1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú của một số trường trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

131 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÀO TẤN KIỆT QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO TẤN KIỆT

QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

TPHCM, NĂM - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO TẤN KIỆT

QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Mã số: 8 14 01 14 Người hướng dẫn khoa học: TS HUỲNH CÔNG MINH

TPHCM, NĂM - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một luận văn tốt nghiệp cao học quản lý giáo dục nào

Tác giả xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc, tài liệu có liên quan

Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tác giả đã cam đoan

ở trên đây

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn và giúp đỡ của quý thầy cô và mọi người Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến:

Quý thầy cô trong Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục, Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý Thầy/Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Huỳnh Công Minh - Khoa Giáo Dục, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh

- với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt thành, thầy đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành được luận văn này

Tác giả cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu các trường THPT Nội trú trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Cảm ơn đội ngũ cán

bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã cộng tác, chia sẻ, khích lệ, động viên và đồng hành cùng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng luận văn tốt nghiệp chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của mọi người để vấn đề nghiên cứu hoàn thiện hơn

TPHCM, năm 2020

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG BIỂU x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu 6

9 Dự kiến cấu trúc của đề tài 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Ở nước ngoài 7

1.1.2 Ở trong nước 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 12

1.2.1.1 Quản lý 12

1.2.1.2 Quản lý giáo dục 13

1.2.1.3 Quản lý nhà trường 13

1.2.2 Phối hợp, quản lý sự phối hợp 14

1.2.2.1 Khái niệm Phối hợp 14

1.2.2.2 Quản lý sự phối hợp 15

Trang 6

1.2.3 Khái niệm các lực lượng giáo dục 16

1.2.4 Cộng đồng xã hội 17

1.2.5 Đạo đức, giáo dục đạo đức 18

1.2.5.1 Đạo đức 18

1.2.5.2 Giáo dục đạo đức 19

1.2.6 Học sinh nội trú 21

1.2.7 Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú 21

1.3 Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 22

1.3.1 Đặc điểm phát triển thể chất, tâm lí xã hội của HS trường THPT nội trú 22

1.3.2 Đặc điểm sinh hoạt, học tập của HS ở trường THPT nội trú 24

1.3.3 Mục tiêu phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 25

1.3.4 Nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 26

1.3.5 Hình thức và phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT…….……… 27

1.3.6 Điều kiện tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 28

1.4 Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 29

1.4.1 Lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 29

1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 30

1.4.3 Kiểm tra, đánh giá thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT 31

Trang 7

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại

trường THPT 32

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 32

1.5.2 Các yếu tố khách quan 33

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35

2.1 Khái quát về Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 35

2.1.2 Vài nét về giáo dục THPT tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 36

2.2.1 Mục đích khảo sát 36

2.2.2 Nội dung khảo sát 36

2.2.3 Cách thức khảo sát 37

2.2.4 Khách thể khảo sát 39

2.2.5 Thời gian khảo sát, địa bàn khảo sát 40

2.2.6 Xử lý kết quả khảo sát 40

2.3 Thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 41

2.3.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 41

2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 43

Trang 8

2.3.3 Thực trạng thực hiện hình thức và phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội

trú của một số trường THPT tại TPHCM 46

2.3.4 Thực trạng điều kiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 49

2.4 Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 51

2.4.1 Thực trạng nhận thức mức độ hiệu quả của công tác quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 51

2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 52

2.4.3 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 53

2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 55

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 57

2.6 Đánh giá chung về thực trạng 58

2.6.1 Ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm 58

2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 59

Tiểu kết chương 2 61

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 62

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 62

Trang 9

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 62

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 63

3.2 Biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường THPT tại TPHCM 63

3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền, hướng dẫn và nâng cao nhận thức về sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng xã hội trong GDĐĐ cho HS nội trú ở trường THPT 63

3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong GDĐĐ cho HS nội trú ở trường THPT 66

3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường tổ chức, chỉ đạo thực hiện đa dạng các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong GDĐĐ cho HS nội trú ở trường THPT 68

3.2.4 Biện pháp 4: Kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong GDĐĐ cho HS nội trú ở trường THPT 69

3.2.5 Biện pháp 5: Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong hoạt động GDĐĐ cho HS nội trú ở trường THPT 71

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 72

3.4 Khảo sát mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 74

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 74

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 74

3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 74

3.4.4 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 75

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Khuyến nghị 81

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 81

2.2 Đối với sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh 82

2.3 Đối với các trường THPT có tổ chức nội trú 82

2.4 Đối với cha mẹ HS 83

Trang 10

2.5 Đối với các lực lƣợng xã hội 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN – Phiếu số 1 88

(Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT) 88

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN – Phiếu số 2 96

(Dành cho phụ huynh học sinh) 96

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN – Phiếu số 3 100

(Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT) 100

CÂU HỎI PHỎNG VẤN - Phiếu số 4 102

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN - Phiếu số 4 103

Trang 11

8 GVCN Giáo viên chủ nhiệm

9 GVQN Giáo viên quản nhiệm

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV và PHHS về hiệu quả của các mục tiêu phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 41 Bảng 2.2 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV và PHHS về hiệu quả của các nội dung phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 43 Bảng 2.3 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV và PHHS về hiệu quả của các hình thức

và phương pháp phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 46 Bảng 2.4 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV và PHHS về hiệu quả của các điều kiện phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 49 Bảng 2.5 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về thực trạng lập kết hoạch phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 51 Bảng 2.6 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về thực trạng lập kết hoạch phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 52 Bảng 2.7 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về thực trạng tổ chức, chỉ đạo phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 53 Bảng 2.8 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 55 Bảng 2.9 Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ, CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú 57 Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 75 Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 77

Trang 13

Từ xưa đến nay, đạo đức của con người là nền tảng cho sự phát triển của xã hội Vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm đặc biệt đến GD&ĐT, nhất là việc giáo dục đạo đức cho HS, trong Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam

đã có nêu: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể

và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần hiệu quả phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam ”

(Đảng cộng sản Việt Nam, 2011)

Trong điều 3 chương I, Luật giáo dục 2019 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Điều 89 đến điều 94 chương VI cũng đã quy định

Trang 14

trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội với công tác giáo dục và đã thể hiện

ý nghĩa hiệu quả của sự phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược lại sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của HS (Quốc hội, 2019)

Chương I của Luật giáo dục 2019, Điều 16: Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

có nêu: “Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao” (Quốc hội, 2019)

