1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng của cộng đồng người quảng nam tại tp hồ chí minh (trường hợp cộng đồng người quảng nam ở khu vực bảy hiền quận tân bình)

189 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 8,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hiện qua bảng phân tích trang 621 trong cuốn sách này cũng như đề ra những biện pháp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Công trình của Lê Như Hoa về Tín ngưỡng dân gian ở V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

LÊ THỊ NGỌC BÍCH

TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH (TRƯỜNG HỢP CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM

Ở KHU VỰC BẢY HIỀN - QUẬN TÂN BÌNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

LÊ THỊ NGỌC BÍCH

TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH (TRƯỜNG HỢP CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM

Ở KHU VỰC BẢY HIỀN - QUẬN TÂN BÌNH)

Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC

Trang 3

Xin được biết ơn gia đình, bạn bè, và chính quyền nhân dân nơi tôi nghiên cứu

đã ủng hộ, giúp tôi hoàn thành công trình này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 7 năm 2020

Học viên

Lê Thị Ngọc Bích

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ Những số liệu chúng tôi công

bố đều là những số liệu có đầy đủ tài liệu để kiểm chứng

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 7 năm 2020

Học viên

Lê Thị Ngọc Bích

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2

2.1 Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng - tôn giáo 2

2.2 Các công trình nghiên cứu về người Quảng 4

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 7

5.1 Phương pháp nghiên cứu 7

5.2 Nguồn tư liệu 8

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

6.1 Ý nghĩa khoa học 8

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 9

CHƯƠNG 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN 10

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1.1 Các khái niệm 10

1.1.1.1 Tín ngưỡng 10

1.1.1.2 Cộng đồng 14

1.1.1.3 Cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền 17

1.1.2 Quan điểm tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 18

Trang 6

1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận 18

1.1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu 18

1.1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 20

1.1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 20

1.1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 20

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC BẢY HIỀN 21

1.2.1 Lược sử hình thành vùng đất 21

1.2.2 Xuất xứ tên gọi Bảy Hiền 23

1.2.3 Địa lí tự nhiên 24

1.3 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN 25

1.3.1 Sự xuất hiện của cộng đồng người Quảng Nam ở Sài Gòn 25

1.3.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền 30

1.3.3 Kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Quảng Nam ở Bảy Hiền 34

1.3.3.1 Kinh tế 34

1.3.3.2 Văn hóa- xã hội 38

Tiểu kết chương 1 43

CHƯƠNG 2 44

CÁC LOẠI HÌNH TÍN NGƯỠNG CỦA CỘNG ĐỒNG 44

NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN 44

2.1 TÍN NGƯỠNG CỘNG ĐỒNG 45

2.1.1 Tín ngưỡng Thần Thành Hoàng (Lễ cúng xóm đầu năm) 45

2.1.2 Tín ngưỡng liên quan đến chiến sĩ trận vong (Miếu Liệt Sĩ) 55

2.2 TÍN NGƯỠNG TRONG DÒNG TỘC: THỜ HỌ TỘC 58

2.3 TÍN NGƯỠNG TRONG GIA ĐÌNH 63

Trang 7

2.3.1 Tín ngưỡng thờ tổ tiên/ ông bà 63

2.3.2 Tín ngưỡng thờ ông Thần Tài – Ông Thổ Địa 70

2.3.3 Tín ngưỡng thờ Ông Táo 74

2.3.4 Tín ngưỡng thờ Thiên 77

2.3.5 Tín ngưỡng giỗ Tổ Nghề 79

2.3.6 Một số tín ngưỡng khác 81

Tiểu kết chương 2 92

CHƯƠNG 3 94

CHỨC NĂNG, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN 94

3.1 CHỨC NĂNG CỦA TÍN NGƯỠNG 94

3.1.1 Chức năng tâm lý 94

3.1.2 Chức năng xã hội 98

3.2 VAI TRÒ CỦA TÍN NGƯỠNG 108

3.2.1 Đáp ứng nhu cầu tâm linh 108

3.2.2 Phản ánh lịch sử của địa phương và giáo dục đạo đức 110

3.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƯỠNG 113

3.3.1 Tính linh hoạt 113

3.3.2 Tính đa thần và sự hỗn dung tín ngưỡng với tôn giáo 114

3.3.3 Tính nhân văn sâu sắc 117

Tiểu kết chương 3 119

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 131

PHỤ LỤC 1: VĂN TẾ CÚNG XÓM CỦA KHU XÓM BÀU CÁT 131

PHỤ LỤC 2: VĂN TẾ CÚNG LỄ TẤT NIÊN 136

Trang 8

PHỤ LỤC 3: VĂN TẾ LỄ THANH MINH – HOÀN NGUYỆN TẠ ƠN 137PHỤ LỤC 4: TRÍCH BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 1 139PHỤ LỤC 5: TRÍCH BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 2 142PHỤ LỤC 6: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 144

Trang 9

5 Khoa học xã hội và Nhân văn KHXH & NV

6 Ủy ban thường vụ Quốc hội UBTVQH

Trang 10

Hiện nay khi nói đến người Quảng ở Thành phố Hồ Chí Minh, thì khu vực Bảy Hiền của quận Tân Bình là nơi người Quảng cư trú đông nhất, hình thành nên cộng đồng mang tính đặc trưng “văn hóa xứ Quảng” ở khu vực này Do bởi trong cuộc sống cộng đồng, mặc dù sống trong đô thị hiện đại như Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng người Quảng vẫn duy trì được những nét văn hoá truyền thống của quê hương mình Đặc biệt

là các loại hình tín ngưỡng của gia đình, dòng họ và cộng đồng không bị mai một mà luôn được giữ gìn, phát huy trong đời sống của họ Các loại hình tín ngưỡng này được xem là dấu ấn quan trọng, tạo nên tính đặc trưng của cộng đồng người Quảng ở đô thị Thành phố Hồ Chí Minh

Là người con xứ Quảng, sinh ra và lớn lên ngay trong cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền, luôn cùng gia đình và cộng đồng chứng kiến, thực hành các loại hình tín ngưỡng trong khu vực, nên tôi cũng đã từng đặt ra những câu hỏi như vai trò, chức năng, đặc điểm của việc thực hiện các loại hình tín ngưỡng trong cộng đồng là gì? và có những khác biệt như thế nào so với ở các cộng đồng khác để tạo nên tính đặc trưng của cộng đồng người Quảng trong đô thị? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc tôi muốn tìm hiểu nghiên cứu và đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền, quận Tân Bình)” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Việt Nam học

Trang 11

Công trình Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (1992), quyển thượng,

là quyển sách cung cấp những hiểu biết về cội nguồn của dân tộc, về những phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của người Việt Đồng thời thông qua công trình này, tác giả cũng cho thấy sự tiến hóa của tổ tiên ta khởi nguồn từ cá nhân  gia đình  họ tộc

 làng xóm  huyện tỉnh  quốc gia

Công trình của Leopold Cadiere Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt do Đỗ Trinh Huệ dịch (1997), Công trình của Bùi Xuân Mỹ về Lễ tục trong gia đình người Việt (2007) có những nghiên cứu giúp người đọc hiểu được sự tác động sâu sắc qua lại giữa tín ngưỡng và gia đình

Công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (2000) cung cấp cái nhìn hệ thống về loại hình về văn hóa Việt Nam, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng - đời sống tập thể và đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường

tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội Đồng thời, công trình này cũng đề cập đến các loại hình tín ngưỡng như: tín ngưỡng Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Thổ thần, Thần Tài – Ông Địa, thờ tổ tiên, ông bà… Đi cùng với đó là những khái niệm liên quan đến các loại hình này được trình bày một cách cụ thể, rõ ràng để tạo nền tảng cho việc triển khai nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng như đã nêu Bên cạnh đó, hai bài viết “Văn hóa cổ truyền đứng trước công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa và “Vấn

đề bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc” nêu ý kiến của Trần Ngọc Thêm về văn hóa Việt Nam trong quá trình phát triển của xã hội (về cái hay cái dở, cái được cái mất) thể

Trang 12

hiện qua bảng phân tích trang 621 trong cuốn sách này cũng như đề ra những biện pháp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc

Công trình của Lê Như Hoa về Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam (2001), của Nguyễn Đăng Duy về Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (2001) đều nghiên cứu về những tín ngưỡng của cộng đồng (thờ thần xóm ngõ, thần làng) và gia đình (thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng vong hồn)

Công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (2001) nêu lên bản chất và sắc thái đa dạng trong đời sống tâm linh của người nông dân Việt Nam thể hiện qua các tín ngưỡng: thờ Thần Thành Hoàng, thờ tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, tín ngưỡng nghề nghiệp; đồng thời qua đó nêu bật mối quan hệ giữa tín ngưỡng và con người Việt Nam

Công trình Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam của nhà xuất bản văn hóa dân tộc (2001), công trình của Đoàn Triệu Long về Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam (hỏi và đáp) (2014) cung cấp những kiến thức cơ bản về các khái niệm: tín ngưỡng, tôn giáo, các tục lệ thờ cúng trong gia đình (thờ thần tài, thờ thổ công, thờ cúng tổ tiên ông bà, cúng cô hồn, tín ngưỡng nghề nghiệp…) Trong hai công trình nghiên cứu này, những câu hỏi và câu trả lời được khái quát ngắn gọn giúp người đọc dễ hiểu và dễ ghi nhớ

Công trình Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam của Nguyễn Đức

Lữ và cộng sự (2007) đã đề cập đến các loại hình tín ngưỡng điển hình ở Việt Nam như: thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng phồn thực… Để đưa ra được các loại hình tín ngưỡng này, Nguyễn Đức Lữ và các cộng sự đã trình bày rõ các khái niệm liên quan như: niềm tin, tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian… để làm cơ sở lý luận vững chắc cho việc triển khai nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng cụ thể ở Việt Nam

Công trình nghiên cứu Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh của Võ Thanh Bằng (2008) là công trình nghiên cứu về những tín ngưỡng tại Thành phố Hồ Chí Minh với các loại hình như: tín ngưỡng đình, miếu, nhà vuông, tín ngưỡng thờ các anh hùng liệt sĩ, tín ngưỡng trong dòng tộc, tín ngưỡng trong gia đình Tín ngưỡng của các tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer đều được nghiên cứu đầy đủ và rõ nét Trong nghiên cứu này, những tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền được

đề cập đến như: tín ngưỡng liên quan đến chiến sĩ trận vong (miếu liệt sĩ), thờ Tổ nghề

Trang 13

nghiệp (thờ ông Võ Dẫn (nghề dệt)) Tuy nhiên, một số tín ngưỡng khác trong khu vực như: tín ngưỡng cộng đồng (lễ cúng xóm đầu năm), tín ngưỡng trong gia đình (thờ Môn thần, tín ngưỡng trấn trạch, cúng cô hồn vào ngày 2 và 16 âm lịch hằng tháng, ), chưa được đề cập đến trong công trình này Và một số thông tin liên quan đến tín ngưỡng ở khu vực người Quảng được đề cập đến đã không còn chính xác nữa như thông tin thờ hai liệt sĩ hy sinh năm Mậu Thân (tr.98), thực tế là thờ ba liệt sĩ (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.230); hoặc thông tin liên quan đến “các nhà thờ tộc ở Bảy Hiền đều nằm ở vị trí Bàu Cát, phường 11” (tr.438), thực tế nhiều nhà thờ tộc ở Bảy Hiền nằm rải rác ở phường 11, không tập trung ở vị trí Bàu Cát Sự sai lệch thực tế hiện nay

so với thông tin trong quyển sách này có thể do sự điều chỉnh địa giới và việc xác định

vị trí theo thời gian khác nhau Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, người Quảng ở Bảy Hiền có nhiều nhà thờ Tộc và đã được đề cập đến trong công trình nghiên cứu của Võ Thanh Bằng

2.2 Các công trình nghiên cứu về người Quảng

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về tôn giáo, chúng tôi cũng đã tìm hiểu những công trình nghiên cứu về người Quảng như sau:

- Đất Gia Định xưa của Sơn Nam (1984), Gia định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1998), Phủ Biên tạp lục của Lê Qúy Đôn (2007), cung cấp những tư liệu, dẫn chứng về nguồn gốc của người Quảng Nam ở Sài Gòn Bên cạnh đó cũng cho thấy dấu

ấn của người Quảng trong phong tục tập quán, nhà ở trong quá trình khẩn hoang trên đất Gia Định xưa

- Các tài liệu nghiên cứu được sử dụng khá nhiều trong luận văn của chúng tôi: + Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ của Phan Thị Yến Tuyết và các tác giả (2002) có bài viết “Nghề dệt ở Bảy Hiền” (Huỳnh Thị Ngọc Tuyết) Bài viết

đã giới thiệu về lịch sử hình thành cũng như nghiên cứu rõ nét về nghề dệt truyền thống của vùng đất Bảy Hiền Bên cạnh đó đời sống văn hóa xã hội ở khu vực này cũng được tác giả đề cập đến, trong đó có tục “cúng xóm “ Và đặc biệt, nguồn gốc của ngôi chùa Phổ Hiền và trường học trong khu vực: trường cấp 2 Hạnh Đức, nay là trường Võ Văn Tần cũng đã được giới thiệu trong bài viết Đây là một tư liệu quý giá cho luận văn của chúng tôi

Trang 14

+ Tìm hiểu con người xứ Quảng của Nguyên Ngọc và các tác giả (2005) là một công trình nghiên cứu về người Quảng trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, đánh giặc Bên cạnh đó là 13 phụ lục giúp làm rõ hơn về tính cách của người Quảng Nam, đặc biệt phụ lục 11“Người Quảng Nam làm nên cơ nghiệp trên đất Sài Gòn- TP Hồ Chí Minh và phụ lục 12 “Làng dệt vải Bảy Hiền” giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của người Quảng ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở khu Bảy Hiền cũng như nghề nghiệp, tính cách của họ khi di cư vào mảnh đất phương Nam Trong phụ lục 11 và phụ lục 12 cũng đã nghiên cứu rõ nét về nghề dệt truyền thống ở Bảy Hiền, từ quá trình hình thành, quá trình phát triển đến sự suy thoái của làng nghề trước sự phát triển của xã hội đồng thời thông qua đó, nét văn hóa của người Quảng cũng được khắc họa qua phụ lục này Trong phụ lục, sự miêu tả kĩ càng về nghề dệt cùng những từ chuyên môn về nghề dệt như: “mắc hồ”, “thoi “, “gô “, “lược “được tác giả dùng chính xác, chứng tỏ sự am hiểu của mình đối với nghề dệt nơi đây Tuy nhiên theo chúng tôi, có một số thông tin chưa chính xác trong công trình này Ví dụ: chợ Bà Hoà (tr.643) chính xác là chợ Bà Hoa (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.18), hoặc những nhận định về cuộc sống người dân ở Bảy Hiền “có thể nói, trong suốt mấy chục năm qua ở Bảy Hiền, một trong những điểm nổi bật là ở đây ai cũng có điều kiện thăng tiến, không có ai bơ bấc, tụt xuống cảnh cùng khổ” (tr.621) Những nhận định này theo chúng tôi hơi khiên cưỡng,

vì hiện nay vẫn còn nhiều nhà giữ nghề dệt truyền thống và cuộc sống của họ vẫn còn rất khó khăn (từ xưa đến nay) (theo tư liệu điền dã)

- Những bài báo “Người Quảng ở Sài Gòn” của Nguyễn Thị Hoài Hương (n.d) ,

“Dấu ấn người Quảng ở Sài Gòn” Thúy Bình (2017) , là những bài viết về vùng đất, con người Quảng Nam tại khu vực Bảy Hiền nhưng chỉ dừng ở mức khái quát, sơ lược

về người Quảng ở Sài Gòn hoặc ở Bảy Hiền Những nét văn hóa đặc sắc của người Quảng ở khu vực này chưa được các tác giả nghiên cứu

- Bên cạnh đó, tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng tại thành phố Hồ Chí Minh cũng được đề cập qua những bài báo: “Cúng xóm, nét văn hóa đầu năm” của Ngô Đăng Bảy (2009), “Cúng xóm Sài Gòn vừa lạ vừa quen” của Giang An - Thanh Nhẫn (2016),

“Tình nghĩa Bảy Hiền qua tục Cúng Xóm” (www.bayhientower.vn, ngày 28/02/2015) Tuy nhiên những nghiên cứu trên chỉ dừng ở việc giới thiệu, chưa đi sâu vào tìm hiểu chi tiết

Trang 15

- “Cúng xóm (“hamlet workship”) in Hồ Chí Minh city during Tết, the Lunar New Year Festival “của Patric McAllister (DORISEA Working Paper, ISSUE 11, 2014, ISSN: 2196-6893) là một bài nghiên cứu về cúng xóm của Patric McAllister về tục cúng xóm ở khu phố 3, phường Hòa Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh từ năm

2011 đến năm 2013 Bài nghiên cứu đã đi sâu về nguồn gốc, tiến trình, ý nghĩa của tục cúng xóm Bên cạnh đó, tác giả cũng đã thực hiện phỏng vấn và so sánh với tục cúng xóm ở khu vực khác để thấy sự khác biệt Nghiên cứu này đã giúp chúng tôi nhiều tư liệu cũng như có cái nhìn khách quan hơn khi nghiên cứu về tục cúng xóm ở khu vực Bảy Hiền Bài báo này chúng tôi đọc nguyên bản và tự dịch sang tiếng Việt, chúng tôi hiểu theo những kiến thức mình có được trong quá trình thực hành trong nghi lễ cúng xóm nhiều lần

- Luận văn thạc sĩ “Lễ cúng xóm ở Quảng Nam”, của Hoàng Hà Giang (2017) đã nghiên cứu về tục cúng xóm đầu năm của người Quảng Nam ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Bên cạnh đó, luận văn còn có sự so sánh lễ cúng xóm của người Quảng giữa các khu vực với nhau để thấy sự chuyển biến của lễ cúng này Đây là những tư liệu hữu ích cho đề tài của chúng tôi

Tóm lại những công trình nghiên cứu trên tuy chưa có những nghiên cứu trực tiếp đến tín ngưỡng của người Quảng Nam trong khu vực Bảy Hiền nhưng là những tư liệu khoa học quý giá, cung cấp những kiến thức và thông tin hữu ích giúp chúng tôi thực hiện luận văn của mình

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Thông qua việc thực hiện luận văn này, chúng tôi hướng đến các mục tiêu sau:

- Tìm hiểu thực trạng tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng tại Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền, quận Tân Bình, qua đó nhận thấy được đặc trưng tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng trong đô thị

- Tìm hiểu vai trò, chức năng, đặc điểm của tín ngưỡng trong cộng đồng người Quảng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và ở Bảy Hiền nói riêng

- Ngoài ra, thông qua luận văn chúng tôi muốn quảng bá rộng rãi những phong tục tín ngưỡng của người Quảng trong khu vực để nhiều người cùng thấy nét đẹp truyền thống từ đó chung tay bảo tồn, giữ gìn nét văn hóa này

Trang 16

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các loại hình tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng ở khu vực Bảy Hiền Cụ thể là các loại hình tín ngưỡng như: tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng tộc, tín ngưỡng trong gia đình và một số loại hình tín ngưỡng khác

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về không gian: Không gian nghiên cứu cụ thể là khu vực Bảy Hiền – quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi chọn khu vực này vì đây là nơi có cộng đồng người Quảng Nam sinh sống đông và lâu nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh Và người Quảng nơi đây này hầu như vẫn giữ nguyên những giá trị văn hóa truyền thống của quê nhà

* Về thời gian: Chúng tôi nghiên cứu tín ngưỡng của cộng đồng người Quảng Nam ở Bảy Hiền trong quá trình hình thành phát triển nhằm làm rõ các loại hình tín ngưỡng trong khu vực và nghiên cứu sự biến đổi của các tín ngưỡng trong quá trình đô thị hóa hiện nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã thực hiện điền dã nhiều lần tại cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền trong năm 2019 và 2020 Qua các cuộc điều dã đó, chúng tôi

đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu để thu thập dữ liệu sơ cấp từ cộng đồng như:

* Quan sát tham dự: Chúng tôi thực hiện điền dã tại cộng đồng và tham dự các buổi lễ cúng: cúng xóm, các lễ cúng, lễ giỗ,… tại cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền nhằm có cái nhìn thực tế và chính xác cho luận văn của mình

* Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn cơ quan đoàn thể (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, quận Tân Bình), những người dân Quảng Nam sinh sống trong khu vực Bảy Hiền (những người dân sinh sống lâu năm, những vị trong ban tế lễ, những vị Trưởng tộc, những hộ gia đình có tín ngưỡng ) để có tư liệu cho đề tài và trả lời được cho câu hỏi nghiên cứu

Trang 17

* Điều tra bảng hỏi: Chúng tôi đã sử dụng 100 bảng hỏi cho các cá nhân để khảo sát tại cộng đồng Các bảng hỏi này được khảo sát theo cách chọn mẫu phát triển mầm (snow ball) và theo chủ đích Do bởi, với lợi thế là người địa phương, nên việc chọn mẫu có chủ định giúp chúng tôi rút ngắn được thời gian nghiên cứu Còn với mẫu phát triển mầm sẽ giúp chúng tôi có thêm nhiều nguồn tư liệu khác nhau để từ đó có thể so sánh với những dữ liệu do mẫu chủ định cung cấp

Ngoài ra, chúng tôi còn tra cứu dữ liệu nền tảng để có nguồn tư liệu thứ cấp phục

vụ cho việc viết luận văn Chúng tôi đã tra cứu và đọc các tài liệu liên quan đến đề tài luận văn từ các nguồn như sách, tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học, trên internet,… Khi trình bày nội dung nghiên cứu của mình, chúng tôi luôn chú trọng đến hai quan điểm: emic (quan điểm của người trong cuộc) và etic (quan điểm người ngoài cuộc) Khi phân tích vấn đề nghiên cứu, chúng tôi hướng đến cách tiếp cận liên ngành như văn hóa học, nhân học, sử học… để giải thích vấn đề một cách toàn diện hơn

5.2 Nguồn tư liệu

Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu chính từ:

* Nguồn tư liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu này được thu thập từ các công trình nhiên cứu như sách, báo, tạp chí, luận văn, nguồn Internet,…có liên quan đến đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn xin các thông tin, số liệu từ UBND Phường 11, Quận Tân Bình, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; cũng như các thông tin, tài liệu, hình ảnh, từ người dân tại cộng đồng nghiên cứu

* Nguồn tư liệu sơ cấp: Do chính chúng tôi thu thập trong quá trình đi điền dã tại cộng bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, điều tra bảng hỏi,…

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

6.1 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp cái nhìn hệ thống toàn diện về tín ngưỡng của người Quảng Nam ở Bảy Hiền, qua đó góp phần làm rõ hơn về đời sống văn hóa tinh thần của người Quảng ở khu vực này

Trang 18

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ việc thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng những nét văn hóa đặc sắc của người dân xứ Quảng ở Bảy Hiền luôn được gìn giữ và phát huy, đặc biệt thế hệ kế thừa

sẽ có thái độ ứng xử phù hợp với những truyền thống này

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN

Ở chương này, chúng tôi trình bày về những khái niệm, đưa ra quan điểm tiếp cận, lý thuyết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, và tổng quan về cộng đồng nghiên cứu

CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH TÍN NGƯỠNG TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN

Nội dung của chương này sẽ giới thiệu các hình thức tín ngưỡng của cộng đồng dân cư trong khu vực bao gồm: lễ cúng xóm, tín ngưỡng thờ cúng các anh hùng liệt sĩ (miếu liệt sĩ), thờ cúng họ tộc, tín ngưỡng thờ tổ tiên, ông bà, thờ ông Thần Tài – Thổ Địa, thờ Ông Táo, thờ Thiên, giỗ Tổ nghề, một số tín ngưỡng khác: thờ Môn thần, tín ngưỡng trấn trạch, tín ngưỡng cúng cô hồn (2& 16 âm lịch hằng tháng, 15/7 âm lịch), tín ngưỡng dân gian trong sinh hoạt như (lễ cúng đầy tháng, lễ cúng thôi nôi, lễ động thổ, lễ cúng nhà mới, lễ cúng tất niên,lễ cúng giao thừa, lễ cúng khai trương đầu năm) Bên cạnh đó cũng đồng thời nêu ra những xu hướng biến đổi hiện nay ảnh hưởng đến tín ngưỡng của địa bàn nghiên cứu

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN

Trong chương này sẽ tiến hành phân tích vai trò, chức năng và đặc điểm của tín ngưỡng trong đời sống người dân Quảng Nam ở Bảy Hiền

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ CỘNG ĐỒNG

NGƯỜI QUẢNG NAM Ở KHU VỰC BẢY HIỀN

tiếng Pháp là Croyance, có nghĩa là tin vào điều gì đó và thông thường hay được dùng

để chỉ niềm tin tôn giáo (croyance religieuse) (Hà Văn Tăng – Trương Thìn, 20??, tr.50)

Lý giải rộng ra, “tín ngưỡng” là niềm tin, hy vọng của con người được gửi gắm để thoát khỏi sự khó khăn và tìm sự bình an về tinh thần

Hiện nay, quan điểm giải thích về khái niệm tín ngưỡng rất nhiều, đa dạng, phong phú và được các nhà nghiên cứu nhìn nhận, phân tích dưới nhiều phương diện:

* Tín ngưỡng được hiểu là tôn giáo

Theo quan điểm này, giữa tín ngưỡng và tôn giáo không có sự tách biệt, tín ngưỡng được xem là niềm tin tôn giáo, là yếu tố cơ bản nhất của mọi tôn giáo, vì vậy giữa tín ngưỡng với tôn giáo không thể có sự tồn tại độc lập (Nguyễn Ngọc Mai, 2017)

Do đó, trong Từ điển Việt Nam Phổ Thông của Đào Văn Tập giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng tin tưởng và ngưỡng mộ đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” (Toan Ánh,1991, tr.12) Tương tự như vậy, trong Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa (2007) cũng đề cập: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” (tr.871) Đặng Nghiệm Vạn (2005) đã viết trong quyển Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam:

“Tín ngưỡng có thể hiểu theo hai nghĩa: khi chúng ta nói đến tự do tín ngưỡng, người nước ngoài có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, lelieve, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance riligieuse), khi hiểu tín ngưỡng

là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief,

Trang 20

believer theo nghĩa hẹp croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chính là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo” (tr.87- 88)

Đặng Nghiêm Vạn (2005) cho rằng: “Niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng là niềm tin chắc chắn có thật, là một niềm tin mang tính chủ quan, trực giác, không cần lý giải một cách khoa học Người nào muốn theo một tôn giáo nhất định, trước hết phải có niềm tin” (tr.97)

Trong công trình Tín ngưỡng – Mê tín của Hà Văn Tăng – Trương Thìn (20??) cũng xem tín ngưỡng đồng nhất với tôn giáo, khi cho rằng: “những tín ngưỡng lớn như tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, mà với quan điểm của tôn giáo học hiện đại, cũng có thể gọi đó là các tôn giáo” (tr.17) Hay quan điểm của Leopold Cadiere

- một học giả phương Tây đầu thế kỷ XX – nghiên cứu ở Việt Nam cũng lý giải “việc thờ cúng thần thánh, vong linh tổ tiên ông bà của người Việt cũng là một loại tôn giáo” (Đỗ Trinh Huệ, 1997, tr.37-38)

Như vậy, với quan điểm này, tôn giáo và tín ngưỡng được xem là một Đó là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một thế lực siêu nhiên trong trời đất như Thượng đế, Phật, Thần, Thánh, Bản chất của niềm tin trong tín ngưỡng là khẳng định sự tồn tại và sự cứu giúp của thần thánh đối với con người, có chức năng giải quyết, cứu rỗi, xoa dịu nỗi đau hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinh thần Theo Đặng Nghiêm Vạn (2000):

“Tôn giáo nào cũng bao gồm một hệ thống niềm tin được hình thành do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo biểu hiện rất khác nhau… được quy định bởi một nội dung mang tính siêu thực (hay siêu nghiệm) nhằm tập hợp những thành viên trong một cộng đồng tức có tính xã hội” (tr.43)

Niềm tin hay tín ngưỡng, nội dung hay giáo lý, cộng đồng hay tổ chức là những yếu tố cấu thành của tôn giáo Ba yếu tố này đóng vai trò chính trong tôn giáo, tín ngưỡng Trong đó, niềm tin hay tín ngưỡng là yếu tố quyết định nhất

* Tín ngưỡng hoàn toàn khác và độc lập với tôn giáo

Quan điểm này tách biệt rõ ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo, thậm chí cho rằng tín ngưỡng như một cấp độ thấp của tôn giáo (Nguyễn Ngọc Mai, 2017) Theo Nguyễn Duy Hinh (1996) trong quyển Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam: “trong tình hình cuộc tranh luận về định nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo chưa đưa ra một kết luận tương

Trang 21

đối được nhiều người chấp nhận, thì sử dụng khái niệm tín ngưỡng như biểu hiện thấp hơn tôn giáo trong khi nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo là điều cần thiết” (tr.337) Ông cho rằng nói đến “tín ngưỡng” là đề cập đến sản phẩm tinh thần của con người, chỉ tình cảm, không phải là hành vi tôn giáo; còn nói đến “tôn giáo” cần phải hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng chỉ các hiện tượng tôn giáo, còn nghĩa hẹp chỉ các tôn giáo lớn thể chế hóa cao độ (tr.336 – 337)

Trần Ngọc Thêm (2000) khẳng định sự khác biệt giữa tín ngưỡng với tôn giáo trong quyển sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của ông, khi cho rằng:

“Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh mà họ tưởng tượng ra Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường - tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích nên các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm móng của những tôn giáo như thế -

đó là đạo Ông Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc (như Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo) mới xuất hiện” (tr.263)

Nguyễn Đức Lữ (1999) cũng nhận định tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Ông đã giải thích sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng:

“Tôn giáo có giáo lý với những hệ thống, những quan điểm về thế giới quan nhân sinh quan với những tín điều phản ánh niềm tin ấy, có giáo luật với những điều cấm kị, răn dạy, có giáo lễ với những nghi thức thờ phụng, có tổ chức giáo hội với đội ngũ, chức sắc, số lượng tín đồ và hệ thống tổ chức nhất định, trong khi đó, tín ngưỡng phản ánh niềm tin, đức tin của con người về một chủ thuyết, một lực lượng nào đó” (tr.30 – 32)

Ngô Đức Thịnh (2001) trong quyển sách Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam đã có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo như sau: (tr.18)

Trang 22

Tín ngưỡng Tôn giáo Chưa có hệ thống giáo lý, mà chỉ mới có

các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết

Hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện quan niệm vũ trụ và nhân sinh truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đường Chưa thành hệ thống thần điện còn mang

tính chất đa thần

Thần điện đã thành hệ thống dưới dạng

đa thần hay nhất thần giáo Còn hòa nhập giữa thế giới thần linh và

con người Chưa mang tính cứu thế

Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức “cứu thế”

Gắn với cá nhân và cộng đồng làng xã,

chưa thành giáo hội

Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức

Nơi thờ cúng còn phân tán và chưa thành

qui ước chặt chẽ

Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường)

Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của

dân gian, gắn với đời sống nông dân

Không mang tính dân gian, có chăng chỉ

là sự biến dạng theo kiểu dân gian hóa, như Phật giáo dân gian

Năm 2004, Nhà Nước ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo số UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004, trong đó khoản 1 điều 3 qui định về tín ngưỡng:

21/2004/PL-“Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” (UBTVQH, 2004)

Khoản 5 điều 3 đề cập về tôn giáo: “hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo” (UBTVQH, 2004)

Đến năm 2016, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo ra đời; trong đó, khoản 1 điều 2 định nghĩa: “tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.” (Quốc hội, 2016, tr.8); Khoản 5 điều 2 định nghĩa: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.” (Quốc hội, 2016, tr.8)

Trang 23

Như vậy, bên cạnh việc hiểu tín ngưỡng như là tôn giáo, còn có cách hiểu khác

là tín ngưỡng không phải tôn giáo mà ở mức độ thấp hơn tôn giáo Nhưng cho dù hiểu theo ý nào thì tín ngưỡng vẫn thể hiện yếu tố là niềm vào thế giới siêu nhiên của con người, là nơi con người dựa vào để tìm sự bình yên cho tinh thần Theo Đoàn Triệu Long (2014), trong tâm thức người Việt, tín ngưỡng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của họ cho dù sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai rất mạnh mẽ Một người vừa có thể đến chùa và cũng có thể đến phủ, miễn những hoạt động này mang lại

sự thỏa mãn và thanh thản cho tinh thần của họ Tín ngưỡng và tôn giáo là để phục vụ cho những nhu cầu về tinh thần của họ trong cuộc sống (tr.5- 6) Tín ngưỡng đóng góp việc hình thành nên các giá trị truyền thống của văn hoá và tính cách dân tộc, kết nối cộng đồng, thúc đẩy việc bảo tồn bản sắc văn hóa Như Nguyễn Đức Lữ (2007) khẳng định trong quyển sách Góp phần tìm hiểu văn hóa dân gian ở Việt Nam là:

“Thờ cúng tổ tiên mang nhiều hàm ý, không chỉ tự giới hạn thờ cúng những người

có công sinh dưỡng đã khuất (những người có cùng huyết thống), mà thờ cả những người có công với cộng đồng làng xã, đất nước Bởi vì trong tâm linh người Việt Nam, khó tách gia đình, làng xóm và Tổ quốc Kính hiếu với tổ tiên

là kính hiếu với mẹ Âu Cơ, với Vua Hùng đã có công dựng nước Lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc là giá trị đạo đức quý báu xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng

lẽ sống của người Việt Nam” (tr.21)

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng nội hàm của khái niệm tín ngưỡng mang tính độc lập với tôn giáo Bởi vì theo chúng tôi, tín ngưỡng nhìn ở khía cạnh nào đó vẫn khác so với tôn giáo, mặc dù nó vẫn chứa đựng các yếu tố như: là nơi con người gửi gắm những niềm tin, hy vọng, chỗ dựa của con người khi gặp những khó khăn trong cuộc sống; và là một phần quan trọng trong đời sống xã hội của con người

* Các loại hình tín ngưỡng của người Quảng ở Bảy Hiền:

Trong luận văn, chúng tôi nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng của người Quảng ở Bảy Hiền theo các hình thức: tín ngưỡng của cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng tộc và tín ngưỡng trong gia đình

1.1.1.2 Cộng đồng

Tô Duy Hợp & Lương Hồng Quang (2000) đã cho là:

Trang 24

“Tương quan giữa cá nhân-giữa người này với những người khác,tương quan này chặt chẽ mật thiết Có sự liên hệ, ràng buộc giữa các thành viên, thiên về hoàn thành các công việc chung, hình thành các tình cảm gắn bó với nhau Có sự dấn thân giữa các thành viên, phấn đấu gìn giữ, phát triển các giá trị chung (tinh thần và vật chất) được coi là cao cả, có ý nghĩa vì lợi ích chung Mọi thành viên trong cộng đồng có ý thức gắn bó, đoàn kết với nhau” (tr.106-107)

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh của Nhà xuất bản Hồng Đức (2016), cộng đồng là “toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội” (mục bảng chữ cái C)

Như vậy có thể hiểu, cộng đồng là một tập thể mà trong đó các thành viên gắn

bó với nhau bởi những giá trị chung Những giá trị này bao gồm: địa lý, kinh tế và văn hóa, tộc người, tôn giáo- tín ngưỡng… Trong đó yếu tố văn hóa, tôn giáo - tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng đối với mỗi cộng đồng người, vì giữ vai trò gắn kết cộng đồng trên cơ sở cùng niềm tin và cùng hành vi văn hóa lẫn tín ngưỡng, tôn giáo Thực tế cho thấy ở Việt Nam có những cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo tồn tại và phát triển mạnh

mẽ như: cộng đồng Islam, cộng đồng Baha’i, cộng đồng Công giáo…

Khái niệm cộng đồng cũng có thể hiểu khi chỉ một nhóm, một tập thể, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều loại (thể) có quy mô khác nhau (Huỳnh Thị Thảo Nguyên, 2019, tr.13) và trong đơn vị tổ chức xã hội ở Việt Nam, gia đình, gia tộc, xóm, làng, xã, thôn, ấp… cũng có thể được xem là cộng đồng Trần Ngọc Thêm (2000) đã tổng hợp các hình thức cơ cấu xã hội cổ truyền theo dạng cộng đồng như sau:

- “Tập hợp theo huyết thống: Gia đình và họ tộc Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau sẽ tạo thành Gia đình và có đơn vị lớn hơn là Gia tộc Gia tộc là một cộng đồng gắn bó đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt Nam

- Tập hợp theo địa bàn cư trú: xóm và làng Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau Mối liên kết này chính là làng, xóm Người Việt có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” ý nói không thể thiếu được bà con lối xóm trong cuộc sống của họ

Trang 25

- Tập hợp theo nghề nghiệp và sở thích: Phường và Hội Trong một làng có những người có cùng nghề nghiệp khác với những người còn lại trong làng sẽ liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành tổ chức theo nghề nghiệp gọi là Phường (phường gốm, phường vải, phường nón, phường chăn trâu, phường cắt cỏ, phường chèo…) Bên cạnh Phường để liên kết những người cùng nghề, còn có Hội là tổ chức nhằm liên kết những người cùng

sở thích, cùng thú vui, cùng đẳng cấp (vd: hội bô lão, hội tư văn, hội cờ tướng, hội võ, hội chọi gà…)

- Tập hợp người theo truyền thống nam giới: Giáp Đặc điểm của Giáp là chỉ có đàn ông tham gia vào Giáp và mang tính chất “cha truyền con nối” Giáp là tổ chức có nhiều nghĩa vụ và quyền lợi nhất trong cơ cấu xã hội cổ truyền

- Tập hợp theo bộ máy hành chính: thôn và xã Về mặt hành chính, làng được gọi

là xã (đôi khi một xã cũng có thể gồm vài làng), xóm được gọi là thôn (đôi khi một thôn cũng có thể có vài xóm)” (tr.201 - 213)

Ông cũng nhấn mạnh sự đồng nhất trong tính cộng đồng: đồng tộc, đồng niên, đồng nghề, đồng hương và cho là vì đồng nhất nên người Việt Nam luôn đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, luôn có tính tập thể và có nếp sống dân chủ, bình đẳng (tr.219)

Mỗi cộng đồng đều có một bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên tính đa dạng của văn hóa quốc gia Việt Nam có 54 dân tộc anh em vì vậy đã tạo một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh như phong tục, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật…

Trong mỗi cộng đồng, mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng luôn được đề cao

Cá nhân là số ít, là một cá thể với những suy nghĩ và cuộc sống riêng Cộng đồng được hình thành khi có nhiều cá nhân cùng tham gia, trong cá nhân có cộng đồng, trong cộng đồng có cá nhân Một cộng đồng mạnh khi có nhiều cá nhân xuất sắc, một tổ chức ổn định thì đời sống cá nhân cũng ổn định, vững vàng

Trong đề tài nghiên cứu này, cộng đồng người Quảng Nam ở Bảy Hiền phù hợp với các nguyên lý trên: đồng hương (cùng nguyên quán Quảng Nam), chức năng (nghề nghiệp truyền thống của người dân Quảng Nam trong khu vực là nghề dệt), tín ngưỡng

- tôn giáo (Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo trong tín ngưỡng, thờ tổ tiên, ông bà, trong cộng đồng có tục cúng xóm và các tín ngưỡng, tập tục khác,…), vừa có gia đình, dòng

họ, lối xóm sinh sống gần nhau

Trang 26

1.1.1.3 Cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền

Là một cộng đồng người có nguồn gốc ở tỉnh Quảng Nam Việt Nam sinh sống ở Bảy Hiền, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh Theo Phan Thị Yến Tuyết và các tác giả (2002) trong “Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống ở Nam Bộ” thì phần lớn dân cư sống trong khu vực Bảy Hiền có quê hương gốc là người ở Quảng Nam – Đà Nẵng và “có thể nói rằng không nơi nào của thành phố Hồ Chí Minh có người xứ Quảng sinh sống và làm ăn tập trung thành cộng đồng đông như ở đây (tr.183)

Báo “Người quảng xa quê” đã có nhận định “Khu Bảy Hiền còn được mệnh danh

là “Xứ Quảng giữa lòng Sài Gòn”, bởi ngoài những đặc sản địa phương, cộng đồng người Quảng còn phát huy những giá trị văn hóa của quê hương, với những phong tục, tập quán “nguyên vẹn” nơi quê nhà” (Minh Khôi, 2018)

Kim Thạch và Huỳnh Văn Mỹ (2005) nhận định làng dệt Bảy Hiền ở Tp Hồ Chí Minh hoàn toàn do người Quảng Nam, trong những điều kiện lịch sử nào đó đã phải chạy vào tìm đất làm ăn ở phương Nam, tự kết hợp lại với nhau, tạo thành cả một khu công nghiệp dệt, cạnh tranh hiệu quả với cả một thế lực kinh tế dệt rất mạnh ở Sài Gòn

là lực lượng người Hoa Chợ Lớn (Nguyên Ngọc và các tác giả, 2005, tr.620-622)

“Khoảng những năm 60 của thế kỷ trước, một số người ở Quảng Nam bắt đầu

di cư vào Sài Gòn sinh cơ lập nghiệp bằng nghề dệt truyền thống Họ sống quây quần bên nhau quanh khu vực Bảy Hiền và chẳng bao lâu, những người dân đất Quảng đã xây dựng nơi đây thành làng dệt nổi tiếng Nghề dệt ăn nên làm ra kéo theo một lực lượng đông đảo những người bán tơ sợi và may gia công cũng từ đất Quảng vào khiến khu vực Bảy Hiền dần trở thành một "xứ Quảng thu nhỏ" Ở đó, bên cạnh việc giao lưu với người bản xứ, cộng đồng người Quảng "còn" phát huy những giá trị văn hóa của quê hương” (“Giới thiệu chợ Bà Hoa”, 2012)

Cụ Nguyễn Thị Huê, 80 tuổi, có lẽ là nghệ nhân nhiều tuổi nhất ở làng dệt, và cũng là một trong rất ít nghệ nhân theo trọn từng bước thăng trầm của làng nghề Bảy Hiền đã cho biết:

“Những năm 50 - 60 thế kỷ trước, chiến tranh ác liệt, mảnh đất Quảng Nam bị tàn phá, thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống của người dân ngày càng cơ cực Nhiều người ở một số huyện di cư vào nam, chọn mảnh đất nay là phường 11

Trang 27

(quận Tân Bình) làm nơi sinh cơ, lập nghiệp, tạo nên một “xứ Quảng” thu nhỏ ngay giữa lòng đô thị” (Hoàng Mộc Lan, 2019)

Như vậy, khi nói đến cộng đồng người Quảng Nam ở Bảy Hiền, bước đầu chúng

ta có thể hiểu đây là nơi tập hợp người có nguồn gốc Quảng Nam sinh sống tại khu vực Bảy Hiền Nghề dệt là nghề chủ đạo truyền thống, chi phối đến sự phát triển của cộng đồng về kinh tế, xã hội, văn hóa Bên cạnh đó, cộng đồng này cũng thể hiện rõ những giá trị văn hóa riêng biệt quê hương gốc của mình

1.1.2 Quan điểm tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu

1.1.2.1 Quan điểm tiếp cận

Luận văn sử dụng quan điểm tiếp cận là quan điểm cộng đồng Sử dụng quan điểm này giúp chúng tôi có hướng nghiên cứu thích hợp để có những dữ liệu khách quan, chính xác, tránh cái nhìn chủ quan, của người thực hiện Bên cạnh đó, quan điểm cộng đồng giúp thuận lợi trong việc có thêm nhiều dữ liệu trong quá trình nghiên cứu

Luôn lấy quan điểm tiêu chí nghiên cứu phù hợp với tiêu chí ngành Việt Nam học: “lấy Việt Nam làm đối tượng, nghiên cứu tìm hiểu mọi lĩnh vực về đất nước, con người ở Việt Nam, đồng thời cũng tìm hiểu văn hóa Việt Nam “ (Phan Thị Yến Tuyết, 2018) để thực hiện nhằm giúp luận văn đi đúng hướng và có tính chính xác

1.1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu

Những thuyết nghiên cứu được sử dụng trong luận văn:

* Lý thuyết chức năng

Lý thuyết này có hai quan điểm khác nhau Đó là quan điểm chức năng tâm lý của B Malinowski và quan điểm chức năng xã hội của Radcliff- Brown

- Quan điểm của B Malinowski nhấn mạnh đến chức năng tâm sinh lý của nghi

lễ và những phong tục khác Ông đưa ra giả thuyết là môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì con người càng cần đến lễ nghi, bùa chú và ma thuật; xem đó như

là chỗ dựa tinh thần của con người để vượt qua sự khủng hoảng, bấp bênh (Phan Thị Yến Tuyết, 2018) Vận dụng quan điểm trên chúng tôi giải thích chức năng của các loại hình tín ngưỡng đang tồn tại tồn tại trong đời sống của cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền kể từ khi họ định cư tại khu vực này cho đến hiện nay

Trang 28

- Quan điểm của Radcliff- Brown: ông nhấn mạnh vào nhóm xã hội “Ông quan tâm đến cách mà các thể chế, gồm cả tôn giáo, thể hiện một bức tranh xã hội có tổ chức” (Phan Thị Yến Tuyết, 2018) R.Brown đề cao tính cộng đồng, xã hội trong các nghi lễ: niềm tin, sự tương trợ và trách nhiệm Quan điểm này thấy rõ qua tín ngưỡng cộng đồng (tục cúng xóm) ở Bảy Hiền “Cúng xóm” không chỉ thực hiện cho cầu xin cá nhân, gia đình, mà còn mang tính cố kết cộng đồng, nơi họ sinh sống; họ cùng nhau cầu nguyện cho sự bình an của khu phố, mở rộng hơn ra là cầu cho quốc thái dân an Vì vậy, người dân trong xóm cùng tham gia và chuẩn bị chu đáo cho lễ cúng

* Thuyết mạng lưới xã hội: nội dung đề cập về mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các nhóm, các tổ chức và cao hơn nữa có thể là toàn xã hội có sự gắn kết với nhau trên nhiều phương diện như tôn giáo, tín ngưỡng, quê quán, sở thích, chí hướng, nghề nghiệp, Với đề tài này, lý thuyết mạng lưới xã hội có ý nghĩa trong việc vận dụng để tìm hiểu, lý giải hành vi tín ngưỡng của người Quảng Nam trong khu vực nghiên cứu Lễ cúng xóm và thờ cúng họ tộc là hai tín ngưỡng phù hợp với thuyết trên Nếu lễ cúng xóm tạo ra sự gắn kết giữa các người dân trong xóm thì tín ngưỡng nhà thờ tộc là sự gắn kết của những người trong dòng họ, gia đình lại với nhau Bên cạnh đó, Bảy Hiền có sự cố kết xã hội rất sâu sắc và mật thiết: thân tộc, xóm làng, nghề nghiệp, tôn giáo, cộng đồng này là chỗ dựa vững chắc cho những người Quảng sinh sống trong khu vực

*Thuyết kiến tạo xã hội : “xã hội là một sản phẩm của con người Xã hội là một hiện thực khách quan Con người là một sản phẩm của xã hội” (Phan Thị Yến Tuyết, 2019) Peter Berger định nghĩa mối quan hệ giữa con người và xã hội: “Bất cứ thành viên xã hội nào, dù muốn hay không muốn, đều tham gia vào quá trình xã hội hóa ngay

từ tấm bé, cho đến hết cuộc đời của mình” (Hoàng Hà Giang, 2017, tr.21) Điều này có nghĩa ngay tử tấm bé, con người đã được học, chứng kiến và thực hành những phong tục, tập quán của gia đình, cộng đồng, xã hội và mặc nhiên nó ăn sâu vào ý thức của con người và con người sẽ sao chép thực hiện những phong tục này Và việc thực hiện hành động này cũng sẽ được thực hiện đối với lớp kế thừa

Liên hệ với những tín ngưỡng của địa bàn nghiên cứu, tất cả các tín ngưỡng đều không biết bắt đầu chính xác ở một thời gian cụ thể nào, tuy nhiên lại được cộng đồng,

Trang 29

gia tộc, gia đình, cá nhân thừa nhận, tự giác thực hiện, và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

*Thuyết sinh thái văn hóa: là quá trình một tộc người thích ứng với môi trường

tự nhiên xung quanh, cùng với một môi trường xã hội Sinh thái văn hóa thể hiện nơi một tộc người còn là sự nhận thức về khách quan, phương thức sản xuất, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán (Phan Thị Yến Tuyết, 2018) Nhà nghiên cứu đại diện tiêu biểu của trường phái này là Julian Steward - nhà nhân học người Mỹ Theo Steward, môi trường sinh thái tác động đến văn hóa của con người ở các yếu tố:

tổ chức xã hội, chính trị, tôn giáo Ông cho rằng những mô hình tôn giáo chịu sự tác động của những điều chỉnh sinh thái học Tôn giáo là phần chức năng trong mỗi nền văn hóa, nhưng từ quan điểm về những loại hình xã hội căn bản và những yếu tố quyết định hình thức của nó về mặt sinh thái học văn hóa thì biến đổi độc lập (Dương Hoàng Lộc,

2018, tr.37) Và cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền, tuy hầu hết các tín ngưỡng đều mang gốc gác của người miền Trung nhưng do di cư vào miền Nam, nên những điều kiện thực hành nghi lễ của họ cũng ít nhiều thay đổi để phù hợp với những điều kiện nơi đây

1.1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài của luận văn này, chúng tôi đưa ra hai câu hỏi nghiên cứu:

- Thứ nhất: Cộng đồng người Quảng Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung

và tại khu vực Bảy Hiền nói riêng hiện nay có những loại hình tín ngưỡng nào? Các loại hình tín ngưỡng này được thực hiện như thế nào trong đời sống của họ? Sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh (phát triển về đô thị và kinh tế trong đô thị) có ảnh hưởng

gì đến hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng này?

- Thứ hai: vai trò, chức năng, đặc điểm của các loại hình tín ngưỡng đối với đời sống cá nhân và cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền nói riêng và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung như thế nào?

1.1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ các câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

Trang 30

- Thứ nhất: Các hình thức tín ngưỡng của người dân nơi đây đa dạng và phong phú Có sự tác động và ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa lên tín ngưỡng của người dân địa phương Hiện nay, ngoài người Quảng Nam còn có một số người miền Bắc, người miền Tây, người Hoa sinh sống cùng với các tín ngưỡng, tôn giáo khác (Công giáo, Tin lành, vô thần…) ở Bảy Hiền Vì vậy sẽ có sự “giao lưu tiếp biến văn hóa” giữa các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo với nhau trong cộng đồng

- Thứ hai: Tín ngưỡng giữ vai trò và chức năng quan trọng đối với đời sống của cộng đồng người dân Quảng Nam ở Bảy Hiền thông qua việc thực hiện các nghi lễ, cúng

tế, thờ phụng trong đời sống cá nhân, gia đình, dòng tộc, cộng đồng

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC BẢY HIỀN

Từ năm 1975 đến nay, khu vực Bảy Hiền thuộc quận Tân Bình, song tên gọi có thay đổi theo các lần đổi tên gọi và ranh giới hành chính Trong các năm đầu sau năm

1975, có tên gọi là phường Bảy Hiền, sau đó được chuyển thống nhất theo số hiệu thành phường 1 Từ năm 1988, phường 1 được hợp nhất với một phần diện tích của phường

22 thành phường 11 và giữ nguyên ranh giới cũng như tên gọi như hiện nay (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.5) Cho đến ngày nay, khi nhắc đến phường 11 quận Tân Bình, thuật ngữ “phường Bảy Hiền” hoặc “khu Bảy Hiền” vẫn được sử dụng nhiều

Trong phần Tổng quan về địa bàn nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ

“phường 11” song song với thuật ngữ “Bảy Hiền” để phù hợp với tư liệu hành chính 1.2.1 Lược sử hình thành vùng đất

Vùng đất mang tên khu vực Bảy Hiền là vùng đất có nhiều thay đổi về tên gọi cũng như địa giới hành chính qua các cột mốc thời gian

* Thời gian trước năm 1975

Về mặt hành chánh, dưới thời nhà Nguyễn, trước khi lập địa bạ năm 1863, thì vùng đất Bảy Hiền thuộc trấn Phiên An, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương (Phan Thị Yến Tuyết, 2002, tr.181) Đến năm 1894, Sài Gòn trở thành thủ phủ của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, và ranh giới của phủ Gia Định được mở rộng Lúc này, khu vực Bảy Hiền trở thành khu ngoại ô của Sài Gòn Dưới thời của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, vùng đất Bảy Hiền nằm trong địa bàn của ấp Chí Hòa II, xã Tân Sơn

Trang 31

Hòa và địa bàn của ấp Phú Trung II, xã Phú Thọ Hòa thuộc quận Tân Bình, tỉnh Gia Định (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.10 – 11) Ở khu vực này, người dân sống thưa thớt Họ chủ yếu là nông nghiệp, trồng cao su, lúa và các loại rau quả Từ cuối những năm 1950, một số người dân ở Quảng Nam đến khu vực này định cư và lập nghiệp Người Quảng đến khu vực này làm nghề dệt vải (UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.11) Đây là nghề truyền thống từ quê nhà của họ Khi định cư ở Bảy Hiền,

họ cũng tiếp tục với nghề này để làm kế sinh nhai Vì vậy, nghề dệt vải xuất hiện và phát triển, trở thành làng nghề sầm uất ở Bảy Hiền sau này Đến khoảng năm 1960, có thêm cư dân các tỉnh khác đến định cư và lập nghiệp khu vực này Đặc biệt, sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1963), cùng với đó là chiến tranh nổ ra ác liệt ở các tỉnh miền Trung Một bộ phận người dân ở vùng Duy Xuyên, Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam tiếp tục theo chân những đồng hương đi trước, di cư đến Bảy Hiền mà cụ thể là khu vực Tân Sơn Hòa, Phú Thọ Hòa để sinh sống Họ mang theo nghề dệt vải truyền thống từ quê nhà vào Bảy Hiền và nhanh chóng phát triển nghề này ở đây Vì vậy, từ năm 1965 đến năm 1966, khu dân cư của người Quảng Nam đã được hình thành tại khu vực này Cụ thể là họ sống dọc theo các con đường Nguyễn Bá Tòng, Hồ Tấn Đức (Võ Thành Trang ngày nay), Quảng Hiền, Sở Mỹ (Tái Thiết ngày nay) và sau đó lan rộng ra các khu vực xung quanh như: Chợ Nhỏ, ngã ba Bình Minh, Chữ U, Bàu Cát…(UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.12) Tuy nhiên, đây là những khu dân cư tự phát, không có qui hoạch cụ thể nên khu vực cư trú của dân Quảng không được khang trang, cơ sở hạ tầng

bị hạn chế và bị xem là khu “ổ chuột” Đến năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho nâng cấp, mở rộng ngã tư Bảy Hiền Các đường Võ Tánh (đường Hoàng Văn Thụ ngày nay), Lê Văn Duyệt (đường Cách Mạng Tháng Tám và đường Trường Chinh ngày nay), và đường Nguyễn Văn Thoại (đường Lý Thường Kiệt ngày nay) được tráng nhựa,

mở rộng; con đường chính Hồ Tấn Đức (Võ Thành Trang) trong khu vực được nâng cấp, tráng nhựa……(UBND Phường 11, Quận Tân Bình, 2010, tr.13) Điều này làm cho

cơ sở hạ tầng của khu vực Bảy Hiền được phát triển mạnh hơn, yếu tố “ổ chuột” không còn nữa, đời sống người dân được nâng lên

* Từ sau năm 1975 đến nay

Sau ngày 30/4/1975, trên cơ sở của một phần ấp Chí Hòa II và ấp Phú Trung II, chính quyền cách mạng thành lập phường Bảy Hiền thuộc quận Tân Bình Đến ngày

Trang 32

18/9/1976, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 164-CP về việc xác định vị trí hành chính của TP Hồ Chí Minh, trong đó quận Tân Bình có 26 phường Phường Bảy Hiền lúc đó có tên là phường 1 theo đơn vị hành chính, thuộc quận Tân Bình Tuy nhiên dân

số lúc đó là 1576 hộ với 9673 nhân khẩu, không bao gồm hết “làng dệt Bảy Hiền” Ngày 27/8/1988, Hội đồng Bộ Trưởng ra quyết định số 136-HĐBT về việc phân định địa giới phường của quận Tân Bình từ 26 phường sáp nhập còn 20 phường Trong đó giải thể phường 22, lấy một nửa phía Bắc phường 22 sáp nhập phường 1 thành phường

11 Từ đó, phường Bảy Hiền được sáp nhập thêm các khu như khu chữ U, Khu Bàu Cát, khu Sở Mỹ, khu Chợ Nhỏ, Khu Ngã Ba Bình Minh, trường Bồ Đề Hạnh Đức (Võ Văn Tần) và theo đơn vị hành chính có tên là phường 11 (UBND Phường 11, Quận Tân Bình,

2010, tr.14 – 16)

1.2.2 Xuất xứ tên gọi Bảy Hiền

Bảy Hiền là tên và thứ gọi trong gia đình của một ông chủ quán cóc bán cà phê

và nước giải khát cho khách vãng lai, được mở ra vào những năm 1940 Bên cạnh đó ông còn là người coi đồn điền cao su của hoàng hậu Nam Phương Quán của ông là nơi hội tụ của khách thập phương (những người muốn đi từ Sài Gòn đến Mười tám thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm hay lên Củ Chi, Trảng Bàng, Tây Ninh hoặc sang Phnom Penh, phải đi xe ngựa băng qua cánh đồng cỏ mênh mông nay là Sân Bay Tân Sơn Nhất) Mọi người thường gọi là "ngã tư ông Bảy Hiền" dần dần từ "ông" mất chỉ còn "ngã tư Bảy Hiền" Vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, khi làng dệt hình thành thì địa danh Bảy Hiền cũng được sử dụng đặt cho làng nghề (Phan Thị Yến Tuyết và các tác giả ,

Cả, mọi người ai cũng tiếc thương, nên lấy tên ông đặt cho khu vực này Ông sinh thứ bảy, tên Hiền, nên mọi người gọi luôn là Bảy Hiền (An Huy, 2016)

Trang 33

Còn theo nhà văn Sơn Nam, Bảy Hiền là tên một ông chủ giàu có chuyên bán cỏ cho ngựa kéo xe ở ngã tư vào khoảng năm 1930 và chưa rõ lai lịch, tên của ông gắn với nơi làm nghề (Sơn Hòa 2016)

- Nơi đây ở vị trí giao thông thuận lợi và quan trọng của quận Tân Bình và thành phố

Hồ Chí Minh, đó là ngã tư Bảy Hiền

Diện tích tự nhiên

- Diện tích tự nhiên của phường là 58,08 ha, là một phường có diện tích trung bình của quận Tân Bình

Giao thông

- Vào trước những năm 1960, ngã tư Bảy Hiền vẫn còn nhỏ hẹp, là giao lộ của đường

Lê Văn Duyệt (đường Cách Mạng Tháng Tám và đường Trường Chinh ngày nay), đường Võ Tánh (đường Hoàng Văn Thụ ngày nay) và đường Nguyễn Văn Thoại (đường Lý Thường Kiệt ngày nay) Ngoài ra vùng đất này còn có hai con đường lớn

kề cận: ở phía Đông là Hương lộ 14 (đường Lạc Long Quân ngày nay) Vùng đất bên trong chỉ có đường ruộng, đường mòn

- Đến năm 1969, chính quyền Sài Gòn thực hiện mở rộng, nâng cấp ngã tư Bảy Hiền, đồng thời xây dựng trường trung học Tân Bình (trường trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền ngày nay) ở góc Đông Bắc, xây dựng bệnh viện Vì Dân (bệnh viện Thống Nhất ngày nay) ở góc Đông Nam Từ đó đã thúc đẩy sự phát triển và quá trình đô thị hóa của quận Tân Bình nói chung và khu Bảy Hiền nói riêng diễn ra nhanh chóng hơn

- Sau ngày giải phóng, ngã tư Bảy Hiền tiếp tục được sửa chữa, nâng cấp Khu Bảy Hiền tiếp giáp những con đường lớn như: Trường Chinh, Lý Thường Kiệt, Lạc Long Quân Trong vùng đất thì có những con đường chính: Võ Thành Trang, Nguyễn Bá

Trang 34

Tòng, Phạm Phú Thứ, Năm Châu, Hồng Lạc, Phan Sào Nam…Những tuyến đường này về cơ bản đã được tráng nhựa hoặc bê tông, tương đối sạch đẹp Các con hẻm lớn nhỏ trong khu vực đã được bê tông hóa vào các khu dân cư, tạo nên một mạng lưới giao thông thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân

- Ngày nay, Ngã tư Bảy Hiền là nút giao thông quan trọng ở cửa ngõ Tây Bắc thành phố Từ đây, người dân có thể đi về trung tâm Sài Gòn qua đường Cách mạng tháng Tám; qua chợ Lớn, quận 8 bằng ngã Lý Thường Kiệt; lên sân bay Tân Sơn Nhất bằng đường Hoàng Văn Thụ hay về Hóc Môn, Củ Chi theo hướng Trường Chinh

- Ngoài là nút giao thông, tên gọi Bảy Hiền còn dành chung cho khu vực dân cư rộng lớn : khu Bảy Hiền (phường 11)

Theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1998), người dân xứ Quảng có mặt ở đây trước khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thực hiện sứ mệnh xác lập chủ quyền vùng đất phía Nam vào lãnh thổ Việt Nam, bằng cách đặt ra sở lỵ huyện Tân Bình, lấy đất Đồng Nai dựng dinh Trấn Biên (Biên Hòa), lấy đất Sài Gòn dựng dinh Phiên Trấn vào năm 1698 (tr.77)

Theo ghi chép của Lê Qúy Đôn (2007) trong Phủ biên tạp lục cũng nhắc về sự xuất hiện sớm của người Quảng Nam ở vùng đất Gia Định xưa:

Trang 35

“Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu, toàn là rừng rậm hằng mấy nghìn dặm, họ Nguyễn trước đánh nhau với Cao Miên mà lấy được, mới chiêu mộ những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Duy Nhơn cho dời tới ở đây, phát chặt mở mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ, để dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa” (tr.442)

Nhà văn Sơn Nam (1984) viết trong sách Đất Gia Định xưa rằng: “Trong cuộc phân tranh với chúa Trịnh ở đằng Ngoài họ cần mở rộng địa bàn, củng cố thế lực Đưa dân vào Nam khẩn hoang là nhằm mục đích đó Nhưng người ta được biết rằng trước khi các chúa Nguyễn tổ chức chiêu mộ, dân đói khổ đã tự động, lẻ tẻ bỏ quê quán ở miền Trung vào Nam làm ăn, có điều họ sống rải rác, ít có tổ chức và ít được bảo vệ” (tr.19)

Để củng cố thêm luận điểm của mình, Sơn Nam (1984) cũng đã có những tìm hiểu thông qua những gia phả của những người có công trạng với triều đình nhà Nguyễn, những người có công với thực dân Pháp Ông viết: “Ông cố nội của bà Từ Dũ là Phạm Đăng Đinh, từ Quảng Ngãi vào giồng Sơn Qui lập nghiệp với nghề nông Ông nội của

Lê Văn Duyệt, là người Quảng Ngãi vào Định Tường… ta có thể phỏng đoán đây là những người khai hoang đầu tiên Năm 1823, hai viên xã trưởng và lý trưởng ở chợ Gạo kể rằng ông cố của họ đã từ Quảng Nam vào chợ Gạo khai phá, lập làng” (tr.28 -29)

Dấu ấn của người Quảng Nam ở Sài Gòn- Gia Định xưa cũng được Ngô Đức Thịnh (1992) ghi chép trong sách Vùng văn hóa Gia Đinh – Nam Bộ Ông cho rằng những con người tới đây là những con người tứ xứ tuy ra đi nhưng vẫn mang theo gốc gác, truyền thống nào đó mà họ xuất thân và trong cái cộng đồng tứ xứ ấy, người ta vẫn nhận ra cái gì là cái riêng của từng vùng miền nhưng dần dà đã bị địa phương hóa Có rất nhiều bài ca, câu vè, bài Đồng Dao được người Gia Định hát đều mang dấu ấn biến thể của xứ Quảng, như:

Từ một câu hát ru miền Trung:

“Chiều chiều Ông Lữ đi câu

Bà Lữ đi xúc, con dâu đi mò”

Thì đến vùng Nhà Bè lại hát:

Trang 36

“Chiều chiều Ông Lữ đi câu Sấu tha Ông Lữ biết đâu mà tìm”

Còn ở vùng Hóc Môn, Củ Chi thì lại là:

“Chiều chiều Ông Lữ đi cày Trâu tha gãy ách ngồi bờ khoanh tay” (tr15)

Hoặc bài phú cổ “Gia Định phong cảnh vịnh” được Trương Vĩnh Ký chép lại năm 1882, có những câu:

Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ, giọng con đò, giọng con rồi Trên tàu voi ca khủng khỉnh, tiếng thằng mục, tiếng thằng nài

Trọ trẹ dưới sông, quân Huế kéo neo hò hụi…

Chỉ qua từng ấy câu mà chúng ta đã cảm thấy sắc thái địa phương từ Bắc vào Trung đến Nam đã quy tụ quanh khu vực Bến Nghé (Ngô Đức Thịnh, 1992, tr.15 – 19)

“Hà Thành ngọ báo” số 633 ra ngày 13-9-1929 có bài "Người Trung Kỳ ở Sài Gòn" của tác giả Thần Chung đã miêu tả khá chi tiết về cộng đồng người miền Trung vào Sài Gòn làm ăn, sinh sống thời bấy giờ:

“Khoảng sau Thế chiến thứ nhất (1914-1918), nền kinh tế thuộc địa trở nên khó khăn nên người Trung và Bắc kéo nhau lũ lượt vào Nam vì miền trong dễ làm ăn hơn Người Trung vào Nam nhiều từ năm 1924-1925 Trong 2 năm đó, Trung Kỳ gánh chịu nhiều tai họa với bão lụt và mất mùa nối tiếp nhau Lúc ấy đã bắt đầu

có nhiều xe cam - nhông chở khách từ Đà Nẵng đến tận Nha Trang nên việc đi lại cũng dễ dàng hơn” Theo thống kê, đến giữa thập niên 1920, đã có khoảng 50.000-60.000 người miền Trung đã vào Nam (Đặng Yên Hòa, 2019)

Đó chỉ là con số tạm tính vì không có thống kê của nhà nước Trong số những người miền Trung vào Sài Gòn, dân Quảng Bình và Quảng Nam được xem là đông nhất

Theo các tài liệu đã công bố, người Quảng Nam vào Sài Gòn làm những nghề như hớt tóc, may đồ, bồi dọn phòng, bồi bếp cho Tây, làm công ở các hãng buôn Ngoài

ra, họ còn làm thợ mộc, thợ nề và các việc vặt khác Họ sống trong các xóm nhà lá hay những nơi còn hẻo lánh lúc ấy như Đất Đỏ, Chợ Đũi, Tân Định, Đa Kao, Khánh Hội

Họ cũng có vài chục người mở tiệm, lập doanh nghiệp nhỏ Sài Gòn lúc đó có hơn 10 tiệm may, hơn 10 tiệm hớt tóc và một số tiệm tạp hóa, nhà trọ của người miền Trung (Đặng Yên Hòa, 2019)

Trang 37

Trong quyển sách Túi bạc Sài Gòn của tác giả Vũ Xuân Tự viết vào năm 1942

có bổ sung các thông tin về người miền Trung ở Sài Gòn như:

"Giống như dân Bắc, người Trung ở Sài Gòn cũng làm công, buôn bán, mở công nghệ, lập hội Trên thương trường, người Trung ít có tên tuổi, thường bị lẫn lộn với người Nam Hàng hóa đều là buôn ngay tại Sài Gòn, sản vật Trung Kỳ gửi vào không bao nhiêu Về công nghệ, người Trung dọn được nhiều hiệu may có danh tiếng trên đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn ngày nay - PCL) và Amiral Courbet (Nguyễn An Ninh) Dân cư làm thợ giày, thợ mũ đầm, thợ cạo, thợ may đầm hiếm lắm Hạng làm công gồm cả dân thầy, viết báo, dân thợ, kéo xe chung đụng lẫn lộn với người Nam, người Bắc" Sau thời gian dài sống và làm ăn ở Sài Gòn, một số người Quảng và người miền Bắc trở về quê nhưng phần lớn trụ lại sinh cơ lập nghiệp ở đây Có thể thời gian đầu, người Quảng chưa "sâu rễ, bền gốc" nhưng dần dần, họ đã có chỗ đứng vững chắc và làm chủ nhiều doanh nghiệp lớn, rạp hát, trường học… (Đặng Yên Hòa, 2019)

Tại vùng đất mới này, người xứ Quảng vẫn duy trì, giữ những phong tục tập quán của mình Vì thế mà Huỳnh Ngọc Trảng (1998) đã trích lại ở sách Gia định thành thông chí trong quyển Tín ngưỡng dân gian Gia Định – Sài Gòn như sau:

“Cho đến đầu thế kỉ XIX, đại thể, tiết cuối năm ở Đồng Nai – Gia Định, vào đêm

28 tháng Chạp có tục hát sắc bùa như ở Trung Bộ Bữa trừ tịch thượng nêu, mùng bảy hạ nêu cùng với các kiêng kỵ nghi thức lễ Tết thống nhất với tập tục Thuận Quảng Tết có tổ chức đánh đu theo kiểu đu khác với đu Trung Hoa, cùng với tục đốt pháo, dùng đồ hàng mã Khi sinh đẻ vẫn theo tục treo một thanh củi cháy dở trước nhà, quay đầu chúng ra ngoài hay vào phía trong nhà để báo cho người ngoài biết sinh con trai hay con gái Đầy tháng làm lễ cúng tạ thần Thập nhị nương tức mười hai bà mụ, đầy năm cúng thôi nôi, trong nhà thì cúng ông Táo, thờ cúng tổ tiên vân giữ lệ giẫy mả vào thánh chạp chứ không chờ đến Thanh minh, kính trọng các nữ thần, thờ cá Ông…” (tr.57)

Nhà văn Sơn Nam (1984) đã cho là từ miền Trung vào lập nghiệp, người Gia Định còn giữ nhiều phong tục tập quán của quê hương, nhiều khi có pha tạp đi đôi chút trên đường khẩn hoang do giao tiếp với những nền văn hóa Chàm, Khơ-me…hoặc kiểu nhà ở thì mô phỏng kiểu nhà khá giả ở Quảng Nam, Quảng Ngãi thời xưa, lí tưởng nhất

Trang 38

là nhà ba căn, hai chái, mái lợp ngói, vách ván, kiểu nhà thấp Quanh nhà thì có vườn cây ăn trái Khỏi vườn mới tới ruộng (tr.87 - 90)

Người Quảng Nam vào lưu cư tại vùng đất mới này xuất thân hầu hết là những người nghèo khổ, hoặc những bị truy bức bởi nhà cầm quyền do dính đến chuyện quốc

sự, hoặc cũng có những người muốn tìm nơi lập nghiệp… và theo nhiều cách khác nhau: lần theo đường bộ hoặc theo đường biển (bằng ghe bầu) và tụ họp thành nhóm cộng đồng để nương tựa vào nhau giúp làm ăn sinh sống và vẫn giữ cốt cách của người Quảng Ngôi đình Nam Chơn ở đường Trần Quang Khải (Quận 1) ngày nay là có lịch sử lâu đời gắn liền với cuộc di dân của người dân đất Quảng (cư dân thôn Chơn Sảng – dưới đèo Hải Vân) Sau khi bị giặc Pháp triệt hạ xóm làng, họ phải chạy vào Nam, quần tụ tại vùng đất Đa Kao (Gia Định) và xây nên ngôi đình này (1859) để tiếp nối việc thờ tự ngôi đình cũ bị tàn phá nơi quê nhà (Nguyên Ngọc và các tác giả, 2005, tr.609 – 610) Ngôi đình mang tên Nam Chơn là theo tên gọi của một trạm giao thông đặt ở làng Chơn Sảng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam và xây miếu thờ Hà Bá Phú Hòa vạn (ở Xóm Chài – Tân Định) Theo Huỳnh Ngọc Trảng (1998):

“Nhóm lưu dân này đã đem toàn bộ tín ngưỡng của một làng duyên hải Quảng Nam với một lược 5 sắc thần phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1852) – tức làng Chơn Sáng nói trên – vào đây Năm vị thần đó là Bắc Quân Đô Đốc Bùi Tán Hán (một công thần của nhà Nguyễn), Cao Các Quảng Độ Đại Vương (có lẻ là thần Núi, còn có tên phổ biến là Cao Sơn Đại Vương, tức thần Tản Viên), Diễn Ngọc phí Thiên Y-A-Na thánh nương (Nữ thần bảo hộ ngư dân, được thờ ở Cửa Còn, Nghệ Tĩnh và các vùng duyên hải Trung Bộ), Quan Thánh Đế Quân (Quan Vân Trường) Với bộ sắc thần đầy đủ và “thượng hạng “này cùng với tục thờ tứ vị thánh nương bảo hộ cho dân chuyên nghề sông nước, đình Nam Chơn trở thành mẫu mực cho các đình làng khác ở vùng đất nằm trên bờ rạch Thị Nghè” (tr.72) Trải qua mấy thế kỉ với nhiều thời kì biến động lịch sử của đất nước, người dân

xứ Quảng đến sinh sống trên mảnh đất Sài Gòn ngày một thêm đông Qua nhiều thế hệ tiếp nối, họ đã không ngừng phấn đấu để sinh tồn, phát triển cộng đồng của mình đồng thời cũng chung tay đóng góp để bảo vệ, xây dựng, phát triển Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh ngày một giàu đẹp

Trang 39

1.3.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực Bảy Hiền Tại Thành phố Hồ Chí Minh, người Quảng sống tập trung thành các cộng đồng

ở khu vực Bảy Hiền (Tân Bình), ở Xóm Củi (Quận 8), ở phường Tam Bình (Thủ Đức),

ở phường 11 (Gò Vấp), ở phường Hòa Thành (Tân Phú), ở xã Đông Thạnh (Hóc Môn) Trong đó, khu vực Bảy Hiền được biết đến với tên gọi “xứ Quảng thu nhỏ ở Sài Gòn”

và được xem là khu vực đặc trưng của người Quảng vì nơi đây có nghề dệt truyền thống của người Quảng, một thời là biểu tượng của ngành tiểu thủ công nghiệp quận Tân Bình cũng như Thành phố Hồ Chí Minh và “90% cư dân ở đây có gốc là Quảng Nam, hầu hết sinh sống bằng nghề dệt thủ công hoặc những nghề ít nhiều liên quan đến nghề dệt như nghề mộc, nghề cơ khí” (Nguyên Ngọc và các tác giả, 2005, tr.637) hoặc như trong Lịch

sử truyền thống Đảng Bộ và Nhân dân Phường 11 (1930 – 2005) của UBND Phường

11, Quận Tân Bình (2010) nhận định “dân số trong phường thì người Quảng Nam chiếm

tỷ lệ đa số và nhiều hơn” (tr.16) và ở nơi đây, họ vẫn duy trì được nét văn hóa truyền thống của quê hương mình

Nhắc đến Bảy Hiền là nhắc đến nghề dệt Quá trình hình thành cộng đồng người Quảng Nam ở khu vực này cũng là quá trình hình thành nghề dệt tại đây

“Ai về thăm thành phố Nhớ ghé đến Tân Bình Ghé thăm cô thợ dệt Nghe tiếng thoi rộn ràng"

Theo Phan Thị Yến Tuyết và các tác giả (2002), vào các thế kỉ trước, vùng đất tương ứng với làng dệt Bảy Hiền còn rất hoang vắng Về mặt hành chính, dưới thời nhà Nguyễn, trước khi lập địa bạ năm 1836, vùng này thuộc trấn Phiên An, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định Đến thời Pháp thuộc, vùng đất này nằm trong khu vực đồn điền cao su Năm 1958, khi một số gia đình có nghề dệt từ Quảng Nam vào đây lập nghiệp, vùng này vẫn còn nhiều rừng cao su xen lẫn ruộng đất (tr.181) Xóm dệt Bảy Hiền bắt đầu được hình thành vào những năm 1957 – 1958 do các luồng di dân của người thợ xứ Quảng vào Sài Gòn (tr.186) Có nhiều lí do dẫn đến sự hình thành của cộng đồng cư dân tại vùng đất này như:

Trang 40

- Những năm 1930 của thế kỷ XX, ở Quảng Nam có một sự kiện nổi bật đối với ngành dệt của tỉnh thông qua việc cải tiến khung dệt cổ truyền thành khung dệt mới cho phép việc sản xuất đạt được nhiều thành tựu và giúp cho nghề dệt thủ công ở Quảng Nam nhanh chóng phát triển và có tầm ảnh hưởng đến thị trường cả nước,vải được mang lên Sài Gòn hoặc Hà Nội và xuất khẩu sang Campuchia đến tận Thái Lan, hình thành nên con đường tơ lụa Quảng Nam – Sài Gòn – Nam Vang nổi tiếng thời bấy giờ Nhận thấy tiềm năng của nghề dệt có thể phát triển, các chủ hãng dệt lớn ở Sài Gòn như Mai Thành, Tái Thành đã ra tận Quảng Nam mua hàng và thuê cả những người thợ người Quảng vào đóng khung dệt ngay tại đất Sài Gòn, dẫn đến những thợ sửa chữa khung dệt

và thợ dệt từ Quảng Nam theo vào làm ăn, sinh sống (Nguyên Ngọc và các tác giả, 2005, tr.638)

- Những năm 1940 và 1950, những người thợ người Quảng Nam vào Sài Gòn khá nhiều và làm việc cho các cơ sở dệt lớn như Mai Thành, Huỳnh Tấn Ký (Gò Vấp),

Lý Kim Ký (Bình Tiên)…, sau đó một số người Quảng đứng ra lập cơ sở riêng rải rác trong thành phố như khu Bàn Cờ (Quận 3), Chợ Cầu (Hóc Môn), Bình Tiên, Thủ Dầu Một (Bình Dương) Tuy nhiên do phạm vi nhỏ hẹp không đáp ứng được nhu cầu của nghề dệt và mang tính rời rạc nên những cơ sở này không phát triển mấy Lúc này, ở Tân Bình đã có các khu dệt Tân Sơn Hòa, Phú Thọ Hòa của người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 do biến cố lịch sử, mang theo các kĩ năng, công cụ của nghề dệt truyền thống của các tỉnh miền Bắc vào như Hà Đông, Hà Bắc, Nam Định, Hải Phòng Tân Sơn Hòa, Phú Thọ Hòa trở thành một khu dệt được nhiều người biết đến với 150 hộ làm nghề thủ công trong tổng số 629 hộ gia đình nơi đây Họ nhận được sự giúp đỡ về phương tiện và công cụ để tiếp tục nghề nghiệp cũ của mình và nhận được sự viện trợ đầu tiên của Mỹ thông qua chương trình “Viện trợ Mỹ “120 máy dệt của Nhật Bản Dựa vào lí do có một khu vực dân cư sinh sống cùng ngành nghề và là vùng đất còn thưa thớt, bên cạnh vị trí địa lí thuận tiện, gần với trung tâm buôn bán Chợ Lớn (nơi có những nghề cũng liên quan đến nghề dệt như nhuộm, in, bông ), rất thuận tiện để lập nghiệp, những người làm nghề dệt rải rác nhiều nơi trong thành phố đã đến Bảy Hiền định cư

và hành nghề Mặt khác một sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Nam đã tác động lớn đến việc hình thành cộng đồng người Quảng ở Bảy Hiền Sau hiệp định Geneve, các tổ chức hoạt động cách mạng của ta ở Quảng Nam đã bị địch khủng bố, lùng bắt dữ dội Nhiều

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w