1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về công tác dân vận với việc nâng cao chất lượng công tác dân vận trên địa bàn huyện trảng bom, tỉnh đồng nai

111 57 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay và đã được nhiều cơ quan, đơn vị nghiên cứu công bố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Đức Khiển Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của luận văn này

Tác giả

Đào Thị Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ THỰC TIỄN, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN 8

1.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN 8

1.1.1 Điều kiện lịch sử thế giới và Việt Nam tác động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 8

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 14

1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 32

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN 38

1.2.1 Khái niệm và vai trò của dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh 38

1.2.2 Tư tưởng chỉ đạo về công tác dân vận của Hồ Chí Minh 47

1.2.3 Phương thức cơ bản của công tác dân vận 53

1.2.4 Lực lượng làm công tác dân vận 55

1.2.5 Phong cách làm việc của người làm dân vận 56

Kết luận chương 1 61

Chương 2 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN TẠI HUYỆN TRẢNG BOM,TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 63

2.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC DÂN VẬN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI 63

2.1.1 Vị trí địa lý 63

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 64

2.1.3 Những đặc điểm cơ bản của thời kỳ mới ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến công tác dân vận 67

2.2 CÔNG TÁC DÂN VẬN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 69

2.2.1 Công tác dân vận trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 69

Trang 5

2.2.2 Kết quả đạt được 79

2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 87

2.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC DÂN VẬN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI 90

2.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI 94

2.4.1 Tăng cường xây dựng Đảng về tổ chức cán bộ 94

2.4.2 Tăng cường lãnh đạo đổi mới công tác dân vận chính quyền 95

2.4.3 Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc 96

2.4.4 Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội 97

Kết luận chương 2 99

KẾT LUẬN CHUNG 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

Chính vì vậy, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường và đổi mới

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, đã khẳng định: “Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối vớiw sự nghiệp cách mạng; là nhân tố rất quan trọng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tạo nên sức mạnh của Đảng Trong thời kỳ đổi mới Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành các nghị quyết chuyên đề công tác dân vận”[53, tr.78] Nhờ vậy, công tác dân vận dưới sự lãnh đạo tổ chức Đảng, các cấp ủy tổ chức thực hiện đạt kết quả góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc đổi mới Chính vì vậy, trong những năm qua, tại huyện Trảng Bom, công tác dân vận đã được quan tâm và những thành tựu đáng kể qua đó làm các cấp chính quyền thực sự gần dân, là của dân, phục vụ nhân dân Huyện ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chương trình hành động, kế hoạch về công tác dân vận; tổ chức triển khai đồng bộ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên công chức, viên chức,

Trang 7

chiến sỹ lực lượng vũ trang và Nhân dân trong huyện, 17 xã, thị trấn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy trí tuệ của tập thể Công tác dân vận của Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được Huyện ủy quan tâm lãnh đạo thực hiện, hiệu quả hoạt động được nâng lên, tăng cường công tác vận động quần chúng phục vụ tốt cho nhiệm vụ chính trị của Huyện và cơ sở, đảm bảo an sinh xã hội, đẩy mạnh thực hiện các công trình phúc lợi dân sinh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội trên địa bàn huyện Ngoài ra, công tác dân vận góp phần tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới,… Tuy nhiên, công tác dân vận trên địa bàn huyện thời gian qua vẫn còn hạn chế, phương thức tập hợp, vận động quần chúng của một số đoàn thể còn hạn chế, chưa thu hút tập hợp đông đảo quần chúng tham gia, nhất là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, chưa huy động và phát huy hết sức mạnh của hệ thống chính trị tập trung thực hiện công tác dân vận theo Quyết định 290-QĐ/TW, ngày 25 tháng 02 năm 2010 của Bộ chính trị, về ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị Một số vấn đề bức xúc của nhân dân tại địa phương, cơ sở chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa kịp thời, chưa thấu tình đạt lý, kết quả công tác lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính chưa thực sự quan tâm, một số nơi thực hiện còn mang tính hình thức như một bộ phận cán bộ công chức chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng công tác dân vận nên chưa thể hiện hết tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, giải quyết

sự việc thiếu chủ động, giải quyết giấy tờ cho dân không kịp, phải hẹn lại gây phiền hà nhân dân đi lại nhiều lần dẫn đến tình trạng phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo Việc nắm bắt tư tưởng, nguyện vọng các tầng lớp nhân dân của hệ thống công tác dân vận và công tác tham mưu chưa kịp thời, công tác tuyên truyền các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật

Trang 8

của Nhà nước, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân kết quả còn hạn chế Chất lượng đoàn viên, hội viên một số đoàn thể cơ sở có hiện tượng giảm sút, thiếu lực lượng nòng cốt có uy tín trong nhân dân Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác dân vận trên điạ bàn huyện Trảng Bom, tỉnh

Đồng Nai tôi chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận với

việc nâng cao chất lượng công tác dân vận trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ” mong muốn góp phần nâng cao chất lượng công tác

dân vận trên địa bàn huyện Trảng Bom nói riêng cũng công tác dân vận trên toàn tỉnh Đồng Nai nói chung

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay và đã được nhiều cơ quan, đơn vị nghiên cứu công bố như:

- Sách “Cẩm nang công tác dân vận” của đồng tác giả Thào Xuân Sùng, Lê Đình Nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014 đã tập hợp những văn bản của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về công tác dân vận Nội dung của cuốn sách được đề cập đến một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác dân vận, công tác dân vận của các cấp chính quyền

- Sách “Về công tác vận động quần chúng” của tác giả Nguyễn Văn Linh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2012 đã tổng hợp những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của đồng chí Nguyễn Văn Linh (Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) về công tác dân vận, mặt trận, công đoàn, Hội liên hiệp nông dân tập thể, thanh niên, liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, phụ nữ, tôn giáo và người Hoa

- Sách “Một số vấn đề về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thế Trung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2014 là công trình

đã tập trung phân tích khá sâu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác dân vận

và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới

Trang 9

- Công trình “Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận”, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội,

2014 đã tập hợp các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cấp,… phân tích sâu sắc, toàn diện, làm nổi bật cơ sở lý luận, thực tiễn và những kinh nghiệm của công tác dân vận trong thời gian qua

ở đất nước ta

- Sách giáo trình cao cấp lý luận chính trị khối kiến thức thứ hai về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 6 Xây dựng Đảng của tác giả Tạ Ngọc Tấn, Trần Phúc Thăng, Phan Thanh Khôi Trong giáo trình này, các tác giả đã trình bày, phân tích sâu về lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận của Đảng

- Trong công trình “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới” của tác giả Hà Thị Khiết, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn về dân vận, về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ đổi mới; bên cạnh đó là những quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời gian sắp tới

Thời gian qua cũng đã có một số Luận văn nghiên cứu chung quanh vấn đề này, như sau:

- Đề tài “Công tác dân vận cấp cơ sở từ thực tiễn Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” của tác giả Nông Thị Việt Hà, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Hà Nội, 2016

- Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và vận dụng tư tưởng đó trong công tác vận động phụ nữ ở Bình Dương hiện nay” của tác giả Trương Thị Nga, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2016

Gần đây nhất có một số bài báo khoa học nghiên cứu khá công phu vấn đề này:

Trang 10

- Bài “Xây dựng hệ thống chính trị theo quan điểm Đại hội XII của Đảng” của tác giả Đinh Xuân Lý, đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6,

2016

- Bài “Bàn về tiếp tục hoàn thiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ trong xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay” của tác giả Đinh Xuân Lý, đăng trên Tạp chí Dân vận số 3, 2017

- Bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận” của tác giả Phạm Văn Khánh, đăng trên báo điện tử Nhân dân, 2016

Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác dân vận trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh

Đồng Nai

3 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và thực trạng công tác dân vận ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Luận văn đề xuất những phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác này ở huyện Trảng Bom trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và xác định tầm quan trọng của việc vận dụng tư tưởng đó phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

