEAN được thể hiện bằng con số 14 tỷ USD vốn FDI của Nhật Bản trong năm

2018 dành cho 6 nền kinh tế lớn nhất ASEAN là Singapore, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Indonesia và Philippines 4

Với hơn 665 triệu người và phần lớn đang nằm trong độ tuổi lao động, Đông Nam Á cung cấp lực lượng lao động vô cùng dồi dào và là một thị trường tiềm năng Nơi đây là một trong những giải pháp cho vấn đề thiếu hụt lao động bởi sự già đi của dân số và tỷ lệ sinh thấp của Nhật Bản

4 Số liệu từ trang chủ của Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (Japan External Trade Organization -

JETRO) Ngày truy cập: 20/5/2020

https://www.jetro.go.jp/ext_images/en/reports/white_paper/trade_invest_2019_overview.pdf

Đơn vị: triệu USD

Trang 30

29

Chính phủ Nhật vào tháng 09/2018 đã công bố kế hoạch thu hút 500.000 lao động nước ngoài đến Nhật Bản vào năm 2025, chủ yếu đến từ Đông Nam Á, để lấp đầy tình trạng thiếu lao động kinh niên trong canh tác, xây dựng, nhà ở và chăm sóc người cao tuổi Thành công trong tương lai của chính sách kinh tế do thủ tướng Abe

Shinzo chủ trương (Tiếng Anh: Abenomics Tiếng Nhật: アベノミクス), dựa trên chính sách nhập cư nhanh chóng mà nếu không có nó, Nhật Bản sẽ ngày càng thiếu hụt lao động trầm trọng Điều này sẽ cản trở không nhỏ đến chính sách kinh tế bền vững của quốc gia này

Có thể nói, Nhật Bản- Đông Nam Á có quan hệ cộng sinh mật thiết Khu vực Đông Nam Á có những tuyến giao thông vận chuyển hàng hóa và nguồn lao động Nhật Bản, với vị trí là nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới (sau Mỹ và Trung Quốc),

có khoa học kỹ thuật phát triển và nguồn vốn dồi dào

Quan hệ giữa Nhật Bản và Đông Nam Á càng gắn bó mật thiết, tình cảm nhân dân giữa hai khu vực càng trở nên gần gũi hơn

Tại Việt Nam, trong năm 2019, số lượng du khách Nhật Bản đã tăng 117% so với cùng kỳ năm 2018, đạt hơn 700.000 du khách5

Trong cuộc khảo sát của Văn phòng Nội Các Nhật Bản về mức độ thiện cảm

và cảm giác gần gũi (Tiếng Nhật: 親近感) mà họ dành cho các nước Đông Nam Á 6,

có 61,6% số người được hỏi nói rằng họ “cảm thấy gần gũi” (trong đó, “rất gần gũi” chiếm 16,2% và “hơi gần gũi” chiếm 45,3%)

So với kết quả khảo sát trước đó vào tháng 10 năm 2017, tỷ lệ những người cảm thấy “cảm thấy gần gũi” đã tăng từ 56,2% lên 61,6% cũng như tỷ lệ trả lời

“không cảm thấy gần gũi” giảm từ 36,9% xuống còn 31,5% Điều đó cho thấy người dân Nhật Bản ngày càng xích lại với các nước Đông Nam Á hơn

5 Theo số liệu từ trang chủ Bộ Văn Hóa và Du Lịch, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam

Bài đăng ngày: 30/9/2019

http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/30149

6 Theo số liệu từ trang chủ Văn phòng Nội các Nhật Bản Ngày truy cập: 1/6/2020

https://survey.gov-online.go.jp/r01/r01-gaiko/index.html

Trang 31

30

Theo chúng tôi, có 4 nguyên nhân chính khiến Nhật ngày càng tăng cường hợp tác đối với khu vực Đông Nam Á

Thứ nhất, sự gần gũi về mặt địa lý giữa Nhật Bản và Đông Nam Á khiến cho

việc giao lưu trao đổi kinh tế, văn hóa song phương trở nên thuận lợi

Thứ hai, bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc ngày càng phát triển nhanh và

mạnh về cả kinh tế, quân sự, quốc phòng khiến Nhật Bản càng cân nhắc về các chính sách đối ngoại của mình, lấy Đông Nam Á làm trung tâm nhằm tạo thế cân bằng với Trung Quốc

