1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cúng cô hồn theo nghi thức mông sơn thí thực của phật giáo bắc truyền tại thành phố hồ chí minh

194 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.7 Cảm nhận sau khi tham gia khoá lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 97 20.. Biểu đồ 3.7 Cảm nhận sau khi tha

Trang 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những cá nhân, tổ chức sau đây đã giúp tôi về nhiều mặt để hoàn thành công trình này:

Trước hết, xin gửi lời cảm ơn tới cô Đinh Thị Dung, người hướng dẫn khoa học

đã luôn tận tâm chỉ dẫn và động viên tôi hoàn thành công trình này Dù bận rộn nhưng

cô luôn dành thời gian đọc, góp ý, chỉnh sửa để tôi có cơ sở triển khai và hoàn tất đề tài nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô đã giảng dạy chúng tôi rất nhiều môn học trong chương trình Sau đại học ở Khoa Việt Nam học, đó là những kiến thức quý báu góp phần hình thành ý tưởng và phát triển đề tài nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các chuyên viên Khoa Việt Nam học, Phòng Sau đại học

đã hỗ trợ về mặt thủ tục để có luận văn này

Công trình này cũng không thể hoàn thành được nếu không có sự hỗ trợ từ các chùa, tự viện, quý Tăng, Ni, Phật tử và các thông tín viên khác đã trực tiếp hay gián tiếp cung cấp tài liệu, tư liệu để làm nguồn khảo cứu cho đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, nhà nghiên cứu, nhà khoa học tham gia hội đồng chấm đề cương và luận văn để tôi có được những góp ý quý báu nhằm hoàn thiện luận văn

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các tác giả có công trình nghiên cứu được trích dẫn làm tài liệu tham khảo cho đề tài này Nếu không có nguồn tài liệu đó chắc chắn tôi không thể hoàn thành tốt công trình này

Cuối cùng, tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm theo dõi, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trân trọng cảm ơn./

Tác giả Nguyễn Tấn Khang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “Cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của

tôi với sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đinh Thị Dung Tất các các tư liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Các tài liệu tham khảo và trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn và tham chiếu đúng quy định

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

2 Bảng 2.1 Mục đích thực hiện, tham gia nghi lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí

3 Biểu đồ 2.1 Mục đích thực hiện, tham gia nghi lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí

4 Bảng 2.2 Nghi thức sử dụng để cúng cô hồn của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố

13 Bảng 3.4 Niềm tin vào cảnh giới cô hồn, ngạ quỷ, linh hồn người đã chết của tín đồ Phật

14 Biểu đồ 3.4 Niềm tin vào cảnh giới cô hồn, ngạ quỷ, linh hồn người đã chết của tín đồ Phật

Trang 6

15 Bảng 3.5 Niềm tin cô hồn, ngạ quỷ có thể quấy phá người còn sống của tín đồ Phật giáo

16 Biểu đồ 3.5 Niềm tin cô hồn, ngạ quỷ có thể quấy phá người còn sống của tín đồ Phật giáo

17 Bảng 3.6 Nhu cầu cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc

18 Biểu đồ 3.6 Nhu cầu cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo

19 Bảng 3.7 Cảm nhận sau khi tham gia khoá lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 97

20 Biểu đồ 3.7 Cảm nhận sau khi tham gia khoá lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 98

21 Bảng 3.8 Ý kiến về việc giữ gìn và phát huy các giá trị của lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 99

22 Biểu đồ 3.8 Ý kiến về việc giữ gìn và phát huy các giá trị của lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 100

23 Bảng 3.9 Giải pháp kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị của lệ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của các tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh

102

24 Biểu đồ 3.9 Giải pháp kế thừa, giữ gìn và phát huy các giá trị của lệ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của các tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh

102

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cách tiếp cận, phương pháp, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

7 Cấu trúc luận văn: 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 16

1.1 Những vấn đề lý luận 16

1.1.1 Các khái niệm, tín niệm sử dụng trong nghiên cứu 16

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20

1.2.2 Khái quát Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh 31

1.2.3 Vị trí của cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực trong hệ thống nghi lễ Phật giáo Bắc truyền 33

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LỄ CÚNG CÔ HỒN NHÌN TỪ NGHI THỨC MÔNG SƠN THÍ THỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35

2.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành 35

2.2 Mục đích cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực 41

2.3 Thực hành cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực 44

2.3.1 Chuẩn bị cho nghi lễ 44

2.3.2 Nội dung, thời gian, địa điểm diễn ra nghi lễ 46

2.3.3 Quá trình thực hành nghi lễ 51

2.3.4 Lễ vật dâng cúng và thành phần tham dự 70

Trang 8

Tiểu kết chương 2 76

CHƯƠNG 3 LỄ CÚNG CÔ HỒN THEO NGHI THỨC MÔNG SƠN THÍ THỰC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78

3.1 Vai trò cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực 78

3.2 Ý nghĩa của cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực 82

3.3 Giá trị của cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực 87

3.4Cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực nhìn từ lý thuyết chức năng 91

3.4.1 Niềm tin vào cảnh giới cô hồn, ngạ quỷ và linh hồn người đã chết 91

3.4.2 Nhu cầu cúng cô hồn của tín đồ Phật giáo 94

3.4.3 Chức năng của hoạt động cúng cô hồn 97

3.5 Kế thừa, giữ gìn và phát huy mỹ tục cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực 99

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 119

Phụ lục 1 120

Phụ lục 2 126

Phụ lục 3 152

Phụ lục 4 156

Phụ lục 5 162

Phụ lục 6 164

Phụ lục 7 179

Phụ lục 8 181

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với vị trí địa lý nằm ở ngã ba giao thương của Đông Nam Á, Việt Nam đã đón nhận nhiều luồng tư tưởng triết học, tôn giáo lớn trên thế giới Trong đó, Phật giáo đã

du nhập và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam khoảng 2000 năm qua với các dòng truyền thừa chính là Phật giáo Bắc truyền và Phật giáo Nam truyền (gọi theo hướng truyền thừa) Trong lịch sử hàng ngàn năm đó, Phật giáo Việt Nam có lúc thịnh suy, thăng trầm nhưng vẫn tồn tại như một phần không thể thiếu trong quá trình đồng hành cùng dân tộc Việt Nam

Phật giáo du nhập vào Việt Nam mang một không khí mới bổ sung vào đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam Trải qua quá trình hàng thế kỷ, Phật giáo lan tỏa theo

sự di dân và mở rộng đất đai của người Việt mà đi dần vào miền Trung và Nam bộ Đến đâu “Phật giáo cũng để lại trên mỗi vùng đất một sắc thái riêng biệt trong thờ cúng, trong nghi lễ… Nét riêng đó là bản sắc văn hóa Phật giáo của vùng, đồng thời cũng thể hiện quá trình phát triển của mình” (Trần Hồng Liên, 1995, tr 5) Trong đó có các nghi lễ mang nhiều giá trị nhân văn, giá trị tâm linh và ý nghĩa giáo dục sâu sắc

Một trong những nghi thức còn được sử dụng phổ biến trong thời khóa thiền môn cho đến ngày nay là nghi thức Mông Sơn thí thực Gắn với nghi thức này là tục lệ cúng cô hồn có tiếp nhận một phần từ Phật giáo Trung Hoa và phù hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, niềm tin có linh hồn ở thế giới bên kia đã xuất hiện rất sớm ở Việt Nam Vì vậy mà nghi thức này được các cư dân bản địa Việt Nam đón nhận, bảo lưu

và duy trì trong hệ thống các nghi thức lễ cúng của Phật giáo Bắc truyền nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung

Thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử khoảng hơn 300 năm hình thành và phát triển đã trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn của cả nước, có sức ảnh hưởng, lan tỏa đến gần như toàn vùng Nam Bộ Bộ phận Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm đó và còn

Trang 10

lưu giữ được các khoa nghi đa dạng, phong phú mang đậm phong cách Nam Bộ Trong

đó, tục lệ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực được giữ gìn và phát huy phù hợp với bản sắc văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh

Một thực tế hiện nay là nhiều người không riêng gì tín đồ Phật giáo thực hành tục lệ cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực nhưng chưa nắm vững lễ nghi, chưa hiểu hết ý nghĩa của nghi thức này khiến cho nó bị biến tướng Các hình thức mê tín, dị đoan được lồng ghép vào trong nghi thức làm cho tục lệ cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực ngày càng mất đi giá trị nhân văn vốn có của nó Chưa kể một

số cá nhân biến tục lệ cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực thành phương tiện kiếm sống, gần như là nghề kiếm ra tiền nhuốm màu mê tín khiến nguyên bản của tục lệ cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực bị lu mờ trước các hình thức mê tín khác không mang giá trị tâm linh, nhân văn, giáo dục sâu sắc trong tương lai