+ Làm rõ thực trạng , chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của công tác dân vận ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai hiện nay

+ Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác dân vận thời gian tới trên địa bàn huyện

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung cơ bản của công tác dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh và công tác dân vận tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nội dung

Nghiên cứu quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận Công tác dân vận của Đảng trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

- Phạm vi không gian

Đề tài nghiên cứu được lựa chọn là huyện Trảng Bom

- Phạm vi thời gian

+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, vai trò của quần chúng nhân dân, công tác vận động nhân dân của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu luận văn được nghiên cứu dựa trên

việc vận dụng những phương pháp cụ thể như phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích và tổng hợp; lôgic và lịch sử; so sánh; diễn dịch - quy nạp, khảo sát, so sánh, phương pháp định tính, định lượng, thống kê, tổng kết thực tiễn…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận: luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và công tác dân vận của Đảng trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng

Trang 12

làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu chỉ đạo của Huyện ủy đối với công tác dân vận trên địa bàn huyện trong những năm tới Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ bồi dưỡng tập huấn cho cán bộ dân vận các cơ quan đơn vị, ban ngành của huyện Mặt khác, đây là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập các lớp lý luận chính trị về công tác dân vận

7 Kết cấu của của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ THỰC TIỄN, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN

1.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN

1.1.1 Điều kiện lịch sử thế giới và Việt Nam tác động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

Tình hình thế giới những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh thành chủ nghĩa đế quốc, tăng cường vơ vét thuộc địa Các nước đế quốc đã áp đặt

sự thống trị trến khắp các châu lục như: Châu Á, Phi, Mỹ -Latinh Trong bối cảnh đó hầu hết các nước phương Đông chưa thoát khỏi chế độ phong kiến Chủ nghĩa đế quốc đã trực tiếp áp bức bóc lột giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính quốc, các nước thuộc địa làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với bọn đế quốc, mâu thuẫn giữa đa số nhân dân lao động với đại chủ phong kiến, đặc biệt là ở phương Đông mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân thuộc địa với tư bản ở chính quốc và tư bản bản xứ ngày càng gay gắt, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lớn với nhau cũng không ngừng phát triển Những mâu thuẫn của thời đại đang đặt ra nhiệm vụ cơ bản, tất yếu là giải phóng con người mà

cụ thể là giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp trong tiến trình phát triển lịch sử của mỗi quốc gia Tính tất yếu ấy đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa và cách mạng ở các nước như: Cách mạng Tân Hợi (1911), chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và cách mạng Tháng Mười Nga (1917)

Cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo là cuộc cách mạng ít nhiều mang tính tiến bộ Tuy nhiên, thực chất cuộc cách mạng này do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo với đường lối đấu tranh là tiến lên xây dựng

Trang 14

một nước Trung Quốc dân chủ và phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Vì thế, mặc dù chế độ tư bản được xóa bỏ hoàn toàn nhưng do chưa giải quyết triệt để vấn đề giai cấp, chưa bảo vệ được lợi ích của đông đảo quần chúng nông dân tham gia cách mạng nên nó chưa thúc đẩy cách mạng tiến lên, chưa đánh lùi được các thế lực phản động Cách mạng Tân Hợi còn hạn chế vì lực lượng lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chế độ phong kiến thiếu tinh thần triệt để cách mạng, nguyên nhân của hạn chế này là vì nó được “hình thành trong điều kiện một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến què quặt, non yếu Nó có liên hệ với đế quốc về kinh tế, kỹ thuật và chính trị;

có mâu thuẫn với đế quốc nhưng lại sợ đế quốc và nhất là nuôi nhiều ảo tưởng với đế quốc Khi khởi nghĩa vừa lên, chính quyền cách mạng tuyên bố công nhận tất cả các điều ước của nhà Thanh kí với đế quốc, không kiên quyết đấu tranh giành quyền lợi của dân tộc Còn đối với bọn phong kiến, những người cách mạng cũng không cương quyết đẩy mạng phong trào cách mạng, họ đã nhượng bộ phái lập hiến, nhất là đã thỏa hiệp đem toàn bộ chính quyền cách mạng giao cho Viên Thế Khải” [55, tr.369]

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra giữa các cường quốc đế quốc Đây thực chất là cuộc chiến tranh giành thuộc địa và phân chia lại thị trường thế giới giữa các nước đế quốc, một cuộc chiến tranh phi nghĩa, phản động Cuộc chiến tranh này chính là sự kế tục chính sách cướp bóc, nô dịch bằng thủ đoạn bạo lực đối với nhân dân các nước khác Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc dù thắng lợi có thuộc về phe nào thì bản chất của chủ nghĩa

đế quốc vẫn không thay đổi; mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc thuộc địa vẫn sẽ ngày càng gay gắt hơn

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng do Đảng tiên phong của giai cấp vô sản lãnh đạo đã minh chứng cho sự xuất hiện của một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng Tháng Mười Nga đã làm cho

Trang 15

“Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau khi cách mạng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã hội, có sức sống vô cùng to lớn lôi cuốn hàng triệu người vào hành động cách mạng, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội” [56, tr.303] Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã phá vỡ một khâu quan trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, thành lập nhà nước đầu tiên thuộc về nhân dân lao động, qua đó đã đánh thức và cổ vũ những người bị áp bức, bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã luận chứng cho khả năng thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới cuối những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là chỉ có phong trào cách mạng nào giải quyết được những mâu thuẫn lớn của thời đại ở nước mình thì phong trào đó mới đi đến thắng lợi

Tuy nhiên, sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, do nhiều nguyên nhân khác nhau cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước lại bước vào cuộc khủng hoảng lý luận sâu sắc Các cuộc cách mạng sau đó như cách mạng Đức, Hungari (1919), Bungari (1923), Quảng Châu Công xã ở Trung Quốc (1927) đều không giành được thắng lợi và tổn thất nặng nề Điều đó đang đặt ra cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng những nhiệm vụ hết sức nặng nề về cả lý luận và thực tiễn để tiếp tục đưa cách mạng đến thành công

Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận: từ những năm 1958 đến năm 1884, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập sau khi bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược đã chuyển thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến bị đặt dưới ách thống trị của thực dân Pháp Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những chuyển biến trên tất cả các mặt của đời sống xã hội

Trang 16

Về kinh tế - xã hội, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

đã làm cho kết cấu giai cấp ở xã hội Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế

kỷ thứ XX có sự phân hóa mạnh mẽ Với phương thức bóc lột theo lối tư bản được thực hiện trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, kết hợp với việc duy trì phương thức bóc lột trong chế độ phong kiến

đã tạo ra “phương thức bóc lột thuộc địa” nhằm đem lại siêu lợi nhuận cho thực dân Pháp và phong kiến tay sai Cuối thế kỷ thứ XIX, nạn chiếm hữu ruộng đất được đẩy mạnh đồng thời với nạn sưu thuế ngày một tăng, nạn cho vay, cầm cố đã làm cho nông dân mất hết những tài sản cuối cùng, thậm chí đến mảnh đất là tài sản làm kế sinh nhai duy nhất cũng bị tước đoạt Thực dân Pháp cũng không chú ý bảo vệ đê điều do đó nạn vỡ đê, lụt lội xảy ra thường xuyên làm cho đời sống nhân dân càng thêm điêu đứng Thợ thủ công cũng bị chính sách độc quyền của thực dân Pháp bóp nghẹt Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp được đẩy nhanh bao nhiêu thì sự bần cùng hóa của nông dân và thợ thủ công càng nhiều bấy nhiêu, người lao động ngày càng bị bần cùng hóa, xã hội phân chia giai cấp ngày càng rõ, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị ngày càng rõ rệt Địa chủ cũng bắt đầu bị phân hóa và phát triển nhanh, một số trở thành tay sai đắc lực cho thực dân Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa và duy trì lợi ích

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm xuất hiện giai cấp vô sản Việt Nam Giai cấp vô sản Việt Nam đa số xuất phát từ việc

bị tước hết ruộng đất nên phải tự tìm đến hầm mỏ, xí nghiệp, nhà máy kiếm công ăn việc làm Một số khác làm công theo mùa để kiếm thêm thu nhập phụ giúp cho nông nghiệp vốn dĩ đã lạc hậu, năng xuất thấp Số khác là những phu hay công nhân bị cưỡng bức đi làm đường sắt, đường bộ, công sở thậm chí tù nhân cũng bị đẩy đi làm Giai cấp công nhân Việt Nam tuy được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau tất cả đều là kết quả của chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa tư bản Pháp trên đất nước ta

Trang 17

Nói đến bóc lột của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã viết: Việc “bóc lột

vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản ở thuộc địa đã làm cho những người công nhân sống trong những điều kiện không chịu nổi Sự tập trung rất lớn các đất đai vào tay người Pháp và giai cấp địa bản xứ khiến cho tình cảnh của trung nông và bần nông tồi tệ đi Sự mất mùa liên tiếp và giá sinh hoạt cao gia tăng

sự khốn cùng và sự đau khổ của quần chúng lao động Tất cả điều này khơi sâu thêm mẫu thuẫn giữa những kẻ áp bức và bóc lột với những người bị áp bức và bóc lột, và làm cho cho tinh thần đấu tranh của những người sau này sâu sắc” [47, tr.55]

Về văn hóa, thực dân Pháp còn nham hiểm hơn khi chúng tuyên truyền với nhau rằng “Đối với cái nòi giống annamit ấy, chỉ có một cách tốt nhất để cai trị nó, đó là cách thống trị bằng sức mạnh Truyền học vấn cho bọn annamit hoặc cho phép chúng có học vấn tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rối hơn là lợi ích” [45, tr.7]; kinh nghiệm các dân tộc châu Âu khác đã chỉ ra rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột Rõ ràng mưu đồ “ngu dân để trị” và đầu độc văn hóa là một biện pháp, thủ đoạn cai trị “hiệu quả” của chủ nghĩa thực dân Mục đích của chủ nghĩa thực dân là duy trì vĩnh viễn sự thống trị của đế quốc lên các dân tộc thuộc địa Chính vì thế, ở nước ta ngoài sự chuyển biến đôi chút về văn hóa ở thành thị thì hầu như ở nông thôn văn hóa làng xã vẫn tồn tại dưới những chính sách bần cùng hóa và ngu dân hóa

Việt Nam vốn là một nước phong kiến độc lập với thể chế chính trị theo lối quân chủ Quyền lợi quốc gia đều tập trung vào nhà vua nhưng ít nhiều có thống nhất với lợi ích của dân tộc Quan điểm trung quân ái quốc trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam không có sự tách biệt Nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược, khai thác thuộc địa và áp đặt sự bảo hộ trên đất nước ta đã làm cho xã hội Việt Nam có sự chuyển biến

Trang 18

toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết cấu giai cấp có sự phân hóa và làm thay đổi đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam Một trong những thay đổi lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam là

sự tách biệt giữa tư tưởng trung quân ra khỏi tinh thần ái quốc Điều đó làm cho các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế

kỷ XX xuất hiện với tính chất và màu sắc khác nhau Nhìn chung xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XX đã có những chuyển biến dẫn đến hai mâu thuẫn cơ bản nhưng hết sức sâu sắc và quyết liệt Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà chủ yếu là nông dân với giai cấp đại chủ phong kiến Sự phát triển của cách mạng Việt Nam phụ thuộc vào việc giải quết đúng đắn hai mâu thuẫn cơ bản này

Dưới sự thống trị hà khắc theo lối chia để trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đã không còn có tự do, sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của thực dân Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết Vì vậy, nhân dân ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, có tinh thần đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử đã không ngừng nổi dậy chống Pháp, đúng như Hồ Chí Minh đã nhận định “ đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói của nhân dân Việt Nam Trong gần một thế kỷ trống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy” [53, tr.314] Các cuộc nổi dậy chống Pháp thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu khắp ba miền đất nước, kể cả một số vua, quan trong triều đình phong kiến đã liên tiếp nổ ra Các phong trào Cần Vương, nghĩa quân Yên Thế chưa dứt thì đã nối tiếp bằng các phong trào cải cách, Duy Tân, Đông Du và bao nhiêu cuộc đấu tranh khác nữa, nhưng tất cả đều thất bại và bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp

Trang 19

Tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh nhận xét như sau: chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của Phan Bội Châu, “Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; chủ trương của Phan Chu Trinh dựa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước “chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”; còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám “Còn nặng cốt cách phong kiến” Và sau thất bại của phong trào cứu nước theo ý thức hệ phong kiến, tư sản và tiểu tư sản, cách mạng Việt Nam đã thật sự lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước Cả dân tộc chìm đắm trong đếm dài nô lệ tưởng chừng như không có lối ra Điều đó đã chứng minh rằng muốn cứu nước không phải chỉ có lòng nhiệt tình và lòng dũng cảm là đủ, mà điều quyết định là phải tìm thấy con đường nào có thể đưa sự nghiệp cứu nước đến thắng lợi

Đó phải là con đường phù hợp với quy luật phát triển lịch sử phù hợp với thức tiễn của đất nước và những biến đổi của thời đại, chứ không phải là những gì đã lùi xa về dĩ vãng, tỏ ra lỗi thời, lạc hậu Sứ mệnh lịch sử đã đặt

ra cho cả dân tộc, những người dân yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ là phải tìm ra con đường cách mạng đúng đắn phù hợp với quy luật lịch sử và thời đại nhằm cứu nước, cứu dân thóa khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai Trong điều kiện lịch sử ấy Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó

có tư tưởng dân vận của Người đã xuất hiện

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

Chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận: một trong những truyền thống cực

kỳ quý báu và cũng là cái chân lý giá trị cao nhất trong bậc thang giá trị của dân tộc Việt Nam chính là Chủ nghĩa yêu nước Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với sự nối tiếp nhau hàng ngàn năm vừa phải chống chọi với những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa phải đối phó với nạn địch họa, điều đó đã làm cho sự cố kết cộng đồng, sự gắn bó giữa các thành

Trang 20

viên lại với nhau như một nhu cầu tất yếu để tồn tại và phát triển Từ trong những cuộc đấu tranh trường kỳ ấy, mọi người Việt Nam đã ngày càng thêm yêu quê hương đất nước, sớm nảy sinh và định hình ý thức cộng đồng, ý thức tập thể và cao hơn là ý thức dân tộc Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Yêu nước- đoàn kết- nhân nghĩa, với các thế hệ người Việt nam đã trở thành một triết lý sống “một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” và

từ đó cũng trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Chính vì thế mà Hồ Chí Minh đã nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó

nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [45, tr.171] Nó đã tạo thành

động lực nội sinh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam tạo nên sức mạnh to lớn trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và trong công cuộc xây

dựng đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định “… nhờ lược lượng ấy mà sức kháng

chiến của ta ngày càng mạnh, nhờ lưc lượng ấy mà quân ta và dân ta quyết chịu đựng muôn vàn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước Nhờ lực lượng ấy mà với gậy tầm vong

và súng hỏa mai lúc đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch” [45, tr.218]

Từ truyền thống yêu nước, có thể khẳng định rằng nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có nghĩa có tình và trong điều kiện mới Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển thành “tình nghĩa đồng bào, đồng chí, năm châu bốn biển một nhà” Tinh thần ấy nó khác với tinh thần yêu nước, ích kỷ hẹp hòi “vị quốc” của bọn đế quốc, phản động Chính truyền thống ấy đã góp phần xây dựng nên tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và dân vận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Trang 21

Truyền thống trọng dân, dân là gốc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam: dân ta có câu “Quan nhất thời, dân vạn đại”, đã thể hiện triết

lý sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử Thực tế đã chứng minh, các triều đại phong kiến Việt Nam có hưng thịnh hay không đều gắn liền với quan niệm đúng đắn về vai trò của nhân dân Dưới chế độ triều Lý, xuất phát từ quan điểm nhân sinh Phật giáo, bằng tình cảm từ bi, hỷ, xả, xót thương với những đau khổ của nhân dân Trong mối quan hệ giữa vua với dân, vua luôn tự xem dân như con của mình, vua là cha mẹ của dân, nên từ

đó vua có bổn phận phải thương yêu, chăm lo đời sống nhân dân tươm tất đầy đủ… mặc dù trong mối quan hệ giữa trời-vua-dân, vua thừa lệnh trời cai trị dân, nhưng trong chính sự thì vua luôn coi ý dân là ý trời Vua là cầu nối giữa trời và dân, là đại diện cho trời trước dân nhưng đồng thời cũng là đại diện cho dân trước trời Với tinh thần dân chủ, trước khi dời đô về Đại

La, năm 1010, vị vua khai nghiệp triều Lý đã ra chiếu truyền hỏi ý kiến quần dân “…làm như thế cốt là để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên mệnh nước lâu dài, phong tục giàu thịnh Trẫm muốn nhân dân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào? “ Bề tôi đáp: Bệ hạ vì thiên hạ lạp kế lâu dài, trên cho sự nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân được thịnh vượng giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo” Vua cả mừng [20, tr.249] Trong ý thức trọng dân, coi ý dân là nền tảng cho việc cai trị nên vua luôn tự răn đe, lo sợ bản thân mình

vô tình lỡ xảy ra hành động “ở trên dân” khiến lòng trời không thuận Tác phong, đạo đức đó của vị vua đầu triều Lý được kế thừa và phát triển đến các đời vua cuối triều

Dưới thời Trần, sức dân được xem là cơ sở vững mạnh của Nhà nước,

là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh giữ nước Trần Quốc Tuấn đã chỉ

rõ nguyên nhân đánh thắng bọn giặc phương Bắc và cái gốc, kế sách lâu bền

Trang 22

của việc giữ gìn bờ cõi biên cương: “Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục,

cả nước góp sức, giặc phải bị bắt Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” [21, tr 83-84] Có thể thấy, ngay trong lực lượng vũ trang hùng hậu nhà Trần, một quân đội lập được chiến công độc nhất vô nhị trong lịch sử nước nhà, cũng đã thể hiện rõ quan điểm quan tướng là cha mẹ của quân lính, khẩu hiệu “phụ tử chi binh” đã được đề cao trong hàng ngũ quân đội nhà Trần Chính tình cảm gia đình ấy đã tạo được sự nhất trí đồng lòng, quyết tâm sống chết vì sứ mạng chung cua đất nước Trần Quốc Tuấn đã nhấn mạnh, “có thu phục được quân lính như lòng cha con thì mới dung được”, vì thế không phải ngẫu nhiên mà nhà Trần đã

ba lần đánh bại quân Nguyên Mông

Như vậy, nguyên tắc “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc) cũng là sự kế thừa và phát triển nguyên tắc “dân chi phụ mẫu” (cha mẹ của dân) nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa vua quan với dân chúng, giữa cấp trên với cấp dưới như thời Lý, người dân thời nhà Trần cũng được hưởng sự chăm sóc, yêu thương của chính quyền chứ không phải chỉ là đám người thấp cỏ bé họng bị nhà cầm quyền hành hạ và bóc lột Nhờ thực hiện được nguyên tắc ấy, nhà Trần đã củng cố và phát huy sức mạnh của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mà tính dân chủ vẫn được nêu cao Trong đó, Hội nghị Diên hồng là một cuộc “trưng cầu ý dân” tiêu biểu, một hình thức

“quốc dân đại hội” lần đầu tiên ở nước ta Có thể khẳng định, cuộc kháng chiến cứu nước của nhà Trần sở dĩ thành công vang dội như vậy là do động viên được tinh thần, ý chí của toàn dân Để tập trung, củng cố sức mạnh cả nước, nhà Trần đã kích thích lòng dũng cảm của quân đội, động viên sự đoàn kết đồng lòng của toàn dân bằng những quyền lợi thiết thực của mọi người chứ không phải bằng quyền lợi của một tầng lớp, cũng không phải bằng khái niệm trung quân ái quốc một cách viển vông Lời Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã nêu rõ sự gắn bó quyền lợi ấy Chính việc bảo đảm quyền lợi

Trang 23

thiết thực của mọi người đã tạo được sự gắn bó giữa các tầng lớp trong xã hội lại với nhau, từ các vương hầu, quý tộc đến những người bình thường

Vào thế kỷ thứ XV, Nguyễn Trãi, một nhà văn hóa lớn cũng đã nêu ra những tư tưởng sâu sắc về vai trò và sức mạnh của dân Sau khi cùng Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh thắng lợi, ông đã viết Bình Ngô Đại Cáo hùng tráng với hai câu mở đầu nói về tư tưởng an dân, muốn an dân trước hết phải trừ bạo ngược:

“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân cứu nước trước lo trừ bạo” [62, tr.77]

Không chỉ có thế, Nguyễn Trãi còn chỉ ra nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh là do đoàn kết được tướng sĩ, tập hợp được lực lượng nhân dân khắp nơi:

“Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp

Hòa rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con” [62, tr.79]

Nói về sức mạnh của dân, ông đã tiếp thu và nêu lên tư tưởng tiến bộ, ví dân như nước, các triều đại phong kiến như con thuyền, thuyền nổi được là nhờ nước, nước có tác dụng chở thuyền nhưng cũng có sức mạnh lật thuyền

“chở thuyền và lật thuyền cũng là dân” [62, tr.203] Ông còn nêu lên tư tưởng

ơn dân mới mẻ đối với thời đại bấy giờ: “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày” [62, tr.445] “Kẻ cấy cày” chính là nhân dân lao động, là nông dân chiếm tuyệt đại

đa số cư dân trong một nước nông nghiệp Kế tục tư tưởng của Trần Quốc Tuấn, ông yêu cầu vua quan triều đình phải biết “thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan dân” [62, tr.202] Tổng kết thực tế lịch sử, Nguyễn Trãi khẳng định: dân là gốc của nước, giữ nước trước hết là giữ dân, muốn giữ nước trước hết phải an dân, phải giữ được lòng dân Tư tưởng của Nguyễn Trãi tiếp tục khẳng định vai trò nền gốc của nhân dân trong lịch sử

Phong trào Tây Sơn do Quang Trung lãnh đạo, với khẩu hiệu hợp lòng dân như tước đoạt của cải của phong kiến chia cho người nghèo đói- nông

Trang 24

dân- lực lượng chủ yếu trong phong trào, nên đã thu hút được đông đảo quần chúng tham gia khởi nghĩa Khi nói về nghĩa quân Tây Sơn, một giáo sĩ Tây Ban Nha đã viết “Họ truyền đạt sự bình đẳng cho mọi người, (…), những bậc tiên khu này của chủ nghĩa xã hội hiện đại đã tước đoạt tài sản của quan lại và người giàu, đem chia cho người nghèo, những làng bị đè nặng về sưu thuế khá khắc nghiệt đã thề trung thành với họ” [61, tr.35] Trên thực tế, khi hành quân tiến hành vào Nam, ra Bắc, nghĩa quân Tây Sơn đều giữ nghiêm quân pháp, không mảy may xâm phạm tài sản của nhân dân Chính vì thế

“những nguyện tốt lành và thanh thế hùng mạnh của đại quân Tây Sơn được

bí mật lan truyền trong nhân dâm làm cho ai nấy đều nức lòng phấn khởi và tin tưởng” [54, tr.163], nhiều nơi dân yêu quý gọi nghĩa quân Tây Sơn là

“bố” Sau khi đuổi quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi đất nước, Nguyễn Huệ

đã xây dựng đất nước dựa trên sức mạnh nhân dân Tuy tồn tại trong thời gian ngắn và phải lo nhiều công việc trọng đại, nhất là đối phó với hoạt động của chúa Nguyễn được tư bản phương Tây giúp sức nên nhiều lĩnh vực đã đạt được kết quả bước đầu, song tư tưởng “trọng dân” của nhà Tây Sơn đã tạo nên những kết quả nhất định trong chấn hưng đất nước Có thể nói, triều đại Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Quang Trung cuối thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, trong khi vua quan nhà Nguyễn dâng đất và ký hiệp ước đầu hàng, thì những người “dân ấp, dân lân” đã anh dũng đứng lên chống giặc, bảo vệ quê hương đất nước, thể hiện khí thế, sức mạnh của quần chúng nhân dân Tinh thần đó được ca ngợi trong bài thơ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Đầu thế kỷ thứ XX, khi thực dân Pháp đã đặt được ách thống trị lên đất nước ta, song phong trào yêu nước của nhân dân ta vẫn bùng lên mạnh mẽ, như phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa Yên Thế, đặc biệt nổi bật là phong trào vận động cách mạng của hai nhà chí sĩ họ Phan Phan Chu Trinh đã thẳng thắn vạch trần bọn quan lại nịnh hót, chỉ biết có vua mà không biết đến dân, muốn giữ

Trang 25

mãi địa vị của mình, túi tham được đầy mãi Cụ đã thẳng thắn phê phán bọn quan lại, ví chúng như bọn trộm cướp vì chỉ biết coi nước nhà như món riêng của mình và những ai cậy quyền thế mà áp chế nhân dân thì được cụ ví như quân phản nghịch

Phan Bội Châu, một chí sĩ yêu nước nồng nhiệt, đã từng sang Tàu sang Nhật tìm đường cứu nước, cứu dân đã có một quan niệm sâu sắc, chí lý về dân, về nước, thể hiện tư tưởng “khinh quân trọng dân”, “ái quốc, ái quần” rất rõ rệt Bằng kinh nghiệm lịch sử dày dặn và trí tuệ sắc sảo của mình, ông

đã thấy rõ sự gắn bó mật thiết giữa cá nhân với cộng đồng nhận thấy vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, chỉ rõ mọi người thấy được sức mạnh của chính mình và sức mạnh của khối đoàn kết, nhất trí cao trong sự nghiệp cứu nước đầy khó khăn, thử thách Phan Bội Châu viết: “Thời trời không bằng lợi đất, lợi đất không bằng hòa hợp của mọi người Nước ta ngày ngay chỉ trông cậy vào sự hòa hợp của mọi người mà thôi” [16, tr.169] Để chiến thắng trong cuộc đọ sức với một đội quân xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại và có tiềm lực kinh tế hơn ta nhiều lần thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tập trung xây dựng sự đồng lòng, nhất trí cao của các lực lượng trong dân tộc

Trong Thư thanh minh của Việt Nam Quốc dân Đảng (1924), Phan Bội Châu chỉ rõ “Người Pháp có hải lục quân, thì chúng ta có lòng dân của toàn quốc Việt Nam” [18, tr.602] Đối với Phan Bội Châu, đồng lòng thì tạo nên sức mạnh để hoạt động đúng thời, đồng lòng để thay đổi thời thế Trong mối quan hệ giữa thời và đồng lòng, Phan Bội Châu luôn nhấn mạnh đến sự đồng lòng: “Lòng người có quyền nắm cả thiên thời địa lợi” [17, tr.75] Thời

cơ, thời vận là do có sự đồng lòng chung sức của người làm nên Đồng lòng thì việc khó khăn tới đâu cũng làm được, ngược lại dù thời có thuận lòng nhưng lòng của mỗi người mỗi ý thì tai họa luôn rình rập: “Lòng đã không đồng, thì họa sẽ không bao giờ dứt” [18, tr.204] Như vậy, trong bất cứ hoàn

Trang 26

cảnh nào, Phan Bội Châu đều luôn coi trọng “nhân tâm hòa” Thế trận của lòng dân và sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc là vô địch Với lòng tin đó Phan Bội Châu luôn quan tâm đến việc cổ vũ và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nhằm tang cường sức mạnh của dân tộc để võ trang bạo động diệt trừ

dị tộc, giành lấy chính quyền về ray nhân dân, xóa bỏ tận gốc chính thể quân chủ xấu xa, lập nên chính thể dân chủ cộng hòa tốt đẹp

Tuy nhiên Phan Bội Châu chưa vươn tới nhận thức được vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, mà mới chỉ thấy đồng chủng thì đồng cừu, dị chủng thì bất tương dung Bởi vậy, ông chưa xác định được công-nông là gốc cách mạng; tổ chức Đảng của ông chưa có chỗ dựa vững chắc trong một giai cấp nhất định; tuy ông luôn đề cao lợi ích của dân tộc nhưng lúc bấy giờ trong điều kiện nước ta hơn 90 % dân số là nông dân thì điều cốt yếu phải thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, nhưng ông lại chưa hiểu được vấn

đề ruộng đất với vấn đề nông dân Về cuối đời, Phan Bội Châu đã kịp nhận

ra sức mạnh của công- nông, nhưng ông đã ở vào thế sức tàn lực kiệt Lúc ấy trách nhiệm lịch sử giương cao ngọn cờ cứu nước đã chuyển sang những chiến sĩ theo lập trường cách mạng vô sản mà tiêu biểu là Hồ Chí Minh

Tinh hoa văn hóa nhân loại với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận còn kế thừa, tiếp thu

có phê phán từ tư tưởng văn hóa phương Đông, đặc biệt là tư tưởng của Nho, Lão, Phật về đạo đức nhân sinh, chuẩn mực, lối sống, làm chủ bản thân trong quan hệ xã hội Đó là triết lý nhân sinh đạo đức của con người trong quan hệ với thế giới, trong sự gắn kết với cộng đồng

Về tư tưởng Nho giáo: Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng ngay từ cha, ông ngoại qua chính cuộc sống chuẩn mực của gia đình có truyền thống Nho học Chuẩn mực Nho học đã thấm vào khí huyết của Người từ khi bé thơ Khi còn học tiểu học, Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo một cách có

hệ thống và giữ lại những tinh túy nhất của học thuyết Chính danh trong suốt

Trang 27

thời kỳ hoạt động lãnh đạo cách mạng Theo Người học tuyết Chính danh của Nho giáo nếu bỏ qua những hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp trong quy định danh phận ở chế độ phong kiến thì đó là một trong những

tư tưởng tiến bộ có ý nghĩa lịch sử Bởi tư tưởng cốt lõi của học thuyết Chính danh là xây dựng mẫu người quân tử làm rường cột cho xã hội Trong đó ai mang danh nào thì phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận của mình cho phù hợp với danh đó, cụ thể như: “Quân- quân; thần-thần; phụ-phụ; tử-tử” Có nghĩa là vua phải ra vua, quan phải ra quan, cha ra cha và con phải hoàn thành nghĩa vụ làm con Những tư tưởng trung hiếu của Nho giáo được

Hồ Chí Minh tiếp thu và nâng lên với một nội dung mới, bởi “đạo đức ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ….Ngày nay phải trung với nước, hiếu với dân” [43, tr.149] Tư tưởng đó mang lại một nội dung mới, gắn liền với tiến bộ xã hội, với dân tộc và nhân dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Mặt khác, nếu Nho giáo hạ thấp vai trò của người phụ nữ thì ngược lại

Hồ Chí Minh lại nhận thức được vai trò, vị trí của người phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, vì “Nói tới phụ nữ là nói phần nửa của xã hội” Ngoài

ra những phạm trù về nhân, lễ, nghĩa, tín, dũng, liêm, chính của Nho giáo được Người đón nhận, nâng nó lên thành triết lý sống và là tiêu chuẩn về đạo đức mới của người cách mạng Người cho rằng Nhân là “thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào Vì thế mà kiên định chống lại những người, những việc có hại đến Đảng đến nhân dân Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không e ngại uy quyền” Nghĩa là

“ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng Ngoài lợi ích của đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan Lúc Đảng giao cho bất kỳ to nhỏ đều ra sức làm cẩn thận Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói Không sợ người ta phê bình, mà phê bình người khác

Trang 28

cũng luôn đúng đắn” Trí là “vì không có việc tư túi nó mù quáng, cho nên đầu óc trong sáng, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phương hướng Biết xem người Biết xét việc Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian” Dũng là

“dũng cảm gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng Có gan chống lại những vinh hoa phú quý, không chính đáng Nếu cần có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè nhút nhát” [39, tr.251]

Thực tế giai cấp địa chủ phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không làm mà bắt nhân dân tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta luôn đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân Nếu Nho giáo cho rằng duy thượng trí, hạ ngu bất di thì Hồ Chí Minh lại quan niệm đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh rèn luyện hằng ngày

mà có Quan niệm này góp phần cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết Ngoài ra, quan điểm về “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, “tu thân, tề gia, trị, bình thiên hạ” của Nho giáo được Hồ Chí Minh đón nhận và vận dụng một cách sinh động Tất cả cái tinh túy đó trở thành cơ

sở chuẩn mực cho cuộc sống và hành động của người cách mạng là bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân

Về mặt xã hội, Nho giáo thừa nhận sự tồn tại của hai loại người: quân

tử và tiểu nhân, kẻ lao tâm và người lao lực.Trong đó kẻ lao tâm trị người, kẻ lao lực bị người trị Quan điểm đó dẫn đến những sai lầm khó tránh khỏi mà thời đại ngày nay kịch liệt phê phán Đó là miệt thị những người lao động chân tay, đề cao người có học thức đứng trên người khác Tư tưởng đó được

Hồ Chí Minh khắc phục, xem lao động trí óc và lao động chân tay đều đáng quý, đáng trân trọng, không hạ thấp hoặc đề cao thái quá hình thức lao động nào Như vậy những luận điểm tích cực của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh

Trang 29

tiếp thu, kế thừa một cách có chọn lọc góp phần hình thành tư tưởng của người về dân vận

Sự kế thừa tư tưởng Lão giáo được thể hiện trong triết lý sống, phong cách sống bình dị, trong sáng, thanh cao, ung dung tự tại của Hồ Chí Minh Cuộc sống của Bác thật giản dị, tiêu dao của Lão giáo nhưng lại chứa đựng tinh thần lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống, hết khổ là vui, hết mưa lại nắng ắt

lẽ đời…cuộc đời của Bác đầy gian khổ, lo toan nhưng vẫn “thảnh thơi vui thú thanh nhàn, sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao” [50, tr245] Đó là triết lý sống mà Người chắt lọc được trên cơ sở kế thừa tư tưởng Lão giáo

Tư tưởng cơ bản Lão giáo là Vô vi, tiêu dao con người sống theo lẽ tự nhiên mặc cho sự đời đen - trắng, thiện - ác, quý- tiện nên có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, tư tưởng tiêu dao, vô vi cũng có những giá trị thiết thực trong việc nâng cao nhận thức cho mọi người về sự hòa hợp của con người với thiên nhiên, giáo dục con người có tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống trước sự thay đổi khắc nghiệt của hoàn cảnh Có những lúc Người thư thái ung dung hòa mình với thiên nhiên, không màng danh lợi, vinh hoa phú quý Người chỉ cần “một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh, nước biếc để câu

cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em nhỏ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” [43, tr.161] Vì vậy, dù khi ở chốn lao

tù, với muôn vàn khó khăn nhưng với triết lý sống của mình, Người vẫn luôn thể hiện sự lạc quan tin tưởng vào cuộc sống

Có thể nói, bất kỳ ở đâu, trong tù hay nơi thâm sâu cùng cốc, khi lãnh đạo cách mạng, bàn việc quân cũng như việc nước hay trong sinh hoạt đời thường, vị lãnh tụ luôn làm bạn với chim, với núi, hoa rừng, với trăng sao, cây

cỏ cùng non xanh nước biếc Tất cả cái thiên nhiên bao la hùng vĩ và tươi đẹp

ấy đã hòa mình vào cuộc sống hằng ngày của Người Để rồi khi làm xong nhiệm vụ, Người vẫn thấy chim bên cửa, trăng đầu thuyền, rồi xách bương, dắt trẻ ra vườn hái rau…sau cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn

Trang 30

sống trong ngôi nhà nhỏ, vẫn vườn cây, ao cá, luống rau… tất cả những điều giản dị đó đã trở thành phong cách, nếp sống quen thuộc và văn hóa Hồ Chí Minh Giản dị, thanh cao, vô vi, tiêu dao nhưng không tiêu cực, lãnh đạm nên Người vẫn luôn coi trọng những công việc hàng ngày của đời thường đến công việc, trong trách quốc gia, từ việc nhỏ đến việc lớn đều là trách nhiệm, là bổn phận Thậm chí theo Người, chức Chủ tịch không phải là để hưởng thụ vinh hoa phú quý mà là gánh nặng, là đầy tớ và công bộc của nhân dân Trước lúc ra đi, Hồ Chí Minh còn căn dặn: “mỗi cán bộ đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… là đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân” [51, tr.498]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận chứa đựng tinh thần triết học phật giáo Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là dạy con người từ bi, vị tha, cứu khổ Người quyết tâm thực hiện hoài bão giải thoát nỗi khổ bằng việc thực hiện con đường giải phóng dân tộc Mọi người phải đoàn kết giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ Nếu tư tưởng của phật giáo hướng đến giải thoát con người khỏi nỗi khổ bằng sự tu luyện tinh thần đạo đức, thì Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động bằng con đường hoạt động thực tiễn

Với cái nhìn sâu sắc, mới mẻ về phạm trù “giải thoát” của Phật giáo,

Hồ Chí Minh đã luận chứng về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Từ luận chứng khoa học đó được Hồ Chí Minh khẳng định: “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức phật Thích Ca, kháng chiến để đưa nòi giống ra khỏi cái khổ ải nô lệ”[44, tr 197]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận được kế thừa có chọn lọc từ tư tưởng nhân bản của Giêsu: Tư tưởng cốt lõi của Giêsu chứa đựng tinh thần

Trang 31

bác ái, yêu thương hết thảy mọi người, yêu người như yêu chính mình Bác quan niệm trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người Đó là tư tưởng yêu chuộng hòa bình, không gây chiến tranh, không đối đầu mà chứa đựng tinh thần đối thoại Hiểu thấy tinh thần của Giêsu là lẽ sống ở đời, Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người phải phấn đấu hy sinh mới có thể có được sống trong hòa bình, tự

do, hạnh phúc, “Tinh thần hy sinh phấn đấu tức là noi theo tinh thần cao thượng của Đức chúa Giêsu” [43, tr.121]

Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện tình yêu thương, lòng bác ái, mang lại hòa bình cho thế giới phải tiêu diệt bọn xâm lược và bè lũ Việt gian bán nước, giải phóng cho Tổ quốc và làm rạng danh tinh thần yêu thương tất

cả mọi người để “Hòa bình cho mọi người dưới trần thế” Thực dân đế quốc mượn khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái để thôn tính, xâm lược và áp bức các dân tộc khác Bọn thực dân đế quốc là những kẻ nhân danh tự do, bình đẳng và bác ái để lừa bịp nhân dân Việt Nam Sự giả dối tất yếu sớm hay muộn cũng sẽ bị phát hiện và phải nhận lấy thất bại nhục nhã trước chính nghĩa và sự thật Những kẻ làm trái tinh thần yêu thương, quý trọng phẩm giá con người sẽ bị thất bại Tư tưởng của Giêsu mà Hồ Chí Minh đã chắt lọc được, đó là tư tưởng về đoàn kết, hòa bình, yêu thương để cùng nhau tiến bộ Khi nhận định về tư tưởng này, Người quan niệm “tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái cao cả” Tư tưởng Giêsu về lòng bác ái mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong việc giải phóng con người về tinh thần Hồ Chí Minh phát huy tinh thần yêu thương con người trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương đồng loại xuất phát từ hiện thực, từ co người cụ thể, đó là phải thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu như: ăn, ở, mặc, về nhu cầu học tập, nâng cao trình độ hiểu biết của mỗi người Hồ Chí Minh đã tham gia vào các hoạt động thực tiễn cách mạng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực để xây dựng khối đại đoàn kết

Trang 32

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tam dân của Tôn Dật Tiên (1866-1925) về dân tộc - độc lập, dân quyền - tự do, dân sinh - hạnh phúc cuất hiện ở Trung Quốc Đó là tư tưởng phản ánh khát vọng của các dân tộc

bị áp bức, bóc lột Tư tưởng ấy được Hồ Chí Minh cảm kích đón nhận phát triển lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam Nội dung tư tưởng của Tôn Dật Tiên đã toát lên một nguyên lý chống chủ nghĩa đế quốc

và chống quân phiệt, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc đối với việc xây dựng cương lĩnh tiến bộ cho Quốc Dân Đảng Trung Quốc Bởi

“Đảng đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và giai cấp vô sản quốc tế Đảng đó đồng tình với cách mạng Nga” [40, tr.319] Khi cải cách Quốc Dân Đảng Trung Quốc, Tôn Dật tiên đã đưa

ra khẩu hiệu “Thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông” là những tư tưởng tiến bộ phản ánh xu thế tất yếu của lịch sử xã hội loài người Hồ Chí Minh cho rằng độc lập - tự do - hạnh phúc là những chủ trương chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam, coi đó là hạt nhân, mục đích của việc vận động nhân dân xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng Tư tưởng

đó được rút ra từ quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Tam dân “dân tộc- độc lập, dân quyền- tự do, dân sinh - hạnh phúc” Tư tưởng về độc lập-tự do-hạnh phúc trở thành tiêu chí xuyên suốt trong công cuộc xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta, nhưng chủ nghĩa Tam dân về cơ bản vẫn là hệ tư tưởng dân chủ tư sản nên còn nhiều hạn chế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận kế thừa tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp Ngay từ những năm đầu còn học Tiểu học Pháp-Việt và trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã được nghe những khẩu hiệu: Tự do-bình đẳng-bác ái và được tiếp xúc với những tờ báo có khuynh hướng tự do Sau này Người kể lại rằng khi độ tuổi 13 lần đầu tiên đực nghe 3 chữ pháp: “Tự do-bình đẳng-bác ái” những khái niệm ấy đã hấp dẫn khiến Người quyết tâm

Trang 33

ra đi tìm hiểu những gì ẩn đằng sau những chữ ấy Người ra đi khắp 5 châu, làm nhiều nghề để kiếm sống, gần 10 năm trời tận tâm học hỏi, suy ngẫm những thành tựu mới của nhân loại, nhất là những tư tưởng triết học của những nhà khai sáng Pháp Tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp đã mở cho cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ Hồ Chí Minh đã lấy nội dung cốt lõi trong

tư tưởng nhân văn phương Tây, chắt lọc giá trị mang tính nhân loại của nó

để đưa vào phần mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập (1945) của Việt Nam cái nội dung tính túy của Mĩ (1776) và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1789) để khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cho tất cả dân tộc Việt Nam và cho tất cả loài người Đó là khát vọng cao cả, là lý tưởng lớn lao của Hồ Chí Minh về dân vận Nhưng từ tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp, Bác đã trăn trở, suy tư

là tại sao những cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ sau khi thành công lại phản bội những giá trị đích thực đó Họ thừa nhận quyền tự do, bình đẳng, dân chủ, kêu gọi tinh thần bác ái, nhưng lại bóc lột các dân tộc khác Qua quá trình buôn ba học hỏi tìm kiếm, bằng những dẫn chứng, sự kiện cụ thể trong hoạt động thực tiễn sinh động và tư duy chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận hết sức khoa học: “Cách mạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ nghĩa là cách mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó

áp bức thuộc địa Cách mạng 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mạng lần nữa mới hoàng thoát khỏi vòng áp bức Cách mạng An Nam nên nhớ điều ấy”[37, tr.274]

Một câu hỏi được Bác suy tư, trăn trở nữa là phải làm gì để các giai cấp, dân tộc bị áp bức thoát khỏi vòng gông cùm của chủ nghĩa thực dân; khắc phục những hạn chế của các cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ và tìm bước đi thích hợp cho cách mạng Việt Nam? Từ lý luận và hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh nhận thức được những tuyên bố về tự do, bình đẳng, dân

Trang 34

chủ của bọn đế quốc chỉ là những “lời đường mật”, xáo rỗng cốt để lừa bịp các dân tộc bị áp bức.Vì thế, mỗi dân tộc được độc lập và tự do theo đúng nghĩa của nó, các dân tộc bị áp bức phải trông cậy trước hết vào năng lực, thực lực của mình, người Việt Nam phải tự biết giải phóng lấy mình Hồ Chí Minh tiếp tục tham gia phong trào đấu tranh vì công bằng, tự do, ấm no hạnh phúc cho mọi người

Chủ nghĩa Mác - Lênin với sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận thực sự được nâng và thay đổi về chất dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin Trong quá trình tìm đường cứu nước trước thắng lợi của Cách mạng Tháng mười Nga, một cuộc cách mạng

vĩ đại trong lịch sử, từ đó Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và tìm hiểu về nó, Người viết:

“Cách mạng tháng Mười thành công nhân dân Nga mở thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại công nông đấu tranh giành quyền làm chủ vận mạng của mình, thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, thời đại thắng lợi của cách mạng xã hội và cách mạng giải phóng dân tộc, thời đại suy sụp và tan rã của chủ nghĩa đế quốc thực dân, thời đại mà chủ nghĩa Mác- Lênin đã hình thành lý chí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới Từ ngày Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, Liên Xô đã thành tiếng kèn kêu gọi đấu tranh cho tự do bình đẳng Hữu nghị và hạnh phúc của các dân tộc đã trở thành ngọn cờ hy vọng và thắng lợi, cổ vũ nhân dân lao động trên toàn thế giới dũng cảm tiến lên”[45, tr.635]

Lúc bấy giờ Hồ Chí Minh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên mặc dù Bác chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó, nhưng Bác kính yêu V.I Lênin Vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình mà chưa hề đọc một cuốn sách nào do Lênin viết, còn “Các Mác là nhà kinh tế học cách mệnh” [37, tr.161] Lênin kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác cho phù hợp với điều kiện mới nhằm giải quyết

Trang 35

những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và bước đầu xây dựng chính quyền nhân dân lao động làm chủ Nếu Các Mác cho rằng “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, theo Lênin tư tưởng ấy phải

là “Vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” [51, tr.305] Điều đó đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, những người bị áp bức tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các lực lượng cách mạng vì lợi ích chung của giai cấp công nhân và cả loài người

Tư tưởng Lênin đã “đấu tranh một cách không điều hòa chống bọn cải lương và bọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác đủ các loại, Lênin đã nâng chủ nghĩa

xã hội khoa học lên một giai đoạn mới Người đã làm phong phú chủ nghĩa Mác, vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản, đã góp phần cống hiến lớn lao vào việc đề ra lý luận về chuyên chính vô sản, đã phát triển nguyên lý mácxít về khối liên minh công nông, về vấn đề dân tộc và thuộc địa về chủ nghĩa quốc

tế vô sản, về xây dựng củng cố Đảng kiểu mới là tổ chức duy nhất đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh muôn hình, muôn vẻ của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị nô dịch Lênin đã xây dựng lý luận mới, hoàn chỉnh về cách mạng xã hội đã chứng minh khả năng chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi ở một nước riêng lẻ” [50, tr.513]

Các nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình không can thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô đã chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc Điều đó khẳng định vấn đề dân tộc càng không thể xét một cách trừu tượng, tách riêng được mà phải thấy được những phong trào dân tộc thật

sự nhằm chống chủ nghĩa đế quốc đều tất nhiên góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng chung; các yêu cầu dân tộc và các phong trào đó đối với những lực lượng đế quốc trên thế giới Chủ nghĩa Mác - Lênin đã bóc trần mặt nạ

Trang 36

của dân chủ tư sản, một thứ dân chủ nấp sau cái lối tuyên truyền sự “bình đẳng” trừu tượng giữa các dân tộc để che giấu sự áp bức, bóc lột của một nhóm nước đế quốc đối với số lớn dân tộc trên trái đất Chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân biệt cụ thể các nước bị áp bức, bị phụ thuộc, không có quyền bình đẳng với các nước đi áp bức, bóc lột, có chủ quyền Đó là những chất liệu sống động được tiếp thu, kế thừa trong việc hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân vận

Một sự kiện mang tính lịch sử quan trọng trong sự phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân vận, đó là khi Người đọc bản: Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin Với luận cương này, Hồ Chí Minh nhắc lại: “Trong luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng

mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đông đảo: hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” [49, tr.127] Bản luận cương của Lênin đã giải đáp cho Hồ Chí Minh những vấn đề về lực lượng, phương pháp và con đường giải phóng đúng đắn cho cách mạng Việt Nam mà Người đang trăn trở tìm kiếm Từ đó

Hồ Chí Minh tin theo V.I.Lênin và Quốc tế thứ III và đã bỏ hết tâm huyết để nghiên cứu các tác phẩm của C.Mác và V.I.Lênin đặc biệt là những vấn đề chủ nghĩa xã hội và cách mạng giải phóng dân tộc

Quá trình nghiên cứu và học hỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh

đã chuyển sự hiểu biết thành hoạt động thực tiễn theo tinh thần triệt để cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Vì theo Hồ Chí Minh “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh” [45, tr.247] Chủ nghĩa Mác - Lênin trở

Trang 37

thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người Đó là những qua niệm duy vật về thế giới, phương pháp luận biện chứng, đặc biệt là các quan điểm về duy vật lịch sử, về sự phát triển của xã hội loài người, về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, lý luận về cách mạng xã hội, về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Lênin đã chỉ rõ không có sự cố gắng tự nguyện của giai cấp vô sản và sau đó là của toàn thể quần chúng lao động tất

cả các nước và các dân tộc trên thế giới, hướng tới sự liên minh và thống nhất với nhau, thì việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản không thể nào hoàn thành có kết quả được

Tóm lại, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh đã được hình thành phát triển trên cơ sở những truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với những tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin trong quan điểm về dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử

1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân vận

Tư tưởng về dân vận là một bộ phận trong hệ thống chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh nhằm thức tỉnh, giáo dục, tổ chức nhân dân đi tới giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng nhân loại Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển hoàn thiện gắn liền với kỳ công của Người trong quá trình vận động cách mạng qua mấy chục năm kháng chiến thắng lợi của cách mạng Việt Nam và quá trình lớn mạnh của Đảng, Nhà nước ta Quá trình đó được thể hiện cụ thể như sau:

Từ năm 1908 đến năm 1920: Hồ Chí Minh tham gia hoạt động yêu nước, hình thành tư tưởng yêu nước và tư tưởng dân vận: đây là thời kỳ Nguyễn Sinh Cung tiếp nhận truyền thống yêu nước và nhân nghĩa của dân tộc; hấp thu vốn văn hóa quốc học, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn

Trang 38

hóa phương Tây Người chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, thấy rõ tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, hình thành hoài bão và tham gia cứu nước bằng những hành động ban đầu, nhưng có ý nghĩa lớn

Một là, tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nhân dân Thừa Thiên (1908) và bị đuổi học tại Trường Quốc học Huế

Hai là, thực hiện hoài bão từng nung nấu từ nhỏ là tìm cách sang Pháp

và các nước phương Tây để xem “họ làm như thế nào rồi trở về nước giúp đồng bào mình” Vì theo Người để đánh thắng được chủ nghĩa tư bản Pháp thì phải hiểu được nội tình của nó như thế nào

Ba là, trong thời gian làm việc trên tàu buôn Pháp, Người đã gia nhập Hải viên công hội, Hội của những người thủy thủ Việt Nam ở nước ngoài Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi yêu sách tám điều đến Hội nghị Vécxây đòi tự do dân chủ đơn sơ, đòi có tiếng nói của người bản

xứ trong Quốc hội Pháp, đòi thay thế chế độ sắc lệnh bằng các đạo luật… Bằng những hoạt động tích cực ấy, Người đã đi được một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận Đó là việc thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp làm nòng cốt cho Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa sau này

Từ năm 1920, sau khi buôn ba khắp các châu lục để tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và hướng về con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng triệt để, “cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều” Đặc biệt khi tiếp xúc với Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc

và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, lực lượng cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc địa Người biểu quyết tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh - từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác -

Trang 39

Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp công nhân, từ người yêu nước đến người cộng sản, từ sự vận động đơn độc về công tác dân vận thành nhà tổ chức cách mạng lỗi lạc

Từ năm 1920 đến năm 1930: Giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng

về con đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận: đây là thời kỳ hoạt động thực tiễn chuẩn bị về lý luận, tư tưởng và tổ chức cực kỳ sôi nổi

và phong phú của Hồ Chí Minh nhằm tiến tới thành lập chính đảng vô sản

ở Việt Nam Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa trong đó có hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp làm nòng cốt, hoạt động tích cực trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, xuất bản sách, xuất bản báo Le Paria nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng cứu nước của Người về Việt Nam và các nước thuộc địa Năm

1923 Người dự Hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào đoàn Chủ tịch của Hội Sau đó Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần V (1924) và Đại hội các đoàn thể quần chúng khác của Quốc tế Cộng sản như: Quốc tế Thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ, Quốc tế công hội đỏ, Phụ nữ quốc tế…

Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này là định hướng cách mạng thuộc địa “giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản” Đánh giá sức mạnh của nhân dân thuộc địa, Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một vài tên thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ như người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phòng hoàn toàn” [40, tr.36]; trình bày cho nhân dân các dân tộc bị áp bức rõ rằng chủ nghĩa cộng sản thích nghi dễ dàng với Châu Á và Đông Dương hơn là các nước châu Âu; làm cho nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thức tỉnh

và tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng thuộc địa trước cách mạng vô

Trang 40

sản chính quốc… Bởi vì theo Người “Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệt người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa Bởi thế, nó chỉ tan rã và hoàn toàn vĩnh viễn khi nào chúng

ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa” [41, tr.126]

Với các báo Người cùng khổ (1922), sách Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và những bài viết trên các Tạp chí Cộng sản, Đời sống công nhân, Thông tin quốc tế… Hồ Chí Minh đã giáo dục những người Việt Nam yêu nước từng bước chuyển từ yêu nước truyền thống sang yêu nước theo lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân Năm 1924, Hồ Chí Minh về Quảng Châu (Trung Quốc) vận động, tổ chức ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên và viết tập sách Đường Cách mệnh, mở các lớp tập huấn chính trị để đào tạo cán bộ rồi đưa họ về nước hoạt động

Từ ngày 3 đến ngày 07/2/1930 Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam

và các đoàn thể cách mạng Việt Nam như: Thanh niên Cộng sản đoàn, Hội Phụ nữ, Công hội, Hội cứu tế đỏ, Hội Nông dân, Hội phản đế đồng minh

Tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng ra đời đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam đồng thời nói lên sự hoàn chỉnh về tư tưởng dân vận của Người

Từ năm 1930 đến 1945: Giai đoạn tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh được kiểm nghiệm và phát huy tác dụng trong các phong trào cách mạng Việt Nam: đầu năm 1941 Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII, cụ thể hóa đường lối

do Người vạch ra trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng và đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, Người chỉ rõ trong lúc này “Nếu quyền lợi giải phóng dân tộc không được giải quyết thì quyền lợi giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được” Với chủ trương sáng tạo đúng đắn như tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, xóa bỏ vấn đề liên bang Đông Dương, lập ra

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w