Từ đó thấy được tầm quan trọng của việc GDĐĐ cho HS ở các trường THPT nói chung và các trường có mô hình giáo dục nội trú nói riêng Giáo dục nội trú là một hoạt động toàn diện, khép kín cao từ ăn, ngủ, sinh hoạt và học hành đều chịu ảnh hưởng khá lớn của hệ thống quản lý và giáo dục nhà trường Có thể nói thầy cô giáo và nhân viên phục vụ các lĩnh vực đều có trách nhiệm đối với HS như người cha, người mẹ của các em Chính vì điều đó, mà giáo dục nội trú quan tâm đến giáo dục và hình thành nhân cách, đạo đức cho HS

Trong môi trường giáo dục hiện đại, giáo dục nội trú là điểm khác biệt cơ bản giữa trường tư thục và công lập, nhưng mô hình giáo dục này không phải bây giờ mới có mà nó đã được áp dụng cả vào những năm trước 1975 Trong những năm kháng chiến ấy, hầu hết HS miền Nam tập kết ra Bắc đều được học tập ở môi trường nội trú Các trường nội trú miền Bắc lúc bấy giờ luôn thực hiện tốt theo lời

dạy Bác Hồ: thầy cô giáo cũng là cha mẹ của HS; chú trọng chăm lo đời sống, học

tập cho HS nhằm tạo môi trường giáo dục tốt nhất, vì vậy, đã đào tạo ra nhiều thế

hệ cán bộ chất lượng chi viện miền Nam, đóng góp rất to lớn cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam

Ở miền Nam sau giải phóng thống nhất đất nước, hoạt động giáo dục nội trú chưa phát triển nhiều do yêu cầu phổ cập giáo dục đang là chủ trương hàng đầu của lãnh đạo địa phương Thành phố Từ những năm thập niên 80, các trường bán công, dân lập và sau này là tư thục được phép mở ra, thu hút HS từ các tỉnh thành về

Trang 15

thành phố theo học, nhu cầu giáo dục nội trú bắt đầu phát triển Giáo dục nội trú càng nhấn mạnh hơn vai trò của việc hình thành và đào tạo nhân cách cho học HS

Tuy nhiên, khi gửi con theo học trường nội trú, một số phụ huynh quan niệm rằng việc hình thành nhân cách của một đứa trẻ hoàn toàn là do nhà trường, do thầy

cô Nếu HS bị phát triển lệch lạc về nhân cách thì gia đình cho rằng nhà trường đã thiếu đi sự giáo dục; xã hội nhiều tiêu cực, cạm bẫy…Về phía nhà trường, giáo viên lại chỉ tập trung đầu tư vào việc nâng cao chất lượng học tập của HS mà chưa chú

trọng đến tiêu chí đầu tiên của giáo dục là “Tiên học lễ, hậu học văn”, lại còn cho

rằng tính cách của một con người được hình thành là từ nền tảng đạo đức của gia đình Đối với xã hội, với chủ trương phát triển không ngừng, thành phố mở cửa và hội nhập với nhiều nền văn hóa trên thế giới nhưng lại thiếu sự chọn lọc, nên dẫn đến tình trạng một số bộ phận thanh thiếu niên có lối sống đua đòi, ỷ lại, thích thụ hưởng…đổ lỗi cho gia đình nuông chiều, nhà trường thiếu sự quan tâm sâu sát, mà không nghĩ rằng môi trường sống - hẹp hay rộng - có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách một con người

Thực chất, nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng trên đều xuất phát từ sự lỏng lẻo trong quá trình phối hợp của cả ba lực lượng giáo dục con người là gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội (NT, GĐ & CĐXH) Đây chính là thực trạng phổ biến và cũng là mối quan tâm gây nhiều trăn trở cho các nhà quản lý giáo dục của các trường THPT, nhất là các trường THPT tư thục có mô hình HS nội trú tại Thành phố Hồ Chí Minh

Từ thực tiễn hoạt động GDĐĐ trong các trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy sự quan tâm đến công tác GDĐĐ cho HS THPT là cần thiết và cấp bách Việc tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát thực trạng hoạt động GDĐĐ và tổ chức phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ tại các trường THPT có HS nội trú trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, là cơ sở để nghiên cứu nhằm đưa ra một số biện pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình tổ chức hoạt động GDĐĐ cho HS THPT nội trú

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý sự phối hợp

giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho

Trang 16

HS nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh”

để nghiên cứu với hi vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý sự phối hợp giữa

NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS nội trú nói riêng và chất lượng GDĐĐ của HS THPT nói chung

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Sưu tầm, tập hợp những tư liệu về quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú tại trường THPT nhằm làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Khảo sát, phân tích nhằm đánh giá thực trạng về quản lý sự phối hợp giữa

NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú của một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất các biện pháp quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú của một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ HS nội trú ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn những giới hạn nhất định Nếu đề xuất được những giải pháp cải thiện phù hợp, hoạt động GDĐĐ cho HS trong các trường nội trú sẽ tốt hơn

Trang 17

6 Phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu trước năm 2020 về tính chất hoạt động của đối tượng nghiên cứu (trường THPT nội trú) theo khóa học nên giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2017 đến năm 2020 (từ lớp 10 đến lớp 12) Về đối tượng nghiên cứu là THPT, nên trong các trường nội trú thường có cả

HS THCS hoặc tiểu học nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khối THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn bản quy định của ngành có liên quan đến sự phối hợp NT, GĐ & CĐXH và công tác quản lý sự phối hợp đó nhằm xây dựng khung lý luận cho đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra, khảo sát thực tế bằng các phiếu hỏi, thu thập thông tin, xử lý số liệu nhằm mô tả thực trạng quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú của một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV), phụ huynh học sinh (PHHS) và cán bộ địa phương với các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm quản lý của các trường về quản lý sự phối hợp NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp xin ý kiến chuyên gia nhằm khảo nghiệm tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đề xuất

7.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học

Sử dụng công thức toán học để xử lý các số liệu thu được từ đó tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra nhận định về hoạt động

Trang 18

8 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

8.1 Ý nghĩa lý luận

Làm rõ hơn những cơ sở lý luận giúp cho việc quản lý sự phối hợp giữa NT,

GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú trong các trường THPT nội trú được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả hơn

9 Dự kiến cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú tại trường trung học phổ thông

Chương 2 Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ TẠI TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Ở nước ngoài

Phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong giáo dục HS

từ lâu đã được xã hội cũng như những người làm công tác giáo dục quan tâm và rất coi trọng

Ở các nước phương Tây, các nhà giáo dục đã nhận thấy được hiệu quả của hoạt động phối hợp và quản lý hoạt động phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS trong đó có hoạt động giáo dục nghề nghiệp Sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH không những góp phần hiệu quả vào việc định hướng tương lai cho người học mà còn động lực mạnh mẽ giúp cho HS có thêm ý chí, niềm tin và sự quyết tâm trong học tập và trong rèn luyện để phát triển toàn diện:

Trong tác phẩm “Hệ thống giáo dục” năm 1951 (được trích dẫn bởi Nguyễn Sinh Huy, 2001), Talcott Parsons cho rằng: “Giáo dục có vai trò như một môi trường xã hội” Theo Talcott Parsons, trong giáo dục HS phải có sự phối hợp giữa

nhà trường, gia đình và xã hội, đó là cơ sở để người học có thể phát triển một cách toàn diện và vững chắc

Hội nghị quốc tế về Giáo dục năm 1990 cho tất cả mọi người được tổ chức

tại Jomtien (Thái Lan) và đưa ra tuyên bố “Giáo dục cho tất cả mọi người và Chương trình hành động để đáp ứng những nhu cầu học tập cơ bản của người dân”

(Bùi Minh Hiền, Nguyễn Quốc Trị, 2016)

Báo Tuổi trẻ số ra ngày 13/11/2006, trích bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ

Giáo dục Anh: “Ông Alan Johnson đã kêu gọi cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường Ngược lại, ông khẳng định vai trò

Trang 20

của các bậc phụ huynh rất hiệu quả, thậm chí sẽ mang lại một sự khác biệt lớn so với những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học” (Bộ GD & ĐT, 2006)

Theo nhà triết học Xôcơrat (được trích bởi Nguyễn Xuân Thức, 2008):

“Những người nào biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển được công việc, hoặc

cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc”

Theo V.A Xukhomlinxki (1918 – 1970) (được trích dẫn bởi Nguyễn Xuân

Thức, 2008): “Nếu gia đình và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng gia đình một đường, nhà trường một nẻo” Sự phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm vận dụng

tuyệt đối những điều kiện xã hội, tự nhiên và huy động, tập trung mọi nguồn lực cho quá trình giáo dục thế hệ trẻ đã được ông chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm (Nguyễn Xuân Thức, 2008)

Trong tác phẩm “Các nguyên tắc quản lý một cách khoa học” của các nhà

quản lý người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856-1915), Henry L.Gantt 1919) và Henry Fayol (1841-1925) người Pháp, Elton Mayo (1880-1949), Douglas

(1861-Mc Gregor (1906-1964), H.Abraham Maslow (1908-1970)… xuất bản 1911 ở Mỹ (được trích bởi Nguyễn Xuân Thức, 2008) đã nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm

lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc, trong đó các nhà quản

lý này cũng đề cập đến nhà quản lý với công tác phối hợp giữa tổ chức và xã hội

Tác giả Ubanxkaia (người Nga) với tác phẩm “Giáo viên và công tác với gia đình” một lần nữa đã đề cập đến công việc của Hiệu trưởng với công tác phụ huynh

bao gồm công tác quản lý hoạt động phối hợp với gia đình, công tác tư vấn, giao tiếp trực tiếp với PHHS và bồi dưỡng đội ngũ GV trong công tác phối hợp với PHHS (Ubanxkaia, 2009)

Trong tác phẩm: “Nền giáo dục cho thế kỷ hai mươi mốt” năm 1998, tác giả

Raja Roy Singh đã nói: “Giáo dục các giá trị phải được bắt đầu từ gia đình và được hình thành theo những giá trị của cha mẹ Trách nhiệm của nhà trường là kết hợp với gia đình nhưng dần dần cùng với sự phát triển của trẻ” (Vũ Đình Chuẩn, 2013)

Trang 21

Tác giả Wheelen, T.M and Hunger, J.D trong phân tích các liên đới của quy

trình tiến hành phân tích SWOT năm 2006 đã phân tích: “Đối với các trường phổ thông nhìn chung liên đới chủ chốt mà nhà trường cần chú ý trong phát triển chiến lược là HS, giáo viên, đội ngũ công nhân viên, cán bộ quản lý và phụ huynh HS trong quản lý giáo dục” (Vũ Đình Chuẩn, 2013)

Vì vậy, có thể nói sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH rất hiệu quả và cần thiết trong việc giáo dục HS trong đó có giáo dục, định hướng nghề nghiệp Sự hợp tác, phối hợp nhịp nhàng giữa cha mẹ với nhà trường cụ thể là các thầy cô giáo và các LLXH không những định hướng mà còn là động lực giúp cho trẻ có niềm tin vững chắc trong quá trình học tập, rèn luyện đạo đức và định hướng nghề nghiệp của bản thân

- Trong tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” của tác

giả Trần Thị Kim Xuyến (Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001) Nội dung cuốn sách gồm hai phần Phần thứ nhất trình bày những tranh luận về những vấn đề chung nhất có liên quan đến những thành quả nghiên cứu xã hội học về gia đình trong quá khứ và hiện tại, những cơ sở lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học về gia đình Phần thứ hai trình bày những kết quả phân tích dựa trên những nghiên cứu lý luận và thực nghiệm của tác giả về những vấn đề của gia đình đương đại

- “Những gì đang cản trở việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục HS” đăng trong tạp chí Giáo dục số 10, tháng 8/2001 của

tác giả Nguyễn Sinh Huy đã nêu: việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Trang 22

từ lâu được xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục, vận dụng và quán triệt được điều

đó vào hoạt động thực tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục giữ vững được chất lượng, phát triển lành mạnh và bền vững Sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình luôn bị tác động của những cơ chế mới, nên các biện pháp tác động trước đây ít hấp dẫn, kém hiệu quả và những tác động của thương mại hóa giáo dục đang gặm nhấm những giá trị cao quý, đẹp đẽ của sự kết hợp giáo dục vốn dĩ được xem là lương tâm của đạo đức của thầy cô giáo và cha mẹ

Qua các đề tài nghiên cứu trên các tác giả đã nêu ra những cơ sở lý luận cơ bản, đề xuất một số mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho HS Những nghiên cứu đã chỉ ra được những vấn đề lý luận về tính cấp thiết phải phối hợp giữa các LLGD trong đó

có hai cơ sở trực tiếp giáo dục là NT và GĐ, vai trò hiệu quả của GĐ trong việc giáo dục con em, sự phối hợp giữa NT, GĐ & XH cần phải có sự thống nhất cao và nhịp nhàng

Bên cạnh những tài liệu trên, trong những năm gần đây, nhiều tác giả cũng lựa chọn chủ đề này để nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, như:

- Luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục cho HS trường THPT” đã nêu lên tầm

hiệu quả của tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GD HS THPT (Phạm Thị Minh Tâm, 2007)

- Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục của tác giả Trần Anh Dân (2009), “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường trung học phổ thông về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục ở Thành phố Thái Bình hiện nay” khẳng

định trong giáo dục HS các nhà quản lý phải chú trọng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

- Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thanh Thu Thủy, Đại

học Sư phạm Hà Nội, 2012 với tựa đề: “Các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT huyện Lạc Dương - Lâm

Trang 23

Đồng” đã nêu lên tầm hiệu quả của hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và

gia đình

- Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Trương Hải Thanh, Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2013 với tựa đề: “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT tỉnh Bình Dương” cũng

một lần nữa khẳng định tầm hiệu quả trong công tác phối hợp để GD HS THPT (Trương Hải Thanh, 2013)

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho HS các trường THPT như sau:

- Lê Duy Hùng (2013), với công trình “Giáo dục đạo đức cho HS trường THPT thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, được công bố trên tạp chí Khoa học

trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, Số 50 - 2013 Qua đó, bài báo đề cập thực trạng đạo đức của HS ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát cho thấy một bộ phận không nhỏ HS có những hành

vi vi phạm đạo đức như: nói tục, chửi thề; gây gổ đánh nhau; bỏ giờ, trốn học; hút thuốc lá; vô lễ với thầy cô (mức độ thỉnh thoảng) Cá biệt một số HS có hành vi ở mức độ thường xuyên Từ thực trạng đó, chúng tôi tìm hiểu những nguyên nhân, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS (Lê Duy Hùng, 2013)

- Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THPT trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” của

tác giả Phan Nguyễn Bách Khoa (2013), được hoàn thành tại Học viện Chính trị -

Bộ Quốc phòng Qua đó, tác giả đã khảo sát, phân tích thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho HS THPT trên địa bàn huyện Bình Tân Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trong giai đoạn hiện nay

Như vậy, trong thời gia qua có rất nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục cho HS ở các trường học Tuy nhiên, đa số các đề tài đều tập trung vào vấn đề quản lý sự phối hợp các LLGD trong vấn đề GD HS nói chung Riêng các đề tài nghiên cứu về công tác tổ chức phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong giáo dục đạo

Trang 24

đức cho HS nội trú của các nhà quản lý ở các trường THPT tư thục thì chưa được chú ý đến nhiều

Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài: “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm bổ sung

thêm lý luận về quản lý giáo dục, bên cạnh đó tác giả đề xuất một số biện pháp quản

lý sự phối hợp có hiệu quả, phù hợp với thực tế, đáp ứng được sự đổi mới của ngành giáo dục nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời đại mới; góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ cho HS nội trú của một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học

2015)

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát là: quản lý chính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra

Và để đạt được mục đích đề ra, người quản lý cần phải có những chức năng quản lý như: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá

Trang 25

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những

mục đích của mình Về khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ Trong đó có

hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô (quản lý một hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản

lý một hệ thống nhà trường) Trong phạm vi của đề tài tác giả chỉ nghiên cứu ở cấp

độ vi mô

Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ quản lý vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu

là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể sinh viên, cha mẹ sinh viên và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” (Trần

Kiểm, 1997)

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quy trình tác động có

kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đặt ra” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2012)

Như vậy, có thể hiểu rằng quản lý giáo dục chính là quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục của giáo viên, hoạt động học tập và rèn luyện của HS nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Nhà trường chính là cơ sở giáo dục – là nơi để tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục, để đạt được mục tiêu đã đề ra thì trong việc quản lý nhà trường cần phải có sự quản lý giáo dục Có nhiều khái niệm về quản lý nhà trường như:

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy

- Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” (Đặng Quốc Bảo, 2016)

Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lý

nhà trường: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo

Trang 26

dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế

hệ trẻ và với từng HS” (Phạm Minh Hạc, 1996)

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” (Phạm Viết Vượng, 1995)

Như vậy, có thể hiểu rằng quản lý nhà trường là một trong những nội dung của hệ thống quản lý giáo dục Đó là một hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm mục đích làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện được mục tiêu đào tạo chung của ngành giáo dục đề ra

1.2.2 Phối hợp, quản lý sự phối hợp

1.2.2.1 Khái niệm Phối hợp

Theo tác giả Huỳnh Công Minh: “Phối hợp là sự liên kết, cộng đồng trách nhiệm, phát triển thế mạnh của nhau để cùng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chung” (Huỳnh Công Minh, 2017)

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam năm 2005, các

từ này được định nghĩa như sau:

“- Hợp tác: là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau

- Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau

- Thống nhất: là hợp lại thành một khối

- Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để thực hiện

- Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn nhau” (Viện Ngôn ngữ

học Việt Nam, 2005)

Các khái niệm trên có nghĩa tương đồng nhau, tuy nhiên khái niệm “phối hợp” thể hiện rõ nét nhất tổng thể những quan hệ về tính thống nhất, chặt chẽ, liên

tục, toàn vẹn của quá trình GD Vì thế trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm

“phối hợp” giữa NT, GĐ & CĐXH trong công tác GDĐĐ cho HS

Như vậy có thể hiểu rằng: Sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH có nghĩa là thầy cô hợp tác, cùng thống nhất hành động với CMHS và CĐXH để thực hiện

Trang 27

nhiệm vụ chung là giáo dục HS và trong đề tài này giới hạn là nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS nội trú; thầy cô và CMHS cùng với CĐXH hỗ trợ lẫn nhau trong cùng một nhiệm vụ Chủ thể phối hợp là Hiệu trưởng (áp dụng toàn trường), GVCN (từng lớp), GVBM (đặc biệt là GV giảng dạy môn GDHN), Giáo viên quản nhiệm (GVQN), CMHS (trong đó có ban đại diện CMHS của trường và từng lớp) và CĐXH

1.2.2.2 Quản lý sự phối hợp

Sau khi quan sát trực tiếp hoạt động của người quản lý, tác giả Mary Parker Follett đã đưa ra một kết luận như sau: Sự phối hợp là điều kiện sống còn của quản

lý hiệu quả Từ đó tác giả đề xuất 4 nguyên tắc:

Một là, sự phối hợp sẽ thành đạt nhất nếu những người chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc với nhau;

Hai là, sự phối hợp ở những giai đoạn đầu có việc lập kế hoạch và triển khai

dự án có một ý nghĩa quyết định;

Ba là, sự phối hợp phải chú ý tới mọi nhân tố trong một tình huống, hoàn cảnh cụ thể;

Bốn là, sự phối hợp phải được duy trì liên tục (Ubanxkaia, 2009)

Nếu trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý vận dụng tốt các chức năng quản lý của mình thì sẽ làm cho toàn bộ hệ thống được hoạt động một cách đồng

bộ, tạo điều kiện cho cơ quan làm việc nhiệt tình, thân thiện, tích cực và đạt hiệu quả cao Từ đó, sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục HS trong cơ sở, tạo sự gắn kết giữa CMHS và CĐXH hơn, đây cũng chính là mục tiêu quan trọng của sự phối hợp giữa các môi trường trong việc GDĐĐ cho HS

Quản lý sự phối hợp là một trong những nội dung trong hoạt động quản lý nhà trường của các nhà quản lý nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục trực tiếp HS, đòi hỏi nhà quản lý phải có những tác động có ý thức đến người được quản lý để sự phối hợp đúng và đảm bảo nguyên tắc quản lý về GD từ đó dẫn đến chất lượng GD ngày càng nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của XH Đây là một hoạt động có kế hoạch, có tổ chức,

có phân công và kiểm tra đánh giá công tác phối hợp trong công tác GD

Trang 28

Như vậy, việc quản lý sự phối hợp phải được thực hiện qua các bước cơ bản như:

- Chuẩn bị đầy đủ các nội dung yêu cầu cho việc tổ chức phối hợp;

- Phải xây dựng được kế hoạch tổ chức phối hợp phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị;

- Phải biết cách sắp xếp và tổ chức các hoạt động phối hợp;

- Triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp;

- Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh hoạt động phối hợp (nếu chưa phù hợp)

1.2.3 Khái niệm các lực lượng giáo dục

Việc GDĐĐ cho HS chịu sự tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, yếu tố chủ quan và khách quan Có thể hiểu rằng: trong quá trình giáo dục

HS, có bao nhiêu mối quan hệ giữa NT và CĐXH mà HS tham gia hoạt động thì sẽ

có bấy nhiêu yếu tố tác động đến HS Những lực lượng đó chính là NT, GĐ & CĐXH, mỗi lực lượng sẽ có nhiệm vụ, phương pháp giáo dục, tầm ảnh hưởng và

ưu, nhược điểm riêng ảnh hưởng đến việc giáo dục các em

- Gia đình chính là tế bào của xã hội, đây là nhân tố góp phần tích cực trong việc hình thành và phát triển nhân cách của một đứa trẻ, đặc biệt là chức năng giáo dục con cái, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội

Gia đình chính là cơ sở giáo dục đầu tiên và mang tính toàn diện, lâu dài Nhiệm vụ giáo dục của gia đình là giáo dục về các phẩm chất như: trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ…từ lúc các em lọt lòng cho đến lúc trưởng thành như: kỹ năng sinh hoạt, lao động, học tập và phân bố thời gian hợp lý; tôn sư, trọng đạo, kính trên, nhường dưới; nhận thức được cái đẹp, cái xấu; giữ gìn bảo vệ sức khỏe của bản thân, mọi người xung quanh…

Mỗi gia đình sẽ có đặc thù riêng về hoàn cảnh kinh tế, truyền thống gia đình, trình độ văn hóa, quan hệ giữa ông bà, cha mẹ và con cái…nên sẽ có hình thức và phương pháp giáo dục riêng

Điểm mạnh của giáo dục gia đình là: có khả năng cảm hóa các em rất lớn vì

nó mang tính xúc cảm, huyết thống Tuy nhiên, có một số gia đình lạm dụng quá

Trang 29

nhiều tình cảm này trong giáo dục các em dần dần làm cho các em hình thành những tính cách không tốt như: vô cảm, ích kỷ, tự cao…

- Nhà trường chính là một tổ chức xã hội đặc biệt có chức năng là giáo dục, đào tạo HS theo những định hướng của xã hội Đây là lực lượng giáo dục có vai trò chủ đạo, là trung tâm tổ chức công tác phối hợp vì:

+ Đây là cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nước và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam;

+ Đội ngũ sư phạm có trình độ, chuyên môn cao;

+ Chức năng chính của nhà trường là giáo dục đào tạo nhân cách của HS; + Có nội dung, phương pháp giáo dục có chọn lọc và tổ chức chặt chẽ;

+ Môi trường giáo dục sư phạm trong nhà trường là nơi lý tưởng có tác dụng tích cực trong quá trình GDĐĐ của các em

- Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như: bẩm sinh – di truyền, giáo dục, tự giáo dục, hoạt động của cá nhân và môi trường…Trong đó, yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu

tố quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các em vì nếu không có

xã hội loài người thì những tư chất của các em không thể phát triển được

Trong đề tài nghiên cứu, tác giả xem xét yếu tố ảnh hưởng của CĐXH đến việc hình thành và phát triển nhân cách của các em như: các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể…có cùng chung mục đích, nhiệm vụ phát triển, giáo dục nhân cách các em

1.2.4 Cộng đồng xã hội

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cộng đồng là khối người cùng gắn bó thành một

tổ chức trong sinh hoạt xã hội, những người cùng chung một tổ chức tinh thần cộng đồng” (Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, 2005)

Theo Từ điển Tiếng Việt “Xã hội là hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người, được bảo đảm, tồn tại bằng pháp luật” (Viện Ngôn ngữ học Việt

Nam, 2005)

Theo Wikipedia: Cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung Trong cộng

Trang 30

đồng người đó là kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng Theo Fichter cộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: (1) tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ

sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ

cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan

hệ sâu hơn, được coi như là một hằng số văn hóa (Wikipedia, 9/2020)

Theo tác giả Huỳnh Công Minh: “Cộng đồng là tập hợp gồm những người có cùng đặc điểm chung sống, có những mối quan hệ liên đới, cùng chịu sự ảnh hưởng với nhau về tự nhiên và xã hội”; “Cộng đồng xã hội là một tập hợp có tính phổ quát hơn, là một xã hội gồm có dân cư và tất cả các hoạt động trong đó, từ tổ chức quản

lý đến kinh tế, văn hóa, xã hội…nhằm đảm bảo cuộc sống của nhau một cách an toàn, phát triển và tiến bộ” (Huỳnh Công Minh, 2017)

Như vậy, có thể hiểu rằng: CĐXH chính là một nhóm người cùng sống trong một không gian nhất định ở nông thôn hay thành thị, có tác động qua lại lẫn nhau, cùng nhau phát triển Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ xem xét ảnh hưởng của CĐXH đến quá trình GDĐĐ của HS nội trú trong phạm vi đơn vị phường, quận

1.2.5 Đạo đức, giáo dục đạo đức

1.2.5.1 Đạo đức

Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự (Trần Hậu Kiểm, 1997)

Trang 31

Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội (Trần Hậu Kiểm, 1997)

Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người (Phạm Minh Hạc, 2001)

Như vậy, có thể hiểu: Đạo đức chính là những nguyên tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và các cá nhân phải tự giác điều chỉnh những hành vi của bản thân để phù hợp với các chuẩn mực đó

1.2.5.2 Giáo dục đạo đức

Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” (Hà Thế Ngữ & Đặng Vũ Hoạt, 1998)

GDĐĐ là quá trình tác động tới HS của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho HS ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng hiệu quả nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục

trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “GDĐĐ cho HS là bộ phận hiệu quả có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” (Phạm

Khắc Chương, 1997)

- Mục tiêu GDĐĐ cho HS THPT

Làm cho mỗi cá nhân HS phải tự nhận thức và hành động đúng theo các giá trị đạo đức của xã hội, các em phải biết phân biệt: đúng – sai, xấu – đẹp, thiện – ác…sống có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với xã hội, phải biết hành động theo lẽ phải, đấu tranh bài trừ những hành vi chưa đúng những giá trị đạo đức

- Nhiệm vụ của GDĐĐ cho HS THPT

Giáo dục cho các em nhận thức đúng đắn về giá trị đạo đức (đúng – sai, tốt – xấu…); giáo dục tình cảm đạo đức cho các em (thái độ yêu – ghét rõ ràng, phải có thái độ đúng đắn trước những hành vi, hiện tượng lệch chuẩn đạo đức); dần dần

Trang 32

hình thành cho các em hành vi, thói quen đạo đức đúng đắn phù hợp với cuộc sống hiện tại

- Nội dung GDĐĐ cho HS THPT

Là trang bị cho HS nhận thức, hiểu biết và thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức thông qua các hành vi, các thói quen hằng ngày trong các mối quan hệ của các em như: sinh hoạt, học tập, các hoạt động ngoại khóa, giao lưu tập thể trong và ngoài nhà trường

Cần lưu ý giáo dục cho các em các chuẩn mực đạo đức như: nhận thức đúng

về tư tưởng, chính trị (yêu quê hương, đất nước, lập trường chính trị rõ ràng); mối quan hệ với mọi người (khoan dung, cùng nhau hợp tác, bình đẳng và tôn trọng nhau…); tự hoàn thiện bản thân (thật thà, dũng cảm, tự lập, cần cù…); quan hệ với công việc (chí công vô tư, tôn trọng pháp luật); xây dựng môi trường (giữ gìn và bảo vệ môi trường, bảo vệ di sản văn hóa dân tộc…)

- Phương pháp GDĐĐ HS THPT

Có nhiều phương pháp để GDĐĐ cho HS, nhưng phổ phổ biến nhất là: phương pháp kích thích hành vi (chủ yếu là khen thưởng và kỷ luật HS nhằm động viên các em tiếp tục phát huy các mặt mạnh hoặc hạn chế những khuyết điểm còn tồn tại của bản thân); phương pháp thuyết phục (nêu gương người tốt, việc tốt; đưa

ra những lời khuyên giải đối với các em…); phương pháp tổ chức các hoạt động (cho HS tham gia các hoạt động tập thể, hoặc các hoạt động mà các em yêu thích từ

đó động viên tinh thần các em)…

Trong mỗi phương pháp có ưu và khuyết điểm riêng, trong quá trình giáo dục người quản lý phải biết phối hợp linh hoạt các biện pháp để đạt hiệu quả giáo dục cao nhất

- Hình thức GDĐĐ HS THPT:

Có thể giáo dục các em thông qua các môn học như: Giáo dục công dân, Ngữ Văn, Sinh học, Giáo dục Quốc phòng…các môn học này sẽ giúp các em hình thành những chuẩn mực đạo đức và có những hành vi, thái độ đúng đắn trong xã hội, rèn luyện thể chất, ý chí cho các em…

Trang 33

Bên cạnh đó cũng có thể giáo dục cho các em thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các buổi sinh hoạt tập thể do nhà trường hoặc địa phương tổ chức

Trong quá trình GDĐĐ cho HS, vai trò của giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho các em Vì thế, giáo viên cần phải luôn là những tấm gương sáng để các em phấn đấu học tập và noi theo

Tóm lại, trong quá trình GDĐĐ cho HS có rất nhiều hình thức và phương pháp giáo dục khác nhau, nhà quản lý cần phải có biện pháp phối hợp các hình thức, biện pháp trong và ngoài nhà trường (NT, GĐ & CĐXH) một cách linh hoạt, sáng tạo thì sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao Trong đó, cần lưu ý đến quá trình tự giáo dục của HS vì đây là yếu tố đóng góp quan trọng nhất trong quá trình hình thành nhân cách

1.2.6 Học sinh nội trú

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (2005), nội trú

là: “ăn ở ngay trong nhà trường” (Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, 2005)

Như vậy, HS nội trú sẽ sống, học tập và sinh hoạt trong khuôn viên nhà trường Các em được trang bị đầy đủ về hệ thống các thiết bị, hệ thống cơ sở vật chất, nhằm đảm bảo tốt cho quá trình học tập và sinh hoạt theo quy định

1.2.7 Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú

Việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của HS THPT phải có sự tham gia của nhiều lực lượng giáo dục, mặc dù các lực lượng giáo dục có những vị trí, vai trò khác nhau nhưng đều cùng chung một mục tiêu Trong đó, NT đóng vai trò trung tâm, chủ động trong việc phối hợp với GĐ & CĐXH Ngoài ra, NT còn giúp đỡ, hỗ trợ cho CMHS trong việc GD, định hướng hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của HS Bên cạnh đó, CMHS phải có trách nhiệm chủ động hợp tác với NT trong việc giáo dục HS, tránh tư tưởng giao hẳn các em cho nhà trường quản lý hoặc tự đề ra một số yêu cầu giáo dục trái ngược với mục tiêu giáo dục mà

NT qui định

Chính vì vậy, việc tổ chức phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ cho HS nội trú về bản chất chính là sự tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện và đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

Trang 34

Theo cách tiếp cận khái niệm tổ chức phối hợp như trên, tác giả quan niệm tổ chức phối hợp NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ cho HS là quá trình trong đó quản lý nhà trường chuẩn bị các điều kiện, xây dựng kế hoạch, sắp xếp, tổ chức, tiến hành các hoạt động phối hợp và kiểm tra, giám sát, duy trì hoạt động phối hợp giữa NT,

GĐ & CĐXH trong hoạt động GDĐĐ cho HS nhằm đạt hiệu quả GDĐĐ cho HS

Việc tổ chức phối hợp NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ cho HS nội trú được thực hiện qua các bước cơ bản:

- Chuẩn bị các nội dung, yêu cầu cho việc phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH

- Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH

- Sắp xếp, tổ chức các hoạt động phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH

- Tiến hành kế hoạch phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH

- Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc phối hợp giữa NT, GĐ, CĐXH (nếu có)

Việc phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho HS đòi hỏi nhà quản lý cần có những tác động có ý thức đến người được quản lý và các bên để sự phối hợp diễn ra đúng và đảm bảo nguyên tắc Đây là một hoạt động có kế hoạch, được tiến hành bài bản trên cơ sở có phân công và kiểm tra, đánh giá thực tế phối hợp trong công tác GDĐĐ cho HS nội trú

1.3 Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT

1.3.1 Đặc điểm phát triển thể chất, tâm lí xã hội của HS trường THPT nội trú

1.3.1.1 Sự phát triển về thể chất

HS các trường THPT nội trú đang ở độ tuổi từ 15 - 17 (học lớp 10 đến lớp 12) Đây là giai đoạn các em đã có sự trưởng thành về mặt cơ thể: chiều dài của xương tăng cao, có sự tăng trưởng trọng lượng cơ thể, sự phát triển về hệ thần kinh

và não bộ…Vì thế ở độ tuổi này các em có sự thay đổi rất nhiều về mặt thể chất và rất dễ bị kích thích

1.3.1.2 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ, xã hội

* Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Trong giai đoạn này hệ thần kinh của các em phát triển mạnh, vì thế khả năng quan sát và tư duy cũng rất phát triển Các em thích tò mò, khám phá và thích

Trang 35

khẳng định bản thân Tuy nhiên, sự quan sát của các em chưa sâu – vẫn còn nhận định các sự vật, hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó một cách đại khái, phiến diện

Đặc biệt trí nhớ của các em phát triển mạnh mẽ nhất Các em biết tư duy, sáng tạo, biết cách sắp xếp khoa học và ghi nhớ bài học một cách khoa học hơn

* Sự phát triển của tự ý thức

Ở độ tuổi này các em bắt đầu có sự chú ý đến bản thân của mình nhiều hơn:

từ hình dáng bên ngoài cho đến sự thay đổi bên trong (tâm sinh lý của các em) Ý thức của các em thể hiện thông qua: sự trau chuốt bản thân, muốn khẳng định bản thân mình với những người xung quanh, hay có những ước mơ và hoài bảo riêng, hay suy nghĩ về vị trí của bản thân mình trong xã hội trong tương lai Vì thế, các em

tự ý thức rằng phải khắc phục những thiếu sót trong những hành vi của bản thân hoặc phát huy những nét tốt đẹp mà các em đang có, để hình thành nhân cách riêng cho mình

Vì thế, khi giáo dục HS các nhà giáo dục cần lưu ý: đôi lúc cũng phải lắng nghe, tạo điều kiện và giúp đỡ các em nhiều hơn để các em tự đánh giá bản thân một cách đúng đắn, tránh phiến diện NT cần phối hợp nhiều hơn với GĐ & CĐXH trong việc giáo dục các em thông qua các hoạt động tập thể để các em tự kiểm tra và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ

* Sự hình thành thế giới quan

Sự phát triển về trí tuệ, nhân cách và xã hội là điều kiện để các em hình thành thế giới quan của mình thông qua một số môn học được giảng dạy trong chương trình THPT và các hoạt động tập thể Ở giai đoạn này, các em thường chú ý đến những giá trị tinh thần nhiều hơn là giá trị vật chất Tuy nhiên, một bộ phận các

em HS ở các trường tư thục do đặc điểm về hoàn cảnh gia đình, về kinh tế của gia đình…nên thế giới quan của các em cũng khác nhau Có em có lối sống tích cực, tự lập nhưng cũng có em còn hay ỷ lại, thích hưởng thụ; có em sống khép kín, ích kỷ…

1.3.1.3 Đặc điểm hoạt động của trường THPT nội trú

Trang 36

Thực hiện chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục theo quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành (Bộ GD & ĐT, 2020), ngoài ra còn thực hiện chương trình và các hoạt động giáo dục đặc thù như sau:

- Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Căn cứ vào chương trình và kế hoạch theo năm học quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện của nhà trường và đối tượng HS

- Có tổ chức, quản lý công tác nuôi dưỡng và chăm sóc HS nội trú như: + Có bếp ăn tập thể cho HS: đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng và an toàn thực phẩm theo đúng quy định;

+ HS được chăm sóc sức khỏe tại khu nội trú và được hướng dẫn cách tự chăm sóc bản thân;

+ Tổ chức và quản lý HS trong khu nội trú của trường: giờ tự học của HS, ngoài giờ chính khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo Tứ đó, giáo dục HS tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, xây dựng nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường;

- Hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao gồm: HS sẽ tham gia nấu

ăn vào các ngày cuối tuần, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động theo chủ

đề, chủ điểm, tham quan du lịch…; giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác của địa phương tổ chức nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách HS

- Phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn để tổ chức giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu của HS, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

1.3.2 Đặc điểm sinh hoạt, học tập của HS ở trường THPT nội trú

* Đặc điểm sinh hoạt

HS nội trú sẽ được các thầy, cô quản lý chặt chẽ tại trường học từ thứ Hai đến thứ Sáu Thứ Bảy và Chủ nhật, các em có thể chọn để trở về nhà hoặc ở lại trường HS sẽ sống trong ký túc xá của trường, mỗi lớp sẽ có một giáo viên quản nhiệm để chăm lo và giúp các em sinh hoạt trong cuộc sống tập thể, kỷ luật và độc lập

Trang 37

HS nội trú khi học tập tại trường sẽ được rèn luyện kỷ luật tự giác, để thích nghi và hòa nhập vào cộng đồng Trong sinh hoạt tập thể với sự hỗ trợ và quản lý chặt chẽ của các giáo viên sẽ giúp HS hình thành những thói quen tốt để tạo ra một cuộc sống năng động, độc lập và trách nhiệm

Sau giờ học chính khóa HS có thể tham gia chơi nhiều môn thể thao theo sở thích riêng của mình như: bóng đá, bóng bàn, cầu lông, yoga, bơi lội, cờ vua…

* Đặc điểm học tập của HS nội trú

Các em HS nội trú sẽ tham gia tự học sau giờ sinh hoạt chiều dưới sự giám sát của GVQN Để quản lý hoạt động tự học ngoài lớp đạt kết quả tốt, tại khu nội trú của trường sẽ có những quy định về nội quy, nề nếp tự học, sau đó thực hiện chính quy hóa hoạt động tự học Các em sẽ lập thời gian biểu riêng cho bản thân và

tự học theo báo bài của GVCN (buổi sáng)

GVQN sẽ là người hướng dẫn, giám sát các em trong thời gian tự học Tùy thuộc vào khả năng của từng HS, GVCN giao bài cho các em phù hợp và phải lưu ý đến phương pháp tự học, tự rèn của các em

Ngoài ra, trong khu nội trú còn tổ chức các hình thức thi đua, khen thưởng cho các em hằng tuần, hằng tháng qua các hoạt động được tổ chức nhằm đánh giá được kết quả tự học của HS; bồi dưỡng, phát triển năng lực tự đánh giá kết quả tự học cho HS; tăng cường sự phối hợp giữa Đoàn Thanh niên, Quản nhiệm, GVCN trong việc quản lí hoạt động tự học của HS

1.3.3 Mục tiêu phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT

Mục tiêu phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH cần đạt được trong quá trình giáo dục HS là các tiêu chuẩn định hướng ngay từ đầu Mục tiêu phối hợp giáo dục của

NT, GĐ & CĐXH là đi đến quan điểm thống nhất về các nội dung và biện pháp giáo dục nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho HS nội trú, giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện để trở thành những con người gương mẫu, có ích cho xã hội

Mục tiêu phối hợp xác định đúng đắn sẽ giúp cho quá trình phối hợp giữa

NT, GĐ & CĐXH có sự nhịp nhàng, thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn Không

Trang 38

những thế, mục tiêu phối hợp cần phù hợp ở từng trường, từng địa phương khác nhau

1.3.4 Nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT

Nội dung của sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ cho HS nội trú là những công việc cần thực hiện như:

- Xác định những nội dung trong GDĐĐ nào có thể phối hợp với GĐ & CĐXH, để triển khai hiệu quả;

- Xây dựng quy chế phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong GDĐĐ cho HS nội trú, quy định nhiệm vụ quyền hạn của từng thành viên trong quy chế;

- Xây dựng kế hoạch phối hợp cụ thể cho từng đối tượng cụ thể, đối tượng nào phụ trách nội dung nào, thời gian, địa điểm phù hợp với tình hình giáo dục của nhà trường;

- Tổ chức nhân sự chịu trách nhiệm thực hiện công tác phối hợp; tổ chức các buổi họp tọa đàm, triển khai kế hoạch;

- Chỉ đạo đội ngũ GV, Phó hiệu trưởng đảm bảo các điều kiện về thời gian, địa điểm, cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho công tác phối hợp;

- Kiểm tra, đánh giá kế hoạch tổ chức phối hợp, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đến giai đoạn, có hiệu quả hay chưa, từ đó rút ra bài học cho những nội dung giáo dục tiếp theo

- CBQL, GV và CMHS thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp và hình thức GDĐĐ cho HS nội trú

- Thống nhất trong những định hướng của nhà trường với CMHS về mục đích, kế hoạch GDĐĐ cho HS nội trú

- Thống nhất trong việc theo dõi, đánh giá kết quả GDĐĐ cho HS nội trú

- Thống nhất trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho HS nội trú phát triển toàn diện về “đức, trí, thể, mỹ”

- Thống nhất việc lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường với CMHS và CĐXH để tổ chức thực hiện kế hoạch, có tổng kết đánh giá việc thực hiện kế hoạch phối hợp

Trang 39

Trong việc GDĐĐ cho HS nội trú, nhà trường cần nâng cao vai trò, trách nhiệm và phát huy tiềm năng giáo dục của tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đội ngũ GVCN, GVQN và giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân, tổ tư vấn học đường trong nhà trường

1.3.5 Hình thức và phương pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT

Điều 45 - Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp

học, qui định: “Nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” (Bộ GD-ĐT, 2020) bằng nhiều hình thức:

- Nhà trường thường xuyên duy trì mối liên hệ với CMHS thông qua sổ liên lạc điện tử, sổ liên lạc sẽ thông tin cụ thể kết quả học tập và rèn luyện của HS tại trường bằng những nhận xét cụ thể của GVCN và điểm số các môn học Trong phần nhận xét này, GVCN lưu ý những kiến nghị từ phía nhà trường gửi đến CMHS; bên cạnh đó GVCN phải chú ý nhiều đến phản hồi từ phía CMHS gửi đến nhà trường và phản hồi lại CMHS một cách cụ thể như thế công tác phối hợp mới mang lại hiệu quả cao

- Thông qua các cuộc họp giữa NT & GĐ để có những văn bản thống nhất về

kế hoạch phối hợp thật hiệu quả và triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên như

Sở GD & ĐT, Điều lệ Ban đại diện CMHS,

- GVCN, GVQN phối hợp CMHS thông qua điện thoại, email, tin nhắn từ hệ thống liên lạc điện tử VNPT school,…hoặc trao đổi trực tiếp với CMHS trong ngày cuối tuần (khi CMHS đến trường đón các em về gia đình) nhằm thống nhất biện pháp giáo dục HS Thăm hỏi gia đình HS để nắm rõ tình hình về hoàn cảnh gia đình, môi trường học tập ở nhà, những tính cách của HS, để đề ra những mục tiêu, kế hoạch, nội dung GDĐĐ cho HS

- Các hoạt động giáo dục trong NT: tuyên truyền cho GV & CMHS bằng các hình thức như hội thảo, báo cáo kinh nghiệm, câu lạc bộ, đặc biệt cần đề cao những phương pháp giáo dục tiến bộ của gia đình

Trang 40

- Thành lập Ban đại diện CMHS, tổ chức định kỳ các cuộc họp với CMHS

để GVCN, GVQN gặp gỡ và trao đổi những vấn đề cần thiết

- Thực hiện các hình thức kiểm tra đánh giá để rút kinh nghiệm, đề xuất tiêu chuẩn thi đua, qui định nhiệm vụ phối hợp cho GVCN, GVQN và động viên khen thưởng kịp thời

1.3.6 Điều kiện tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho HS nội trú tại trường THPT

Hoạt động phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH phải phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế, văn hóa của thực tế địa phương, trình độ nhận thức của GĐ và CĐXH, phải bố trí thời gian hợp lý, có những quy chế, quy định cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong NT & GĐ phối hợp với nhau một cách tốt nhất Các điều kiện cần cho hoạt động phối hợp như:

• Huy động nguồn kinh phí dành cho hoạt động phối hợp;

• Bố trí thời gian hợp lí cho hoạt động phối hợp;

• Các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động phối hợp;

• Các văn bản và phương tiện phục vụ cho hoạt động phối hợp;

• Về cơ chế phối hợp:

- NT đóng vai trò chủ đạo trong quá trình phối hợp, trong đó cán bộ quản lý (Hiệu trưởng) là người lập kế hoạch, chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo mọi hoạt động phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc GDĐĐ cho HS nội trú

- GVCN, GVQN là các lực lượng chính chịu trách nhiệm thực hiện các chỉ đạo phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH từ Hiệu trưởng để thống nhất nội dung, phương pháp GDĐĐ cho HS nội trú

- Các đoàn thể và tất cả các bộ phận khác trong nhà trường như: Công đoàn, Đoàn thanh niên, bộ phận y tế, cấp dưỡng, tổ tư vấn học đường, bộ phận phục vụ…

là những bộ phận phối hợp với GVCN, GVQN dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường

- GĐ phải chủ động trong việc thực hiện các hoạt động phối hợp (Bộ GD &

ĐT, 2011) như:

+ Hội CMHS hoạt động thông qua những quy chế phối hợp của NT đã đề ra;

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w