Thực tế khi khảo sát về đề tài này chúng tôi nhận được rất nhiều lời từ chối vì

“cúng thí thực cô hồn các tổ ngày xưa làm sao thì giờ làm theo như vậy chứ giải thích thì không biết” Đó là một trong những lý do khiến chúng tôi quyết tâm theo đuổi đề tài

vì một số kinh sư hiện nay cũng không hiểu hết khoa nghi Mông Sơn thí thực mà chỉ làm vì “các tổ xưa làm sao giờ làm vậy”

Bên cạnh đó, những vấn đề tâm linh xoay quanh việc cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài này Chức năng của việc cúng cô hồn trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo là gì? Những nhu cầu nào thôi thúc các tín đồ thực hiện cúng cô hồn? Giá trị của cúng cô hồn trong đời sống của cộng đồng người Việt theo Phật giáo nói riêng và trong cộng đồng người Việt nói chung? Giải thích vì sao người ta lại tìm đến cúng cô hồn khi gặp ma quỷ? Thông qua cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực thì các tín đồ Phật giáo được thỏa mãn những nhu cầu gì trong cuộc sống? Ngoài ra, hướng nghiên cứu của đề tài phù hợp với đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành Việt Nam học là nghiên cứu những vấn đề thuộc

Trang 11

phạm vi truyền thống của văn hoá Việt Nam, về các giá trị mang bản sắc của người Việt

Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn khảo sát

nguồn gốc lịch sử và ghi nhận một cách hệ thống những giá trị của tục lệ cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực, nhìn nhận cúng cô hồn là một mỹ tục của Phật giáo nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Qua đó góp phần giúp các tín đồ Phật giáo và những ai có nhu cầu tìm hiểu, thực hành nghi lễ này trong đời sống hằng ngày có cái nhìn đúng với những giá trị mà nó mang lại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài cúng cô hồn được công bố từ nhiều góc nhìn như: Sử học, Văn hoá học, Phật học, Văn học v.v…

Lễ Vu Lan với văn tế cô hồn (1977) của Hoàng Xuân Hãn đăng trên tạp chí Văn

học số 2-1977 đã sơ lược về nguồn gốc của cúng cô hồn trong lễ Vu Lan và so sánh các bản văn tế cô hồn của Nguyễn Du được in ở các thời điểm khác nhau Bài viết cung cấp tư liệu về các bài văn tế thể hiện tục cúng cô hồn trong ngày Vu Lan của người Việt từ xưa

Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1987, tái bản 2018) do Trần Văn Giàu,

Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên cung cấp các tài liệu quan trọng và có

hệ thống giúp chúng tôi hoàn thành phần đặc điểm địa bàn nghiên cứu Đây là cơ sở giúp chúng tôi xác định địa bàn nghiên cứu và lịch sử của Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Khái lược về Phật giáo Việt Nam (1994) của Lê Anh Dũng cũng là một công

trình cung cấp cái nhìn khái lược về Phật giáo Việt Nam từ khi Phật giáo du nhập cho đến khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Tuy nhiên, do chỉ là khái lược nên chưa đi sâu vào chi tiết từng thời kỳ của Phật giáo Việt Nam

Trang 12

Công trình Nhị khóa hiệp giải (1995) do Hòa thượng Thích Khánh Anh biên dịch

đã giảng giải ý nghĩa của hai thời khóa công phu quan trọng nhất của tu sĩ Phật giáo Bắc truyền là thời khóa công phu sáng và thời công phu chiều Trong thời khóa công phu chiều có phần giảng giải công phu nghi thức Mông Sơn thí thực Đây là một trong những tài liệu tham khảo chính cho phần khảo cứu nghi thức Mông Sơn thí thực

Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ-Việt Nam từ thế kỷ XVII đến

1975 (1995) của Trần Hồng Liên là một công trình ghi chép, khảo cứu về đạo Phật của

người Việt ở Nam Bộ trong 4 thế kỷ Công trình cung cấp nhiều tài liệu quan trọng về lịch sử, sinh hoạt Phật giáo ở Nam Bộ, trong đó có ở Thành phố Hồ Chí Minh Công trình này giúp chúng tôi có nhiều tư liệu để hiểu về quá trình Phật giáo du nhập vào Nam bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh hay còn gọi là Văn tế thập loại chúng sinh trong Nguyễn Du toàn tập (1996) do Nhà xuất bản Văn học, Trung tâm nghiên

cứu Quốc học xuất bản là một bài văn tế xuất sắc và kinh điển trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam Nguyễn Du đã liệt kê mười loại cô hồn phù hợp với quan điểm của Phật giáo Tác phẩm này là một nguồn tư liệu quan trọng để khảo cứu về cô hồn, đối tượng chính của nghi thức Mông Sơn thí thực

Nghi thức Chư kinh Nhật tụng (1997) do Giáo hội Phật giáo Việt Nam biên soạn

cung cấp các nghi thức được sử dụng thường xuyên trong thiền môn Việt Nam trong

đó có nghi thức cúng thí thực theo Phật giáo Bắc truyền

Việt Nam Phật giáo sử luận I-II-III (2000) của Nguyễn Lang đã “góp phần làm

sống lại không khí cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo qua các thời đại” Công trình này giúp chúng tôi có thêm tư liệu về sinh hoạt Phật giáo trong nhà chùa, trong đời sống cộng đồng tín đồ qua nhiều thời kỳ để dựa vào đó khảo cứu về nguồn gốc của cúng thí thực trong đời sống sinh hoạt Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh

Linh Sơn Pháp bảo Đại tạng kinh (2000-2003) hay còn gọi là Đại chánh tân tu đại tạng kinh là bộ đại tạng kinh tiếng Việt do Hội văn hóa giáo dục Linh Sơn Đài Bắc

Trang 13

xuất bản bao gồm 22 bộ kinh Trong đó, bộ Mật tông có kinh số 1313 là Kinh Phật thuyết đà la ni cứu bạt ngạ quỷ Diệm Khẩu và một số bản kinh có liên quan khác Những bản kinh này có liên quan trực tiếp tới sự ra đời của nghi thức Mông Sơn thí thực mà ngài Bất Không soạn dịch trên núi Mông Sơn

Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Trọn bộ 3 tập) (2002) của Giáo sư Lê Mạnh Thát là

một công trình nghiên cứu cung cấp tư liệu về nhiều phương diện của Phật giáo từ khởi nguyên cho đến đời Trần Thánh Tông (1278) Công trình này góp phần cung cấp cái nhìn hệ thống xuyên suốt mười mấy thế kỷ kể từ khi Phật giáo có mặt tại Việt Nam

Phật học phổ thông I-II-III (2006) của Hòa thượng Thích Thiện Hoa là một trong

những tài liệu về Phật học kinh điển của Phật giáo Việt Nam Công trình không chỉ cung cấp kiến thức Phật học về lý thuyết mà còn cung cấp kiến thức về sự chính là việc thực hành giáo lý Phật giáo trong đời sống tu tập hằng ngày, trong đó có khóa lễ công phu chiều bao gồm cúng thí thực

Toàn tập giải thích các thủ ấn Phật giáo (2008) của Nguyễn Tuệ Chân biên dịch

Công trình đã khảo cứu và cung cấp cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết các thủ ấn trong Phật giáo nói chung và Mật giáo nói riêng Trong nghi thức cúng đàn chẩn tế luôn có

sử dụng các thủ ấn này

Mông Sơn thí thực yếu giải (2012) của Thích Phước Thái biên soạn Công trình

này đi sâu lý giải ý nghĩa của các bài văn cúng, các câu thần chú của nghi thức Mông Sơn thí thực qua đó giúp chúng tôi tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của nghi thức Mông Sơn thí thực

Mông Sơn thí thực khoa nghi (Hán văn-Diễn Nôm-Phiên âm-Chú giải) (2014)

của Hòa thượng Bích Liên và Nguyễn Văn Thoa (biên soạn) Đây là công trình khá công phu trong việc khảo cứu về khoa nghi Mông Sơn thí thực Các chú giải trong quyển sách góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa của nghi thức Mông Sơn thí thực

Trang 14

Chúng tôi cũng tiếp cận được hai quyển Du già trung khoa Mông Sơn thí thực khoa nghi (2015) và Du già đại khoa nghi thức Khánh Sơn cổ tự (2015) do Tỳ kheo

Thích Thiện Đắc biên soạn dùng để thực hiện các trung và đại đàn chẩn tế, thí thực

Bộ Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam

phối hợp với Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2015 có nhiều phần, bài kinh nói về ngạ quỷ và chuyện cúng kiến cho ngạ quỷ như phần Ngạ quỷ sự trong kinh Tiểu bộ tập

2, phần U đa di trong phẩm Bánh xe, chương 4 pháp, kinh Tăng chi bộ Đây là những kinh điển thuộc truyền thống Phật giáo Nam truyền nhưng cung cấp nguồn tư liệu minh chứng cho nguồn gốc của việc cúng thí ngạ quỷ, cô hồn trong truyền thống Phật giáo