Thứ ba, do sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này đã khiến Nhật

muốn tăng cường ảnh hưởng của mình thông qua các chính sách hợp tác khu vực và hợp tác song phương

Thứ tư, Đông Nam Á với các quốc gia với nền kinh tế mới nổi, phát triển

nhanh chóng Theo thống kê của Liên Hợp Quốc vào tháng 1/2020, khu vực này có hơn 665 triệu người Đây rõ ràng là một thị trường với nhiều tiềm năng, hấp dẫn với các doanh nghiệp Nhật Bản

1.2 Những hợp tác về văn hóa, giáo dục giữa Nhật Bản và Đông Nam Á

Bước vào thế kỷ XXI, các mối quan hệ quốc tế có nhiều biến đổi, giao lưu hợp tác về văn hóa, giáo dục đã trở thành yếu tố quan trọng để các quốc gia có sự hiểu biết, chia sẻ lẫn nhau về các giá trị tinh thần

Chính phủ Nhật Bản đã chọn con đường “ngoại giao văn hóa” là chủ đạo trong việc nâng cao vai trò đất nước trên vũ đài thế giới Người đặt nền móng cho khái niệm “ngoại giao văn hóa” là Fukuda Takeo (Tiếng Nhật:福田赳夫) khi ông lần đầu đề cập đến nó vào tháng 2/1971 trong chuyến thăm ngoại giao 7 nước châu

Âu cùng thiên hoàng Showa (Tiếng Nhật: 昭和天皇)

Sử dụng văn hóa làm ngoại giao hay còn gọi là “ngoại giao văn hóa” Đối với Nhật Bản lúc này, đây có thể xem như là công cụ để chuyển đổi những định kiến không hay của thế giới về một nước Nhật sau chiến tranh, nhằm tăng cường sự

Trang 32

31

hiểu biết và hợp tác của các quốc gia khác trên thế giới Hay nói một cách khác, đây được xem là công cụ đắc lực để nâng cao “quyền lực mềm” (soft power) của nước này Có thể nói “ngoại giao văn hóa” có vai trò to lớn trên nhiều mặt tại thời điểm

đó và là một bước đi khôn ngoan của chính quyền Nhật Bản

Trên thực tế, sau nhiệm kỳ của thủ tướng Fukuda Takeo (Tên tiếng Nhật: 福田赳夫), đã có rất nhiều chương trình trao đổi văn hóa, giáo dục giữa Nhật Bản và các nước Đông Nam Á được thực hiện

Dưới đây là một số hoạt động giao lưu văn hóa, giáo dục giữa Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á nổi bật từ năm 1974 đến nay do chúng tôi tổng hợp:

Năm 1974: Chương trình Tàu Thanh niên Đông Nam Á (Tiếng Anh : The

Ship for Southeast Asian Youth Program, viết tắt : SSEAYP) được thực hiện với

mục đích tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa thanh niên các nước Nhật Bản và Đông Nam Á trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa chính phủ Nhật Bản với Chính phủ 05 nước Đông Nam Á vào thời điểm đó gồm : Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan

Việt Nam đã cử đại diện đại biểu thanh niên tham gia Chương trình với tư cách là quan sát viên vào năm 1995 Từ năm 2000, Chương trình Tàu Thanh niên Đông Nam Á đã có sự tham gia đầy đủ của 11 nước gồm Nhật Bản và 10 nước ASEAN

Năm 1978: Quỹ Văn hóa ASEAN (Tiếng Anh: ASEAN Cultural Fund) được

thành lập do Thủ tướng Fukuda Takeo (Tiếng Nhật: 福田赳夫) cam kết hỗ trợ thực hiện nhằm mục đích hợp tác phát triển văn hóa các quốc gia nội khối Quỹ có số tiền ban đầu được Nhật Bản tài trợ là 25 triệu USD

Năm 1979: Công bố chương trình mời thanh niên Đông Nam Á nhằm thúc

đẩy sự hiểu biết tốt hơn về Nhật Bản trong số các nhà lãnh đạo thanh niên xuất sắc của các nước ASEAN thông qua các chuyến thăm Nhật Bản

Trang 33

32

Năm 1980: Thực hiện theo đề xuất của cố Thủ tướng Ohira Masayoshi

(Tiếng Nhật: 大平正芳), khi ông đến Manila năm 1979, Nhật Bản đã giải ngân 1 triệu đô la Mỹ mỗi năm kể từ năm 1980 đến 1989 cho Quỹ học bổng dành cho

thanh niên các nước ASEAN (Tiếng Anh: Japan Scholarship for ASEAN Youth)

Mỗi quốc gia (trừ Brunei) nhận 0,2 triệu đô la Mỹ, và mỗi năm trao học bổng cho

150 người

Năm 1981: Dự án phát triển nguồn nhân lực, được thành lập bởi Thủ tướng

Suzuki Zenko (Tiếng Nhật: 鈴木善幸)

Năm 1981: Tổ chức hợp tác nghiên cứu Nhật Bản-ASEAN nhằm thúc đẩy

nghiên cứu khu vực nội địa châu Âu và trao đổi học thuật ASEAN-Nhật Bản

Năm 1983: Chương trình hữu nghị ASEAN-Nhật Bản cho thế kỷ 21 dành

cho các sinh viên Đông Nam Á đến Nhật Bản với các đối tác Nhật Bản, được thành lập năm 1983 bởi Thủ tướng Nakasone Yasuhiro (Tiếng Nhật: 中曽根康弘)

Năm 1987: Chương trình trao đổi toàn diện Nhật Bản-ASEAN (Tiếng Anh:

The Japan-ASEAN Comprehensive Exchange Program) được Thủ tướng Takeshita

Noboru (Tiếng Nhật: 竹下登) công bố vào tháng 12 sau chuyến thăm của ông, dựa

trên ý tưởng được “Sứ mệnh văn hóa Đông Nam Á” (Tiếng Anh: Southeast Asia

Cultural Mission)

Năm 1989: Thủ tướng Takeshita Noboru (Tiếng Nhật: 竹下登) tuyên bố

cung cấp thêm 10 triệu đô la Mỹ cho quỹ học bổng thanh niên ASEAN từ năm 1991 đến 1995

Năm 1997: Phái đoàn Sứ mệnh văn hóa đa phương Nhật Bản – ASEAN

(Tiếng Anh: Japan-ASEAN Multilateral Cultural Mission), do Thủ tướng

Hashimoto Ryutaro (Tiếng Nhật: 桥本龙太郎) đề xuất và thành lập vào tháng

01/1997

Trang 34

33

Năm 1999: Kế hoạch tăng cường phát triển nguồn nhân lực và tài nguyên ở

Đông Á (Tiếng Anh: Plan for Enhancing Human Resources Development and

Human Resources Exchanges in East Asia), do Thủ tướng Keizo Obuchi (Tiếng

Nhật:惠三小渊) đề xuất và thực hiện

Năm 2007-2012: Chương trình JENESYS (viết tắt của Japan-East Asia

Network of Exchange for Students and Youths, tạm dịch: Mạng lưới trao đổi sinh viên và thanh niên Nhật Bản - Đông Á) được thực hiện từ quan điểm cung cấp nền

tảng vững chắc cho sự đoàn kết mạnh mẽ ở châu Á thông qua trao đổi thanh niên quy mô lớn

Năm 2013-2015: Thủ tướng Abe Shinzo (Tiếng Nhật: 安倍晋三), trong

chuyến thăm Indonesia vào tháng 01/2013, đã tuyên bố thực hiện một dự án trao đổi thanh niên mới giữa Nhật Bản và các quốc gia thành viên ASEAN và một số quốc gia khác, với tên gọi là JENESYS 2.0 Khoảng 30.000 thanh niên từ khu vực châu

Á Thái Bình Dương sẽ có cơ hội tham gia các chương trình liên quan

Có thể nói nhờ sự phát triển về mối quan hệ văn hóa, giáo dục đã thúc đẩy Nhật Bản và Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn, là điều kiện thú đẩy phát triển quan hệ toàn diện song phương

1.3 Vai trò thiết yếu của việc giảng dạy tiếng Nhật tại Đông Nam Á

Theo từ điển Bách khoa Toàn thư Thế giới quyển II7 (Tiếng Nhật: 世界大百科辞典), khái niệm “Giáo dục tiếng Nhật” hay “Giảng dạy tiếng Nhật” (Tiếng Nhật: 日本語教育) có nghĩa là “Giáo dục (giảng dạy) tiếng Nhật cho người nước ngoài” (Nguyên văn tiếng Nhật: 外国人に対する日本語の教育) nhằm phân biệt với khái niệm “Giáo dục Quốc ngữ” (Tiếng Nhật:国語教育) tức giáo dục tiếng Nhật cho người Nhật

7 Nhà xuất bản Heibonsha (Tiếng Nhật: 株式会社平凡社), tái bản năm 2007

Trang 35

34

Khái niệm “Giảng dạy tiếng Nhật” được chúng tôi đề cập đến trong luận văn chính là việc “giáo dục tiếng Nhật như một ngoại ngữ” (Tiếng Nhật: 外国語としての日本語の教育) hay “giáo dục tiếng Nhật là ngôn ngữ thứ hai” (第二言語教育としての日本語教育) mà đối tượng người học là những sinh viên thuộc các trường cao đẳng, đại học tại các quốc gia Đông Nam Á

Chính phủ Nhật Bản từ lâu đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc phát triển công tác giáo dục tiếng Nhật ra nước ngoài, đặc biệt là các quốc gia lân cận, nhằm biến tiếng Nhật trở thành một trong những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cũng như nâng cao vị thế của Nhật Bản

Có thể nói, Nhật Bản đã chọn Đông Nam Á là một trong những điểm đến đầu tiên và quan trọng trong việc phát triển giáo dục tiếng Nhật ra nước ngoài

Nguyên nhân chính khi lựa chọn Đông Nam Á mà không phải nơi nào khác nằm ở vị trí địa lý gần gũi Bên cạnh đó, các nước láng giềng của Nhật như Hàn Quốc, Trung Quốc hay Đài Loan giai đoạn này vẫn còn chưa quên đi chiến tranh và các phong trào chống Nhật vẫn còn diễn ra rải rác

Năm 1963, chính phủ Nhật Bản bắt đầu cử giáo viên đến giảng dạy ở Đại học Quốc gia Padjadjaran, Indonesia Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước dạo đầu để tiến tới việc thực hiện các gói tài trợ giáo dục được Nhật Bản thực hiện tại Thái Lan vào hai năm sau đó (năm 1965) ở 2 trường đại học lớn là Thammasat và Chulalongkorn Các gói tài trợ này bao gồm việc cử các giáo viên giảng dạy tiếng, thực hiện các hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Nhật đến nước sở tại cũng như cung cấp các tài liệu, giáo trình hoàn toàn miễn phí

Năm 1966, một loạt các giáo viên có trình độ chuyên môn làm công tác giảng dạy tiếng Nhật đến 5 nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Hồng Kông Các gói tài trợ nhìn chung thường được thực hiện tại các trường đại học - nơi được xem là trọng tâm trong công tác giáo dục tiếng Nhật

Trang 36

35

Giảng dạy tiếng Nhật ở nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc hiểu sâu hơn về Nhật Bản, nuôi dưỡng, tạo cơ sở cho tình hữu nghị, đặc biệt là đối với các quốc gia mà Nhật chú trọng phát triển quan hệ ngoại giao như khu vực Đông Nam Á

Trong bối cảnh tỷ lệ sinh đẻ giảm mạnh, số người già ngày càng tăng ở Nhật Bản khiến nước này đang đối mặt tình trạng thiếu hụt lao động Để có đủ lực lượng lao động, Nhật Bản đã thực hiện một số biện pháp trong đó có việc cho phép nhiều người nhập cư làm việc, cũng như ban hành nhiều chính sách bảo vệ quyền lợi cho những lao động này Đây có thể xem là một trong những nguyên nhân “điểm thu hút” khiến người học tiếng Nhật không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các quốc gia Đông Nam Á tăng lên trong năm gần đây

Những người nước ngoài có thể sử dụng tiếng Nhật có vai trò như cầu nối giữa Nhật Bản và thế giới Ngoài ra, có hai nhân tố khác khiến chính phủ nước này đầu tư nhiều hơn cho giáo dục tiếng Nhật

Thứ nhất, nước này thiếu nhân lực Để bù đắp cho số dân đang ngày một già

đi và đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà máy, Nhật sẽ phải nhập khẩu một lượng lớn nhân lực nước ngoài

Có thể nói rằng không có cách nào thu hút những người nước ngoài có tay nghề tốt hơn tuyên truyền các giá trị Nhật Nguồn lao động từ nước ngoài thực ra cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro về bất đồng văn hóa gây nên những sự việc ngoài ý muốn mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc không thông hiểu ngôn ngữ

Thứ hai, các doanh nghiệp Nhật cần không gian phát triển để duy trì tăng

trưởng Do đó, họ phải mở rộng hoạt động ra nước ngoài mà nguồn nhân lực thông hiểu tiếng Nhật chính là điều cần thiết hơn bao giờ hết

Các doanh nghiệp Nhật Bản đã và đang làm rất tốt công tác giới thiệu, mang văn hóa, con người Nhật đến gần với Đông Nam Họ vừa có những điều kiện thực hiện tốt các chương trình trao đổi, hợp tác văn hoá do sự dồi dào với nguồn vốn, có

Trang 37

Với tình hình dân số già và khan hiếm nguồn nhân lực, Nhật Bản ngày càng chú ý đến việc tuyển dụng nguồn lao động từ các quốc gia Đông Nam Á đến Nhật Bản Từ đó, dẫn đến tiếng Nhật trở nên hấp dẫn hơn với người học

Biểu đồ dưới đây thể hiện 10 quốc gia, vùng lãnh thổ có số lượng người học tiếng Nhật đông nhất thế giới trong năm 2018 Trong đó, có bốn quốc gia Đông Nam thuộc top 10 nước là Indonesia, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar

Biểu đồ 2

10 quốc gia có số lượng người học tiếng Nhật đông nhất (2018)

Nguồn: JF Tác giả dịch và biên tập

Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng đang ngày càng hướng đến đầu tư ở Đông Nam Á, nơi thu nhập và tiêu dùng có thể sẽ tiếp tục tăng trong nhiều năm Trước đây, các nhà đầu tư Nhật Bản hướng đến khu vực này để tìm kiếm lao động giá rẻ,

Trang 38

Thúc đẩy học tập ngôn ngữ sẽ giúp quan hệ song phương vượt qua những rào cản về văn hóa- điều này cũng được thể hiện rõ trong cơ chế hợp tác, trao đổi văn hóa với ASEAN do chính phủ Nhật Bản đề ra

Đến nay, hầu như ở các nước Đông Nam Á đều tiến hành giảng dạy tiếng Nhật trong chương trình cấp trung học phổ thông quốc gia bên cạnh hai ngôn ngữ phổ biến nhất trên thế giới là tiếng Anh và tiếng Trung Các trung tâm nghiên cứu

về Nhật Bản và ngành Nhật Bản học ở các trường đại học cũng tăng nhanh về số lượng Tuy nhiên, vai trò của các trường cao đẳng, đại học trong công tác giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực sử dụng tiếng Nhật là rất lớn Đây chính nơi trực tiếp đào tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao, đóng góp cho sự phát triển của xã hội

1.4 Chính sách phát triển giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài của chính phủ Nhật Bản và một số chuẩn đánh giá năng lực ngoại ngữ

1.4.1 Chính sách phát triển giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài của chính phủ Nhật Bản

Chính phủ Nhật Bản xác định: “Giáo dục tiếng Nhật ở nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc hiểu sâu hơn về Nhật Bản ở nước ngoài, thúc đẩy các

cá nhân tham gia trao đổi với Nhật Bản và tạo cơ sở cho tình hữu nghị với các nước khác Hiện tại, hơn 3,66 triệu người ở 137 quốc gia và khu vực học tiếng Nhật (số liệu của JF vào năm 2015) Không chỉ gói gọn trong các trường hợp học tiếng Nhật với mục đích thiết thực như du học hoặc tìm việc làm nữa Nhiều người học tiếng

Trang 39

38

Nhật hơn vì quan tâm đến văn hóa đại chúng của Nhật Bản như anime và manga, hoặc do mong muốn hiểu một nền văn hóa khác”8

Năm 2007, JF xây dựng "Mạng lưới JF Nihongo" (còn được gọi là "Mạng

lưới Sakura") với sự hợp tác của các tổ chức giáo dục, trường đại học trên toàn thế

giới JF kỳ vọng các thành viên của "Mạng lưới Sakura" sẽ đóng một vai trò quan

trọng trong việc nâng cao giáo dục tiếng Nhật ở khu vực hoặc quốc gia của họ bằng cách sử dụng các chương trình khác nhau do JF cung cấp9

Mạng lưới Sakura có khoảng 292 thành viên trên toàn thế giới (tính đến tháng 5 năm 2019) Hiện nay, Khoa Nhật Bản Học của trường Đại học Khoa học,

Xã hội và Nhân văn Tp HCM cũng là một thành viên của mạng lưới này

Một trong những hoạt động nổi bật của “Mạng Sakura” có thể kể đến như

các khóa học, chương trình đào tạo tại Nhật Bản dành cho giáo viên dạy tiếng Nhật Nội dung các chương trình này thường chú trọng vào việc phát triển năng lực tiếng Nhật của giáo viên, các kiến thức về xã hội và văn hóa Nhật Bản cũng tìm hiểu về các tài liệu giảng dạy và các hoạt động trong lớp học hữu ích cho các giáo viên10

Ngoài ra, các công dân Nhật Bản có thể tham gia chương trình Cộng sự tiếng

Nhật (Tiếng Anh: Nihongo Partners) do JF thực hiện Họ sẽ được gửi đến các tổ

chức giáo dục như trường trung học địa phương chủ yếu ở Đông Nam Á để hỗ trợ

8 Theo trang chủ Bộ Ngoại giao Nhật Bản (MOFA) Ngày truy cập: 9/10/2020

https://www.mofa.go.jp/policy/culture/exchange/j_language/index.html

Nguyên văn tiếng Anh: Japanese language education overseas plays an important role in deepening the understanding of Japan overseas, cultivating individuals engaged in exchange with Japan and creating bases for friendship with other countries Presently, more than 3.66 million people in 137 countries and regions study Japanese (figures gathered by the Japan Foundation for 2015) It is no longer the case that students study Japanese only for practical purposes such as for a study abroad or to find employment More students learn Japanese, because of an interest in Japanese pop-culture, such as anime and manga, or due to a desire to understand a different culture

9 Theo Trang chủ của Japan Foundation

Trang 40

Biểu đồ 3

5 quốc gia Đông Nam Á có số lượng cộng sự tiếng Nhật đông nhất (2020)

Nguồn: https://jfac.jp/en/partners/ Tác giả dịch và biên tập

Ý thức việc giới thiệu, mở rộng văn hóa truyền thống và hiện đại ra nước ngoài cần có phương tiện hỗ trợ là “ngôn ngữ”, chính phủ Nhật đã hỗ trợ rất nhiều các hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đặc biệt ở mảng giáo dục cao đẳng, đại học, nâng cao chất lượng giáo dục, hỗ trợ giáo viên dạy tiếng Nhật trong các

11 Theo Trang chủ của Chương trình Cộng sự Tiếng Nhật

(Tiếng Anh: NIHONGO Partners Program Tiếng Nhật: 日本語パートナーズ)

Ngày truy cập: 2/6/2020

https://jfac.jp/en/partners/

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Cao Lê Dung Chi (2017), Dạy và học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, tập 14, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tiếng Nhật trong thời đại toàn cầu, Tạp chí Khoa học
Tác giả: Cao Lê Dung Chi
Năm: 2017
2) Dương Lan Hải (1992), Quan hệ Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh Thế giới thứ hai 1945 – 1975, Viện Châu Á - Thái Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh Thế giới thứ hai 1945 – 1975
Tác giả: Dương Lan Hải
Năm: 1992
3) Dương Phú Hiệp (2009), Vài nét về chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số tháng 07/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Năm: 2009
4) Hoàng Thị Minh Hoa (2014), Chiến lược nâng cao vai trò chính trị của Nhật Bản hai thập niên sau Chiến tranh lạnh và tác động đến quan hệ Nhật Bản – Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng”, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược nâng cao vai trò chính trị của Nhật Bản hai thập niên sau Chiến tranh lạnh và tác động đến quan hệ Nhật Bản – Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
5) Hồ Thị Lệ Thủy (2014), Hợp tác nguồn nhân lực giữa Việt Nam và Nhật Bản – Trường hợp Trung tâm Hợp tác Nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC), Đào tạo Nguồn Nhân lực ở Nhật Bản - Bài học cho Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác nguồn nhân lực giữa Việt Nam và Nhật Bản – Trường hợp Trung tâm Hợp tác Nguồn nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC)
Tác giả: Hồ Thị Lệ Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2014
6) Ngô Minh Thủy (chủ biên) (2014), Thực trạng giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy (nhìn từ góc độ triết học ngôn ngữ của nhóm Bakhtin), Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giảng dạy tiếng Nhật ở Việt Nam và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy (nhìn từ góc độ triết học ngôn ngữ của nhóm Bakhtin)
Tác giả: Ngô Minh Thủy (chủ biên)
Năm: 2014
7) Nguyễn Tiến Lực (2010), Khảo sát việc giảng dạy văn hóa trong giờ đọc hiểu – Tại Khoa Đông Phương Học Trường ĐH KHXH & NV TP. Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Hội An, Kỷ niệm 10 năm di sản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc giảng dạy văn hóa trong giờ đọc hiểu – Tại Khoa Đông Phương Học Trường ĐH KHXH & NV TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Năm: 2010
8) Nguyễn Tiến Lực (2013), Chính sách liên kết giữa Đại học và Doanh nghiệp ở Nhật Bản – Bài học cho Việt Nam, Đào tạo Nguồn Nhân lực ở Nhật Bản - Bài học cho Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách liên kết giữa Đại học và Doanh nghiệp ở Nhật Bản – Bài học cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2013
9) Nguyễn Tiến Lực (2014), Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản: hiện tại và tương lai, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng”, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản: hiện tại và tương lai", Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
10) Nguyễn Tiến Lực (2018), Làm sâu sắc hơn quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng” Việt Nam- Nhật Bản, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản, Đồng bằng Sông Cửu Long- Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm sâu sắc hơn quan hệ “Đối tác chiến lược sâu rộng” Việt Nam- Nhật Bản", Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản, Đồng bằng Sông Cửu Long- Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Năm: 2018
11) Nguyễn Thị Bích Hà (2006), Giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam, in trong “Quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản và 100 năm phong trào Đông Du, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam, in trong “Quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản và 100 năm phong trào Đông Du
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
12) Nguyễn Thị Đăng Thu (2013), Đặc trưng từ vựng tiếng Nhật, nhìn từ thực trạng giảng dạy môn từ vựng học khoa Tiếng Nhật, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ số 37 tháng 12/ 2013, ĐH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng từ vựng tiếng Nhật, nhìn từ thực trạng giảng dạy môn từ vựng học khoa Tiếng Nhật
Tác giả: Nguyễn Thị Đăng Thu
Năm: 2013
13) Nguyễn Thị Hương Trà (2010), Thực trạng giảng dạy tiếng Nhật và văn hóa Nhật Bản tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Hội An, Kỷ niệm 10 năm di sản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giảng dạy tiếng Nhật và văn hóa Nhật Bản tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Trà
Năm: 2010
14) Trần Nam Tiến (2014), Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Nhật Bản thập niên đầu thế kỷ XXI, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng”, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Nhật Bản thập niên đầu thế kỷ XXI", Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “40 năm Quan hệ Việt Nam Nhật Bản- Thành quả và Triển vọng
Tác giả: Trần Nam Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
15) Trần Quang Minh (chủ biên) (2007), Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.B. Tài Liệu Tiếng Nước Nhật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Quang Minh (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. B. Tài Liệu Tiếng Nước Nhật
Năm: 2007
17) Bussaba Banchongmanee (2008), タイにおける日本語教 (Giáo dục tiếng Nhật ở Thái Lan), Hội thảo Quốc tế 東南アジアにおける日本語教育の展 望 (Triển vọng Giáo dục Tiếng Nhật tại Đông Nam Á) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Giáo dục tiếng Nhật ở Thái Lan)
Tác giả: Bussaba Banchongmanee
Năm: 2008
18) Cao Lê Dung Chi (2017), ベトナムの外国語教育政策と 日本語教 育の展望 ( Chính sách giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam và triển vọng trong việc giáo dục tiếng Nhật), Luận án Tiến sĩ, Đại học Osaka Sách, tạp chí
Tiêu đề: ( Chính sách giáo dục ngoại ngữ ở Việt Nam và triển vọng trong việc giáo dục tiếng Nhật)
Tác giả: Cao Lê Dung Chi
Năm: 2017
34) Báo cáo khảo sát về giáo dục tiếng Nhật trên thế giới 2015 (Tiếng Anh: Survey Report on Japanese language education report abroad 2015)https://www.jpf.go.jp/e/project/japanese/survey/result/ Link
35) Kết quả khảo sát các cơ sở giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài trong năm 2018 (Tiếng Nhật: 2018 年度海外日本語教育機関調査結果)https://www.jpf.go.jp/j/about/press/2019/dl/2019-029-02.pdf Link
36) Thống kê điều tra người nước ngoài dự Kỳ thi Năng lực Nhật ngữ, Hiện trạng và vấn đề của giáo dục tiếng Nhật tại nước ngoài (Tiếng Nhật: 海外の日 本語教育の現状と課題)https://www.jlpt.jp/e/statistics/archive.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm