ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ NAM THÁI TIỂU THUYẾT BẬC THẦY CỦA L.S... ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ NAM THÁI
TIỂU THUYẾT BẬC THẦY CỦA L.S HILTON
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VĂN HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ NAM THÁI
TIỂU THUYẾT BẬC THẦY CỦA L.S HILTON
TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC Mã số: 8220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Cách triển khai
vấn đề, các luận điểm, dẫn chứng và trích dẫn trong công trình đều mang tính khách quan, chính xác và đảm bảo tính khoa học, rõ ràng về nguồn gốc tài liệu cũng như được triển khai thống nhất xuyên suốt toàn bộ công trình
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
VŨ NAM THÁI
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, góp ý của quý Thầy/Cô Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -
ĐHQG-HCM Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới quý Thầy/Cô vì sự giúp đỡ chân tình
Trên hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân, sự kính trọng và biết ơn chân thành nhất đến GS.TS Huỳnh Như Phương - người đã tạo cảm hứng, trực tiếp hướng dẫn, theo dõi và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự tin tưởng và giúp đỡ của
Thầy là nguồn động lực giúp tôi có thể hoàn thành luận văn một cách suôn sẻ nhất
Tôi xin cảm ơn Trường Phổ thông Năng khiếu - ĐHQG-HCM, gia đình, bạn
bè đã động viên, tạo điều kiện hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
VŨ NAM THÁI
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi của đề tài 2
3 Lịch sử của vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1: PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 9
1.1 Các khuynh hướng phê bình văn học chịu ảnh hưởng từ phân tâm học 9 1.1.1 Phê bình phân tâm học tiểu sử 10
1.1.2 Phê bình phân tâm học văn bản 12
1.1.3 Phê bình phân tâm học độc giả 13
1.2 Một số tiêu điểm nghiên cứu của phân tâm học 14
1.2.1 Lý thuyết về tâm thần học 15
1.2.2 Lý thuyết về tính dục và mặc cảm 20
1.2.3 Lý thuyết cổ mẫu 26
1.2.4 Lý thuyết về giấc mơ 28
1.3 Vấn đề sáng tạo văn học từ góc nhìn phân tâm học 32
1.3.1 Sáng tạo văn học - quá trình và kết quả của trạng thái vô thức 33
1.3.2 Sáng tạo văn học - một hình thức đáp ứng, giải tỏa đòi hỏi, ham muốn 35
CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN VÔ THỨC 37
2.1 Diễn ngôn vô thức xuất phát từ hình thái xã hội 37
Trang 62.2 Diễn ngôn vô thức - kết quả tất yếu của quá trình vận động 47
2.3 Diễn ngôn vô thức - động cơ và những ảnh hưởng 68
CHƯƠNG 3: MẶC CẢM, ẨN ỨC VÀ TÍNH DỤC 85
3.1 Mặc cảm xã hội - cảm thức thường trực của xã hội đương đại 85
3.2 Ẩn ức - từ tư thế thỏa hiệp, khuất phục đến nỗ lực chế ngự, chống trả 104
3.3 Tính dục - ranh giới mong manh giữa đòi hỏi và công cụ 117
CHƯƠNG 4: BIỂU TƯỢNG, KHÔNG GIAN - THỜI GIAN VÀ NGÔN NGỮ 131
4.1 Biểu tượng 131
4.1.1 Biểu tượng nước và những biến thể điển hình 133
4.1.2 Biểu tượng cái chết 138
4.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 143
4.2.1 Không gian - thời gian từ góc nhìn cảm tính 144
4.2.2 Không gian - thời gian từ góc nhìn lý tính 152
4.3 Ngôn ngữ 158
4.3.1 Ngôn ngữ cá tính, tự do, hoang dã 159
4.3.2 Ngôn ngữ đậm đặc màu sắc tính dục 164
KẾT LUẬN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐƯỢC CÔNG BỐ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN 182
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Anh là một trong những bộ phận quan trọng và không thể tách rời của văn học thế giới Với những đặc trưng cơ bản về mặt nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện, văn học Anh luôn mang đến cho giới phê bình, nghiên cứu và độc giả khắp nơi những trải nghiệm thú vị, từ đó giúp họ hiểu thêm về văn hóa, tín ngưỡng, phong tục của đất nước, con người nơi đây Tại Việt Nam, việc nghiên cứu, phổ biến và giới thiệu văn học Anh trong thời gian gần đây có những tiến triển rõ rệt, minh chứng cho điều đó là việc công bố các bài nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm thông qua việc đối sánh với các nền văn học khác và việc đưa ra những dẫn giải về ảnh hưởng của văn học Anh trong bối cảnh văn học phương Tây nói riêng, văn học thế giới nói chung Đi sâu hơn, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu thi pháp của các tác giả, tác phẩm từ góc độ của nhiều khuynh hướng phê bình khác nhau, cho thấy ảnh hưởng của văn học Anh tại thời điểm sáng tác và duy trì, kéo dài đến tận ngày nay Ngoài
ra, nhiều tác phẩm văn học Anh đã được dịch thuật và xuất bản, giới thiệu đến độc giả, đây được xem là con đường ngắn nhất để mang một nền văn học đặc sắc và giá trị của thế giới đến với công chúng, từ đó mở rộng và triển khai thành nhiều công
trình đa dạng và phổ biến hơn
Lisa Hilton (L.S Hilton) sinh ngày 15/12/1974 tại Liverpool Bà học ngôn ngữ tại Đại học Oxford, sau đó học lịch sử nghệ thuật tại Florence và Paris Bà viết sách
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu phải kể đến như: Athénais: Nữ hoàng thực
sự của Pháp (Athénais: The real queen of France), Ngôi nhà có cửa chớp xanh (The house with blue shutters), Sự kinh dị của tình yêu (The horror of love), Con sói trong mùa đông (Wolves in winter), Elizabeth: Hoàng tử thời Phục hưng (Elizabeth: Renaissance prince), Nữ hoàng bị đánh cắp (The stolen queen) L.S Hilton được độc giả trên toàn thế giới biết đến rộng rãi thông qua bộ ba tiểu thuyết Maestra, Domina và Ultima Tại Việt Nam, cuốn đầu tiên trong bộ ba tiểu thuyết nổi tiếng được chuyển
ngữ bởi dịch giả Ly Ca đã gây tiếng vang trong một thời gian dài, tạo nên những cuộc tranh luận về những giá trị mà tiểu thuyết này đem lại cho công chúng Ngày
22/08/2019, cuốn tiểu thuyết thứ hai với tựa đề Chiếu trên được Nxb Hội Nhà văn
Trang 8ấn hành, tiếp tục nhận được sự đón nhận của độc giả Nghiên cứu về L.S Hilton thời gian gần đây phổ biến tại một số quốc gia, điều đó càng cho thấy tầm ảnh hưởng và
khuynh hướng sáng tác khác biệt của bà so với các tác giả cùng thời
Có nhiều cách đọc, cảm nhận và phê bình tác phẩm của L.S Hilton, trong đó nhìn nhận dưới ánh sáng phân tâm học là một sự lựa chọn hợp lý với những đặc trưng về nội dung và thủ pháp nghệ thuật của tác giả này Phê bình phân tâm học mặc dù được du nhập và giới thiệu ở Việt Nam từ sớm nhưng vì nhiều lý do khác nhau, phương pháp này chưa được đón nhận và phát huy hết chức năng, vai trò của nó Ngày nay, những quan điểm xã hội có phần cởi mở, hiện đại và thông thoáng hơn, từ đó phê bình phân tâm học có điều kiện tiếp xúc và được nhìn nhận đúng nhất với chức năng của nó Nghiên cứu sáng tác của L.S Hilton từ góc nhìn phân tâm học là một hướng tiếp cận phù hợp và mới mẻ, qua đó có thể tìm hiểu và lý giải căn nguyên mọi phương diện của tác phẩm trên góc nhìn đa chiều, độc lập và chủ động của hướng tiếp cận đặc trưng này
Vì những lý do trên, có thể thấy, đề tài luận văn Tiểu thuyết Bậc thầy của
L.S Hilton từ góc nhìn phân tâm học hội đủ những điều kiện để nghiên cứu, lý giải
và đảm bảo tính đúng đắn, khoa học
2 Đối tượng và phạm vi của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Bậc thầy của L.S Hilton (bản
dịch của Ly Ca, Nxb Hội Nhà văn, phát hành ngày 19/12/2017) từ góc nhìn phân tâm học Việc lựa chọn tác giả, tác phẩm cũng như hướng tiếp cận để khảo sát, nghiên cứu gắn liền với các lý do sau:
Trước hết, văn học Anh là một nền văn học đa dạng, phong phú với những thành tựu về cả nội dung lẫn hình thức Tiếp cận và nghiên cứu văn học Anh đưa đến một cách nhìn phổ quát và đa chiều về một khu vực văn học có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn học thế giới qua bình diện văn hóa và ngôn ngữ
Thứ hai, L.S Hilton là một trong những nhà văn có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học đương đại với hàng loạt các tác phẩm phát hiện, phản ánh, tố giác những mặt
Trang 9trái của xã hội và khám phá những cảm xúc, trải nghiệm thuần túy của con người trong bình diện nhân học, triết lí
Sau cùng, phân tâm học không phải là một hướng tiếp cận mới, nhưng xét thấy, đâu đó trong phương pháp này còn ẩn chứa nhiều mối tương quan và những khía cạnh
cụ thể khác nhau có thể vận dụng và nghiên cứu sâu rộng hơn
3 Lịch sử của vấn đề
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tại Việt Nam chưa có đề tài nào trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến vấn đề nghiên cứu sáng tác của L.S Hilton từ góc nhìn phân tâm học vì các sáng tác của bà được xuất bản trong thời gian gần đây và đối tượng tiếp nhận còn nhiều hạn chế Do đó, trong quá trình nghiên cứu và thống kê tư liệu, chúng tôi chỉ ghi nhận rất ít những bài viết giới thiệu tác phẩm với hình thức điểm sách, tin nhanh:
Trong bài bình luận Bậc thầy được đăng tải trên trang mucmocmeo.blog, tác giả đã có những nhìn nhận ban đầu về Bậc thầy, tóm tắt cũng đưa ra những suy nghĩ, chính kiến riêng của bản thân: “Lối kể không có gì đặc biệt Điểm đặc biệt ở đây là tác giả sử dụng cốt truyện và cá tính nhân vật quá xuất sắc [ ] Qua mỗi hành động càng đậm hơn sự hình thành tính cách nhân vật, tham vọng của con người và bản chất giới nghệ thuật đẹp đẽ, hào nhoáng.” Bài bình luận tuy chưa thực sự sâu sắc
nhưng đã phần nào cho độc giả Việt Nam có những định hướng ban đầu nếu muốn tìm hiểu, thưởng thức tác phẩm gai góc và đầy ám ảnh này
Trong bài giới thiệu Bậc thầy, nhà xuất bản Nhã Nam đã nhận định đây là tác phẩm mà L.S Hilton đã “khéo léo dệt nên một thế giới hào nhoáng, mang đầy cảm giác sắc bén về cuộc sống phù hoa đương đại” Nhã Nam cũng đánh giá đây là một tác phẩm đáng đọc, được đón nhận trên toàn thế giới kể từ năm 2016 - thời điểm Bậc thầy được ra mắt với đọc giả lần đầu tại Anh
Tác giả Binh Boog trên trang cá nhân đã có những bình luận sau khi đọc Bậc thầy: “Xen kẽ giữa những cuộc phiêu lưu của Judith là những cảnh nóng được miêu tả một cách táo tợn, lối sống có phần lệch lạc là mặt trái của giới thượng lưu nói riêng hay của xã hội hiện đại.” Tuy tổng thuật và tóm tắt khá chi tiết, những theo
Trang 10góc nhìn chủ quan của cá nhân tác giả, Bậc thầy vẫn chưa thực sự hoàn thiện, kén
độc giả Tác giả bài viết cũng đặt ra khá nhiều thắc mắc khi đọc xong tác phẩm này
Trong bài bình luận đăng trên trang Hội thích truyện trinh thám, tác giả Nguyễn Ngọc Nam đã nhận xét Bậc thầy là một tác phẩm thú vị và đáng đọc Tác giả
tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của tác phẩm thông qua cảm nhận của cá nhân:
“Truyện miêu tả rất đúng xã hội thời hiện đại, con người thời hiện tại và có lẽ là cả trong tương lai nữa Một xã hội ưa vật chất, lừa đảo, giẫm đạp lên nhau để sống Những con người lạnh lùng vô cảm và vô cùng xảo quyệt Trong truyện không có một giai đoạn nào tươi sáng.” Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Nam cũng nhận mánh đến sự
phức tạp trong quá trình tiếp nhận cũng như đưa ra những chỉ dẫn với những độc giả đang có ý định tìm hiểu tác phẩm
Ở nước ngoài, các bài viết về L.S Hilton và tiểu thuyết Bậc thầy có phần đa
dạng và cởi mở hơn:
Trong bài viết “Bậc thầy”: tiểu thuyết về tính dục, sát nhân và mua sắm (“Maestra”: a novel of sex, murder and shopping)1 được đăng tải trên tạp chí The New York Times, J Maslin nhận định Bậc thầy đã “nói lên sự độc lập và tự do tính dục […] và thật khó để tìm thấy nhiều niềm vui được thoát ly trong một cuốn sách về một người phụ nữ có những thuộc tính để dẫn đến tội lỗi chết chóc.” Tác giả bài viết
cũng đưa ra những luận điểm về việc bảo vệ, đề cao vai trò và sự bình đẳng cho người phụ nữ trong xã hội đương đại Bài viết đã tập trung vào những tiêu điểm của tác phẩm, cho độc giả thấy được lớp vỏ bên ngoài và khơi gợi trong lòng độc giả sự thích
thú, tò mò để từ đó tìm đến và thưởng thức Bậc thầy bằng chính cảm quan, sự trải
nghiệm của cá nhân mình
S Merritt trong bài viết “Bậc thầy.” của L.S Hilton - nhiều sắc thái gây sốc (“Maestra by L.S Hilton - many shades of shocking) trên tạp chí The Guardian đã nhận định tiểu thuyết Bậc thầy là “một sự rùng rợn được thổi phồng qua các sân chơi tỷ phú của châu Âu” Bài viết cũng đề cập đến những góc khuất trong xã hội châu Âu
khi vai trò và trị trí của người phụ nữ bị coi nhẹ, thay vào đó là những áp lực, hệ lụy
1 Những phần dịch, lược dịch trong công trình này đều do tác giả luận văn thực hiện
Trang 11và điều tiếng mà người phụ nữ luôn phải gánh trên vai S Merritt cũng chỉ ra những
tiến bộ mà L.S Hilton đã mang đến cho Bậc thầy, tạo nguồn cảm hứng mới cho tiểu
thuyết đương đại châu Âu và toàn thế giới Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh triển vọng
của Bậc thầy khi áp dụng vào các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh
Chuyên trang văn học, nhà xuất bản hàng đầu nước Mỹ - Penguin Random House đã có bài phỏng vấn dành cho L.S Hilton với tiêu đề “Bậc thầy”, tác giả: câu hỏi và trả lời (“Maestra”, author: Q&A) Trong bài phỏng vấn, L.S Hilton đã phần nào cho độc giả biết nguồn cảm hứng để bà sáng tác nên Bậc thầy, lý giải tiêu đề gốc của tác phẩm: “Maestra là tên được đặt cho Artemisia Gentileschi - nghệ sĩ truyền cảm hứng cho Judith, khi cô là người phụ nữ đầu tiên trở thành thành viên của hội họa sĩ ở Florence Trong tiếng Anh, từ này cũng có ý nghĩa của “maestro” (uy quyền), cái tên được đặt cho người chỉ huy dàn nhạc, nghĩa là, đó phải là người có khả năng duy trì các câu chuyện phức tạp cùng một lúc Sự cộng hưởng của từ ngữ đã làm cho
nó trở thành một tiêu đề rõ ràng của cuốn sách.” Thông qua bài phỏng vấn, L.S Hilton cũng cho biết để sáng tác nên Bậc thầy, bà đã dành nhiều thời gian và công
sức tìm hiểu lịch sử nghệ thuật và trở thành thực tập sinh của một nhà đấu giá để có thể hiểu và thể hiện nhân vật, sự kiện trên những phương diện chân thực và sâu sắc
nhất Tuy nhiên, L.S Hilton cũng nhấn mạnh tính hư cấu trong Bậc thầy như một sự cách tân và đổi mới văn học, khiến Bậc thầy có thể phổ biến và đến gần hơn với độc
giả trên toàn thế giới
Chuyên trang tin tức hàng đầu Ấn Độ xuất bản bài viết Tác giả L.S Hilton trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân vật chính của cô khỏi những ảnh hưởng (Author
LS Hilton on the struggle to keep her protagonist unlikeable) đã nêu bật ý hướng và năng lực sáng tác của L.S Hilton: “Nếu tôi tạo ra một nhân vật mà mọi người cảm thấy mơ hồ, tôi sẽ coi đó là một lời khen.” Trong bài viết, tác giả đã phần nào cho lý giải những vấn đề cơ bản trong Bậc thầy cũng như chỉ ra những lý do khiến tác phẩm
nhận được sự chào đón của độc giả trên toàn thế giới Anushree Majumdar - tác giả bài phỏng vấn đánh giá cao hiểu biết nghệ thuật, khả năng sáng tạo và làm chủ ngôn
ngữ của L.S Hilton trong Bậc thầy nói riêng, những sáng tác của nữ tác giả nói chung
Trang 12Trong bài viết “Bậc thầy”: Cuốn tiểu thuyết gợi cảm nhất trong nhiều năm cũng có một âm mưu thú vị (“Maestra”: The sexiest novel in years also has a delicious plot) được đăng tải trên tạp chí The Washington Post, P Anderson đã nhận định Bậc thầy “sẽ là cuốn tiểu thuyết được nói đến nhiều nhất trong năm nay” trong
thời điểm tác phẩm vừa mới được xuất bản và giới thiệu với công chúng Tác giả bài viết cũng nhận định L.S Hilton am hiểu nhiều lĩnh vực, điều đó giúp bà truyền tải
thông điệp và mọi vấn đề một cách rõ ràng và có chiều sâu Bậc thầy phù hợp với độc
giả trưởng thành, đặc biệt là những phụ nữ trẻ
Nhìn chung, các bài viết và đề tài liên quan đến sáng tác của L.S Hilton, đặc
biệt là tiểu thuyết Bậc thầy không nhiều, chưa khai thác một cách toàn diện sự nghiệp
sáng tác và nghiên cứu của tác giả cũng như chưa đi sâu vào việc phân tích các khía cạnh cấu thành nên một tác phẩm theo những hướng tiếp cận, phê bình cụ thể Tuy vậy, không thể phủ nhận những giá trị nền tảng của các bài viết đã tạo dựng được từ trước đến nay về L.S Hilton và các tác phẩm của bà Thông qua công trình này, chúng tôi mong muốn góp thêm một hướng nhìn nhận mới và khả quan về những đặc điểm các sáng tác của L.S Hilton từ góc nhìn phân tâm học mà đối tượng nghiên cứu cụ
thể là tiểu thuyết Bậc thầy
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi ứng dụng những kiến thức về lý luận văn học, đặc biệt là hướng tiếp cận phê bình phân tâm học, cụ thể trên thể loại tiểu thuyết Bên cạnh đó, đề tài còn kết hợp những kiến thức, hiểu biết về tác giả, tác phẩm trên những phương diện khảo sát khác nhau: hoàn cảnh xã hội, điều kiện, bối cảnh tác phẩm ra đời Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp phê bình phân tâm học: đây là phương pháp tiếp cận tác
phẩm văn học trên các nguyên tắc về tâm lý học, cụ thể là vô thức, tính dục, mặc cảm, ẩn ức, giấc mơ, cổ mẫu
- Phương pháp phân tích thi pháp học: đây là phương pháp xác định đặc
trưng hình thức thông qua cấu tạo, ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, kết cấu lời nói của tác phẩm văn học
Trang 13- Phương pháp phê bình nữ quyền: đây là phương pháp tiếp cận tác phẩm
văn học trên các phương diện đề tài, phong cách của lối viết nữ, tư tưởng và cảm hứng xuất phát từ nữ giới, từ đó lý giải mục đích, phương thức sáng tạo tác phẩm
- Phương pháp phê bình tiểu sử học: đây là phương pháp xác định tiểu sử,
cuộc đời và sự nghiệp nhà văn để tìm ra những điểm tương đồng, có ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Phương pháp liên ngành: đây là phương pháp tiếp cận những vấn đề, nội
dung nghiên cứu từ quan điểm, tri thức từ các chuyên ngành khác nhau - đặc biệt là những ngành có quan hệ mật thiết với văn học - để mang đến sự toàn diện, khách quan cho đối tượng, vấn đề
Việc sử dụng kết hợp những phương pháp trên chỉ mang tính tương đối, đan xen vào nhau vì phần lớn dữ liệu chúng tôi khảo sát thuộc phạm vi tác phẩm văn học
Mục đích sử dụng nhằm giải quyết những yêu cầu mà luận văn đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
Ngoài việc giới thiệu lại những lý thuyết phân tâm học điển hình của một số nhà khoa học tiêu biểu, luận văn tập trung làm rõ những đặc điểm sáng tác của L.S
Hilton thông qua nội dung và hình thức của tiểu thuyết Bậc thầy từ góc nhìn phân
tâm học Đây là công trình nghiên cứu về một nhà văn trẻ, mới mẻ với phong cách và khuynh hướng sáng tác đa dạng, cá tính của nền văn học Anh nhưng chưa được đánh giá và nhận định xứng đáng ở cả nước ngoài lẫn Việt Nam Luận văn cũng sẽ phần nào chỉ ra những tác động, ảnh hưởng về mặt nhận thức của xã hội và độc giả
với tiểu thuyết Bậc thầy của L.S Hilton để thấy rõ những lý do dẫn đến việc tác giả
và tác phẩm của bà chưa được nghiên cứu rộng rãi Từ đó, luận văn đưa đến một cái
nhìn khách quan, đa chiều về đặc điểm sáng tác của L.S Hilton trong tiểu thuyết Bậc thầy thông qua những lý thuyết phân tâm học, góp phần bổ sung và giới thiệu một tác
giả văn học có nhiều điểm khác biệt trong sáng tác và cảm thụ văn chương
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh sách các bài báo khoa học được công bố, nội dung chính của luận văn gồm bốn chương được triển khai với
nhiều mục, tiểu mục:
Chương 1: Phân tâm học trong nghiên cứu văn học: Trình bày những vấn
đề nền tảng, cốt lõi, trụ cột trong việc nghiên cứu học thuyết phân tâm học, những hướng tiếp cận và khuynh hướng phổ biến, từ đó vận dụng những lý thuyết liên quan
vào các tác phẩm văn học
Chương 2: Diễn ngôn vô thức: Trình bày những đặc trưng sáng tác trong Bậc
thầy của L.S Hilton trên bình diện diễn ngôn vô thức từ góc nhìn phân tâm học, chỉ
ra những đặc trưng về mặt nội dung trong cách tiếp nhận cũng như vai trò của diễn ngôn vô thức, từ đó góp phần lý giải những vấn đề trong kết cấu tâm lý và hành động,
sự kiện liên quan với các nhân vật trong tác phẩm
Chương 3: Mặc cảm, ẩn ức và tính dục: Trình bày những đặc trưng sáng tác
trong Bậc thầy của L.S Hilton trên bình diện mặc cảm, ẩn ức và tính dục từ góc nhìn
phân tâm học, chỉ ra những đặc trưng về mặt nội dung trong cách tiếp nhận cũng như vai trò của mặc cảm, ẩn ức và tính dục, từ đó góp phần lý giải những vấn đề trong kết
cấu tâm lý và hành động, sự kiện liên quan với các nhân vật trong tác phẩm
Chương 4: Biểu tượng, không gian - thời gian, ngôn ngữ: Trình bày đặc
trưng sáng tác trong Bậc thầy của L.S Hilton trên bình diện cấu trúc, biểu tượng từ
góc nhìn phân tâm học, chỉ ra những đặc trưng về mặt hình thức và thẩm mỹ trong cách bài trí, giải quyết và lý giải vấn đề của tác giả thông qua cấu trúc, biểu tượng, không gian - thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ
Trang 15CHƯƠNG 1: PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Những lý thuyết, quan điểm về phân tâm học được khởi tạo từ cuối thế kỉ XIX và cho đến tận ngày nay vẫn được xem là một hướng tiếp cận khả tín, được khai thác ở nhiều chiều kích khác nhau, qua đó góp phần tạo nên một đời sống văn học và nghiên cứu sôi động và luôn có sự chuyển dịch Ở mỗi khu vực văn học, tùy vào từng đặc điểm sẽ có những cách tiếp nhận, sử dụng học thuyết này cụ thể, tuy vậy vẫn cần phải dựa trên những đặc điểm nhận diện để đối sánh, khu biệt với các phương pháp phê bình khác
1.1 Các khuynh hướng phê bình văn học chịu ảnh hưởng từ phân tâm học
Sigmund Freud (1856-1939) là người đặt nền móng cho việc định hình và phát triển khuynh hướng phê bình phân tâm học Khuynh hướng phê bình này phát triển mạnh mẽ vào những năm đầu thế kỉ XX và phân nhánh, dung hợp khoảng nửa sau thế kỉ XX Hiện nay, phân tâm học là một trong những hướng nghiên cứu, phê bình nổi bật, phổ biến với nhiều hình thức, hướng tiến cận và triển khai, tiêu biểu như: tập trung vào tác giả, tiểu sử tác giả, tập trung vào văn bản, kết hợp phân tâm học và folklore, phân tâm học và cấu trúc, kí hiệu, Mỗi hướng tiếp cận đều góp phần mang lại cho phương pháp phê bình này những đặc điểm nổi bật riêng, tạo nên những giá trị mang tính kế thừa, khai phóng cho đời sống văn học nói chung và đời sống nghiên cứu, phê bình, lý luận nói riêng Để tiến hành phương pháp phê bình phân tâm học, ban đầu, người nghiên cứu phải chọn được đối tượng phù hợp - đây được xem là thao tác cơ bản nhất bởi không phải tác phẩm nào cũng có thể nhìn nhận từ góc nhìn phân tâm học Từ đó, người nghiên cứu đi sâu phát hiện và giải mã những dấu ấn vô thức trong tác phẩm để thấy được tâm thế sáng tạo của tác giả Qua công trình, chúng tôi tập trung nghiên cứu ba khuynh hướng phê bình:
- Phê bình phân tâm học tiểu sử
- Phê bình phân tâm học văn bản
- Phê bình phân tâm học độc giả
Trang 161.1.1 Phê bình phân tâm học tiểu sử
Phê bình phân tâm học tiểu sử ra đời cùng với những đòi hỏi cơ bản về một khuynh hướng phê bình gắn nội dung, tác phẩm với cuộc đời nhà văn Lấy yếu tố trải nghiệm là những trăn trở và biến động về mặt vật chất, tinh thần để làm rõ những dồn nén, ẩn ức trong cảm xúc nhằm tạo dựng tác phẩm Việc phân tích tác phẩm văn học dựa trên tiểu sử tác giả cho thấy sự cách tân đáng trân trọng khi giới nghiên cứu, phê bình đã có sự chuyển dịch, thay đổi trong phương pháp và cách thức tiếp nhận tác phẩm, loại bỏ những rào cản cũ kĩ để hướng đến một cách phê bình trực quan và sống động hơn Việc nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn văn học với chủ thể sáng tác là hướng tới một nền phê bình toàn diện, đi sâu vào những vấn đề cụ thể, có ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm
Đi xa hơn, phê bình phân tâm học tiểu sử còn cho thấy những góc khuất, tư tưởng của chủ thể sáng tác, từ đó cho chúng ta thấy rõ khuynh hướng trải nghiệm cũng như quan điểm của nhà văn Mọi hoạt động, tư duy hay tính cách của nhà văn trong đời sống hằng ngày đều có khả năng được đưa vào tác phẩm văn học một cách tự nhiên, nhà văn cũng khó lòng nhận ra những ảnh hưởng đó trong văn chương bởi cách hành văn của một tác giả không phải do học tập mà có, nó là quá trình tích lũy và tư duy trong thời gian dài, từ những trải nghiệm cá nhân đến trải nghiệm tập thể
Khi nghiên cứu một tác phẩm, ngoài việc đọc và chỉ ra nội dung và nghệ thuật chứa đựng trong tác phẩm đó, người phê bình cần hướng đến một đối tượng quan trọng không kém đó là tác giả Việc tác giả nghĩ gì, viết gì không phải tự nhiên hình thành mà nó gắn liền với những suy nghiệm, tư duy trong đời sống thực tế Cuộc sống của nhà văn được đưa vào văn chương tự nhiên, không gượng ép nhưng vẫn toát lên những đặc trưng mang đậm tinh thần và tư tưởng của nhà văn đó Việc gắn liền tác phẩm với tiểu sử tác giả là việc làm cần thiết và hiệu quả để hiểu tác phẩm, không chỉ là cách viết đơn thuần khi kết hợp những yếu tố nội dung và thủ pháp nghệ thuật lại với nhau mà còn chất chứa, ấp ủ những bí mật ẩn sâu, nơi nhà văn tự giấu mình trong đó, lấy văn chương làm miếng vải phủ kín cuộc đời và con người mình Nhìn nhận một tác phẩm gắn liền với lịch sử cấu thành cho thấy văn học luôn gắn liền và tác
Trang 17động mật thiết với các ngành khoa học khác, trong đó không thể không kể đến ngành lịch sử và tâm lý học
Từ việc đọc và phân tích tác phẩm, phân tâm học đưa đến những nhận định khách quan dựa trên những lý thuyết được tạo dựng trong quá trình nghiên cứu để phát hiện, đánh giá những đặc điểm tâm lý của nhân vật Những sáng tạo nghệ thuật đều gắn bó trực tiếp đến những thăng trầm, diễn tiến đời sống của nhà văn Việc phân tâm học nghiên cứu ba vùng tâm lý: vô thức, tiềm thức, ý thức hay việc nhìn nhận những dồn nén, bản năng tính dục, mặc cảm cũng cho thấy việc tiếp nhận một tác phẩm văn học thông qua tiểu sử của nhà văn là điều vô cùng cần thiết
Phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử cho thấy những đặc điểm nổi trội về hình thức khi tiếp cận tác phẩm thông qua những yếu tố ngoài văn bản Việc nhà văn đưa cuộc đời của mình vào trong tác phẩm dù chủ ý hay vô ý đều là những trường hợp không hiếm gặp, do vậy, xét về bản chất tác phẩm, không nhiều thì ít đều có liên quan đến tiểu sử nhà văn Nhiều nhà phê bình đã vận dụng phương pháp này để nghiên cứu những công trình của mình, trong đó Jean Delay được xem là người đã vận dụng thành công và sáng tạo nhất phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử
vào việc nhìn nhận và phân tích tác phẩm khi “căn cứ vào lý thuyết phân tâm học các chứng loạn thần kinh để giải thích về sự sáng tạo có thể trở thành một giải pháp cho những xung đột vô thức.” (Bellemin-Noel J, 2004) Ngoài ra, ông còn đặc biệt chú ý
khi phân tích nội dung tác phẩm thông qua những trải nghiệm đầu đời của mỗi tác giả, khi mà những hình ảnh, hoạt động tại thời điểm đó có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và tư tưởng sau này của mỗi nhà văn
Ngay bản thân S Freud, khi đặt tên cho các công trình của mình, ông cũng
chịu ảnh hưởng đậm đặc của phương pháp này: “Những ảo tưởng và mơ mộng trong
“Gravida” của Jensen, Leonardo da Vinci và ký ức tuổi thơ, Bức tượng Moses của Michelangelo, Dostoevsky và tội giết cha” (Stoor A, 2016, tr.152) Các công trình
của ông đều gắn liền với tiểu sử tác giả bởi việc phân tích nội dung tác phẩm đi từ căn nguyên đời sống tác giả khiến cho bản chất của tác phẩm thực tế, sáng rõ và dễ cảm thụ hơn là gượng ép cho nó một vài nội dung mang tính chủ quan từ một đối tượng độc lập nào đó
Trang 181.1.2 Phê bình phân tâm học văn bản
Phê bình phân tâm học văn bản là khuynh hướng phê bình quen thuộc, phổ biến nhất khi muốn nhìn nhận và đánh giá một tác phẩm văn học Khuynh hướng phê bình này được tạo dựng và hướng đến việc phát triển, đề cao vai trò của việc tạo lập văn bản, xem xét nội dung, hình thức tác phẩm dựa trên cứ liệu văn bản chứ không tập trung vào tác giả hoặc độc giả Việc làm này cho thấy giới nghiên cứu coi trọng những vấn đề được thể hiện thông qua tác phẩm hơn là tìm hiểu nguồn gốc sâu xa từ cuộc đời tác giả hay những trải nghiệm thực tế của độc giả thông qua tác phẩm Phê bình phân tâm học văn bản chủ yếu tập trung vào những gì được thể hiện trên văn bản, thông qua những lý thuyết đã được triển khai trong quá trình nghiên cứu, mỗi văn bản đều xác lập cho mình một nội dung và hình thức riêng
Những đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng phê bình này là Jacques Lacan và Gaston Bachelard J Lacan đề xuất và thực hành phương pháp nghiên cứu tác phẩm dựa trên văn bản vào những năm cuối thế kỉ XX, ông đề cao vai trò của ngôn ngữ trong việc tạo dựng văn bản cũng như diễn đạt nội dung của văn bản Thông qua ngôn ngữ, các tác phẩm trở nên sống động, nổi trội và gần gũi hơn với độc giả Việc gắn ngôn ngữ với văn bản cho thấy một cách nhìn hiện đại của J Lacan về sự ra đời của văn bản, rằng văn bản được tạo ra từ những kí tự, hay nói đúng hơn là ngôn ngữ Ông cũng góp phần xác tín học thuyết phân tâm học bằng việc chỉ ra yếu tố vô thức tạo nên những ảnh hưởng quan trọng trong việc quyết định nội dung tác phẩm, đề cao vai trò của cấu trúc văn bản bên cạnh những lý thuyết nhằm đưa đến xung năng tính dục, mặc cảm G Bachelard cho thấy một cách nhìn toàn diện về bản chất của vô thức qua việc gắn vô thức với các cổ mẫu theo học thuyết “vô thức tập thể.” của Carl Gustav Jung (1875-1961) Ông cho rằng bản thân vô thức góp phần quan trọng trong việc hình thành văn bản và chi phối mọi yếu tố sáng tạo của tác giả
Phê bình phân tâm học văn bản đưa đến một cách nhìn cởi mở hơn cho mọi tác phẩm văn học, nơi đó khuyến khích sự tưởng tượng, khám phá dựa trên văn bản thuần túy Thông qua những điều kiện cụ thể, phê bình phân tâm học văn bản sẽ chỉ
ra những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, từ đó chi phối những hoạt động tâm lý của con người thông qua cấu trúc văn bản và những liên tưởng đến vô thức qua lý thuyết
Trang 19biểu tượng và cổ mẫu Đây là một phương pháp được sử dụng rộng rãi và có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận tác phẩm không chỉ dừng lại ở nội dung mà còn khám phá những chiều sâu và mạch ngầm được thể hiện trong văn bản
1.1.3 Phê bình phân tâm học độc giả
Phương pháp phê bình phân tâm học độc giả cho thấy những đặc trưng về mặt tiếp nhận văn học đã có sự thay đổi rõ rệt theo thời gian Trải qua sự chuyển giao về mặt loại thể và đối tượng tiếp nhận, một tác phẩm văn học không dừng lại ở việc nhà văn viết tác phẩm, tự vấn về tác phẩm và các nhà phê bình nghiên cứu nội dung, hình thức tác phẩm dựa trên văn bản mà lúc này, yếu tố độc giả được khẳng định và chiếm một vị trí quan trọng để nhìn nhận và đánh giá một tác phẩm Vấn đề “đồng sáng tạo” một tác phẩm mà chủ thể “đồng sáng tạo” không ai khác là độc giả - đối tượng có đủ những quyền năng để đưa tác phẩm đi theo những hướng khác dựa vào suy nghĩ cá nhân khi tiếp nhận tác phẩm Mỗi tác phẩm khi đến tay độc giả đều phải trải qua rất nhiều bước sàng lọc, cắt gọt và được tiếp nhận bởi độc giả thông qua nhiều con đường khác nhau Quá trình sáng tạo một tác phẩm văn học trong quan hệ với độc giả đưa đến những nhận định mới về tác phẩm, độc giả đón nhận tác phẩm trong trạng thái ý thức và cảm thụ tác phẩm cũng bởi ý thức, dù bên cạnh đó, vô thức cũng chiếm một phần đáng kể, góp phần thay đổi bản chất nội dung tác phẩm và độc giả có đủ mọi quyền năng để cảm thụ tác phẩm ở một phiên bản khác
Việc bóc tách những lớp vỏ hình tượng, ngôn từ, kết cấu trong một tác phẩm khiến cho quá trình trải nghiệm, phân tích tác phẩm trở nên dễ dàng hơn Độc giả góp phần quan trọng vào việc tạo dựng cho tác phẩm những chất liệu mới dựa trên những đặc trưng về mặt nhận thức và khả năng cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm Khi đọc tác phẩm, độc giả liên tưởng, gắn tác phẩm với cuộc đời hiện thực và suy nghĩ thay cho tác giả, nhân vật về những vấn đề xảy ra, đôi lúc vượt ra ngoài khuôn khổ trang sách để đi đến những biên độ xa hơn, chính điều này khiến vai trò của độc giả trở nên quan trọng và không thể thiếu nếu muốn nghiên cứu trọn vẹn tác phẩm Qua đó, có thể thấy việc sử dụng phương pháp phê bình phân tâm học độc giả để tìm hiểu tác phẩm là một hướng đi cụ thể và khả dĩ, bởi một tác phẩm không thể đạt đến giá trị mà nhà văn mong muốn nếu thiếu đi sự song hành và sự đồng sáng tạo của độc giả
Trang 20Một trong những tên tuổi để lại ấn tượng đậm nét trong việc vận dụng phương pháp phê bình này là Norman Holland Từ giữa thế kỉ XX, khi mà văn học đã bước sang giai đoạn hiện đại, việc có một người đưa ra quan điểm nghiên cứu văn học dựa trên yếu tố độc giả đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu ngạc nhiên bởi xưa nay, nhắc đến công việc nhìn nhận một tác phẩm, họ đều có thói quen tập trung vào tác giả và tác phẩm hơn là quan tâm đến độc giả N Holland đã gắn vô thức vào trong đề xuất của mình như một mắt xích quan trọng Ông cho rằng việc ứng dụng, quan tâm đến
vô thức đi từ giấc mơ tới ẩn ức, mặc cảm gắn liền với vấn đề đọc và hiểu một tác phẩm là hết sức cần thiết Tác phẩm được tiếp nhận và xử lý thông qua những va chạm, ở đó tâm lý độc giả được thể hiện rõ rệt và đầy đủ, độc giả hiểu tác phẩm dựa trên trải nghiệm đời sống của bản thân hơn là đi theo mũi tên chỉ đường của tác giả Việc gắn cho độc giả một sứ mệnh cao cả trên con đường nghiên cứu một tác phẩm đã dẫn đến những lý thuyết quan trọng mà sau này, những lý thuyết đó của N Holland đã được sử dụng như một phương pháp để văn bản được tiếp nhận ở một mức độ, phạm vi khả dĩ nhất Ông cho rằng tất cả những biến chuyển trong tác phẩm đều có xuất phát điểm và định hình trong quá trình tiếp nhận tác phẩm của độc giả chứ không phải trong bản thân tác phẩm hay trong chính nhà văn
Xét cho cùng, mỗi khuynh hướng phê bình phân tâm học đều mang lại những hiệu quả riêng biệt và chắc chắn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Chính sự đa dạng về khuynh hướng đã khiến cho đời sống văn học trở nên phong phú và luôn luôn vận động, phát triển Từ góc nhìn phân tâm học, các tác phẩm càng có cơ hội được nghiên cứu và định hướng đa chiều hơn thông qua việc đề cao vấn đề tiểu sử của tác giả, văn bản đến tư duy độc giả Vấn đề giải mã tác phẩm văn học chưa bao giờ là dễ dàng, và việc nghiên cứu, phân tích tác phẩm dựa trên những khuynh hướng, phương pháp phê bình khác nhau khiến cho tác phẩm được đào sâu, đa chiều và sống động hơn
1.2 Một số tiêu điểm nghiên cứu của phân tâm học
Nghiên cứu những lý thuyết nền tảng của phân tâm học là một việc làm cần thiết khi tiến dần đến việc làm rõ những ảnh hưởng của học thuyết này tới đời sống tâm lý con người, từ đó lý giải những đặc trưng về mặt nội dung, hình thức mà phân tâm học thể hiện qua các nhân vật, sự kiện trong các tác phẩm văn học Chính những
Trang 21lý thuyết này đã góp phần tạo dựng học thuyết một cách trọn vẹn, đa chiều và tương xứng với một phân môn tâm lý học, một phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến và thịnh hành trong thời đại ngày nay Những lý thuyết được chúng tôi tập trung và chọn lọc nghiên cứu trong công trình này bao gồm:
- Lý thuyết về tâm thần học
- Lý thuyết về tính dục và mặc cảm
- Lý thuyết về cổ mẫu
- Lý thuyết về giấc mơ
1.2.1 Lý thuyết về tâm thần học
Phân tâm học là khoa nghiên cứu, lý giải những vấn đề ẩn sâu trong mỗi cá thể người, từ đó đưa đến những nhận định ban đầu về cách con người hòa nhập với đời sống vật chất, bên cạnh đời sống tinh thần luôn có sự biến động và xoay chuyển Ngay từ khi thiết lập những luận đề và chuẩn mực sơ khởi, phân tâm học đã trở thành một hướng nghiên cứu được quan tâm bởi tính thiết thực, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, tạo tiền đề trong việc hình thành những lý thuyết quan trọng khác nhằm phục vụ con người Nhà triết học, nhân học xã hội Ernest Geller từng nhân định:
“Phân tâm học đã trở thành diễn đạt chủ đạo trong bàn luận về nhân cách con người và những mối quan hệ của loài người.” (Stoor A, 2016, tr.233)
Đối tượng nghiên cứu của phân tâm học là những trạng thái thường trực của con người xung quanh ba trục phạm trù: vô thức, tiềm thức và ý thức Nhiều nhà nghiên cứu luôn giữ quan điểm khi cho rằng S Freud là người khởi xướng lý thuyết
vô thức nhưng trên thực tế, Lancelot Law Whyte đã chỉ ra điều ngược lại, nhấn mạnh vai trò của S Freud trong việc vận dụng thích hợp và hoàn thiện lý thuyết này trong ngành tâm lý học, ông không phải là người đặt ra định đề vô thức mà chúng ta ngày
nay đang sử dụng: “Ý tưởng về các quá trình vô thức đã được quan niệm về nhiều phương diện ngay từ năm 1700, mang tính thời sự khoảng năm 1800, và trở nên hữu ích khoảng năm 1900.” (Stoor A, 2016, tr.234) trong khi S Freud sinh năm 1856
Dẫn ra điều này để thấy vai trò của S Freud trong việc phổ biến và thực hành lý thuyết vô thức trong khoa học, biến những lý thuyết đơn thuần trở nên có hiệu quả,
Trang 22gắn chặt với đời sống của mỗi người trong xã hội Hơn vậy, lý thuyết về vô thức trở thành một trong những định đề nền tảng trong ngành tâm lý học, từ đó lý giải những vấn đề ẩn khuất bên trong con người Vô thức chỉ những thứ con người không thể chạm đến cũng không thể nắm bắt, nó là một vùng cảm quan mà ở đó những suy nghĩ, hành động của con người đều trở nên bất lực, đôi lúc bị thao túng và chế ngự Sức mạnh của vô thức trở thành một trong những vấn đề được nghiên cứu sâu rộng, và trong một số trường hợp, ý thức cũng phải nhường bước cho vô thức bởi vùng thông tin mà vô thức ngự trị khiến con người không quản lý được
Những vấn đề cụ thể trong cuộc sống, từ việc không hài lòng vào bất kì vấn đề nào cho đến những cãi vã, tranh luận không đi đến hồi kết cũng dễ dàng dẫn đến kết quả là sự xung đột của ý thức, chuyển dần sang vô thức Tại đó, con người dần mất
đi khả năng bảo vệ mình, không thể kiềm chế và làm chủ cảm xúc của bản thân, dẫn đến sự mất tỉnh táo, bị thao túng bởi vùng vô thức Con người có xu hướng chống trả, xử lý thiếu suy nghĩ trước sự công phá của vô thức Trong một xã hội đầy biến động như hiện nay, con người ngày càng phải đối diện với những vấn đề đi ngược lại những luân lý, chuẩn mực đạo đức, thường xuyên chịu đựng những bất công, bạo lực và căng thẳng trước những vấn đề về cảm xúc là cơ hội để vô thức nảy sinh và tác động trực tiếp vào đời sống con người
Vô thức tác động đến tâm lý, hoạt động của con người cho đến việc hình thành nhân cách con người, từ những thay đổi của đời sống xã hội dẫn đến việc vô thức dần chiếm vị thế thượng phong, bác bỏ ý thức và chiếm vai trò quan trọng trong bộ não con người S Freud coi vô thức là một trong những tiêu điểm trong việc nghiên cứu và phác thảo học thuyết phân tâm học Từ đó có thể thấy, ý thức không phải là hình
thức duy nhất quyết định suy nghĩ và hoạt động của con người và “những hoạt động tinh thần (của con người) thường là vô thức” (Freud S, 2002, tr.13) Vô thức tồn tại
khi nảy sinh những dồn nén, ẩn ức để từ đó hình thành nên những hành vi sai lệch,
biến chứng tâm lý, ham muốn, dục vọng; do vậy, phân tâm học khẳng định “có một
tư tưởng và một ý chí vô thức” (Freud S, 2002, tr.13) Chính những yếu tố vô thức đã
cho phản ánh chính xác và đầy đủ bản chất trong mỗi con người
Trang 23Từ xưa đến nay, con người luôn có xu hướng coi trọng và đề cao ý thức, vì thế mà mỗi người thường có xu hướng phủ định hay che giấu sự quan trọng và tồn tại thường trực của vô thức Chỉ khi sống trọn vẹn với thế giới vô thức, con người mới hiểu đúng bản chất của chính mình, bỏ qua tất cả những rào cản về đạo đức, lễ giáo để đón nhận và đề cao sự tự nhiên, thoát ly trong con người mình Vô thức còn được hiểu thông qua một thực thể được sắp xếp ổn định hơn dưới hình thức cấu trúc, kết
cấu Với cách hiểu này, vô thức “hợp thành bởi những hình tượng được lưu lại sau những trải nghiệm (những dấu vết hình ảnh, âm thanh, bối cảnh,…), được sắp xếp theo một logic phi lý tính nhưng rất chủ quan (luật vào/ra, chủ động/bị động,…), theo một trật tự thời gian tiềm tàng đặc biệt, và được xây dựng từ thuở ấu thơ từ những mối quan hệ trong gia đình Có cùng những cơ chế hoạt động như một thứ ngôn ngữ (ẩn dụ, hoán dụ,…) với những cách thức rất riêng của mình (chuyển vị, cô đọng,…).”
(Lê Hoàng Thế Huy, 2014)
Trong điều kiện ngày nay, vô thức càng có cơ hội phát huy những tính năng của mình trong việc chế ngự mọi hành vi, hoạt động của con người Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, đầu tiên phải kể đến sự nổi trội của những vấn đề bất đồng và khó lý giải khi con người luôn phải chịu sự bó buộc, kìm nén của những điều lệ, tín ngưỡng và quy định, tiếp đến là sự khao khát, mong chờ và trỗi dậy của bản năng, tính dục và ham muốn thể xác Bản chất người chỉ thực sự bộc lộ nguyên vẹn và đầy đủ khi vô thức xuất hiện, tồn tại và khẳng định vị trí của mình bên cạnh vai trò của ý thức Phân tâm học nghiên cứu vô thức trên những góc độ cụ thể và đa chiều, từ yếu tố tâm lý đến những yếu tố mang tính xã hội, cung cấp đầy đủ những điều kiện để vô thức tồn tại và phát huy hết những giá trị và nhiệm vụ của mình Vô thức được hình thành từ khi sinh ra, mang tính tự nhiên Ý thức nảy sinh và tiếp biến thông qua các hoạt động tiếp xúc với môi trường, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, do vậy vô thức luôn chiếm một vị trí quan trọng trong việc tạo dựng cảm xúc và hình thành bản chất
trong mỗi con người Vô thức bao hàm cả những “thành phần xúc cảm, những trải nghiệm cá nhân trong thời kỳ phát triển tâm sinh lý cộng đồng.” (Nguyễn Đình Toàn,
2015) Ở phương diện tôn giáo, tín ngưỡng, vô thức cũng hiện hữu như một biểu hiện
tâm lý cụ thể và linh hoạt: “Ngay cả một ý niệm Phật giáo về luân hồi và sự trở lại
Trang 24với tự nhiên của Đạo giáo cũng có thể được coi là ánh xạ khao khát vô thức của nhân loại muốn trở về với lòng mẹ.” (Donggu M, 2012)
Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những lý thuyết mà S Freud đề ra, C.G Jung tán đồng những điều mà S Freud nói về vô thức và những yếu tố liên quan đến hành vi sai lạc, tính dục, giấc mơ, mặc cảm, Tuy nhiên, giữa S Freud và C.G Jung không
đi đến điểm đích cuối cùng của nghiên cứu khi hai người có những lí lẽ riêng biệt
trong việc nhìn nhận vô thức, C.G Jung đưa ra khái niệm “vô thức tập thể”, chính
phát kiến này đã mở ra cho khoa nghiên cứu phân tâm học những hướng triển khai mới và đa dạng hơn khi nhìn nhận vấn đề ở một góc độ rộng lớn, toàn diện hơn những lý thuyết ban đầu mà S Freud khởi xướng
Khác biệt với S Freud khi xem thế giới tâm thần là một tảng băng trôi, C.G
Jung coi đó là một ngôi nhà, tầng sâu nhất của ngôi nhà ông gọi là “vô thức tập thể”,
nhiệm vụ của C.G Jung là “phải thực sự khám phá toàn bộ ngôi nhà” (Stevens A,
2016, tr.79) Chính khái niệm “vô thức tập thể” đã khiến cho C.G Jung tạo nên được
sự khác biệt khi nghiên cứu phân tâm học so với S Freud và cho thấy một cái nhìn sâu thực hơn về thế giới tâm hồn con người Vô thức tập thể tạo dựng trên cơ sở hình thành các cổ mẫu, chứa đựng những đặc điểm về sự thích ứng, lặp lại và giống nhau của một bộ phận người ở những nơi khác nhau, từ đó tạo nên một hệ thống tâm thần riêng trên mặt bằng rộng lớn và toàn diện hơn so với vô thức mà S Freud đưa ra
Anthony Stevens trong công trình Dẫn luận về Jung đã khái quát hình thức và kết
cấu của vô thức tập thể cũng như nêu bật những đặc điểm về mặt nội dung của lý
thuyết này: “Toàn bộ những cổ mẫu để lại cho một cá nhân tạo thành vô thức tập thể Uy quyền và sức mạnh của vô thức tập thể được đặt vào một nhân trung tâm, nhân này chịu trách nhiệm hợp nhất toàn bộ nhân cách vào một thể thống nhất.”
(Stevens A, 2016, tr.81) Khái niệm “vô thức tập thể” lần đầu tiên được đề cập trong
công trình Những chuyển hóa và biểu tượng của dục năng, đây là một luận đề mới
mẻ nhưng ngay lập tức nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình vì nó gắn liền với nhiều ngành khoa học quan trọng khác, trong đó có cả tôn giáo, văn hóa và môi trường
Trang 25Ý thức được hình thành trong quá trình trải nghiệm và tư duy của con người, là hình thức xử lý, bổ sung thông tin cao nhất và có ảnh hưởng đến mọi suy nghĩ, hoạt động của đối tượng Chính ý thức cũng đóng vai trò điều khiển mọi giác quan của con người, từ việc cảm nhận sự vật cho đến việc bày tỏ những thái độ trước mọi vấn đề mà mình gặp phải Do đó, có thể khẳng định ý thức được điều khiển dựa trên một
cơ chế riêng, hình thành trong một khoảng thời gian nhất định, khác hẳn với tính ngẫu hứng của vô thức Chính ý thức là bức tường thành để ngăn cản vô thức, né tránh mọi vấn đề xấu có thể xảy ra với con người, đây được xem là giai đoạn tích lũy và bổ sung cho những giai đoạn khác trong quá trình tư duy, quyết định hình thức và cách triển khai mọi hoạt động sống của con người
Một trong những khái niệm khác khi nghiên cứu phân tâm học cần phải kể đến
là “tiềm thức”, S Freud định nghĩa tiềm thức là “bất kỳ cảm giác hay tư duy mà ta có thể biết” (Đỗ Kiên Cường, 2014) Tiềm thức được xem là cầu nối giữa vô thức và
ý thức, tạo dựng trong mối quan hệ đó những đặc điểm mang tính kế thừa Thường ở giai đoạn này, con người không có cảm giác, thậm chí không hay biết tâm lý của bản thân đang có sự thay đổi, dịch chuyển Trên thực tế, tiềm thức tồn tại khá nhiều trong đời sống khi mà con người có xu hướng biến cái không tưởng trở thành cái có khả năng thực hiện, được tích tụ trong một khoảng thời gian dài, chịu sự tác động của yếu tố tâm lý và ngoại cảnh khiến cho quá trình giao thoa, chuyển tiếp từ vô thức sang ý thức nhanh chóng và xuyên suốt hơn Hình thành như một vùng tâm lý độc lập, tiềm thức góp phần tạo nên những trạng thái tâm lý của con người bên cạnh những tác động của những yếu tố khác nhau Những hiện tượng chứng tỏ sự tồn tại của tiềm thức được giới nghiên cứu tâm lý đưa ra cho thấy tiềm thức là một trong những trạng thái tâm lý khó nhận biết nhất, do đó ranh giới để phân biệt trạng thái này thường rất
mong manh, mơ hồ Trong công trình Thăm dò tiềm thức, C.G Jung đã khái quát:
“Những sự kiện mà ta ý thức được còn có những khía cạnh mà ta không ý thức được, ngoài ra còn phải nói đến những sự kiện mà trí óc ta không ghi nhận một cách có ý thức, nhưng tiềm thức ta đã ghi nhận, và như thế, chúng ở dưới làn mức ý thức.”
(Jung C.G, 2016, tr.20)
Trang 26Vô thức - Tiềm thức - Ý thức là ba đỉnh của tam giác trạng thái tâm lý, có ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên những rung cảm về mặt tâm hồn, nhận biết được thế giới khách quan và thể hiện được tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với những vấn đề mà bản thân đối mặt Đây cũng được xem là những đối tượng đặc thù để nghiên cứu phân tâm học, xây dựng nên một hệ thống tiếp nhận và xử lý thông tin của con người, bên cạnh những tác động về mặt hành vi và suy nghĩ
1.2.2 Lý thuyết về tính dục và mặc cảm
Tính dục là một trong những tiêu điểm trong học thuyết mà S Freud đề xuất,
ông coi “bản năng tính dục là nguồn gốc của mọi công trình vĩ đại nhất” (Freud S,
2002, tr.XII) Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy sự hình thành những hành vi, xung đột gắn liền với tâm lý người Những năm 20 của thế kỉ XX, dựa vào kết cấu ba tầng của sơ đồ tâm lý mà S Freud đề xuất, vô thức “tự ngã” (bản ngã, Id)
hay “cái Nó” là trạng thái quan trọng và chủ chốt nhất, “Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thủy và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú Id có tính chất như vậy và bản chất của nó thuộc về tính dục, nó vốn vô thức.” (Freud S, 2002, tr.IX-X) Vô thức tự ngã vượt qua mọi khuôn
rào xã hội, kể cả đạo đức, tôn giáo và tín ngưỡng chỉ nhằm thỏa mãn mọi ham muốn của bản thân, điều đó vừa chứng tỏ sức mạnh tiềm ẩn lớn lao mà vô thức tự ngã sở hữu vừa cho thấy sự mù quáng và thách thức, tất cả những xúc cảm ấy đều nhằm mục đích thể hiện năng lực tính dục của mỗi cá thể
C.G Jung cũng nghiên cứu về vô thức tự ngã và coi đó là một trong năm loại
cổ mẫu quan trọng được duy trì cho đến tận ngày nay, theo ông vô thức tự ngã “chiếm
vị trí trung tâm trong các loại cổ mẫu, nó có tác dụng tập trung những biểu hiện rời rạc của vô thức tập thể, có tác dụng điều hòa nội tâm và ngoại giới” (Phương Lựu,
1999, tr.17) Ngoài ra, “cái Tôi” (bản ngã, ego) và “cái Siêu Tôi” (siêu ngã, super ego) là những định đề quan trọng gắn liền với lý thuyết vô thức, nó được hiểu như một cơ chế kiểm soát mọi hoạt động, suy nghĩ của con người dựa trên những chuẩn mực của xã hội, giai cấp, đạo đức và tôn giáo S Freud nhận ra sự khác biệt giữa tính
cách con người với các loài vật bởi “ý thức con người bắt đầu trung gian hóa quan hệ của mình với môi trường xung quanh trong quá trình tiến hóa” (Nguyễn Vũ Hảo,
Trang 272016, tr.127) và “con người có thể hoãn việc đáp ứng dục vọng hay thậm chí đè nén chúng, nếu việc trực tiếp đáp ứng dục vọng đe dọa sự sống còn của mình” (Nguyễn Vũ Hảo, 2016, tr.127) Trong công trình Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Nguyễn Vũ Hảo cho rằng: “Việc con người mắc bệnh tâm thần thường do mối quan hệ giữa ba nền tảng bị mất cân bằng.” (Nguyễn
Vũ Hảo, 2016, tr.128), điều đó cho thấy những ảnh hưởng của việc điều tiết ba yếu tố trong tư duy, tâm lý con người Sự thể hiện, tạo điều kiện cho bất kỳ nền tảng nào nổi trội hơn các nền tảng khác cũng đều có nguy cơ dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực
Tính dục là một trong những nhu cầu tất yếu của con người, do đó nó càng trở nên quan trọng khi liên hệ với những ngành khoa học chuyên nghiên cứu về sự tồn
nghi và phát triển của nhân loại, từ đó S Freud đưa ra quan điểm: “Tính dục là lực thúc đẩy trung tâm trong bản chất con người.” (Storr A, 2016, tr.151) Đã có thời
điểm nghiên cứu tính dục là một trong những điều kiện tiên quyết để khai phá sự bí ẩn và thu hút của phân tâm học bởi tính dục là một trong những điều kiện cần thiết để duy trì sự tồn tại của con người, nó được xem là sợi chỉ thêu dệt cảm xúc, tính cách và chi phối hầu hết những đặc điểm về ý nghĩ và hành vi
Trong thời đại ngày nay, các nhà khoa học còn mở rộng phạm vi ảnh hưởng của lý thuyết tính dục trong đời sống khi liên hệ, ứng dụng lý thuyết tính dục vào những yếu tố văn hóa, nhân học, xã hội học, tôn giáo học, bên cạnh việc hiểu tính dục chỉ dừng lại ở việc mang lại cảm xúc và duy trì nòi giống sinh học Như đã nói ở trên, ngoài việc vượt rào trong một số vấn đề của cuộc sống, tính dục còn có sức mạnh phản tỉnh, kiến tạo một số ngành khoa học khác, đặc biệt là các ngành liên quan đến văn hóa, nghệ thuật Từ khi khởi sinh, con người dần quen với việc tạo dựng những mối quan hệ để kết hợp với nhau, hình thành những sinh thể mới Tính dục trong phân tâm học không dừng lại ở đó, khái niệm này còn tập trung nghiên cứu những đặc trưng về mặt cảm xúc, nhân cách và suy nghĩ con người Những khao khát tính dục đa phần đều không thể lý giải, nó thể hiện sự chất chứa trong mỗi đối tượng và nhu cầu giải tỏa những ẩn ức đó nảy sinh dẫn đến những ảnh hưởng, đảo lộn nhận thức trong đời sống tâm lý Bản năng tính dục theo S Freud còn liên quan đến những bộ phận khác của cơ thể, tất nhiên đã bao gồm bộ phận sinh dục, bản năng tính dục
Trang 28góp phần tạo dựng nhân cách và giá trị sống, ảnh hưởng trực tiếp đến những ý nghĩ và hành động
S Freud chủ trương nghiên cứu tính dục trong phân tâm học thông qua đối tượng trẻ em Ông đưa ra những luận điểm để chứng minh xung năng tính dục khởi nguồn từ những năm tháng đầu đời, thông qua các giai đoạn “miệng”, “dương vật”
(hay “âm vật”) và cuối cùng là “sinh dục”, ông coi đây là “nền tảng hữu cơ không thể thiếu” (Storr A, 2016, tr.52) khi bước vào con đường nghiên cứu lý thuyết tính
dục S Freud tập trung xem xét xung năng tính dục dựa trên những thay đổi về ngoại hình, nhìn nhận mối quan hệ mật thiết của trẻ với mẹ Ngoài ra, ông còn xem tính dục
trẻ em “được tạo nên một cách luộm thuộm từ những bản năng cấu thành, lúc đầu là những khuynh hướng tách rời nhưng cuối cùng lại hợp nhất ở một giai đoạn sau để hình thành nên những xung năng tính dục ở người lớn” (Storr A, 2016, tr.54)
Việc phân tách tính dục trẻ em với tính dục trưởng thành cho thấy mục tiêu và khuynh hướng nghiên cứu của S Freud Hai loại tính dục này khác biệt nhau về cả
hình thức lẫn nội dung: “Tính dục ấu nhi đem lại khoái cảm miệng, khoái cảm hậu môn và khoái cảm dương vật, nhưng không nhằm vào tiếp xúc sinh dục với người khác giới, còn tính dục trưởng thành đem đến khoái cảm cho tất cả các cơ quan sinh dục.” (Donggu M, 2012) Ngoài ra, ông còn đặc biệt chú trọng và lý giải những đặc
điểm tình trạng lưỡng tính ở cả hai giới như một xu hướng phát triển tính dục dị biệt,
dần đi đến việc “hình thành tập quán” (Storr A, 2016, tr.55) Với ánh sáng của học
thuyết do S Freud đề xuất, khoa học đã mở rộng, phân tích và đưa ra nhiều loại tính dục dị biệt khác, sắp xếp thành bốn nhóm chính, bao gồm: loại tính dục lệch hướng (tính dục đồng giới, tính dục huyễn nhi, tính dục báo vật), loại lệch độ cường dục (tính dục lọ thể, tính dục tự hoại, tính dục bạo lực), loại tính dục chuyển vị, loại tính dục kết hợp tính chất hai dạng tính dục dị biệt (tính dục đồng giới ác dâm/khổ dâm, tính dục bái thể và lộ thể, ) (Nguyễn Đình Toàn, 2015) Với tính dục đồng giới, công
trình Phân tâm học và tình yêu nhận định: “Thật dễ hiểu tại sao giai đoạn quá tự yêu thường dẫn tới giai đoạn có những hứng thú tính dục đồng giới, có sức thúc đẩy mạnh mẽ hơn tới một đối tượng yêu ở bên ngoài bản thân mình.” (Freud S, Schopenhauer
A, Fromm E, 2005)
Trang 29Không thể phủ nhận những ảnh hưởng và đóng góp của S Freud với việc phát triển lý thuyết tính dục trong tiến trình nghiên cứu phân tâm học nhưng việc ông tập trung quá nhiều vào tính dục trẻ em không nhận được sự đồng tình của giới chuyên môn, bản thân C G Jung cũng hướng đến một cách hiểu về phân tâm học rộng mở hơn, thông qua những ẩn ức, dồn nén và nghiên cứu những mặc cảm dựa trên những vấn đề liên quan đến tổ chức cộng đồng và đời sống nhiều hơn là việc đi sâu vào yếu tố tính dục, đặc biệt là tính dục trẻ em Quan niệm của Giuseppe Tucci rất gần với C.G Jung khi ông nhìn nhận tính dục trong mối tương quan đa diện với những lĩnh vực khác, gắn nó trên một trục suy nghiệm thay vì tách hẳn và tâp trung nghiên cứu
tính dục như một vấn đề độc lập, ông cho rằng: “Những quan hệ tính dục không chỉ là kết quả của sự thúc đẩy mãnh liệt của khoái lạc, nó còn được lồng vào một vài quan niệm vũ trụ luận và trong một nghi thức riêng đã làm khỏe lại những sức mạnh của tự nhiên, đảm bảo sự màu mỡ của đất đai và để tránh những thảm họa cằn cỗi cũng như cái chết.” (Freud S, Jung C.G, Bachelard G, 2000, tr.304)
Bản năng tính dục bao hàm những ham muốn cần được đáp trả, phản hồi, bị kìm nén trong một thời gian dài dẫn đến những phức cảm (hay mặc cảm), khởi tạo những lo âu, sợ hãi về mặt thể xác lẫn tinh thần, dẫn đến những bất ổn thông qua quá trình nhận thức và thể hiện cảm xúc, từ đó có những hành vi, biểu hiện phản kháng và thường xuyên quan sát người khác hạnh phúc để thấy sự thiếu thốn, bất hạnh của
chính mình Trong công trình Tính dục thuở hồng hoang, Christopher Ryan và Cacilda Jethá cho rằng: “Đối với nam giới, tính dục là một ca cứu hỏa, và bất kể đang làm gì thì cũng phải sẵn sàng trong thời gian hai phút Ngược lại, phụ nữ như ngọn lửa Họ rất hào hứng, nhưng mọi điều kiện phải cực kỳ thích hợp thì mới bùng cháy được.” (Ryan C, Jethá C, 2016, tr.84) Điều đó cho thấy vấn đề tính dục còn chịu tác
động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, như tình cảm, đối tượng, phương tiện, môi
trường,… S Freud quan niệm: “Trong mỗi con người luôn có một năng lực thúc bách bản thân đi tìm kiếm tình yêu và khoái lạc với những người khác.” (Huỳnh Như
Phương, 2014, tr.173)
Ngoài ra, con người có xu hướng suy nghĩ và tự lo phiền trước những chuẩn mực xã hội, đạo đức dẫn đến những thương tổn về tâm hồn, gây nên sự dè dặt trong
Trang 30cách ứng xử, dẫn đến tâm lý không ổn định và âm thầm diễn ra những xung đột Mặc cảm còn nghiên cứu trong mối quan hệ gia đình, xã hội Đối tượng nào cũng muốn giành được điều tốt đẹp và đầy đặn về cho mình, từ đó nảy sinh những suy nghĩ và hành động trái ngược lại chuẩn mực, gây những hành vi thiếu kiểm soát và dễ làm cảm xúc bị thương tổn Mặc cảm trong mối quan hệ gia đình biểu hiện ở việc đố kị tình cảm giữa những thành viên, đối tượng được nhắm đến thường là người mẹ, S Freud gọi trạng thái tâm lý này là “mặc cảm Oedipe” để chỉ những những cảm xúc khác thường giữa những đối tượng khác giới khi con trai yêu thương mẹ - ghét bố hay con gái yêu thương bố - ghét mẹ với khái niệm “mặc cảm Electra”
Tính dục trẻ em là một trong những mục tiêu quan trọng trong lý thuyết phân tâm học của S Freud, tại đó, trải nghiệm tâm lý và những va chạm sinh lý ban đầu được diễn giải và đưa đến một luận đề chung, giải thích cho việc tính dục khởi sinh từ những năm tháng đầu đời Ngay từ khi sinh ra, việc trẻ tiếp xúc với bầu vú của người mẹ là trải nghiệm đầu tiên chứng tỏ việc trẻ đã làm quen với yếu tố tính dục, quá trình này diễn ra trong những năm tháng đầu đời, tạo cho trẻ một thói quen ở giai
đoạn “miệng”, hành vi tính dục sau đó chuyển tiếp đến việc “tự tách ra và tìm được
sự thỏa mãn trong những hành động như mút ngón tay cái” (Storr A, 2016, tr.53)
Việc tiếp xúc với mẹ ngay từ khi còn bé khiến những bé trai nghiễm nhiên coi tình cảm của mẹ dành toàn vẹn cho mình, việc mẹ chia sẻ tình cảm cho bố khiến trẻ cảm thấy thiếu thốn, đau buồn, thậm chí phẫn uất và tìm mọi cách để giành lại cho bản thân Những ẩn ức từ đó nảy sinh, mặc cảm Oedipe hình thành và duy trì từ trường hợp riêng biệt này Với bé gái, mặc cảm Electra thường chỉ nảy sinh khi bé bước vào giai đoạn trưởng thành, bé gái luôn có xu hướng dành tình cảm cho cha, tìm kiếm một người để yêu có ngoại hình, tính cách, sở thích, giống như cha của
mình Sự phản ứng và ghen tị của bé trai đối với cha, bé gái đối với mẹ như một “sự đối kháng vốn mang trong nó tính chất “bất biến” sẽ trở thành định mệnh của nhân loại” (Lê Nguyên Cẩn, 2014, tr.332)
Trẻ em tiếp nhận các yếu tố tính dục từ sự quan sát và ghi nhớ các hoạt động của người lớn hoặc cảm thấy tò mò khi các bộ phận của cơ thể có những thay đổi, từ đó thôi thúc trẻ khám phá và thử nghiệm Phần lớn người lớn nhìn nhận vấn đề này
Trang 31ở trẻ một cách tiêu cực khiến trẻ cảm thấy sợ hãi, hoang mang trước những thay đổi trong tâm lý, sinh lý của chính bản thân mình, từ đó nảy sinh trạng thái lo âu, mặc cảm Chính những thay đổi theo lứa tuổi khiến cho trẻ em cảm thấy hoang mang; hơn thế, người lớn có xu hướng gieo vào đầu trẻ những nghi kị về việc sẽ cắt bỏ dương vật nếu trẻ có những hành vi tính dục mà theo họ đi ngược lại với đạo đức, lễ nghi
Mặc cảm hoạn ra đời trong nỗi sợ của những đứa trẻ là nam, lo sợ về sự cắt bỏ
cơ quan sinh dục, từ đó hình thành những mặc cảm thiếu thốn và bất lực trước mọi vấn đề và khác biệt với những bạn cùng giới khác Mặc cảm hoạn dẫn đến những suy nghĩ, hành động tiêu cực khi vô thức chiếm lĩnh và làm chủ ý thức, dẫn tới những hành vi thiếu kiềm chế, hoảng loạn Loại mặc cảm này không chỉ cho trẻ thấy sự thiếu thốn về mặt sinh lý, đó còn là sự thiếu thốn về mặt tinh thần khi mà bản tính đàn ông dần mất đi, thay vào đó là sự dè bỉu của xã hội, sự ngờ vực của những bạn khác giới Đây được xem là căn nguyên của những đổ vỡ trong đời sống gia đình hay sự lo ngại, tự ti và tránh né khi đối diện với những vấn đề liên quan đến tính dục Trẻ sẽ trở nên lãnh cảm, sợ sệt trước những thay đổi về mặt tâm sinh lý, có xu hướng khép kín, tự
co hẹp không gian bản thân, không chia sẻ, thổ lộ với cha mẹ
Nhìn nhận lại một lần nữa, vô thức góp phần quan trọng trong việc hình thành xung năng tính dục ở mỗi người Những ham muốn tính dục đa phần nảy sinh khi có sự trỗi dậy của vô thức, lấn át ý thức; đôi lúc vô thức đưa con người tới những suy nghĩ, hành động tính dục tiêu cực, đi ngược lại những giá trị hữu hình mà bản thân lý thuyết tính dục chứa đựng Những ẩn ức, kìm nén khiến con người tìm đến tính dục để giải tỏa với suy nghĩ, hành động vô thức làm những suy nghĩ, hành động ấy trở nên nặng nề, bức bối và không mang lại khoái cảm
Nghiên cứu lý thuyết tính dục và mặc cảm là một trong những khía cạnh quan trọng trong việc giải thích tâm lý con người, khiến cho học thuyết phân tâm học ngày càng trở nên gần gũi và hữu ích trong đời sống Lý thuyết tính dục và mặc cảm cũng chỉ ra điểm nguồn và điểm đích của vấn đề, từ đó lý giải những suy nghĩ, hành động của con người trong mối tương quan với những vấn đề nảy sinh của cuộc sống, từ mối quan hệ gia đình cho đến những bất đồng, lo âu xã hội
Trang 321.2.3 Lý thuyết cổ mẫu
Cổ mẫu (hay siêu mẫu, nguyên mẫu,…) là một trong những lý thuyết quan trọng khi nghiên cứu phân tâm học, người đề xuất lý thuyết này không ai khác là C.G Jung khi ông quan niệm vô thức tập thể được hình thành bởi việc tập hợp những cổ
mẫu A Stevens thông qua công trình Dẫn luận về Jung đã dựa vào những ghi chép của C.G Jung để định nghĩa: “Cổ mẫu là “những cấu trúc tinh thần đồng nhất mà tất cả đều có” (Toàn tập V, đoạn 224), cùng nhau tạo thành “sự kế thừa cổ xưa của nhân loại” (Toàn tập V, đoạn 259).” (Stevens A, 2016, tr.81), nói cách khác, cổ mẫu là “những yếu tố tâm thần không thể cắt nghĩa được bằng một sự việc xảy ra trong đời sống cá nhân, nó hình như bẩm sinh đã có, có từ nguyên thủy, nó là một thành phần trong gia tài tinh thần của nhân loại” (Jung C.G, 2016, tr.93-94)
Cổ mẫu chứa đựng những biểu hiện về nền văn minh, khắc họa những trạng thái tâm lý dưới dạng cấu trúc và nhận định chúng dưới những kinh nghiệm của lịch sử, xã hội Cổ mẫu là kết tinh của bản năng và ý thức, được tích lũy dưới những hình thức khác nhau, thể hiện những suy nghiệm, bài học của một cộng đồng, mang trong mình những ảnh hưởng của văn hóa, xã hội, tôn giáo, tục, Do đó, cổ mẫu mang đậm dấu ấn cộng đồng, đề cao vai trò và dấu ấn tập thể trong mối tương quan với lịch sử
văn minh nhân loại, nói cách khác: “Cổ mẫu là hình tượng có giá trị bền vững và phổ quát, thoát thai từ vô thức tập thể.” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2010) Cổ mẫu còn
chứa đựng những giá trị mang tính thời gian, lý giải trong đó những biến chuyển của
đời sống: “Cổ mẫu sinh ra những ý nghĩ, hình ảnh, thành tố thần thoại, cảm xúc và
ý tưởng tương tự ở mọi người bất kể họ thuộc giai cấp, tín ngưỡng, chủng tộc, khu vực địa lý hoặc thời đại lịch sử nào.” (Stevens A, 2016, tr.81)
Trên hết, mỗi yếu tố tâm lý của con người đều có thể sinh ra một cổ mẫu, mang đậm tính bản năng Nghiên cứu những cổ mẫu từ góc nhìn phân tâm học là một hướng
đi đúng đắm trong quá trình lý giải hành vi, cảm xúc của con người với những điều kiện cụ thể Chính những cổ mẫu được hình thành dưới tác động của những hành vi, cảm xúc vô thức góp phần đưa con người đến những miền sâu xa hơn về nhận thức và trải nghiệm Cổ mẫu gắn liền với văn hóa dân gian, hay nói đúng hơn, nó song hành xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại, thể hiện những đặc trưng
Trang 33về mặt tâm lý để khắc họa nên những gì chung nhất, đặc sắc nhất để biểu hiện cho một đối tượng hay đại diện cho một vấn đề cụ thể nào đó Cổ mẫu còn nhằm giải thích những hiện tượng tự nhiên hay phẩm tính người, phản ánh những vấn đề tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo tồn tại từ thời nguyên thủy, sơ khai và có ảnh hưởng đến
tư duy nhân loại đến tận ngày nay
Không ít các nhà khoa học coi cổ mẫu là những chủ đề hay những hình ảnh được diễn ra suốt tiến trình phát triển của lịch sử, lặp đi lặp lại và có tính kế thừa, đại diện càng khiến cổ mẫu trở nên quan trọng với đời sống cộng đồng, đặc biệt trong vấn đề lý giải căn tính người và những va chạm trong đời sống Dẫn lại công trình
Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại của Phương Lựu,
Phạm Quốc Ca đã nêu bật nhận định của C.G Jung về ảnh hưởng của cổ mẫu trong việc tạo dựng văn bản và truyền vào đó nội lực của ý nghĩ, nhân cách con người trong
sự vận động của văn hóa nhân loại: “Hà hơi sống cho cổ mẫu từ trong vô thức là trải
nó ra và tạo hình cho nó đến khi thành một tác phẩm hoàn chỉnh Việc xử lý nghệ thuật đối với nguyên tượng trong chừng mực nào đó là một bản dịch nó sang ngôn ngữ đương thời.” (Phạm Quốc Ca, 2015)
Cổ mẫu còn giúp lý giải nguồn gốc của các hiện tượng tôn giáo Trong công
trình Vai trò của cổ mẫu trong nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, Bùi Lưu Phi Khanh đã triển khai ý tưởng của C.G Jung về vấn đề này: “Tôn giáo chỉ là sự khai triển của những cổ mẫu trong các nền văn hóa với hệ thống những biểu tượng đặc trưng cho mối quan hệ con người với giới tự nhiên mà con người đã mất đi trong quá trình phát triển xã hội, nhất là trong giai đoạn nhà nước.” (Bùi Lưu Phương Khanh, 2016) Cổ
mẫu gắn liền với đời sống văn hóa, tâm linh con người, liên kết con người với những yếu tố cổ xưa, tin tưởng vào nguồn cội và tín ngưỡng Tôn giáo là kim chỉ nam để con người hướng thiện, tránh xa những điều đố kỵ, xấu xa trong cuộc sống
Lê Huy Bắc đề xuất khái niệm “cổ mẫu văn hóa” để chỉ “các khuôn hình
chuẩn mực (về nhân văn và tri thức khoa học) thể hiện đậm nét văn hóa dân tộc và nhân loại trên cơ sở khẳng định cái tôi ưu việt của cả cá nhân lẫn cộng đồng.” (Lê
Huy Bắc, 2016) Khái niệm này cho thấy sự gắn kết giữa đời sống và những giá trị văn hóa, tinh hoa của dân tộc, từ đó, cổ mẫu còn đảm nhiệm vai trò giáo dục tư tưởng
Trang 34và xây dựng một ý thức giữ gìn những giá trị cổ xưa, được lưu truyền qua thời gian bởi một tập thể, một cộng đồng người
A Stevens trong công trình Dẫn luận về Jung đã nêu nên định nghĩa của ông về cổ mẫu: “Bất kỳ khi nào một hiện tượng được thấy là đặc trưng cho mọi cộng đồng người, nó đều là sự biểu lộ của một cổ mẫu trong vô thức tập thể.” (Stevens A,
2016, tr.94-95) Càng đi sâu vào lý thuyết cổ mẫu, ta càng thấy được những giá trị của việc định hình và phát triển cổ mẫu từ những phương diện thiết thực mà nó mang lại cho cuộc sống con người nói chung, nghiên cứu và nhìn nhận tâm lý nói riêng Chính những yếu tố này khiến cổ mẫu trở thành một hướng nghiên cứu trọng tâm trong lý thuyết phân tâm học và các ngành khoa học có liên quan khác
1.2.4 Lý thuyết về giấc mơ
Giấc mơ là một trong những phạm trù được bàn đến nhiều nhất khi nghiên cứu phân tâm học Việc phân tích những giấc mơ trong sự chiêm nghiệm, khai phá những dồn nén, ẩn ức vô thức là việc làm có xuất phát điểm từ khi khoa nghiên cứu phân tâm học bắt đầu hình thành, người khởi xướng cho việc làm này không ai khác là S Freud Giấc mơ được nảy sinh dưới sự hoạt động không ngừng nghỉ của các yếu tố tâm lý, con người thường hay gặp những giấc mơ khi dành sự quan tâm đặc biệt cho một đối tượng hay suy xét cho một vấn đề nào đó
Mặt khác, giấc mơ cũng được hình thành dưới những ảnh hưởng của các yếu tố khác như áp lực, trăn trở hay lo sợ về một vài vấn đề không tìm được cách giải quyết trong đời thực Những ức chế, dồn nén, phẫn uất được nảy sinh và thể hiện trong giấc mơ, cũng giống như vô thức, con người không thể kiểm soát được giấc mơ
và càng không thể nắm bắt, điều khiển giấc mơ theo ý mình Trong công trình Phân tâm học nhập môn, S Freud đã lý giải điều này: “Liên quan giữa yếu tố của giấc mơ và nền tảng vô thức của yếu tố đó: yếu tố chỉ là một phần nhỏ vô thức, y như một ảo ảnh thôi, chính vì được tách rời ra khỏi tảng vô thức mà yếu tố giấc mơ trở thành không thể thiếu được.” (Freud S, 2002, tr.130) và ông cho rằng “giấc mộng bao giờ cũng là sản phẩm của một cuộc tranh chấp” (Freud S, 2002, tr.XVI) và “mộng bảo vệ cho giấc ngủ” (Freud S, 2002, tr.XVI) Chính những quan điểm này cho thấy vai
trò của giấc mơ trong đời sống tâm lý, nghiên cứu giấc mơ trong quan hệ với các lý
Trang 35thuyết phân tâm học khác là một việc làm cần thiết để giải thích những hiện tượng bên trong và liên hệ với giấc mơ thông qua những kênh thông tin cụ thể khác
Giấc mơ thường tồn tại độc lập với suy nghĩ của con người Trong những điều kiện cụ thể, giấc mơ được biểu hiện không giống nhau, thậm chí khác nhau cả về bản chất lẫn cách thức Ta thường mơ về một ai đó khi ta căm phẫn, nổi nóng hay khinh ghét họ; ngược lại, cũng có những giấc mơ chứa đựng hình ảnh người mà bản thân đối tượng yêu quý, trân trọng, kính nể Việc tạo dựng giấc mơ thường khởi nguồn từ những suy nghĩ, hành động ngoài đời thực và đưa vào giấc mơ như một sự thể hiện cảm xúc mà ngoài đời không kịp hoặc không có điều kiện thể hiện Tương tự, con người luôn có những ham muốn bản năng và không phải lúc nào những điều đó cũng thành hiện thực, không còn cách nào khác, họ thể hiện những ham muốn đó qua giấc
mơ nhằm mục đích giải tỏa, trấn áp cơ thể khỏi những rung động, khiêu khích mà mình đang phải đối diện Những ham muốn, mong đợi được thể hiện ở những chừng mực khác nhau (yêu thương, chiếm đoạt, bạo lực, ) và ở những thời điểm khác nhau, phụ thuộc vào trạng thái tinh thần cũng như đối tượng mong muốn hướng đến
Giấc mơ là một hoạt động mang tính vô thức, C.G Jung coi việc nghiên cứu
giấc mơ là “con đường cao quý đi tới một hiểu biết về các hoạt động vô thức của tâm thần.” (Stevens A, 2016, tr.170) Lúc đầu, C.G Jung coi đó là một “mô hình trị liệu thực tiễn” (Stevens A, 2016, tr.168), về sau, ông chuyển đổi và nâng cao thành “mô hình để phản ứng, điều chỉnh và mở rộng” (Stevens A, 2016, tr.168), tất cả đều cho
thấy sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học dành cho việc nghiên cứu, giải thích và ứng dụng giấc mơ trong những tình huống, điều kiện cụ thể
Giấc mơ được hiểu như một liệu pháp tâm lý giúp nhìn nhận những ảnh hưởng mang tính hành động, suy nghĩ của con người trong thực tế đã gửi gắm và thể hiện trong giấc mơ Thông qua giấc mơ, mọi hành vi của con người đều được thể hiện, từ đó cho thấy động cơ và cách thức, giải thích những hành động mà đối tượng gây nên,
dẫn tới việc: “Freud tin rằng trong lúc ngủ, những ước muốn bị cấm đoán được giải phóng khỏi sự ức chế ban ngày và tìm cách đến được với ý thức.” (Stevens A, 2016,
tr.168) Giấc mơ được diễn tiến trong một không gian - thời gian bất định và hình thành dưới cơ chế lặp đi lặp lại, một giấc mơ có thể xuất hiện trong những khoảng
Trang 36thời gian khác nhau, ở những không gian khác nhau Tuy vậy, sẽ có những giấc mơ mà chàng trai bắt gặp hình ảnh cô gái với một thân hình nóng bỏng, gợi cảm và chính chàng trai sẽ có cảm giác muốn chiếm đoạt, ân ái Điều đó cho thấy, giấc mơ được biểu hiện dưới những hình thái khác nhau và không phải giấc mơ nào cũng có ý thức,
đa phần các giấc mơ đều diễn ra dưới trạng thái vô thức, khi con người không còn khả năng làm chủ bản thân
Giấc mơ phản ánh những khía cạnh khác của tâm lý, ở đó, những trạng thái phức tạp nhất của con người được khai thác và bóc tách để thấy được đầy đủ và toàn diện những điều mà con người chôn dấu tại nơi sâu nhất của tâm hồn Chỉ khi vào trong giấc mơ, những hình ảnh, cảm xúc được chôn dấu mới có cơ hội phơi bày, thể hiện, đó cũng chính là một trong những đặc điểm thú vị khi xem giấc mơ như một
đối tượng của nghiên cứu phân tâm học S Freud cho rằng: “Giấc mơ là sự bày tỏ gián tiếp những xung năng tính dục đã bị dồn nén của trẻ em, và nếu được phô bày trần trụi sẽ khuấy động người mơ đến mức khiến người đó thức giấc.” (Storr A, 2016, tr.75) S Freud coi lý thuyết về giấc mơ là “con đường hoàng gia” (Nguyễn Vũ Hảo,
2016, tr.130) của phân tâm học, con đường đó “khắc phục sự phản kháng của chứng loạn thần kinh và hoạt động của giấc mơ, loại trừ sự xuyên tạc bức tranh thế giới thông qua những điều cấm kị và chuẩn mực” (Nguyễn Vũ Hảo, 2016, tr.130)
Trước S Freud đã có khá nhiều những nghiên cứu về giấc mơ nhưng chỉ đến khi ông tiếp cận đến lý thuyết giấc mơ thì mảnh đất tâm lý này mới được cày xới và
nuôi dưỡng Ông có công trong việc “kết hợp các mạch tư tưởng lại với nhau, biến giấc mơ thành một đối tượng hợp lý để khảo sát kỹ lưỡng, tạo ra một lý thuyết về giấc
mơ và một kỹ thuật diễn giải chúng” (Storr A, 2016, tr.81) Việc nghiên cứu, khám
phá giấc mơ trên những phương diện khác nhau của học thuyết tâm lý học diễn giải những vấn đề ẩn sâu, giúp ích rất nhiều trong các ngành khoa học khác như phân tích tâm lý tội phạm, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc nảy sinh những phiền
muộn, hỗ trợ trị liệu chứng mất ngủ, Tuy C.G Jung xem “tiếng nói giấc mơ khá giản dị, người ngờ nghệch nhất cũng có thể hiểu được” (Jung C.G, 2016, tr.57) nhưng
vấn đề lý giải giấc mơ không phải một công việc đơn giản và có thể xong trong một hoặc vài ngày, việc giải mã giấc mơ trên một cơ chế khoa học cụ thể đưa đến những
Trang 37thành tựu to lớn khi nhìn nhận, đánh giá lại lịch sử xã hội và loài người thông qua những diễn tiến hành động, suy nghĩ được biểu hiện thông qua giấc mơ
Như đã đề cập ở trên, việc S Freud chỉ tập trung vào lý thuyết tính dục khi nghiên cứu phân tâm học không nhận được nhiều ý kiến tán đồng của giới chuyên
môn Khi bàn về giấc mơ, ông cho rằng: “Giấc mơ là những những hiện tượng tâm trí cổ xưa, phi lý, phớt lờ logic, cú pháp hay những tiêu chí được ý thức chấp nhận trong việc định nghĩa thời gian và không gian.” (Storr A, 2016, tr.77) Nhận định này
một lần nữa vấp phải những ý kiến trái chiều, ngay cả người học trò của ông - C.G
Jung cũng không đồng tình với điều đó Việc S Freud coi “việc tạo ra giấc mơ chủ yếu có nguồn gốc tính dục” (Stevens A, 2016, tr.171) cũng khiến cho C.G Jung cảm
thấy lo ngại vì tính một chiều mà học thuyết do S Freud đề xuất Ông mở rộng hơn vấn đề khi cho rằng cơ chế để tạo nên giấc mơ không đơn thuần có nguồn gốc từ những dục cảm, nó xuất phát từ nhiều phía khác mà S Freud dù rất tâm huyết với học thuyết phân tâm học vẫn chưa thực sự chú trọng
C.G Jung cho rằng: “Giấc mơ có nguồn gốc từ những mối ưu tư rộng lớn hơn nhiều, cụ thể là những vấn đề căn bản về sự tồn tại của loài người.” (Stevens A,
2016, tr.171) Chính điều này đã cho thấy được cách nhìn nhận của hai nhà nghiên cứu đã có sự đối lập rõ rệt: một bên thu hẹp và tập trung vào vấn đề cụ thể; một bên có khuynh hướng mở rộng, tìm hiểu những góc khuất xung quanh những vấn đề đó Qua thời gian, những nhận định về giấc mơ của S Freud không nhận được sự đồng tình của đông đảo giới nghiên cứu, ngược lại, những quan điểm mà C.G Jung đưa ra đáp ứng gần như hoàn toàn sự mong chờ về một lý thuyết giấc mơ trên cơ sở nghiên cứu trọn vẹn và đa chiều về đặc trưng tâm lý con người, lý thuyết ấy thực sự cần thiết trong điều kiện con người đang ngày càng nảy sinh nhiều ham muốn, dồn nén, phẫn uất và mặc cảm
Bản chất của giấc mơ là sự nhìn nhận những vấn đề bị giấu kín ngoài đời thực dưới một lăng kính công tâm, không che đậy Do đó, mọi suy nghĩ dù là bí ẩn nhất đều có thể được khai phá dưới những nghiên cứu về giấc mơ Giấc mơ đáp trả mọi ham muốn, dồn nén, phẫn uất, mặc cảm của con người bằng cái nhìn chân thực, bản thân giấc mơ cũng mang trong mình vị thế của một “kẻ miêu tả”, nơi mà vùng ý thức
Trang 38của con người nhường chỗ cho vô thức thỏa sức thể hiện Giấc mơ ngoài những chức năng trên còn ẩn chứa nhiều sự thật, suy nghiệm và cả những dự báo trong tương lai
C.G Jung còn đưa ra khái niệm “chức năng bù đắp” (Stevens A, 2016, tr.176)
khi nghiên cứu về giấc mơ Ông cho rằng, ngoài việc nhìn nhận và thể hiện những điều mà con người mong muốn giải tỏa, giấc mơ còn bù đắp những điều mà con người cảm thấy thiếu thốn, rạn vỡ trong đời sống Ngoài ra, ông còn chỉ ra những biểu tượng
và diễn giải giấc mơ trong phạm vi công trình của mình, ông cho rằng: “Hệ ký hiệu cho giấc mơ đã vượt khỏi phạm vi của giấc mơ, nó không còn là chỉ riêng của giấc
mơ nữa, mà y như vậy, nó cũng ngự trị ở cách mô tả trong truyện cổ tích, truyện thần thoại và truyền thuyết, trong các câu chuyện khôi hài và trong văn hóa dân gian.”
(Freud S, 2005, tr.25) Từ việc nhìn nhận giấc mơ như một thực thể quan trọng khi nghiên cứu phân tâm học, ông cho rằng một số biểu tượng xuất hiện trong giấc mơ có thể có liên quan đến những vấn đề khác của đời sống con người, từ đó đưa đến những quan điểm diễn giải dưới những bối cảnh đặc trưng khác nhau
Việc xem giấc mơ là một trong những lý thuyết quan trọng cần được tìm hiểu sâu sắc trên nhiều góc độ và đối sánh với những học thuyết trái chiều cho thấy vai trò và vị thế của giấc mơ trên hành trình chinh phục, nghiên cứu phân tâm học Xét về mặt khoa học, giấc mơ phản ánh một đời sống khác của con người, nó dường như tách biệt hoàn toàn với những hành động, suy nghĩ được tạo dựng để mang đến cho con người những giá trị khác về mặt nhận thức và tư duy
1.3 Vấn đề sáng tạo văn học từ góc nhìn phân tâm học
Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong mình cảm quan của tác giả Chính những yếu tố tác động, ảnh hưởng về mặt tình cảm, cảm xúc đã dẫn đến việc nghiên cứu các tác phẩm văn học từ góc nhìn phân tâm học trở thành một hướng đi thích hợp, hữu ích trong quá trình tìm ra căn nguyên, bản chất vấn đề sâu kín trong hành trình sáng tạo của mỗi tác giả Phân tâm học có những quan điểm riêng về việc sáng tạo văn học, qua công trình này, chúng tôi đưa ra hai luận đề để đánh giá:
- Sáng tạo văn học - quá trình và kết quả của trạng thái vô thức
- Sáng tạo văn học - một hình thức đáp ứng, giải tỏa đòi hỏi, ham muốn
Trang 391.3.1 Sáng tạo văn học - quá trình và kết quả của trạng thái vô thức
Văn học được tạo tác với mong muốn bóc tách, lý giải những suy nghiệm, hành vi của con người trong cuộc sống Bản thân văn học mang một tầm vóc lớn khi bao quát trọn vẹn mọi hành vi, thái độ, cảm xúc của con người bằng con mắt đầy đa cảm, trăn trở của nhà văn Chính những trải nghiệm, sáng tạo của người nghệ sĩ đã dẫn lối cho văn học, xây dựng cho mình một chỗ đứng quan trọng trong sự phát triển
và hòa nhập với các ngành khoa học khác Trong công trình Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, những nhà nghiên cứu tâm huyết với học thuyết phân tâm học đã nêu quan điểm: “Nghệ thuật, xét về bản chất của mình - không phải là khoa học, còn khoa học xét về bản chất của mình - không phải là nghệ thuật; mỗi lĩnh vực tinh thần này có một trung tâm kiên cố của mình chỉ vốn có với nó và chỉ có thể lý giải được thông qua chính nó.” (Freud S, Bachelard G, Jung C.G, Tucci G và Dundes V, 2000, tr.51)
Khoa học nhân văn nói chung, văn học nói riêng ngày càng thể hiện rõ tiếng nói của mình trên bước đường hình thành nhân cách, điều khiển hành vi của con người trong xã hội ngày nay Văn học là một hình thái tồn tại song song với các loại hình nghệ thuật khác, nơi đó, người nghệ sĩ có đầy đủ những quyền năng để sáng tạo, khai thác những phẩm liệu có sẵn, thông qua ngôn từ để xây dựng tác phẩm Phân tâm học gắn liền với văn học như một sự giải đáp cho những khúc mắc về tâm lý,
hành động của con người, khi đó, người nghệ sĩ “giống như người bị bệnh nhiễu tâm, rút lui khỏi thực tế không thỏa mãn để đi vào thế giới tưởng tượng, song trái lại vẫn phải đặt chân vào thực tế” (Freud S, Bachelard G, Jung C.G, Tucci G và Dundes V,
2000, tr.30)
S Freud xem sáng tạo văn học là sự đáp lời những suy nghiệm của bản thân được thể hiện trong giấc mơ, đi từ những ham muốn, bản năng, mặc cảm, và từ đó, người nghệ sĩ thực hiện thao tác ghi chép, sắp xếp để xây dựng thành một tác phẩm hoàn chỉnh Vùng vô thức góp phần quyết định trong hành trình sáng tạo văn học, mọi sự hư cấu của tác giả đều bắt nguồn từ những vô thức nảy sinh trong giấc mơ và hiện thực hóa chúng thông qua tác phẩm; từ đó, tác giả góp phần đưa giấc mơ sang một loại hình khác, nhìn thấy và đọc được Trong một số thời điểm, nhà văn từ bỏ vai trò của người cầm bút để thỏa sức viết những điều mình nghĩ, mình khao khát và
Trang 40mong muốn có được là một biểu hiện của vô thức ảnh hưởng đến văn học, chính nhà văn cũng không thể hiểu tại sao mình lại viết được những điều ấy vì bản thân trong lúc viết, nhà văn đang nhập nhằng, chông chênh giữa tỉnh và mơ Lúc đó, nhà văn
“tập trung chú ý vào vô thức của tâm hồn mình, lắng nghe tất cả những khả năng tiềm tàng đó, diễn tả chúng bằng nghệ thuật thay vì dồn nén chúng bằng phê phán hữu thức.” (Freud S, Bachelard G, Jung C.G, Tucci G và Dundes V, 2000, tr.44)
Giấc mơ trong sáng tác ở mỗi nhà văn có cường độ, hình thức thể hiện khác nhau, nhưng tựu trung lại, giấc mơ là tuyên ngôn cho việc phá rào, tưởng tượng những điều không thực, xây dựng chúng thành một tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ độc giả, gửi gắm trong đó niềm tin, sự thỏa hiệp và mong muốn thầm kín của mình Mỗi nhà văn ngoài tư cách của người sáng tạo còn mang trong mình hình ảnh của “người ngủ mơ”, ngủ trên chính trang viết của mình, những điều viết ra thực tế không phải nhà văn nào cũng lý giải được Văn học được tạo thành đa phần từ những vô thức của con người, giải thích vì sao những tác phẩm thành công trong lịch sử văn học đều có khởi nguồn từ sự hư cấu và ngẫu hứng hơn là sắp đặt và cố tình xây dựng theo một khuôn khổ nhất định
Việc tạo dựng nên một thế giới văn học rộng lớn với đầy đủ những cấu hình, nội dung và hình thức khiến cho văn học càng thể hiện được mình trong vùng đất của sáng tạo Đơn giản, ý thức luôn làm con người bị bó hẹp trong những khuôn khổ của nhận thức, chỉ cần trả cho người nghệ sĩ sự tự do trong tư duy sáng tạo, tất cả những tác phẩm đều trở nên thăng hoa, phản ánh đa chiều cuộc sống, ngay cả những điều mà con người chỉ dám đối diện với chính mình cũng được đưa vào trong tác phẩm một cách tinh tế và tự nhiên nhất
Người nghệ sĩ chân chính luôn coi văn học là một giấc mơ - nơi vô thức được thỏa sức bay nhảy và chế ngự con người Bản thân văn học nhằm phục vụ lợi ích, nhu cầu của con người, làm cho cuộc sống trở nên đa dạng và hài hòa hơn Phân tâm học nhìn nhận văn học dưới con mắt của vô thức, rằng mỗi tác phẩm là một sự trải lòng hơn là ghi lại một cách máy móc, nguyên bản dựa trên những toan tính thiệt hơn, bị áp lực bởi đời sống xã hội, chính trị, tôn giáo