Trưởng lão Tỷ kheo Trí Quang đã biên dịch quyển Để hiểu đàn chẩn tế (2018)

với nội dung chính là chú giải, biên dịch và giải thích ý nghĩa của một đàn chẩn tế Trong một đàn chẩn tế luôn luôn có phần Mông Sơn thí thực như là một tiểu phần của nghi thức chẩn tế cô hồn Đây là một tài liệu quý để đi sâu tìm hiểu cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực

Tỳ kheo Ni Hải Triều Âm trong quyển Sống chết bình an (2018) có một phần

hướng dẫn, giải nghĩa nghi thức Mông Sơn thí thực

Trần Hồng Liên có công trình Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ (văn hóa và

xã hội) (2019) Công trình tập hợp các bài viết về Phật giáo Nam bộ trên nhiều phương

diện từ lịch sử, văn hóa, sinh hoạt Phật giáo của miền Nam và của Thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh các tác phẩm kể trên, chúng tôi còn tiếp cận được nhiều tài liệu quý giá

từ các luận văn thạc sĩ Chẳng han như luận văn Tập tục thờ cúng cô hồn của người Việt ở miền Tây Nam Bộ (2012) của tác giả Vũ Minh Tuấn tập trung bàn luận về nghi

thức cúng cô hồn của người Việt vùng Tây Nam Bộ đồng thời chỉ ra được đặc trưng và vai trò của tục cúng cô hồn của người Việt vùng Tây Nam Bộ

Luận văn Tín ngưỡng thờ cúng âm hồn của cư dân ven biển Quảng Ngãi dưới góc nhìn văn hóa (2014) của tác giả Phạm Tấn Thiên đã nêu được đặc điểm chi tiết của tín

Trang 15

ngưỡng thờ cúng âm hồn và những giá trị văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng âm hồn của cư dân ven biển Quảng Ngãi

Lễ cúng chẩn tế của Phật giáo ở Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa là luận văn của tác

giả Phan Đình Đức bảo vệ năm 2010 Nội dung luận văn ghi nhận lịch sử và quá trình thực hiện lễ cúng chẩn tế từ đó nêu được những ảnh hưởng của lễ cúng chẩn tế đối với Phật tử người Việt ở Nam Bộ

Có rất nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học về đề tài cúng cô hồn góp phần làm

phong phú thêm tư liệu cho luận văn Các bài viết tiêu biểu như: Về nghi thức thờ cúng tại các chùa theo Phật giáo đại thừa ở Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh (1987) của Trần Hồng Liên; Hiện tượng thờ cúng cô hồn của người Việt ở Tây Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa dân gian (2017) của Nguyễn Thị Lệ Hằng, Trần Thị Kim Anh; Trai đàn chẩn tế triều Nguyễn (2014) của Nguyễn Hữu Sử; Ma quỷ trong văn hóa dân gian miền Tây Nam Bộ của Trần Minh Thương; Tâm linh và ma thuật: Tìm kiếm an ninh tinh thần trong giao thông ở Việt Nam đương đại (2016) của Nguyễn Đăng Hựu; Lễ trai đàn chẩn tế dưới triều Minh Mạng (2015) của Nguyễn Duy Phương; Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh (2011) của Thân Ngọc Anh; Ý nghĩa cúng ngày rằm tháng Bảy theo triết học Phật giáo của Thích Thanh Tuệ; v.v Tác giả Phạm Tấn Thiên có loạt bài về cúng cô hồn dưới nhiều góc độ như: Tín ngưỡng thờ cúng âm hồn của cư dân ven biển Quảng Ngãi (2012); Tín ngưỡng thờ cúng âm hồn trong tâm thức cư dân ven biển Quảng Ngãi (2012); Sự dung hợp Tam giáo trong tín ngưỡng thờ cúng âm hồn (2013); Một vài tín niệm về âm hồn & tín ngưỡng thờ cúng âm hồn ở Việt Nam (2014)

Mặc dù các công trình nghiên cứu về cúng cô hồn đã được công bố khá nhiều nhưng nghiên cứu cúng cô hồn nhìn từ nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền tại Việt Nam vẫn cần nhiều nghiên cứu ở khía cạnh gắn với sinh hoạt của tín đồ Phật giáo và cần có sự kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Chúng tôi nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn tư liệu quý báu,

Trang 16

một mặt giúp chúng tôi bổ sung những tư liệu khoa học làm phong phú thêm cho nội dung đề tài, mặt khác cho thấy được bối cảnh nghiên cứu về cúng cô hồn để chúng tôi chọn hướng đi không bị trùng lặp

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài chúng tôi mong muốn khảo sát có hệ thống lễ cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực như là một mỹ tục của Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung; Chỉ ra được vai trò, ý nghĩa và giá trị mà nghi thức này mang lại; Đồng thời, tìm hiểu sự trải nghiệm tâm linh của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực; Trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Chức năng của việc cúng

cô hồn trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo như thế nào? Và cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo có vai trò như thế nào trong đời sống của người Việt hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lễ cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực và sự thực hành tín ngưỡng của những người Việt tham gia khóa lễ cúng

Phạm vi nghiên cứu về không gian là một số chùa Bắc truyền trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh vì đây là địa bàn dễ dàng cho nghiên cứu về cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền Đây là một trung tâm văn hóa lớn, nhiều tự viện Bắc truyền còn thực hành nghi lễ này và tính cách con người cởi mở dễ tiếp nhận cái mới nên quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra khá mạnh mẽ, làm cho nghi thức này thay đổi nhanh chóng cần được nhìn nhận và đánh giá kịp thời

Mặc dù tại Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chùa, tự viện Bắc truyền nhưng chúng tôi chỉ chọn một số chùa đại diện phù hợp với tiêu chí: có lịch sử lâu năm; có truyền thống thực hành, giảng dạy nghi lễ Phật giáo Bắc truyền; hiện nay vẫn còn gìn

Trang 17

giữ những vốn cổ của nghi lễ Phật giáo Bắc truyền; có số Tăng, Ni tu học đông; là các điểm an cư kiết hạ tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi tiến hành phỏng vấn, tiếp xúc với các vị tôn túc, các vị là giảng viên của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh có sự am hiểu sâu rộng về đề tài chúng tôi đang nghiên cứu để có được nguồn tư liệu chính xác Đồng thời, những tự viện này có số lượng Phật tử đông đảo thuận lợi cho việc khảo sát, phỏng vấn

Những địa điểm chúng tôi đã tiến hành khảo sát, quan sát, phỏng vấn bao gồm:

- Chùa Phật học Xá lợi (Quận 3)

- Tu viện Quảng Hương Già Lam (Quận Gò Vấp)

- Chùa Viên Giác (Quận Tân Bình)

- Chùa Long Phước (Quận Bình Thạnh)

- Tịnh viện Quan Âm (Huyện Củ Chi)

- Tịnh Viện Pháp Hạnh (Huyện Củ Chi)

- Tịnh thất Vạn Phước (Quận Thủ Đức)

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: chúng tôi xác định tập trung tìm hiểu về cúng

cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực từ năm 1981 đến nay Vì năm 1981 đánh dấu

sự thống nhất Phật giáo cả nước, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Từ đó, các nghi lễ của Phật giáo cũng được thống nhất và sắp xếp quy củ

Trang 18

5 Cách tiếp cận, phương pháp, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Hướng tiếp cận

Trong khuôn khổ đề tài này, nhằm làm rõ, phân tích đối tượng nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng, phương pháp quan sát tham dự và phương pháp phỏng vấn sâu

Tiếp cận nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinnary research) là một hướng tiếp

cận nghiên cứu có ưu điểm tích hợp được thành tựu, kết quả nghiên cứu của từng chuyên ngành để đưa ra một nhận thức tổng hợp, một kết quả nghiên cứu toàn diện

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi xác định ngành nghiên cứu chính là Việt Nam học và các ngành bổ trợ là Văn hóa học, Phật học, Nhân học

Nghiên cứu định tính (Qualitative research) mang tính chất “linh hồn” cho toàn

bộ nội dung luận văn Bởi lẽ những phương pháp được sử dụng trong luận văn như Phân tích nội dung (Content Analysis), Quan sát tham dự (Participant Observation), Phỏng vấn sâu (In-depth Interviewing) đều là những phương pháp cho ra kết quả định tính

Phương pháp Phân tích nội dung (Content Analysis) giúp chúng tôi phân tích

nội dung và ý nghĩa của các bản kinh tụng, các câu thần chú, các bài kệ trong nghi thức Mông sơn thí thực

Phương pháp Quan sát tham dự (Participant Observation) “là phương pháp

được sử dụng trong điền dã Theo đó, người nghiên cứu thâm nhập vào nhóm, cộng đồng thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên của nhóm hay cộng đồng” (Ngô Văn Lệ (chủ biên), 2016, tr.40)

Chúng tôi vận dụng phương pháp Quan sát tham dự (Participant Observation) trong luận văn này nhằm khảo sát lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực hàng ngày tại các chùa, tịnh thất, tư gia, trong các trai đàn chẩn tế và trong các lễ cúng tại nhà dân vào các dịp rằm lớn Qua đó, chúng tôi có thể cùng tham dự lễ cúng, quan sát chi tiết, cụ thể đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Việt trong trường hợp này và

Trang 19

đặc biệt là có thể thực nghiệm các giả thuyết nghiên cứu từ góc nhìn của “người trong cuộc”

Từ việc vận dụng Phương pháp Quan sát-Tham dự, chúng tôi có thể tiếp cận

nhiều thành phần tham dự lễ cúng như chư Tăng, Ni, Phật tử Qua đó có thể thực hiện

được các cuộc phỏng vấn dựa trên việc vận dụng Phương pháp Phỏng vấn sâu depth Interviewing) để ghi chép những quan niệm của những người tham dự lễ cúng

(In-thành các biên bản phỏng vấn sâu Đó chính là là nguồn tư liệu quan trọng góp phần làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth Interviewing) “là một phương pháp

nghiên cứu định tính lấy dữ liệu thông qua những phản hồi bộc lộ quan điểm của một nhóm đối tượng phỏng vấn về một ý tưởng, một chương trình, hay một tình huống, thực trạng nào đó1” (Boyce và Neale, 2006, tr.3)

Phỏng vấn sâu giúp chúng tôi thu thập được thông tin từ chính những người thực hiện và tham gia vào khóa lễ cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực như Tăng sĩ, Phật tử v.v Đây là những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình hành lễ cho nên cung cấp được những thông tin có chiều sâu về nội dung góp phần làm cho nội dung luận văn thêm phong phú

Các phương pháp vừa kể giúp đưa ra được nguồn tài liệu phong phú để thực hiện luận văn này một cách có hệ thống và đi đúng vào trọng tâm nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng (Quantitative research): “Nghiên cứu định lượng có thể

được hiểu là như một chiến lược nghiên cứu nhấn mạnh việc định lượng trong việc thu thập và phân tích dữ liệu”2 (Alan Bryman, 2012, tr.35)

Chúng tôi nhận thấy rằng chỉ dựa trên nghiên cứu định tính với một số lượng người được phỏng vấn như vậy là chưa đủ thuyết phục để làm sáng tỏ nội dung cần

1 Nguyên văn tiếng Anh “In-depth interviewing is a qualitative research technique that involves conducting intensive individual interviews with a small number of respondents to explore their perspectives on a particular idea, program, or situation” (Boyce và Neale, 2006, tr.3)

2 Nguyên văn tiếng Anh: “Quantitive research can be construed as a research strategy that emphasizes quantification in the collection and analysis of data” (Alan Bryman, 2012, tr.35)

Trang 20

nghiên cứu cho nên để tăng sức thuyết phục chúng tôi áp dụng nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu này Đề tài này vận dụng phương pháp và kỹ thuật điều tra bằng bản hỏi Bản hỏi được chúng tôi thiết kế với các loại câu hỏi và các loại thang đo khác nhau xoay quanh đối tượng nghiên cứu

Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu chúng tôi tiến hành chọn mẫu dựa trên công thức:

Công thức3 tính quy mô mẫu:

n = N

(1+N∗e 2 )

Trong đó:

n là quy mô mẫu cần tính

N là quy mô dân số (tổng thể)

e là mức sai số mong muốn [tính bằng tỷ lệ phần trăm từ công thức (1 - độ tin cậy giả định)] Ở đây chúng tôi lựa chọn độ tin cậy 95% tương ứng với mức sai

số mong muốn là 5% Áp dụng công thức trên, thì sẽ có e = 1 - 95% = 0,05 Theo số liệu công bố từ Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ

2012 – 2017, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có 1.046 cơ sở tự viện Bắc tông trong đó

có 7.967 chư Tăng Ni Bắc tông và khoảng 4.000.000 tín đồ Phật tử (Báo Giác Ngộ, 2017) Áp dụng theo công thức tính quy mô mẫu trên ta có:

- Quy mô mẫu Tăng, Ni: n = 7967

(1+7967∗0,05 2 ) = 381

- Quy mô mẫu Phật tử: n = 4000000

(1+4000000∗0,05 2 ) = 400 Trong đó, để cho thuận tiện cho quá trình khảo sát chúng tôi làm tròn số mẫu khảo sát Tăng, Ni lên 400 Như vậy tổng số mẫu cần khảo sát là 800 mẫu Biến giới tính có ảnh hưởng đến kết quả khảo sát cho nên chúng tôi tiến hành phân chia theo tỷ

3 Công thức này được giảng dạy và sử dụng trong các giáo trình giảng dạy môn Thống kê trong nghiên cứu khoa học xã hội của Khoa Xã hội học và môn Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội

của Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 21

lệ nam và nữ Tuy nhiên, số liệu thống kê chính xác phân chia giới tính nam nữ chúng tôi chưa tìm thấy cho nên việc phân chia khảo sát theo giới tính chỉ mang tính chất tương đối với giả định tỷ lệ giới tính là tương đương nhau Đối tượng khảo sát là chư Tăng phát 200 phiếu, chư Ni 200 phiếu, nam Phật tử 200 phiếu và nữ Phật tử 200 phiếu

Việc phát phiếu khảo sát cho chư Tăng Ni được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 8 năm 2019 tại các tự viện được liệt kê trong phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đây là thời gian an cư kiết hạ của chư Tăng Ni Bắc tông cho nên rất thuận tiện cho việc khảo sát Đối với tín đồ Phật tử chúng tôi phát phiếu khảo sát chia làm nhiều đợt tại các đạo tràng tu học kéo dài từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 2 năm 2020

5.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Nhằm làm rõ nội dung luận văn, tập trung vào những vấn đề chính cần nghiên cứu, chúng tôi đặt ra ba câu hỏi:

1 Nguồn gốc, quá trình hình thành, cách hành nghi Mông Sơn thí thực là như thế nào?

2 Nghi thức Mông Sơn thí thực có vai trò, ý nghĩa và giá trị như thế nào trong đời sống của tín đồ Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh?

3 Vì sao người ta lại cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực? Chức năng của việc cúng cô hồn trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo là gì?

Từ các câu hỏi nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau: Nguồn gốc của nghi thức Mông Sơn thí thực bắt nguồn từ Trung Quốc do ngài Bất Động pháp sư soạn dịch trên núi Mông Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên Nguồn gốc sâu

xa là kinh Phật thuyết đà la ni Cứu bạt Diệm Khẩu ngạ quỷ và một số bản kinh khác còn được tìm thấy trong Đại chánh tân tu đại tạng kinh Đồng thời, cúng thí cho cô hồn, ngạ quỷ đã có xuất hiện từ thời đức Phật còn tại thế tức là khoảng thế kỷ thứ VII

Trang 22

trước Công nguyên do nhu cầu tâm linh của con người, quan niệm về thế giới người chết, linh hồn, ngạ quỷ và đòi hỏi của xã hội

Nội dung nghi thức Mông Sơn thí thực là các bài kệ và các câu chơn ngôn, danh hiệu Phật được sắp xếp theo trình tự: nương nhờ thần lực của chư Phật, Bồ tát để phá địa ngục và triệu thỉnh cô hồn, ngạ quỷ về dự lễ thí thực-khuyên nhủ, giảng giải về sự

vô thường, cái khổ để quay về hướng theo Phật tu tập mà thoát khỏi khổ đau-sám hối các tội lỗi đã gây ra để bị đoạ thành cô hồn, ngạ quỷ-bố thí pháp thực và vật thực cho

cô hồn, ngạ quỷ-hướng nguyện an lành cho tất cả chúng sanh Cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực có ý nghĩa sâu sắc, nhân văn cho nên nó vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của người tu sĩ, Phật tử tại gia

Vai trò của nghi thức Mông Sơn thí thực được thể hiện qua những giá trị mà nghi thức này mang lại: là một nét văn hoá tốt đẹp của Phật giáo, đáp ứng được nhu cầu tâm linh của tín đồ Phật giáo nói riêng và người Việt nói chung, giáo dục lòng từ bi, hướng con người tới các giá trị tốt đẹp và là một hình thức nhằm bảo an cho những người gặp chuyện tâm linh không thể lý giải Qua đó có thể thấy giá trị của nghi thức này cần được nhìn nhận đúng mức và cần được giữ gìn với tư cách là một nghi lễ đậm tính nhân văn, một nét văn hóa đặc sắc của Phật giáo

Người ta chọn cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực vì nhiều lý do như theo truyền thống, để được bình an, để siêu độ cho người đã mất, để thoả mãn nhu cầu tâm linh hay để giải quyết các bất an liên quan đến cô hồn, ngạ quỷ Cúng cô hồn có chức năng tâm lý quan trọng trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo bởi nghi thức này thoả mãn được nhu cầu tâm linh của con người đồng thời giúp con người đạt được bình an khi gặp chuyện bất trắc

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học, đề tài góp phần khẳng định cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền tại Việt Nam, cụ thể là tại Thành phố Hồ Chí Minh như một mỹ tục của Phật giáo Ghi nhận nghi thức Mông Sơn thí thực là một

Trang 23

nghi lễ được sử dụng để cúng cô hồn của Phật giáo Bắc truyền tại Việt Nam Nghi lễ này có giá trị nhân văn sâu sắc và có một vị trí quan trọng trong hệ thống nghi lễ phong phú của Phật giáo Từ đó, thấy được vị trí, ý nghĩa và giá trị của cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo

Về ý nghĩa thực tiễn, ghi nhận cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực là một mỹ tục của Phật giáo nhằm góp phần truyền bá, gìn giữ các giá trị nhân văn của đạo Phật Đây cũng là cơ sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu phát triển đề tài này về sau

7 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục công trình đã công bố, Phụ lục, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề về lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Đặc điểm lễ cúng cô hồn nhìn từ nghi thức Mông Sơn thí thực tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Vai trò, ý nghĩa và giá trị của lễ cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực trong đời sống văn hóa của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 24

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Những vấn đề lý luận

1.1.1 Các khái niệm, tín niệm sử dụng trong nghiên cứu

- Cô hồn, ngạ quỷ, ngã quỷ

Từ điển tiếng Việt định nghĩa cô hồn là “Hồn người chết không có họ hàng thân thích thờ cúng” (GS Hoàng Phê, 2018, tr.255)

Sách Nhị khóa hiệp giải chép “Cô hồn: Không người thân để nương nhờ, không

kẻ sơ để bè bạn, sa mãi nơi tối tăm, sống hoài trong cõi người, mắc báo không biết quanh lánh, chịu khổ không ai cứu vớt, nết xấu không vẻ trang nghiêm, trải kiếp thường côi quạnh, nên nói là cô hồn” (Hòa thượng Thích Khánh Anh, 1991, tr.481)

“Ngạ quỷ là những loài quỷ đói khát đi lang thang không nơi nương tựa Và cũng không có ai cúng thí cho ăn Kinh diễn tả các loài này, bụng to như cái trống, cổ họng nhỏ như cây kim Đó là lòng tham lam bỏn xẻn, keo kiết” (Thích Phước Thái, 2012, tr.14)

“Ngã quỷ: loài quỷ thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn” (Thích Quảng Độ, dịch 2000, quyển 3, tr.3243)

Ngạ quỷ được miêu tả trong kinh Phật thuyết thí ngạ quỷ cam lộ vị đại đà la ni như sau: “Do ác nghiệp sâu nặng mà cảm ra quả báo đói khát bừng lửa, ganh ghét hừng hực, thường tham uống ăn, chỉ nghĩ nước uống, ngoài ra không biết, khổ đau thảm thiết, không nói nên lời Cảm báo ra cái thân như đống lửa lớn, thân lượng dù nhỏ dù lớn đều là gầy gò tiều tụy, tay chân yếu ớt, chân như cái chậu nứt vỡ, da thịt khô khan, mạch máu cằn cỗi, giống như trái cây khô héo, bụng phình lớn như cái trống, cuống họng như mũi kim, hơi thở không thông, thường có lửa dữ đốt cháy bên trong, đầu lâu ngang dọc năm núi Di Lâu, lửa dữ hừng cháy chưa từng tạm nghỉ Khi thân di động, lửa cháy toàn thân, làm cho đói khát, lửa lớn thiêu đốt bức bách thân tâm, đông tây

Trang 25

chạy đuổi, hú hí kêu gọi tìm kiếm thức ăn Giả thử thấy đồ ăn ngon, muốn chạy đến lấy, nhưng do nghiệp lực tham giận khiến cho vị ngon tuyệt diệu biến thành máu mủ hôi thối chảy tràn Tuy thấy sông lớn hay nước suối mát ngọt, muốn qua lấy uống, thì

bị các thủy thần dùng gậy sắt đánh đuổi” (Đại chánh tân tu đại tạng kinh, số 1321)

Có thể nói ngạ quỷ hay ngã quỷ đều là một, chỉ khác ở tên gọi do cách dịch của từng tác giả khác nhau chứ nội hàm diễn giải ra vẫn như nhau Còn cô hồn hay ngạ quỷ

có điểm chung là đói khát, chịu khổ, không người cứu vớt, nguyên nhân mắc lấy báo khổ do tạo ác nghiệp từ nhiều đời trước

Nghi thức Mông Sơn thí thực

“Nghi là một hình thức được biểu lộ ra bên ngoài Thức là một quy tắc hay cách thức đã được quy định sẵn, mà chúng ta cần phải noi theo cho đúng pháp trong khi hành lễ” (Thích Phước Thái, 2012, tr.18)

Trong tất cả các buổi lễ của Phật giáo Bắc truyền đều có phần nghi thức để chuẩn hóa hành động của tất cả mọi người trong việc tham gia buổi lễ để làm sao cho tổng thể được trang trọng, trang nghiêm

Mông Sơn là một ngọn núi ở phía Tây huyện Danh Sơn, châu Nhã An, thuộc tỉnh

Tứ Xuyên, Trung Quốc Đây là nơi ngài Bất Động pháp sư trụ xứ, tu tập và soạn ra Nghi thức Mông Sơn thí thực

Thí nói đủ là bố thí Bao gồm ba nghĩa: tư sanh thí hay tài thí là cho đi những tài sản của cá nhân; pháp thí là đem lời dạy của Phật mà ban bố cho mọi người; vô úy thí

là ban bố sự không sợ hãi cho mọi người, mọi loài Thực hiểu đơn giản là thức ăn, là những gì mọi loài ăn để có thể sinh tồn “Thí thực: đem bố thí thức ăn uống cho người khác” (Thích Quảng Độ, dịch 2000, quyển 5, tr 5689) Như vậy thí thực là bố thí thức

ăn, trong đó bao gồm ý nghĩa thức ăn vật chất và thức ăn về mặt tinh thần

Như vậy, theo Phật giáo Nghi thức Mông Sơn thí thực là một hình thức, quy cách được ngài Kim Cang Bất Động pháp sư soạn ra để nhằm bố thí thức ăn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần cho cô hồn, ngạ quỷ

Trang 26

Phật giáo Bắc truyền

Hiện tại có rất nhiều cách hiểu về Phật giáo Bắc truyền nhưng chúng tôi chỉ đưa

ra đây cách hiểu mà chúng tôi thấy phù hợp với đề tài và hoàn toàn không có ý phân biệt tông phái

Phật giáo được truyền bá rộng rãi ra khỏi đất nước Ấn Độ cổ đại theo hai hướng chính “…Nhánh đi về phương Nam, đến các nước như Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào v.v… Nhánh này gọi là Phật giáo Nam tông, Nam truyền, hay Nam phương Nhánh này thường được gọi là Phật giáo nguyên thủy (hay Phật giáo Theravada), dựa vào những kinh Phật chữ Pàli, cho nên cũng còn được gọi là nhánh Phật giáo Pàli… Nhánh Phật giáo phát triển lên phương Bắc đến các nước ở Trung Á, Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, gọi là Phật giáo Bắc tông, Bắc phương, hay Bắc truyền Nhánh Phật giáo này dựa vào những kinh sách Phật bằng chữ Sanskrit, cho nên cũng gọi là Phật giáo Sanskrit” (Hoa Linh Thoại, Từ điển Phật học online, mục từ Bắc tông)

Tại Việt Nam tồn tại đồng thời hai truyền thống Phật giáo trên và Nghi thức Mông Sơn thí thực nằm trong hệ thống các nghi thức lễ cúng của Phật giáo Bắc truyền xét theo dòng truyền thừa theo con đường địa lý như trên Ở đây chúng tôi không đề cập tới Phật giáo Bắc truyền nhưng theo trường phái Tây Tạng vì trường phái này có những đặc trưng khu biệt riêng4

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận

Lý thuyết chức năng (Functionalism)

Lý thuyết chức năng hay còn gọi là thuyết chức năng-cấu trúc hay thuyết cấu trúc chức năng gắn liền với tên tuổi của hàng loạt các nhà Xã hội học nổi tiếng như Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto (1848-1932),

4 Phần này đã được chúng tôi công bố trong bài tham luận “Cúng cô hồn qua nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh” đăng trong quyển Một số vấn đề Khoa học Xã hội và Nhân văn (Hội thảo khoa học Sau đại học năm 2018) trang 465, xuất bản năm 2019, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh, có chỉ số ISBN: 9786047366224 Nay chúng tôi đưa vào luận văn này nhưng có chỉnh sửa và bổ sung

Trang 27

Athur Radcliffe-Brown (1881-1955), Bronislaw Malinowski (1884-1942), Talcott Parsons (1902-1979), Robert Merton (1910-2003), Peter Blau (1918-2002) và nhiều nhà khoa học khác

Trong khuôn khổ nội dung của luận văn này, chúng tôi vận dụng quan điểm của Bronislaw Malinowski (1884-1942) để phục vụ cho quá trình nghiên cứu “Bronislaw Malinowski là người đầu tiên vận dụng khái niệm chức năng vào nghiên cứu các nhu cầu và chức năng tâm lý của các cá nhân” (Lê Ngọc Hùng, 2002, tr.198)

Malinowski đã nghiên cứu về việc sử dụng ma thuật và nghi lễ tôn giáo trong các hoạt động đánh bắt cá của người Melanesian sống ở khu vực quần đảo Trobriand

và đưa ra kết luận: “Vấn đề quan trọng nhất là ở chỗ đối với việc đánh bắt cá ở phá, khi con người hoàn toàn dựa vào kiến thức và kỹ năng của mình, ma thuật không tồn tại, trong khi đối với việc đánh bắt cá ngoài khơi, đầy nguy hiểm và bất trắc, người ta sử dụng một hệ thống nghi lễ ma thuật với phạm vi rộng lớn để đảm bảo an toàn và kết quả cao… Họ vẫn bám lấy ma thuật mỗi khi họ nhận ra sự bất lực về lý trí của họ trong kiến thức và kỹ thuật” (Bronislaw Malinowski, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2006, tr.159, 161)

Theo Malinowski “con người trong mọi xã hội đều phải đối mặt với những lo lắng và không chắc chắn đến từ những hiện tượng như thiên tai, ốm đau, tai nạn mà họ không có đủ kiến thức để giải thích và kiểm soát Do đó tôn giáo như là một giải pháp

để giảm sự lo lắng và không chắc chắn Tôn giáo khiến cho con người tin rằng cái chết

không có thật hay không phải là kết thúc” (Tùng Nguyên, Tôn giáo dưới góc nhìn của Nhân học)

“Các cá nhân theo tôn giáo đó cảm thấy có sức mạnh và tìm cách vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho dù nhiều khi cách thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần, ý thức Nhờ tôn giáo mà họ có đức tin, có niềm tin vào một sức mạnh vô hình, siêu tự nhiên” (Phạm Minh Anh, 2016, tr.113)

Trang 28

Từ việc tham khảo và dựa vào quan điểm trên của Bronislaw Malinowski chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của việc cúng cô hồn và chức năng của cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền trong đời sống văn hóa tâm linh của các tín đồ Phật giáo Chúng tôi dựa trên kết quả phỏng vấn, kết quả khảo sát để chỉ ra có sự lựa chọn cúng cô hồn theo nghi thức Mông Sơn thí thực để tìm bình an, hoá giải các bất trắc, các câu chuyện tâm linh, ma quỷ mà các tín đồ Phật giáo gặp phải trong cuộc sống

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trực thuộc trung ương nằm ở khu vực Đông Nam Bộ “Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 100 10' –

100 38’ vĩ độ Bắc và 1060 22' – 1060 54' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Với tổng diện tích hơn 2.095 km2, thành phố được phân chia thành 19 quận và 5 huyện với 322 phường-xã, thị trấn” (Cổng thông tin điện tử Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh, 2020)

Trang 29

Hình 1.1 Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh Nguồn: Google Maps (Truy cập ngày

08/5/2020)

Khí hậu

Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh mang tính chất cận xích đạo nên nhiệt độ cao

và khá ổn định trong năm Số giờ nắng trung bình tháng đạt từ 160 đến 270 giờ Độ ẩm không khí trung bình 79,5% Nhiệt độ trung bình năm là 27,55°C (tháng nóng nhất là tháng 4, nhiệt độ khoảng 29,3°C - 35°C) Thành phố Hồ Chí Minh có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm là 1.979 mm Số ngày mưa trung bình năm là 159 ngày (Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020)

Địa hình

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam

Trang 30

và từ Ðông sang Tây Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt (Tổng hợp từ Mạng Thông tin tích hợp trên Internet của Thành phố Hồ Chí Minh, 2011)

Nguồn nước và thủy văn

Về nguồn nước, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai-Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát triển Thành phố Hồ Chí Minh có hai trục sông chính là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Ngoài ra còn có hệ thống kênh rạch chằng chịt bắt nguồn từ hai trục sông chính Về thủy văn, hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông (Tổng hợp từ Cổng Thông tin điện tử Chính Phủ Thành phố Hồ Chí Minh, 2011)

Dân số

Theo kết quả điều tra dân số năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 8.598,7 nghìn người với mật độ dân số khoảng 4.171 người/km2 (Tổng cục Thống kê, 2019) Trong dân số thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh đã có đại diện của gần 50 tộc người trên tổng số 54 tộc người trong nước, trong đó đông nhất là người Việt, kế đó

là người Hoa, người Chăm, người Khmer v.v… Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, có: 89,91% là người Việt; 9,8% là người Hoa; 0,09% là người Chăm; 0,07% là người Khmer; 0,13% là các tộc người khác (gồm người Tày: 0,02%, người Mường: 0,01% v.v…) (Tổng hợp từ Mạng Thông tin tích hợp trên Internet của Thành phố Hồ Chí Minh, 2011)

Trang 31

Nam Bộ đều nằm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.113)

Những phát hiện khảo cổ trước giải phóng và sau giải phóng tại các di chỉ có thể

kể là Đồn Cây Mai, Khám Lớn Sài Gòn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh), Thảo Cầm Viên, nhà in Giáo Đoàn Tân Định, Bàu Ông Bụng, chùa Hội Sơn, Bến Đò v.v đã cho thấy dấu ấn của con người thời tiền sử trên mảnh đất này

“Con người đã từng có mặt trên địa bàn Thành phố này vào những thời kỳ khá

xa xưa, và ở nhiều thời điểm tiền sử khác nhau” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.38)

Tuy nhiên, những bằng chứng về khảo cổ học trên địa bàn thành phố cũng chỉ

đủ chứng minh có sự xuất hiện của con người thông qua niên đại của các bộ sưu tập khảo cổ từ đá cũ, đá mới đến kim khí nhưng chưa đủ để phác họa được toàn bộ bức trang tiền sử ở vùng đất này

Vùng đất nay là Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh 10 thế kỷ đầu Công nguyên

Với vị trí địa lý tự nhiên là vùng chuyển tiếp giữa hai vùng địa lý-địa chất khác nhau giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã tạo nên một vai trò hết sức quan

trọng của vùng đất nay là Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh trong 10 thế kỷ đầu Công

nguyên

“Đây cũng là vùng đất bản lề giữa hai loại hình di tích văn hóa Óc Eo vùng cao

ở Lâm Đồng, miền Đông Nam Bộ và văn hóa Óc Eo vùng thấp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.144)

Gia Định nằm trong vùng đất của vương quốc Phù Nam được hình thành vào đầu Công nguyên Sau đó, Chân Lạp thôn tính Phù Nam mở ra giai đoạn mở đầu của Chân Lạp (550-630) và là tiền đề cho giai đoạn Chân Lạp tiền Angkor (635-685)

Trang 32

Do mâu thuẫn và suy yếu của chế độ phong kiến mà Chân Lạp bị phân chia thành hai miền Lục Chân Lạp tức vùng đồi núi phía Bắc và vùng Thủy Chân Lạp tức vùng đầm lầy có biển bao quanh vào đầu thế kỷ VIII

Đến đầu thế kỷ IX, hoàng tử Chân Lạp thống nhất Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp để đi tới sáng lập ra vương triều Angkor vào năm 802

Từ những lược sử trên có thể đi tới nhận định sau: “Ở trong vùng phát triển của văn hóa Óc Eo, Gia Định đã là chứng nhân của cuộc chinh phục thôn tính Phù Nam của Chân Lạp vào giữa thế kỷ VI và thời kỳ hình thành của nước Chân Lạp tiền Angkor vào thế kỷ VII, sự tranh chấp giữa Thủy và Lục Chân Lạp, giữa Java và Chân Lạp, cũng như những cuộc tấn công của Java vào Giao Châu và Champa vào các thế kỷ VIII và IX” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.144)

Sài Gòn từ thế kỷ XVII đến năm 1859

Chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược năm 1698

Sự kiện này đánh dấu việc cai trị và chủ quyền của chúa Nguyễn ở vùng đất phía Nam, trong đó có Gia Định

Tuy nhiên, trước đó lưu dân Việt Nam đã tự do đến vùng đất này sinh sống, khai hoang lập ấp trong tinh thần tự quản Theo các tài liệu cổ thì có lẽ trước cả các lưu dân Việt Nam thì hai dân tộc Xtiêng và Mạ là những cư dân sinh sống trên mảnh đất này

“Khi nước Phù Nam chấp nhận văn minh Ấn Độ khởi xuất từ vùng Thất Sơn tới đồi Ba Nam thì các dân tộc Xtiêng và Mạ (có lẽ cả Mnông và Cơho nữa) đã cư trú ở Đồng bằng Nam Bộ rồi” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.226)

Về dấu mốc người Việt có mặt trên vùng đất Gia Định có lẽ là từ trước sự kiện Chúa Nguyễn cử Vũ Yến Hầu Nguyễn Phước Yến đem quân đi tuần Mô Xoài (tức Bà Rịa) vào tháng 9 năm Mậu Tuất (1658)

“Dân Việt Nam đã vào Mô Xoài từ đời các ‘tiên hoàng đế’ tức Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635), Nguyễn Phước Lan (1635-1648)

Trang 33

chớ không phải họ theo sau đạo quân của Nguyễn Phước Yến vào Mô Xoài năm 1658” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, 2018, tập 1, tr.231)

Đồng thời, một số bằng chứng lịch sử khác cũng chỉ ra người Việt từng lập làng

ở Nam Vang và ở Ayuthia, kinh đô Xiêm La lúc bấy giờ

Từ những dữ kiện trên “có thể phỏng đoán là lưu dân Việt Nam đã tự động đến làm ăn sinh sống trên một số địa điểm thuận lợi thuộc lưu vực các sông Đồng Nai, Mê Kông, Mê Nam từ đầu thế kỷ XVII hay từ thế kỷ XVI rồi” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 1, tr.233)

Trong những năm từ 1698 đến 1801 Sài Gòn trở thành địa bàn cai quản thay phiên nhau giữa Chúa Nguyễn và Tây Sơn bằng nhiều trận đánh Cho đến năm 1790, Nguyễn Ánh hạ lệnh xây dựng thành Bát Quái lập Gia Định kinh thì từ đây đánh dấu mốc trong sự phát triển vượt bậc của Sài Gòn

Đến cuối thế kỷ XVIII, Sài Gòn là đại đô hội có vị trí địa lý chiến lược, là một trung tâm thương mại lớn, là một trung tâm công nghiệp quan trọng, là nơi tiếp thu kỹ thuật phương Tây sớm nhất và là một trung tâm văn hóa của vùng

“Sài Gòn sẽ mất vai trò kinh đô (dời về Huế) nhưng vẫn giữ vững và phát triển vai trò trung tâm kinh tế, cai trị và chiến lược trọng yếu” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 1, tr.290) Và đó cũng là vai trò của Sài Gòn dưới triều Nguyễn những năm 1801 đến 1859

Sài Gòn từ năm 1859 đến 1975

Tháng 8 năm 1958 quân Pháp nhanh chóng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu cho công cuộc xâm lược Việt Nam Tháng 2 năm 1859 quân Pháp nổ súng chiếm Sài Gòn nhưng gặp nhiều khó khăn

Ngày 23 tháng 2 năm 1861 quân Pháp chiếm được Đại đồn Chí Hòa Kể từ đó Pháp xây dựng bộ máy thống trị thực dân tại Sài Gòn và biến Sài Gòn thành căn cứ chuẩn bị xâm lược Bắc và Trung Việt Nam

Trang 34

Mặc dù là bị xâm lược, bị thống trị bởi thực dân nhưng trong giai đoạn này Sài Gòn lại trở thành trung tâm kinh tế quan trọng nhất của Nam Kỳ Bên cạnh việc trở thành trung tâm kinh tế, về mặt văn hóa, chữ quốc ngữ phổ biến ở Sài Gòn, xuất hiện những tờ báo quốc ngữ đầu tiên

Tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chính Pháp, đặt Sài Gòn dưới ách thống trị hai đế quốc Đến tháng 8 Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh Sài Gòn rục rịch chuẩn bị khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ đến đêm 24 tháng 8 thì thành công

Tuy nhiên, một tháng sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Sài Gòn lại bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại xâm lược Cuộc chiến này kéo dài trong chín năm

từ 1945 đến 1954

Đến năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết đánh dấu sự thất bại của Pháp ở Việt Nam “Hiệp định Genève được ký kết thì xem như Pháp đã cơ bản giao miền Nam Việt Nam cho Mỹ…” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 1, tr.499)

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị giết chết Sài Gòn tiếp tục bước vào giai đoạn chống chế độ Khánh và chế độ Thiệu

Năm 1968 đánh dấu Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân tại Sài Gòn “đã đánh đòn bất ngờ, làm cho địch choáng váng,… mở ra bước ngoặc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lịch sử 12, 2010, tr.177)

0 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu Đến 9 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 đài Phát thanh Sài Gòn phát tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh và bàn giao chính quyền cho quân cách mạng Sự kiện này kết thúc thời kỳ

bị xâm lược, bị chia cắt, bị thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới

ở Sài Gòn Đồng thời mở ra bước ngoặc mới cho lịch sử thành phố Sài Gòn-Chợ Gia Định

Lớn-Thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975 đến nay

Trang 35

Sau khi nhiệm vụ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước hoàn thành, nhân dân Sài Gòn cùng nhân dân cả nước bắt tay vào tái thiết đất nước và xây dựng cuộc sống mới hậu chiến tranh

Ngày 15 tháng 11 năm 1975 tại dinh Thống Nhất đã diễn ra Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc Đến ngày 25 tháng 4 năm 1976 là cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên sau ngày giải phóng Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung

Ngày 02 tháng 7 năm 1976, Quốc hội Việt Nam chính thức dành cho Sài Gòn vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh trong hai kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1976-1980) và kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1981-1985) đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và xây dựng, cải tạo xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Thành phố phải đối mặt với không ít khó khăn, ách tắc, đình đốn do

cơ chế quản lý lỗi thời gây ra

Trước những tình hình khó khăn không chỉ ở Thành phố Hồ Chí Minh mà còn diễn ra trên khắp cả nước, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới Kể từ đó, theo đường lối đổi mới của Đảng, Thành phố Hồ Chí Minh cùng với cả nước chuyển mạnh nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Từng bước giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về văn hóa-xã hội trong kinh tế thị trường

Đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gần 35 năm, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sống trong hòa bình, độc lập đã 45 năm Trong quá trình đó, Thành phố đạt được nhiều thành tựu to lớn, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương có vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung Về tầm vóc thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh có tên trong danh sách các thành phố năng động bậc nhất hành tinh theo báo cáo Chỉ số Thành phố năng động toàn cầu của Jones Lang LaSalle (JLL) năm 2020 (T.Chí, Báo Lao Động online, ngày 23/01/2020)

Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 36

Các nhà khảo cổ học dựa trên những di chỉ, di vật khai quật được trong và ngoài phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh được một phần tư tưởng và đời sống tinh thần của những người, nhóm người, vương quốc, thời đại từng tồn tại trên mảnh đất này được hình thành khá sớm

“Ấn Độ giáo và Phật giáo du nhập châu thổ sông Cửu Long vào những thế kỷ đầu Công nguyên… Ở Phù Nam cùng với Ấn Độ giáo, Phật giáo đã phát triển khá mạnh, rộng khắp trên châu thổ sông Cửu Long Nhiều tượng Phật bằng gỗ, đá và đồng

có niên đại từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VII đã được tìm thấy trong các di chỉ văn hóa Óc Eo” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 4, tr.46, 52)

Những di vật và di chỉ khảo cổ phát hiện được đã chứng minh được từng bước phát triển của cộng đồng cư dân tại châu thổ sông Cửu Long trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay

"Đây là nơi giao tiếp của hai nền văn minh lớn khác nhau của châu Á: Ấn Độ và Trung Hoa, và cũng là điểm gặp gỡ giữa hai thế giới phương Đông và phương Tây vào thời cổ đại” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 4, tr.68, 69)

Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh với cơ cấu dân số đa dạng, trong đó

sự hỗn dung về cư dân bản địa và lưu dân từ nhiều nơi đã hình thành hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng

“Như vậy là cho đến những năm giữa thế kỷ XX, cơ cấu tín ngưỡng dân gian Gia Định-Sài Gòn đã trở thành một tập hợp đa tạp, trong đó chứa cả những thành tố của tín ngưỡng Chiêm Thành, Khmer, Hoa, Ấn Độ lẫn những thành tố của Đạo giáo, Phật giáo và những thành tố có nguồn gốc từ Nho-Phật-Lão được các ‘tôn giáo cứu thế’ cải biên” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 4, tr.101)

Trong các tín ngưỡng, tôn giáo đã từng hiện hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh thì Nho giáo, Phật giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo là có sức ảnh hưởng đối với cộng đồng cư dân nhất

Nho giáo

Trang 37

Nho giáo đã đóng góp một vai trò quan trọng trong quá trình mở mang và bảo

vệ đất nước của cộng đồng người Việt ở Gia Định từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX

“Có thể nói chính lực lượng nông dân-tầng lớp bị trị người Việt đã đem Nho giáo vào Nam Bộ, và tại đây nó đã phát triển như một yếu tố nội tại, một bộ phận cấu thành trong thiết chế văn hóa-tổ chức xã hội chính thức của cộng đồng Việt Nam ở địa phương” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 4, tr 321)

Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan mà Nho giáo ở Gia Định “đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ cùng với sự suy tàn của quốc gia phong kiến Việt Nam” (Cao Tự Thanh, 1998, tr.314)

Thiên Chúa giáo

Dấu vết đầu tiên cho thấy sự hiện diện của người theo Thiên Chúa giáo tại Nam

Bộ phải kể tới sự kiện hai giáo sĩ thuộc Hội thừa sai nước ngoài Paris là Chevreuil và Hainques được cử tới hoạt động tại Đàng Trong vào thế kỷ XVII Trong quá trình dừng chân tại Nam Bộ hai giáo sĩ đã gặp gỡ một số tín đồ Thiên Chúa giáo sống rải rác tại đây

Sự kiện Pháp đánh chiếm Sài Gòn và Lục tỉnh Nam Kỳ đã làm tăng thêm số tín

đồ Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung Nhiều họ đạo mọc lên dưới “cái bóng” yên ổn của quân viễn chinh Pháp

“Nhưng sự gia tăng lớn số tín đồ Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn và Nam Bộ chỉ diễn ra từ khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp năm 1954” (Giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, 2018, tập 4, tr.463)

Trong các phong trào yêu nước, lật đổ chính quyền cũ có sự tham gia của các tín

đồ Thiên Chúa giáo vì độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho toàn dân

Hồi giáo

Người Chăm tiếp nhận Hồi giáo trước khi cộng đồng người Chăm trở thành một phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hiện nay, người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh sống tụ cư và cũng có một số gia đình tín đồ Hồi giáo Việt-Chăm

Trang 38

Mặc dù có số lượng tín đồ không nhiều nhưng những nét văn hóa, đặc trưng trong sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng tín đồ Hồi giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh góp phần vào sự phong phú trong sinh hoạt tôn giáo cũng như đời sống tinh thần của cư dân thành phố

Phật giáo

Trong tiến trình khai phá vùng đất Nam Bộ, các lưu dân ngoài việc đem theo tài sản, kinh nghiệm sản xuất thì họ cũng mang theo Phật giáo nhằm đáp ứng các nhu cầu tâm linh ở vùng đất mới

Phật giáo tại đất Sài Gòn-Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua các giai đoạn tạo lập, truyền bá, phát triển dưới thời các Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn; dưới thời Pháp có các giai đoạn tiền chấn hưng, chấn hưng và thời kỳ chống Pháp với hoạt động vừa tu học vừa đồng hành cùng dân tộc đánh đuổi ngoại xâm; dưới thời Mỹ bị đàn áp nặng nề bởi chính quyền của Ngô Đình Diệm; và sau ngày thống nhất đất nước cũng là giai đoạn Phật giáo thống nhất với sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981

Hiện nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh có hầu hết các tông phái Phật giáo có mặt tại Việt Nam như Phật giáo Bắc tông, Nam tông, Nam tông Khmer, Khất sĩ, Hoa tông, Thiền phái Trúc Lâm

Thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử hình thành và phát triển hơn 3 thế kỷ nên là vùng đất mới, nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế-văn hóa lớn của không chỉ vùng Nam Bộ mà còn là của cả nước Chính vị thế trung tâm đó mà ở Thành phố Hồ Chí Minh luôn có đầy đủ các sắc thái của tôn giáo trong đó có đạo Phật

Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng chùa nhiều nhất nhì cả nước, trong đó các tự viện Bắc truyền chiếm số lượng nhiều hơn hết các tự viện thuộc các hệ phái khác Đây

là mảnh đất màu mỡ cho các nghi lễ Bắc truyền phát triển mạnh mẽ đặc biệt là cúng cô

Trang 39

hồn luôn được chú trọng không chỉ trong nội bộ các tự viện mà còn trong các tín đồ Phật tử

Tóm lại, Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn thuận tiện cho nghiên cứu về cúng cô hồn bằng nghi thức Mông Sơn thí thực của Phật giáo Bắc truyền vì là một trung tâm văn hóa lớn, nhiều tự viện Bắc truyền còn thực hành nghi lễ này và tính cách con người cởi mở dễ tiếp nhận cái mới nên quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa diễn ra khá mạnh

mẽ làm cho nghi thức này thay đổi nhanh chóng cần được nhìn nhận và đánh giá kịp thời Đồng thời, nhu cầu cúng kiến, cầu nguyện và tìm kiếm sự bình an luôn thường trực trong đại bộ phận người Việt cho nên đó cũng là một trong những lý do giúp cho nghi thức Mông Sơn thí thực có thể phát triển ở Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.2 Khái quát Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên Từ đó cho đến nay Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc và theo bước chân di cư của con người

đi dần vào phía Nam Việt Nam Trong đó điểm dừng chân tại Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh đã khiến cho Phật giáo tại đây như gặp “thiên thời địa lợi” nên phát triển nhanh chóng, khiến cho vùng đất Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm Phật giáo lớn của vùng Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung

Sự kiện Trịnh-Nguyễn phân tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước làm Đàng Trong và Đàng Ngoài có lẽ là dấu mốc cho sự có mặt của Phật giáo tại Nam

Bộ nói chung Và Phật giáo Bắc truyền có lẽ cũng xuất hiện theo đó khi đợt di dân đầu tiên vào “năm 1698 do Chúa Nguyễn Phúc Châu sai Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh

đi kinh lý phương Nam để mở rộng đất đai, lập ra huyện Phước Long và huyện Tân Bình rồi chiêu mộ dân từ Hoành Sơn, Thuận Quảng trở vào đến làm ăn lập nghiệp” (Thân Ngọc Anh, 2011, tr.69)

Những đoàn người theo chân Nguyễn Hữu Cảnh đi khai khẩn ấy đã gặp phải nhiều trắc trở, tai ương ở vùng đất còn quá xa lạ với họ nên luôn có những nhu cầu tâm

Trang 40

linh cấp thiết Phật giáo đã đáp ứng được những nhu cầu tâm linh, làm cho những người con xa quê hương bớt phần hiu quạnh và an tâm hơn ở vùng đất mới Kể từ đó Phật giáo đã đặt được dấu mốc đầu tiên trên đất Gia Định xưa và gặp được sự ủng hộ của các đời chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn mà Phật giáo đã phát triển rất tích cực

“Sang thời Nguyễn, chùa chiền được tu bổ và xây dựng thêm nhiều… Riêng ở Gia Định, dưới thời Nguyễn đã xây dựng các chùa Từ Ân, chùa Pháp Vũ, chùa Hưng Long, chùa Giác Lâm…” (Trần Đức Cường chủ biên, 2017, tr.271)

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 cho đến nay, Phật giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh dần đi vào ổn định và có những dấu mốc phát triển quan trọng đóng góp vào sự phát triển chung của Phật giáo Việt Nam

Trong quá trình phát triển tại đây, Phật giáo đã chia thành ba hệ phái lớn là Phật giáo Bắc truyền (Bắc tông), Phật giáo Nam truyền (Nam tông) và hệ phái Khất sĩ (do ngài Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1944)

1.2.2.2 Đặc điểm Phật giáo Bắc truyền

Phật giáo Bắc truyền từ khi được truyền vào và được tiếp nhận tại Việt Nam đã

có nhiều sự thay đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa Nhìn chung, có thể nhận diện Phật giáo Bắc truyền tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các bình diện sau:

Về kinh điển, Phật giáo Bắc truyền chủ yếu sử dụng kinh điển Bắc Phạn (tiếng Sanskrit) được dịch ra Hán tạng (tiếng Hán) về sau này các nhà sư Việt Nam đã dày công phiên dịch ra Hán Việt và một số hiện nay đã phiên dịch ra tiếng Việt

Về giới luật, Phật giáo Bắc truyền chủ yếu thọ trì luật Tứ phần Trong đó, kheo phải giữ 250 giới, Tỳ-kheo-ni phải giữ 348 giới Ngoài ra còn có giới Bồ Tát dành cho cả hai hàng Tăng chúng (Hòa thượng Thích Thiện Hoa, 2011, quyển 1, tr.583)

Tỳ-Về y phục, giới xuất gia có y phục thường ngày là áo vạt hò màu lam hoặc màu nâu, khi ra đường thì mặc áo nhật bình màu nâu với Tỳ-kheo và màu lam với Tỳ-kheo-

ni Khi hành lễ sẽ mặc áo hậu màu hoại sắc (thường là màu vàng đất) đối với Tỳ-kheo,

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phụ lục 1: Các hình ảnh trong quá trình thực hiện đề tài 2. Phụ lục 2: Biên bản phỏng vấn Khác
4. Phụ lục 4: Tổng hợp kết quả khảo sát 5. Phụ lục 5: Bản hỏi phỏng vấn sâu Khác
6. Phụ lục 6: Toàn văn nghi thức Mông Sơn thí thực Khác
7. Phụ lục 7: Công văn 031/CV-HĐTS của Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Khác
8. Phụ lục 8: Chú thích các thuật ngữ sử dụng trong luận văn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm