VHCV còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, kỷ cương và dân chủ, chống lại những hành vi vi phạm pháp luật và suy thoái đạo đức như tham ô, lãng phí, qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN HUỲNH MINH TRÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA CÔNG VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã ngành: 8229040
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN HUỲNH MINH TRÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA CÔNG VỤ
Luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học
Mã ngành: 8229040
Người hướng dẫn khoa học:
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2020
Trang 3Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trương Văn Minh - người thầy trực tiếp và tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình tôi hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn quý Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các đồng nghiệp thuộc Sở Nội vụ, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy đã tạo điều kiện, hỗ trợ cho tôi trong hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Các anh, chị học viên Lớp Cao học Văn hóa K18B-Cần Thơ đã nhiệt tình trao đổi, góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ, tạo mọi điều kiện để tôi được hoàn thành khóa học
Xin trân trọng!
Cần Thơ, ngày 05 tháng 6 năm 2020
Trần Huỳnh Minh Trí
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, thống kê, kết quả được sử dụng trong luận văn là trung thực, nội dung được trích dẫn đầy đủ,
có nguồn gốc rõ ràng theo quy định
Tác giả
Trần Huỳnh Minh Trí
Trang 5Luật CBCC: Luật Cán bộ, công chức năm 2008
HĐND: Hội đồng nhân dân
VHCV: Văn hóa công vụ
Trang 6MỤC LỤC HÌNH
Hình 1.1 Các mối quan hệ cải cách hành chính 24
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà Lý 26
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê 28
Hình 2.1.Cơ cấu cấu ngạch công chức thành phố Cần Thơ 46
Hình 2.2.Cơ Cấu trình độ chuyên môn công chức thành phố Cần Thơ 47
Hình 2.3 Chỉ số hài lòng của người dân năm 2018 54
Hình 2.4 Mức độ hài lòng của người dân đối với cấp Sở năm 2018 55
Trang 7v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.1 Nhóm công trình về công vụ, công chức 2
3.2 Công trình về văn hoá công vụ 4
3.3 Nhóm công trình cải cách hành chính 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Lý thuyết cơ sở nghiên cứu 8
7 Bố cục và nội dung đề tài 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.1.1 Văn hóa 10
1.1.1.2 Công vụ, công chức 11
1.1.1.3 Cải cách cải hành chính 15
1.1.1.4 Văn hóa công vụ 16
1.1.1.5 Đạo đức công vụ và trách nhiệm công vụ 18
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động công vụ 20
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động 20
1.1.2.2 Nguồn lực thực hiện 22
1.1.2.3 Nguyên tắc hoạt động 23
1.1.3 Mối quan hệ giữa cải cách hành chính với ý thức trách nhiệm – đạo đức công vụ và văn hóa công vụ 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Khái quát về các hình thức và bộ máy hành chính công quyền Việt Nam qua các thời kỳ tự chủ (từ thế kỷ thứ X cho đến nay) 25
Trang 81.2.1.1 Hành chính công quyền Việt Nam từ năm 939 đến năm 1884 25
1.2.1.2 Tổ chức chính quyền Việt nam từ năm 1946 đến nay (ngoại trừ chính quyền miền Nam trước năm 1975) 31
1.2.2 Khái quát mục tiêu cải cách hành chính nhà nước từ năm 1986 đến nay 35
1.2.2.2 Cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2016, định hướng đến năm 2020 37
1.2.3 Khái quát về thành phố Cần Thơ trong tiến trình lịch sử hành hình công vụ Việt Nam (ngoại trừ chính quyền thời kỳ Pháp thuộc và miền Nam trước năm 1975) 38
1.2.3.1 Cần Thơ với vai trò là đơn vị hành chính qua các thời kỳ 38
1.2.3.2 Giới thiệu sơ lược về tổ chức bộ máy hành chính Cần Thơ hiện nay 39
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI Ý THỨC CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VÀ VĂN HÓA CÔNG VỤ 43
2.1 Tổng quan về đội ngũ công chức trên địa bàn thành phố Cần Thơ 43
2.1.1 Các quy định hiện hành của thành phố Cần Thơ về công chức và công vụ 43
2.1.2 Thực trạng cơ cấu đội ngũ công chức thành phố Cần Thơ 45
2.1.2.1 Cơ cấu công chức theo ngạch 45
2.1.2.2 Cơ cấu công chức theo vị trí việc làm 46
2.1.3 Đánh giá thực trạng công chức thành phố Cần Thơ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở khía cạnh trách nhiệm công vụ 48
2.1.3.1 Những kết quả đạt được 48
2.1.3.2 Những khó khăn còn tồn tại 49
2.2 Khía cạnh văn hóa công vụ trong cải cách hành chính ở thành phố Cần Thơ 52
2.2.1 Những mục tiêu hướng tới văn hóa công vụ 52
2.2.1.1 Hình thành tôn chỉ hoạt động của công sở hành chính 53
2.2.1.2 Thái độ phục vụ nhân dân của CBCC 55
2.2.2 Hình thành chuẩn mực trong văn hóa công vụ 57
Trang 9vii
2.2.2.1 Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của công chức 57
2.2.2.2 Chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công chức 58
2.3 Trách nhiệm công vụ của công chức thành phố Cần Thơ 59
2.3.1 Trách nhiệm với công việc được giao 59
2.3.2 Trách nhiệm con người và các mối quan hệ 61
2.3.3 Trách nhiệm của cấp lãnh đạo, quản lý 63
2.4 Đạo đức công vụ của công chức thành phố Cần Thơ 66
2.4.1 Các yếu tố cấu thành đạo đức công vụ 66
2.4.1.1 Đạo đức công vụ trước hết được hình thành từ đạo đức cá nhân của công chức 66
2.4.1.2 Đạo đức công vụ được hình thành từ đạo đức nghề nghiệp 66
2.4.1.3 Đạo đức công vụ hình thành trên cơ sở tổng hòa các giá trị 67
2.4.2 Các giai đoạn hình thành đạo đức công vụ 67
2.4.3 Các giá trị đạo đức cốt lõi của công chức thành phố Cần Thơ trong thi hành công vụ 69
2.4.3.1 Thái độ trung thực 69
2.4.3.2 Thái độ khách quan, công tâm, không thiên vị 71
2.4.3.3 Tinh thần minh bạch 71
2.5 Ưu điểm của chế độ công vụ ở một số quốc gia tiêu biểu và bài học kinh nghiệm cho thành phố Cần Thơ 73
2.5.1 Ưu điểm của chế độ công vụ ở một số quốc gia tiêu biểu 73
2.5.1.1 Singapore 73
2.5.1.2 Hàn Quốc 75
2.5.1.3 Nhật Bản 76
2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Cần Thơ từ chế độ công vụ của các nước tiêu biểu 79
Tiểu kết chương 2 80
CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC VĂN HÓA CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC THÀNH PHỐ CẦN THƠ 82
3.1 Tác động đến văn hóa công vụ từ cơ chế, chính sách trong công tác tuyển dụng, quản lý công chức 82
Trang 103.1.1 Công tác tuyển dụng 82
3.1.2 Công tác bố trí, sử dụng nguồn lực còn nhiều hạn chế 85
3.1.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa thật sự gắn kết với thực tiễn công tác 86
3.1.4 Chế độ, chính sách, đối sách đãi ngộ đối với công chức chưa phù hợp 88
3.2 Khuyến nghị một số giải pháp nâng cao ý thức công vụ 91
3.2.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 91
3.2.1.1 Xây dựng hệ thống giá trị văn hoá công vụ 91
3.3.1.2 Thay đổi nhận thức từ phục vụ nhà nước sang phục vụ nhân dân 94
3.2.2 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước 97
3.2.2.1 Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với VHCV và thực tiễn công cuộc CCHC 97
3.2.2.2 Thực hiện trách nhiệm giải trình của công chức trong hoạt động công vụ 99
3.3.3 Nâng cao chất lượng thực thi công vụ 100
3.3.3.1 Đổi mới công tác quản lý, tuyển dụng công chức 100
3.3.3.3 Xây dựng chế độ “dưỡng liêm” cho công chức 103
Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC viii
PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN, TỔ CHỨC viii
PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ xv
PHỤ LỤC 3 MỘT SỐ VỤ ÁN THAM NHŨNG TIÊU BIỂU CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ xviii
Trang 11- cho” hơn là lấy “nhân dân làm đối tượng phục vụ”…, phần nào ảnh hưởng đến yêu cầu cải cách công vụ của nhà nước và xây dựng nền hành chính hiện đại nói chung Nguyên nhân chủ yếu là chưa xây dựng, hoàn thiện nền công vụ có tính văn hóa trong đội ngũ CBCC và những yếu tố văn hóa không còn phù hợp trở thành rào cản trong suốt thời gian qua Cho nên, môi trường văn hóa, nhất là văn hóa công vụ (VHCV) tốt sẽ tạo được niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ CBCC và các tổ chức, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước VHCV còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, kỷ cương và dân chủ, chống lại những hành vi vi phạm pháp luật và suy thoái đạo đức như tham ô, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, cơ hội…
Từ việc tham khảo những công trình nghiên cứu và khảo sát thực tiễn công tác tại thành phố Cần Thơ, tôi nhận thấy muốn xây dựng một bộ máy hành chính lấy nhân dân làm đối tượng phục vụ, cốt yếu phải có được lực lượng CBCC, viên chức với công việc, tận tụy với nhân dân Để làm được điều đó, phải có một nền tảng văn hóa vững chắc và ưu việt trong môi trường công sở để nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động công vụ trong bộ máy hành chính nhà nước Chính vì thế, tôi chọn đề tài
Luận văn “Cải cách hành chính ở thành phố Cần Thơ hiện nay từ góc nhìn văn
hóa công vụ” để đánh giá thực trạng hiệu quả TTCV của đội ngũ CBCC tại Cần
Thơ xuất phát từ ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ, từ đó phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động công vụ và đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động công vụ của công chức, góp phần định hướng văn hóa trong các cơ quan hành chính nhà nước thành phố Cần Thơ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến VHCV, làm rõ nội hàm ý thức trách nhiệm công vụ (TNCV) và ý thức đạo
Trang 12đức công vụ (ĐĐCV) trong khái niệm VHCV; phân tích vai trò ý thức công vụ của công chức Cần Thơ trong tổng thể hoạt động của các cơ quan công quyền; phân tích, luận giải cơ sở hình thành ý thức công vụ, các nhân tố tác động đến ý thức công vụ; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng nền hành chính công vụ ở một số nước phát triển, nhất là công tác quản lý công chức để vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng Từ cơ sở lý luận
và thực trạng ghi nhận từ nghiên cứu, luận văn đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao ý thức TNCV và ĐĐCV của công chức Cần Thơ trong TTCV, góp phần đạt mục tiêu đề ra của Đề án VHCV của Thủ tướng Chính phủ là:
“Hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, xã hội” (Điều 1, Quyết định số 1847/QĐ-TTg)
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Nhóm công trình về công vụ, công chức
- Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Thị Thanh Thủy (2015), “Đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ”, phân tích thực trạng đánh giá công chức ở
Việt Nam hiện nay và kinh nghiệm đánh giá công chức của một số nước trên thế giới; đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả đánh giá công chức theo kết quả TTCV ở Việt Nam trong thời gian tới Ở nội dung công trình này, tôi đã tham khảo những thuận lợi, khó khăn trong công tác nhận xét, đánh giá kết quả TTCV hàng năm của cán bộ, công chức ở Việt Nam kể từ khi Quốc hội ban hành Luật CBCC cho đến nay Trên cơ sở đó, tôi đã rút kết một số đề xuất giải pháp nâng cao kết quả nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức, để hoàn thiện một số nội dung trong nghiên cứu của mình
- Công trình nghiên cứu của tác giả Cao Minh Công (2012), “Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay”, đã phân tích, làm rõ những
vấn đề liên quan đến TNCV và ĐĐCV công chức, rút ra những thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện Qua công trình, đã giúp tôi tìm hiểu một cách khái quát về hiệu quả TTCV của đội ngũ cán bộ, công chức trong suốt thời kỳ từ
Trang 133
năm 1986 cho đến nay, những khó khăn, hạn chế, thách thức trong việc kiện toàn, hoàn thiện tổ chức, bộ máy nhà nước mà Việt Nam từ khi mở cửa, hội nhập Cũng qua những giải pháp nâng cao TNCV và ĐĐCV của công trình nghiên cứu, tôi đã tiếp thu một số giải pháp có giá trị, mang tích thực tiễn cao, có thể cải tiến để vận dụng phù hợp với tình hình thực tế tại thành phố Cần Thơ, cũng như định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương tận tụy với công việc, tận tâm với nhân dân
- Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hải Yến (2017), “Pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay”, đã làm rõ thêm một số nội dung, đánh giá
thực trạng về chế độ công vụ theo vị trí việc làm trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện chế độ công vụ theo vị trí việc làm trong thời gian tới Qua công trình này, đã hỗ trợ tôi hệ thống lại tất cả những vấn đề có liên quan trong quá trình xây dựng vị trí việc làm công chức trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, cũng như phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong suốt quá trình xây dựng Đề án vị trí việc làm công chức của cơ quan nhà nước Từ đó, giúp tôi quy chiếu, so sánh, liên hệ thực tiễn công tác xây dựng Đề án vị trí việc làm công chức tại thành phố Cần Thơ trong mối tương quan với Việt Nam hiện nay
- Công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hồng Vân (2014) “Đạo đức công vụ trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” với nội dung nghiên cứu liên quan
đến ĐĐCV, pháp luật ĐĐCV, phân tích thực trạng ĐĐCV và nguyên nhân của nó
và đề xuất những phương pháp, phương hướng khoa học để hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao trách nhiệm ĐĐCV Ở công trình này, đã giúp tôi hệ thống lại những lý luận liên quan đến những khái niệm liên quan đến đạo đức công vụ, từ đó giúp tôi hoàn thiện và xây dựng khái niệm riêng về đạo đức công vụ trong nội hàm văn hóa công vụ trong đề tài nghiên cứu của mình
- Công trình nghiên cứu của ông Phạm Hồng Thái (2004) mang tên “Công
vụ, công chức nhà nước” khái quát khía cạnh pháp lý liên quan đến công vụ, công
chức và một số giải pháp xây dựng hoàn thiện công vụ, công chức nhà nước hiện nay Trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã tham khảo các khái niệm liên quan đến công vụ, công chức từ công trình nghiên cứu của ông Phạm Hồng Thái để xây
Trang 14dựng, hoàn thiện những khái niệm riêng về công vụ, công chức của mình phù hợp với góc nhìn văn hóa công vụ
3.2 Công trình về văn hoá công vụ
Để góp phần xây dựng triết lý văn hóa công vụ ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ khái niệm về VHCV, tiêu biểu là công trình nghiên
cứu“Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, do ông Huỳnh Văn Thới làm chủ
nhiệm đã xây dựng, xác định cụ thể nội hàm khái niệm VHCV, đưa ra một số tiêu chí đánh giá VHCV, đề cập các nhân tố ảnh hưởng đến VHCV của Việt Nam hiện nay Tôi đã tiếp thu một số khái niệm, triết lý liên quan đến văn hóa công vụ từ công trình nghiên cứu của ông Huỳnh Văn Thới, để đưa ra khái niệm riêng về VHCV của mình trong luận văn Đồng thời, tôi đã tham khảo hệ thống giá trị văn hóa công vụ của công trình nghiên cứu, để phân tích, đánh giá và xây dựng hệ thống giá trị, chuẩn mực của đội ngũ công chức của thành phố Cần Thơ trong quá trình thực thi công vụ
Trang 15“phục vụ nhà nước” sang “phục vụ người dân” Bên cạnh đó, tôi đã tiếp thu một số khó khăn trong công tác CCHC của Việt Nam trong thời gian qua, để làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tháo gỡ, khó khăn trong đề tài nghiên cứu của mình
Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc nhiều công trình nghiên cứu khác có đề cập những nội dung có liên quan đến ý thức công vụ của công chức Những công trình nêu trên tuy chưa đề cập cụ thể đến ý thức công
vụ của công chức Việt Nam từ góc nhìn văn hoá công vụ, cụ thể là ý thức công vụ của công chức thành phố Cần Thơ trong trong sự nghiệp cải cách công vụ với triết
lý văn hoá công vụ dẫn hướng, nhưng vẫn là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, giúp tôi có thêm tư liệu tham khảo, hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bộ máy hành chính của Việt Nam đã hình thành từ thế kỷ thứ X khi bắt đầu giai đoạn độc lập của đất nước cùng với sự ra đời của hình thái nhà nước quân chủ Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, bộ máy công quyền Việt Nam đã có nhiều thay đổi phù hợp với đặc điểm và tính chất của nhà nước theo từng giai đoạn để phục vụ cho những mục tiêu cụ thể của từng thể chế Bộ máy công quyền của thành phố Cần Thơ cũng đã tồn tại qua nhiều giai đoạn lịch sử và đến nay nằm trong hệ thống bộ máy công quyền Việt Nam thực hiện việc quản lý nhà nước tại địa phương Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng CCHC ở các
cơ quan hành chính nhà nước thành phố Cần Thơ thể hiện qua hai giá trị cốt lõi của
Trang 16văn hoá công vụ là ý thức TNCV và ý thức ĐĐCV (gọi chung là ý thức công vụ) của đội ngũ công chức
Tính hiệu quả hoạt động của nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của
bộ máy công quyền Để làm được như vậy, chủ thể vận hành bộ máy công quyền phải là đội ngũ công chức phải có ý thức TNCV và ý thức ĐĐCV kèm theo những quyền hạn rõ ràng, minh bạch và trả lương tương xứng với kết quả TTCV dựa trên trách nhiệm, quyền hạn được giao
Tuy nhiên ý thức công vụ của công chức Cần Thơ vẫn còn biểu hiện theo chiều hướng đi ngược lại những giá trị cốt lõi của văn hoá công vụ ở một số cá nhân
và đơn vị, làm cản trở quá trình CCHC và và xây dựng hệ thống giá trị văn hoá công vụ của đất nước trong đó có thành phố Cần Thơ Nghiên cứu ý thức công vụ của công chức Cần Thơ, từ đó phân tích những ưu điểm và khuyết điểm của đội ngũ
“công bộc”, khuyến nghị những giải pháp nâng cao ý thức công vụ của họ chính là
đi vào trọng tâm công cuộc CCHC với những đóng góp mang tính lý luận và thực tiễn cao
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống các văn bản, tài liệu về tổ chức
bộ máy nhà nước Việt Nam từ thời kỳ tự chủ (thế kỷ thứ X) cho đến nay Trong đó, tôi tập trung nghiên cứu từ thời điểm Luật Cán bộ, công chức 2008 có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2010) cho đến tháng 12 năm 2019
- Không gian nghiên cứu: Tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu lực lượng công chức của thành phố thường xuyên có mối liên hệ với nhau và có tiếp xúc nhiều với người dân ở một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Cần Thơ như: Sở
Y tế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tư pháp, Sở Công Thương, Sở Ngoại vụ… và các cơ quan công quyền địa phương tiêu biểu là Ủy ban nhân dân quận Ninh Kiều và Ủy ban nhân dân quận Bình Thủy
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, tôi thu thập và sử dụng nhiều nguồn tài liệu
từ sách, báo, các bài nghiên cứu có liên quan đến văn hoá công vụ, cùng nhiều văn bản, hồ sơ, báo cáo có liên quan đến đội ngũ công chức Cần Thơ mà chủ yếu là
Trang 177
phản ánh vấn đề nhận thức công vụ Song song đó, tôi cũng thực hiện việc đi điền
dã đến các cơ quan hành chính nhà nước thuộc quyền quản lý của UBND thành phố Cần Thơ tìm hiểu hoạt động TTCV và sự tương tác từ phía người dân đối với đội ngũ công chức Trong quá trình khảo sát, tôi thực hiện các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary research): Đây là hướng
tiếp cận nghiên cứu được áp dụng ngày càng rộng trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học Đối với nghiên cứu đề tài này, thì ngành Văn hoá học là ngành chính và kết hợp các ngành liên quan, giáp ranh như: Luật học, chính trị học, hành chính học, quản trị học… làm ngành bổ trợ trong nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Nhằm làm rõ các sự kiện quan trọng diễn ra trong
quá trình hình thành, phát triển của các đối tượng nghiên cứu để tìm ra các nguyên nhân và hệ quả tiếp theo trong mối liên quan giữa các sự kiện Phân tích, đánh giá việc hình thành, phát triển của bộ máy công quyền thành phố Cần Thơ và tiến trình phát huy các giá trị cốt lõi của văn hoá công vụ của trong sự nghiệp CCHC của đất nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng
- Phương pháp so sánh: Nhằm so sánh những biểu hiện ý thức công vụ của
đội ngũ công chức thành phố Cần Thơ qua các thời kỳ, so sánh các hệ giá trị văn hoá công vụ và các quy định về công vụ, công chức của các nước so với Việt Nam
để làm nổi bật lên tính đặc thù của văn hoá công vụ Việt Nam và hướng đến các giá trị văn hoá công vụ tiên tiến trên thế giới
- Phương pháp hệ thống: Đặt vấn đề ý thức công vụ của đội ngũ công chức
thành phố Cần Thơ là một hệ thống có tính ổn định tương đối và luôn có xu hướng phát triển, tôi sử dụng phương pháp hệ thống để phân tích các vấn đề đồng đại và lịch đại của công tác TTCV của công chức Cần Thơ trong mối quan hệ với văn hoá công vụ Việt Nam gắn liền với những giá trị cốt lõi là ý thức trách nhiệm và ĐĐCV
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Áp dụng các phương pháp của hướng
tiếp cận điền dã dân tộc học cụ thể như sau:
+ Phương pháp nghiên cứu quan sát tham dự (Participant Observation): Đây
là phương pháp mà người nghiên cứu phải tham gia vào đời sống cộng đồng mà mình nghiên cứu để hiểu rõ đối tượng mình nghiên cứu Cụ thể ở đề tài này, tôi sẽ
Trang 18tham gia trực tiếp vào hoạt động TTCV của đội ngũ công chức Cần Thơ để quan sát những thay đổi nội sinh và ngoại sinh trong ý thức công vụ
+ Phương pháp phỏng vấn sâu (in-dept interview): Khai thác nội dung những cuộc đối thoại của người nghiên cứu và người được phỏng vấn mang tính chất chuyên sâu hướng vào chủ đề cần nghiên cứu Ở đề tài này, tôi thực hiện những cuộc phỏng vấn sâu với những người dân khi đến cơ quan nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính (những người là đối tượng phục vụ của bộ máy công quyền Cần Thơ), nhằm phân tích, đánh giá của người dân về tính phục vụ của công chức trong hoạt động công vụ
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Ở phương pháp này, tôi sử dụng tài
liệu thứ cấp là kết quả đã được điều tra, khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi của cơ quan có thẩm quyền về hiệu quả hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước Cụ thể, trong đề tài tôi sử dụng kết quả điều tra, khảo sát mức độ hài lòng của tổ chức, công dân khi tiếp xúc cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Cần Thơ do
Sở Nội vụ tổ chức điều tra, khảo sát qua các năm, để làm cơ sở phân tích, đánh giá
sự thay đổi về ý thức công vụ của công chức trong quá trình phục vụ nhân dân
6 Lý thuyết cơ sở nghiên cứu
Văn hóa công vụ mới hình thành ở Việt Nam gần đây xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cải cách công vụ, từng bước chuyển từ nền công vụ chức nghiệp sang nền công vụ theo vị trí việc làm, tiến đến nền công vụ tiên tiến, chuyên nghiệp, phù hợp với mục tiêu hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nên chưa có một lý thuyết chung về VHCV Do đó, tôi đã dựa tài liệu thứ cấp là các cơ sở lý thuyết, vai trò của VHCV từ công trình nghiên cứu của ông Huỳnh Văn Thới, để vận dụng làm rõ thực tế CCHC tại thành phố Cần Thơ thông qua phân tích, đánh giá ý thức TNCV
và ĐĐCV của đội ngũ công chức, góp phần xây dựng những giá trị định hướng, giải pháp nâng cao ý thức công vụ phù hợp với văn hóa của Việt Nam theo đề án của Chính phủ và tiếp cận với trình độ chung của khu vực và thế giới
7 Bố cục và nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 03 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trang 199
Ở chương này, tôi nêu một số khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên
cứu; giới thiệu về bộ máy hành chính của Việt Nam từ thời phong kiến đến nay và
bộ máy hành chính của thành phố Cần Thơ hiện nay; các điều kiện chính trị, kinh tế
- xã hội
- Chương 2: Cải cách hành chính ở thành phố Cần Thơ trong mối tương
quan với ý thức công vụ của công chức và văn hóa công vụ
Chương này khái quát về tình hình công chức và các văn bản pháp luật tác
động ý thức công vụ của công chức thành phố Cần Thơ, qua đó tôi tập trung phân
tích thực trạng về ý thức trách nhiệm và ý thức đạo đức công chức trong TTCV của
đối tượng này, cũng như tiếp thu những bài học kinh nghiệm của một số quốc gia
tiêu biểu liên quan đến hoạt động công vụ, công chức, để vận dụng thực tiễn tại Cần
Thơ
- Chương 3 Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao ý thức công vụ của
công chức thành phố Cần Thơ
Tại chương III, tôi phân tích những cơ chế, chính sách trong quản lý công
chức và những yếu tố khách quan, chủ quan khác ảnh hưởng như thế nào đến ý thức
trong hoạt động công vụ của công chức Trên cơ sở đó, tôi đưa một số khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả TTCV của công chức thành phố Cần Thơ
Trang 20Vào năm 2002, Federico Mayor Tổng Giám đốc UNESCO nêu định nghĩa của mình về văn hóa như sau:
Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
và lao động (Trần Ngọc Thêm, 2014, đoạn 3)
Đối với một số học giả Việt Nam, tiêu biểu như ông Phan Ngọc đưa ra định nghĩa văn hóa như sau:
Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một lựa chọn riêng của một cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác (1998, tr.17)
Đối với ông Trần Ngọc Thêm cho rằng:
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (1996, tr.27)
Trang 2111
Qua phân tích trên, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra, mỗi định nghĩa sẽ có những giá trị riêng của chúng trong từng lĩnh vực nghiên cứu Trong đề tài của mình, tôi sử dụng khái niệm văn hóa của ông Edward Burnett Tylor để làm cơ sở lý luận với các lý do như sau:
Một là, đây là định nghĩa đầu tiên về “văn hóa”, mặc dù văn hóa ra đời từ khi con người xuất hiện, nhưng khái niệm về “văn hóa” ra đời rất muộn, mãi đến thế kỷ XIX mới có một định nghĩa về nó và cho đến nay, nó vẫn còn những giá trị nhất định của mình trong nghiên cứu về văn hóa
Hai là, các định nghĩa khác tập trung chủ yếu chia văn hóa các thành tố như: vật chất, tinh thần hay cho văn hóa là “kiểu lựa chọn” hoặc “khác dân tộc này với dân tộc khác” Như vậy, về “luật pháp” có được xem là văn hóa và nó thuộc về vật chất hay tinh thần? Nhưng, định nghĩa của Edward Burnett Tylor cho rằng: “thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” (Nguyễn Văn Khoa, 2019, đoạn 1) và bao gồm cả luật pháp Bởi luật pháp là sản phẩm do con người sáng tạo ra, nhằm duy trì trật tự, ổn định xã hội, cũng qua nó, giúp các học giả nghiên cứu sẽ biết thêm về kinh tế, chính trị và phản ánh toàn bộ đời sống xã hội lúc bấy giờ Mặc dù, Edward Burnett Tylor không phân loại luật pháp thuộc thành tố nào, nhưng quan điểm ông rằng luật pháp là một bộ phận trong
hệ thống phức hợp cấu thành nên văn hóa
Là một khái niệm chung miêu tả về các nhân viên do Chính phủ tuyển dụng, những người cấu thành nên công vụ theo chức nghiệp Các công chức được tuyển dụng trên cơ sở thực tài (công tích), được đánh giá định kỳ theo kết quả thực thi công tác của mình, được nâng bậc căn cứ theo tính điểm hiệu quả và được bảo đảm về công việc (Nguyễn Hữu Hải, 2016, tr.44)
Trang 22Định nghĩa này khá tương đồng với ý kiến của tiến sĩ Jeanne Marie Col cho rằng: “Khi nói đến công vụ là nói tới công chức, những người làm việc theo chức nghiệp được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh” (Trần Anh Tuấn, 2012, tr.48), do vậy bà có cách nhìn cải cách công vụ chính là hiện đại hóa đội ngũ công chức với những hoạch định chính sách mang tính chiến lược, kỹ thuật cần thiết để công chức
có thể TTCV một cách có hiệu quả hơn Nhìn chung, hai định nghĩa trên chỉ mới xét đến khía cạnh đối tượng trực tiếp TTCV, chưa chú ý công vụ với tư cách là một trong những chức năng chính yếu của nền hành chính nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước với tổ chức, công dân Quan điểm của các nhà nghiên cứu trên, còn thể hiện rõ nét lập trường phương Tây khi tách công vụ và công chức ra khỏi chính trị
“công vụ trung lập, phi chính trị”, tức công chức không tham gia bất kỳ tổ chức chính trị nào
Bên cạnh đó, một số quốc gia nêu khái quát về thuật ngữ “công vụ” trong các đạo luật của mình, như Luật công chức của Australia, đưa ra khái niệm về công vụ:
“Công vụ Australia mang tính phi chính trị, thực hiện chức năng của mình một cách chuyên nghiệp và khách quan; công vụ Australia là một nền công vụ mà những quyết định dựa vào chế độ thực tài…”, còn Luật công vụ nhà nước của Liên bang Nga: “Công vụ trong luật này được hiểu là hoạt động có tính chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi quyền của cơ quan nhà nước Việc thực thi chức trách của những người đảm nhiệm các chức danh nhà nước loại B và C thuộc về công vụ” Như vậy, công vụ hầu như rất coi trọng yếu tố công chức trong nền công vụ, thậm chí gần như có sự thống nhất giữa công chức với công vụ, coi công chức là một bộ phận không thể tách rời công vụ
Riêng ở Việt Nam, ông Trần Anh Tuấn (2012, tr.49) cho rằng: “Công vụ
chính là trách nhiệm của chủ thể nhân dân quyền lực công thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật”, có thể nói công vụ là loại lao động đặc thù nhằm thực thi pháp luật qua quá trình quản lý toàn diện đời sống xã hội của nhà nước và được đội ngũ công chức thi hành theo những quy định của pháp luật Ngoài
ra, có thể hiểu công vụ dưới hai giác độ như sau:
Giác độ chức năng, công vụ là chức của nhà nước trong thực thi các quyền hành pháp và giác độ tổ chức nhân sự, là công việc do công chức, những
Trang 2313
người thay mặt nhà nước đảm nhận Nó còn là nơi biểu hiện rõ nhất, tập trung nhất những ưu việt của chế độ, cũng như những nhược điểm, khuyết điểm của bộ máy nhà nước trong giai đoạn cách mạng mới (Trần Anh Tuấn,
2012, tr.50)
Giáo trình Những vấn đề cơ bản về hành chính nhà nước và chế độ công vụ, công chức (sách dành cho thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính) có định nghĩa như sau: “Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do CBCC tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân và xã hội” (Bộ Nội vụ, 2014, tr.179) Từ định nghĩa này, tôi thấy rõ hai chủ thể trong TTCV là cán bộ và công chức Thế nhưng theo pháp luật hiện hành, công vụ còn bao gồm cả những đối tượng ngoài những người là CBCC làm việc trong cơ quan hành chính như: “Những người làm việc trong bộ máy tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan tư pháp” (khoản 2, Điều 4, Luật CBCC) Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của tôi tập trung ở các cơ quan quản lý hành chính nước, nên không đề cập sâu đến đối tượng công chức, viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Như vậy, công vụ được hiểu là việc sử dụng quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội, phục vụ lợi ích nhân dân theo quy định của pháp luật
và được tiến hành bởi các chủ thể đặc biệt là CBCC (trong một số trường hợp bao gồm cả viên chức)
b) Công chức
“Công chức” là một thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, thuật ngữ này cũng giống như thuật ngữ “công vụ” đã được trình bày ở trên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay định nghĩa chính thức về nó Tuy nhiên, thuật ngữ này được Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” (Hoàng Phê chủ biên, 2003, tr.207)
Ở Việt Nam trải qua các thời kỳ lịch sử, thuật ngữ “công chức” cũng đã nhiều lần thay đổi Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (năm 1945), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh đầu tiên về công chức và đối tượng được xem là công chức gồm:
Trang 24Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là những công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định (Điều 1, Sắc Lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950)
Trên thực tế, suốt thời gian dài từ năm 1945 đến trước năm 1975, chúng ta không dùng thuật ngữ “công chức”, mà chỉ sử dụng cụm từ: “cán bộ, công nhân viên chức” Đến năm 1991, thuật ngữ này mới bắt đầu được sử dụng lại,
Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước (Điều 1, Nghị định số 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, về Công chức nhà nước)
Sau đó, Pháp lệnh Cán bộ, Công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000
và năm 2003) ra đời, đã tách bạch 02 khái niệm “cán bộ” và “công chức” Kế thừa
từ thành quả của Pháp lệnh, Luật CBCC ra đời, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, khái niệm “công chức” được nêu rõ ràng và có phạm vi rộng hơn:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 3, Điều 4, Luật CBCC)
Trang 25là những thay đổi theo một trật tự, có tính hệ thống, để cải biến những cái cũ theo hướng tốt hơn, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
Đối với thuật ngữ “hành chính” hiện có nhiều cách giải thích khách nhau, tùy theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu, như tác giả Hà Quang Trường (2014) đưa ra định nghĩa: “Hành chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội” hay theo tác giả Đoàn Trọng Truyến (1997) định nghĩa: “Hành chính là hoạt động quản lý các công việc của nhà nước”
Nhưng theo Nguyễn Minh Phương & Bùi Văn Minh (2018) thì:
“Hành chính” hiểu theo nghĩa chung nhất là quản lý công việc, quản lý xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước Về cơ bản, hành chính là tổng thể những hoạt động (thao tác) nhất định do con người, chủ thể quản lý thực hiện đối với khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, đảm bảo cho nó vận động tới một mục tiêu đã định
Còn thuật ngữ “cải cách hành chính” được ghép từ hai thuật “cải cách” và
“hành chính”, được tạm hiểu “là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm các cơ quan công quyền hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn so với trước” (Bộ Nội vụ, 2014)
Theo tài liệu Liên hợp quốc (1971), có đưa ra khái niệm “cải cách hành chính” như sau:
“CCHC là những nỗ lực có chủ đích nhằm tạo nên những thay đổi cơ bản trong hệ thống hành chính nhà nước thông qua cải cách có hệ thống hoặc
Trang 26thay đổi các phương thức để cải tiến ít nhất trong những yếu tố cấu thành hành chính nhà nước là thể chế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính công và tiến trình quản lý.”
Ngoài ra, theo ông Phùng Hữu Hải (2016, tr.56, 58) tùy theo cách tiếp cận khác nhau về CCHC, chúng có nghĩa rộng và nghĩa hẹp khác nhau, cụ thể:
Theo nghĩa rộng, CCHC là sự thay đổi toàn diện về các bộ phận cấu thành nền hành chính như thể chế, bộ máy, đội ngũ, tài chính chính công và hoàn toàn khác với cải tiến hành chính vì nó đòi hỏi phải có chiến lược dài hạn, tầm quy mô lớn, thời gian lâu dài, phức tạp hơn về phương thức, công cụ, tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước Còn cải tiến hành chính diễn ra một thời gian ngắn trong một nền hành chính tương đối ổn định trong quá trình vận động, thường giới hạn ở một lĩnh vực hẹp của nền hành chính công
Theo nghĩa hẹp, CCHC chỉ thay đổi một hay một số nội dung của nền hành chính và được hiểu là sự cải tiến về tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ nhằm xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trong nền hành chính nhà nước, để từ đó hoàn thiện hơn trong hoạt động của tổ chức,
bộ máy công quyền, nhằm phục vụ nhân dân tốt hơn
Đồng thời, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới là:
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giai trình của các cơ quan nhà nước
1.1.1.4 Văn hóa công vụ
Văn hoá có thể xem là công cụ để các nhà quản lý hướng cách thức hành vi của đội ngũ công chức theo những kiểu nhất định Đồng thời, văn hoá có tác động rất lớn đến suy nghĩ, cũng như hành động của công chức thông qua hệ thống các quy tắc xử sự có tính thông lệ, không thành văn, nhưng đôi khi có tính bền chặt và
Trang 2717
có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn bất cứ công cụ chính thức nào Vì vậy, “văn hóa công vụ” được kết hợp từ hai khái niệm “văn hóa” và “công vụ”, nhưng nó không phải là sự cộng ghép cơ học từ hai lĩnh vực này, mà đó là văn hóa ở trong công vụ hay công vụ có tính văn hóa Do vậy, khái niệm VHCV được ông Ngô Thành Can (2015, tr.15) đưa ra như sau: “VHCV được xem là một hệ thống những giá trị, cách ứng xử, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển công vụ, có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi của người thực thi công vụ”; còn theo ông Huỳnh Văn Thới (2017, đoạn 2) cho rằng:
VHCV là tập hợp các giá trị, thái độ, chuẩn mực, niềm tin và các định hướng tinh thần có ý nghĩa định hình và quyết định hành vi của nền công vụ VHCV không phải là tập hợp giản đơn hai lĩnh vực văn hóa và công vụ, mà đó là sự thẩm thấu của văn hóa vào công vụ, là công vụ đậm chất văn hóa VHCV chính là tinh thần nhân văn trong xử lý các quan hệ giữa cơ quan công quyền với tổ chức, công dân nhằm thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội vì mục đích phục vụ nhân dân
Mục tiêu của xây dựng VHCV là chủ động hình thành lối sống tích cực, tác động tốt đến môi trường công vụ, nuôi dưỡng sự phát triển của cá nhân và tổ chức, tạo động lực, cộng hưởng, đồng lòng, sáng tạo và cống hiến của các thành viên, tạo được bản sắc, dấu ấn tích cực của tổ chức trong hệ thống công vụ Bởi, bản chất của VHCV chính là hệ thống những quy định, giá trị
mà con người dựa vào đó để điều chỉnh, điều khiển các mối quan hệ tương tác giữa con người trong các hoạt động công sở, nhằm đạt được mục đích cao nhất của các cơ quan công quyền
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, VHCV được xác lập trên nền tảng sau: “Văn hóa trách nhiệm; văn hóa pháp quyền; sự phục vụ nhân dân; công tâm, công khai, minh bạch; dân chủ và sự tham gia” hoặc có ý kiến cho rằng hình thành văn hóa công vụ, tập trung hướng tới các mục tiêu, giá trị: “Đạo đức, chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, trung thực, khách quan, hiệu quả và tính phục vụ” Riêng, ông Ngô Đình Can (2017, tr.15) thì nội dung VHCV bao gồm:
VHCV bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể;
Là sản phẩm của con người trong hoạt động công vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tổ chức và xã hội;
Trang 28Là hệ thống các giá trị được chấp nhận;
VHCV có thể học hỏi và lưu truyền qua các thế hệ, có thể bị lai tạp
VHCV thể hiện ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, tổ chức hay hệ thống, chúng ta có thể xem xét những đặc điểm cụ thể của VHCV sau đây: Phản ánh tầm nhìn, sứ mệnh, các mục tiêu chính của công vụ; ưu tiên các hình thức ra quyết định tập thể hay cá nhân; mức độ tuân thủ các quy định, các kế hoạch; sự định hướng vào quyền tự chủ, độc lập hoặc phụ thuộc; tính chất mối quan hệ của lãnh đạo đối với nhân viên; sự định hướng vì nhóm hay vì
cá nhân; Sự định hướng về sự ổn định hoặc thay đổi; nguồn gốc và vai trò của quyền lực; Các phương thức phối hợp công việc; phong cách quản lý, phương thức đánh giá nhân viên;
VHCV cũng như văn hóa nói chung đều chứa đựng những nội dung nhất định, phản ánh những yếu tố bên trong của nó Nội dung của VHCV được xem xét ở các khía cạnh như sau: Những sản phẩm do những người thực thi công vụ tạo ra; ngôn ngữ dưới hình thức những chuyện vui, ẩn dụ, câu chuyện huyền thoại; những tiêu chuẩn hành vi, các mẫu hành vi dưới hình thức lễ nghi, lễ kỷ niệm; những cá nhân điển hình; những biểu tượng, khẩu hiệu; những niềm tin, giá trị, thái độ, các nguyên tắc đạo đức; Lịch sử, truyền
thống
Như vậy, tôi tạm đưa ra khái niệm về VHCV của mình như sau: “Nó là hệ thống những giá trị, chuẩn mực trong nền công vụ được các chủ thể TTCV thực hiện một cách đầy đủ (hay nói cách khác phải thực hiện đúng bổn phận, nghĩa vụ của mình), nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người dân và cơ quan công quyền, giữa cá nhân và tập thể trong quá trình hoạt động công vụ, góp phần tạo nên bản sắc của tổ chức nói riêng, cùng hướng đến mục tiêu đã định của nền công vụ nói chung”
1.1.1.5 Đạo đức công vụ và trách nhiệm công vụ
a) Đạo đức công vụ
Từ “đạo đức” trong tiếng Anh là “ethics”, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ (èthos) và nó được Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “1 Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người
Trang 2919
đối với nhau và đối với xã hội (nói tổng quát) 2 phần phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có Người có đạo đức Giọng đạo đức giả (đạo đức ngoài miệng)” (Hoàng Phê chủ biên, 2003, tr.290)
Thuật ngữ “đạo đức công vụ” thực chất là một dạng đạo đức nghề nghiệp, là những quy tắc xử sự chuẩn mực được cơ quan có thẩm quyền ban hành, có tính bắt buộc đối với CBCC trong cơ quan, tổ chức công quyền khi thực hiện công vụ Vì vậy, khi nghiên cứu đạo đức công vụ chúng ta cần dựa trên nền tảng chung của các quan niệm về đạo đức và sự tương quan với độ đạo đức cách mạng, đạo đức cá nhân
và đạo đức nghề nghiệp Đạo đức cách mạng thể hiện qua: “Tinh thần yêu nước, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước” (Nguyễn Quốc Sửu, 2010, đoạn 2.1)
Còn đạo đức cá nhân công chức được thể hiện ở ý thức biết tôn trọng, gần gũi nhân dân, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, tuân thủ pháp luật… xã hội càng hướng đến dân chủ bao nhiêu, thì đòi hỏi đạo đức cá nhân ở công chức càng cao bấy nhiêu,
để họ không ngừng hoàn thiện, rèn luyện phẩm chất đạo đức chuẩn mực đối với bản thân mình, bởi họ là những người trực tiếp giải quyết nhu cầu và lợi ích chính đáng của công dân
Đối với đạo đức nghề nghiệp thể hiện bằng tinh thần trách nhiệm trong TTCV, luôn phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được phân công dù ở trong hoàn cảnh nào, không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc để công việc đạt hiệu quả cao nhất, nhất là tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của nhân dân, tài sản nhà nước
Ngoài ra, ĐĐCV khác với đạo đức thông thường ở chỗ, cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành các quy tắc, chuẩn mực và một phần đạo đức công vụ có thể được
cụ thể hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật, nên nó vừa có sự tự giác, vừa có tính cưỡng chế CBCC vi phạm những nguyên tắc này sẽ gánh những trách nhiệm pháp
lý, cũng như sự phê phán của dư luận xã hội về những vi phạm ĐĐCV của mình
Chính vì vậy, đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc quy định sự chuẩn mực đối với hành vi, thái độ, nghĩa vụ của CBCC trong TTCV, nhằm đem lại sự hài lòng cao nhất đối với người dân
b) Trách nhiệm công vụ
Trang 30Thuật ngữ “trách nhiệm” được định nghĩa như sau: “1 Phần việc giao cho hoặc coi như giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt phải gánh chịu phần hậu quả Trách nhiệm làm cha mẹ Trách nhiệm của một giám đốc xí nghiệp
Ý thức trách nhiệm 2 Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái phải gánh phần hậu quả” (Hoàng Phê chủ biên, 2003, tr.1020) Hiện nay, chúng ta có rất nhiều loại trách nhiệm như: Pháp lý, hành chính, hình sự, dân sự, chính trị, công vụ Tùy theo mỗi lĩnh vực mà mỗi trách nhiệm sẽ vai trò, quy định khác nhau, nhưng chung quy lại, thì đó chính là những quy tắc hành xử mà bổn phận của mỗi cá nhân, chủ thể liên quan phải tự ý thức thực hiện hoặc không thực hiện về một hành vi, một hành động cụ thể, nếu đi ngược lại phải
tự gánh những chế tài từ xã hội (sự lên án, dư luận xã hội), pháp luật (cưỡng chế, trừng phạt của nhà nước), tổ chức (kiểm điểm cá nhân)
Theo Từ điển Luật học thì: “Trách nhiệm công vụ là trách nhiệm của CBCC nhà nước phải hành động phù hợp với quy định pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất, báo cáo kết quả hoạt động và gánh chịu hậu quả do không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ của mình” Theo Nguyễn Minh Phương (2016, đoạn 3) cho rằng: “TNCV là một khái niệm mang tính chất chính trị, đó là việc CBCC tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó Trách nhiệm trong hoạt động công vụ của công chức có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả hoạt động đó”
Như vậy, có thể hiểu những người có TNCV là những chủ thể được nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện một nhiệm vụ, công vụ, nhằm bảo vệ, phục vụ lợi ích cho nhân dân, nhà nước, xã hội theo quy định của pháp luật và cá nhân họ phải chịu trách nhiệm (hậu quả tích cực hoặc tiêu cực) về hoạt động đó
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động công vụ
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận, họ sử dụng quyền lực kinh tế của mình, nguồn tài chính, vật chất, con người, công nghệ… để tạo ra doanh thu, lợi ích về vật chất Đối với nhà nước, mục tiêu của mình là “phục vụ nhân dân”, đáp ứng các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của công dân được pháp luật quy định Bởi nhà nước Việt Nam là: “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, cho nên công
Trang 3121
vụ nhà nước đều phải hướng đến lợi ích chung của người dân và xã hội Vì vậy, mục tiêu này chi phối đến hoạt động của CBCC trong bộ máy nhà nước và cả nền công vụ của đất nước, theo ông Trần Anh Tuấn (2014, tr.50-51) thì mục tiêu hoạt động công vụ nhà nước được xác định:
Trước hết là mục tiêu phục vụ nhà nước, hoạt động công vụ do công chức nhà nước thực hiện mang tính quyền lực nhà nước, bắt nguồn từ quyền lực công hoặc phục vụ cho việc ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước, đáp ứng các dịch vụ của người dân
Do đó, tính phục vụ của nhà nước thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao theo vị trí, chức trách của mình đã được xác định trong vị trí việc làm của đơn vị Bên cạnh đó, sự phục vụ nhà nước còn được biểu hiện qua trách nhiệm, nghĩa vụ của công chức đối với nhà nước được pháp luật quy định như sau: “Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia và chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước” (Điều 8, Luật CBCC) Do đó, mục tiêu hoạt động công vụ sẽ là phục vụ nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, bằng những quyền hạn mà công chức được giao nhà nước giao phó
Thứ hai, là mục tiêu phục vụ nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh (1949) đề cập trong bài báo “Dân vận” như sau:
Việt Nam là nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên; nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (Đoạn 1)
Do đó, kể từ khi giành độc lập năm 1945 cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn xác định mục tiêu phục vụ nhân dân là yếu tố cốt lõi của một nhà nước pháp quyền, cũng vì thế hoạt động công vụ cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung ấy Do
đó, quyền lực chính trị đều thuộc về nhân dân và nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua tư cách cá nhân (cử tri) để góp phần xây dựng hoàn thiện nhà nước pháp quyền Từ đó, phấn đấu thực hiện một mục đích: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trang 32Thứ ba, trong đó hoạt động công vụ, các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực của mình, để thực hiện “chức năng quản lý” trên mọi mặt đời sống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu chung nhất là duy trì ổn định chính trị, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an toàn tài sản, tính mạng và quyền cơ bản của công dân, góp phần thực hiện công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.2.2 Nguồn lực thực hiện
a) Cơ quan nhà nước được trao quyền lực thực thi công vụ
Nhà nước là một tổ chức pháp lý của một cộng đồng dân cư trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, ngoài trách nhiệm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhà nước còn có trách nhiệm quản lý dân cư, bảo vệ công dân của mình, đồng thời phải thiết lập và duy trì trật tự xã hội Muốn vậy, nhà nước phải có “quyền lực”, quyền lực đó phải mang tính pháp lý và phải được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước Các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được xác lập và có mối quan hệ tương hỗ với nhau tạo thành hệ thống cơ quan nhà nước gồm:
“Cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tư pháp.”
Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước bao gồm 03 yếu tố cấu thành: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tùy theo chế độ chính trị của mỗi quốc gia, mà 03 quyền này có thể giao cho 03 cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ, để kiểm soát quyền lực lẫn nhau hoặc theo hướng quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia (Bộ Nội vụ, 2014, tr.63-64)
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo khoản 3, Điều 2, Hiến pháp năm 2013 như sau: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
b) Đội ngũ cán bộ, công chức
CBCC là những chủ thể đặc biệt trong cơ quan nhà nước, được tuyển chọn thông qua hình thức bầu cử, bổ nhiệm, thi tuyển hoặc xét tuyển và được trả lương từ ngân sách, nhằm thừa hành các nhiệm vụ, công vụ mà nhà nước giao phó Trong quá trình thực hiện công vụ, họ được giao một số quyền lực công nhất định, đây được coi là phương tiện pháp lý để CBCC thực thi nhiệm vụ của mình nhưng nó không phải là đặc quyền, đặc lợi của cá nhân họ
Trang 3323
Bởi bản thân CBCC cũng là công dân, họ có quyền và nghĩa vụ như mọi công dân khác, nhưng điểm khác biệt giữa CBCC và những người làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp, họ là những người tự nguyện gia nhập và hoạt động công vụ, được tuyển dụng theo chế độ thuận nhuận, làm việc trong các
cơ quan nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để TTCV, nhằm phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được nhận tiền lương từ ngân sách (Bộ Nội vụ, 2014, tr.161)
Do đó, công việc của CBCC hết sức đặc thù so với những việc làm khác, đòi hỏi phải có trí tuệ, sự sáng tạo, linh động, tận tụy công tác, vì hoạt động công vụ của
họ ảnh hưởng rất lớn đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là nhân tố quan trọng tạo nên sự hùng mạnh của quốc gia
1.1.2.3 Nguyên tắc hoạt động
Như tôi đã trình bày ở trên, CBCC là những chủ thể đặc biệt sử dụng quyền lực nhà nước trong TTCV Tuy nhiên, những quyền này được nhà nước giao cho, để thực hiện chức năng quản lý xã hội, phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích nhà nước Vì vậy, mọi hoạt động công vụ của họ đều phải dựa trên nguyên tắc chung nhất đã được pháp luật quy định, điều này có nghĩa “họ chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép”, hoàn toàn khác với những gì “công dân được làm những gì pháp luật không cấm”, do đó quyền lực của họ luôn bị ràng buộc, giới hạn, nhằm phòng tránh
sự giải quyết công việc tùy tiện, vượt thẩm quyền, phòng chống tham nhũng trong hoạt động công vụ
Các nguyên tắc hoạt động công vụ còn là những tư tưởng, quan điểm chi phối toàn bộ quá trình hoạt động công vụ nhà nước, phản ánh bản chất công
vụ, quyết định nền công vụ của một quốc gia Một nền công vụ có thật sự lấy nhân dân làm đối tượng phục vụ hay không, sẽ tùy thuộc mức độ tôn trọng thực hiện nguyên tắc công vụ đó như thế nào, các nguyên tắc ấy bao gồm: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật; nguyên tắc đúng thẩm quyền được giao; nguyên tắc chịu TNCV, kết quả thực hiện; nguyên tắc thống nhất trong quá trình thực hiện công vụ giữa các cấp, ngành, lĩnh vực, lãnh thổ; nguyên tắc công khai, minh bạch; nguyên tắc kế thừa, liên tục; nguyên tắc tập trung dân chủ (Trần Anh Tuấn, 2012, tr.56-57)
Trang 34Theo quy định của Luật CBCC, khi thi hành công vụ, CBCC phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản sau:
Tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật
Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát
Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả
Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ (Điều 3, Luật CBCC) Việt Nam, nền công vụ của một nhà nước “pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”, thì đòi hỏi phải thực sự vì con người, phục vụ nhân dân, bảo đảm tính nhân văn trong hoạt động; sức mạnh của nền công vụ chính là phát huy cao nhất năng lực TTCV của công chức, xây dựng nền công vụ có năng lực, tầm nhìn, có khả năng quản lý và thúc đẩy sự phát triển Từ đó, hướng đến một nền công vụ: “Chuyên nghiệp, trong sạch, dân chủ, khách quan, hoạt động hiệu quả”, đem đến sự hài lòng cao nhất ở người dân trong quá trình phục vụ
1.1.3 Mối quan hệ giữa cải cách hành chính với ý thức trách nhiệm – đạo đức công vụ và văn hóa công vụ
Mục tiêu nghiên cứu luận văn như đã nói trên là dựa trên cơ sở lý thuyết về VHCV, vai trò của VHCV để làm rõ thực tế CCHC tại thành phố Cần Thơ hiện nay thông qua phân tích, đánh giá ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ CBCC
Trách nhiệm & đạo đức công vụ VHCV
Hình 1.1 Các mối quan hệ cải cách hành chính
Xác định CCHC là một quá trình không có điểm dừng nhằm hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước và tăng cường năng lực công tác và ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của CBCC trên nền tảng giá trị VHCV lấy nhân dân làm trung tâm, mô hình của tôi xây dựng là một tam giác đều với cạnh đáy là nền tảng trách
Trang 3525
nhiệm, đạo đức công vụ và VHCV để hướng tới mục tiêu là CCHC Bất cứ yếu tố nào ở 3 đỉnh của tam giác thay đổi đều kéo theo sự biến thiên tương ứng ở các đỉnh còn lại
Dựa trên mô hình này, có thể thấy tiến trình CCHC của Việt Nam nói chung
và thành phố Cần Thơ nói riêng phụ thuộc vào việc nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ CBCC trên nền tảng VHCV cùng sự tác động ngược trở lại hai yếu tố này Ở hai yếu tố nền tảng, việc nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ CBCC sẽ dẫn tới hoàn thiện các giá trị của VHCV và khi một nền VHCV được hình thành, phát triển nó sẽ tác động ngược lại đối với TNCV và ĐĐCV bằng việc quy định về tiêu chuẩn, giá trị chuẩn mực… để làm thước đo Một khi ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của CBCC thực sự tiên tiến hướng đến việc xem người dân là đối tượng phục vụ, thì mục tiêu CCHC sẽ từng bước chuyển từ “phục vụ nhà nước” sang “phục vụ nhân dân” Do đó, các nghiên cứu, phân tích ở các phần tiếp theo của luận văn sẽ dựa trên mô hình tương quan chặt chẽ 3 yếu tố này để làm cơ sở cho các luận cứ nhằm xác định luận điểm khoa học cho đề tài rằng CCHC ở Cần Thơ hiện nay đang được tiến hành dựa trên nền tảng của ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ hướng tới một nền VHCV tiên tiến và đặc trưng của nhà nước Việt Nam
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát về các hình thức và bộ máy hành chính công quyền Việt Nam qua các thời kỳ tự chủ (từ thế kỷ thứ X cho đến nay)
1.2.1.1 Hành chính công quyền Việt Nam từ năm 939 đến năm 1884
a) Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ thời Lý – Trần
Sau khi Khúc Thừa Dụ xưng nền độc lập vào năm 905 cho đến thời nhà Lý, đất nước trải qua 05 chính quyền liên tiếp gồm: Khúc, Dương, Ngô, Đinh và Tiền
Lê Theo sử cũ, giai đoạn này chưa có bất kỳ cơ quan nhà nước nào được thiết lập, chỉ có những viên quan thực chất là những người hầu cận vua, được giao quản lý một số công việc Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền, xu hướng mô phỏng kiểu nhà nước Trung Hoa dần thể hiện rõ nét, như quan chế, triều phục quan lại
Từ triều đại nhà Lý (1009-1225), bộ máy nhà nước quân chủ được thiết lập
từ trung ương đến địa phương và quyền hành cao nhất trong tay nhà vua Mô hình
Trang 36tổ chức bộ máy, quan chế nhìn chung có nét tương đồng với quan chế nhà Tống cùng thời Trung Hoa Thời nhà Lý (tiếp theo là nhà Trần) duy trì việc tuyển chọn quan theo nguyên tắc: “Người có quan tước, con cháu được thừa ấm được làm quan Người giàu, khỏe mạnh mà không có quan tước, thì sung quân, đời đời làm lính” Tuy nhiên, nhà Lý bắt đầu mở khoa thi chọn người tài ra làm quan Điểm nổi bật thời kỳ này là nhà Lý cho xây dựng Văn miếu vào năm 1070 thờ Đức Khổng Tử và thành lập Quốc Tử Giám vào năm 1076 có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử văn hóa, tư tưởng của dân tộc, mở ra một thời kỳ mới của Nho học, Nho gia ở Việt Nam Mặc
dù thời kỳ này Tam giáo đồng nguyên (Nho – Phật – Đạo), nhưng Nho giáo (chủ yếu Tống nho) dần có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng xã hội, tư tưởng chính trị trong việc xây dựng thiết chế, tổ chức bộ máy, củng cố quyền lực nhà nước, cung cấp cho các ông vua những điều cần thiết để bảo vệ ngai vàng, cách thức xây dựng
Địa phương
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà Lý
Trang 3727
điều hành việc triều chính, nhưng thực chất quyền hạn rất lớn, như chỉ định người
kế vị, thậm chí phế truất ngôi vua, nếu vị vua đương nhiệm bỏ bê chính sự, không quan tâm đến bá tánh, lê dân Đây cũng chính là biện pháp nhằm hạn chế độc đoán của nhà vua đương nhiệm
Nhìn chung, đặc trưng nổi bật của thiết chế chính quyền chính trị của thời Lý – Trần là dựa trên ủng hộ của nhân dân, từ đó nhiều chính sách, thành tựu quan trọng trong củng cố, bảo vệ đất nước xuất phát từ cội nguồn trong mối quan hệ làng – nước Vì vậy, chính sách “thân dân” luôn là tư tưởng chủ đạo của các bậc quân vương trong quá trình dựng nước, giữ nước So với những triều đại trước, hai triều đại Lý - Trần có quan điểm nhìn nhận vai trò của dân chúng trong tư tưởng trị dân, đường lối gần dân và thái độ vị dân Trong chiếu dời đô của mình, vua Lý Công Uẩn nhấn mạnh: “Trên kính thiên mệnh, dưới thuận theo ý dân”, “muốn cho trăm
họ khỏi tốn hao”, “dân cư không khổ”, lời chiếu đã mang sự tham vấn rộng rãi quần thần và dân chúng Mặc dù, trong chiếu phảng phất những tư tưởng của Khổng giáo như “thiên mệnh”, “đế quyền”, “cai trị muôn dân”, nhưng đó không phải là những lý thuyết suông, mà được vận dụng vào thực tế trong chính sách cai trị đất nước của các nhà vua Triết lý trọng dân, gần dân là một triết lý cai trị đặc sắc, đậm tính nhân văn của chế độ quân chủ trong thời kỳ này Chính quyền thời
kỳ này cũng rất khéo léo trong việc nắm lấy công xã, một đơn vị kinh tế - xã hội chủ yếu ở Việt Nam thời bấy giờ và thiết chế làng, tìm cách khai thác những lợi ích, nhân tố thuận lợi, để củng cố bộ máy quyền lực của mình
b) Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ thời Hồ - Hậu Lê
Năm 1400, nhà Hồ đã chuyển căn bản từ chế độ quân chủ quý tộc với phương thức cai trị “thân dân” sang mô hình quân chủ quan liêu của Nho giáo, nhưng được biến đổi cho phù hợp với đất nước, dân tộc Thực tế, triều đại ngắn ngủi này đã kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa Nho giáo và Pháp gia để làm đường lối cai trị đất nước, làm chậm tư hữu hóa ruộng đất, tái lập quyền kinh tế của nhà nước, quốc hữu hóa ruộng đất của quý tộc nhà Trần, từng bước loại bỏ việc bóc lộc nô gia, nô tì của các điền trang Nhưng, cải cách của nhà Hồ chưa được bao lâu thì đất nước phải chịu sự xâm lược của nhà Minh vào tháng 10 năm 1406
Năm 1428, khởi nghĩa Lam Sơn giành được thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng
đế Nhà Lê chọn Nho giáo làm chuẩn mực để hình thành nên nhiều thiết chế văn
Trang 38hóa, chính trị và bắt đầu một mô hình tập quyền quan liêu được xây dựng trên ý tưởng còn dang dở của nhà Hồ Mô hình tổ chức nhà Lê có những nét tương đồng với mô hình của Minh triều cùng thời ở Trung Hoa với hệ thống các cơ quan, chức quan của nhà Minh được lựa chọn và 13 xứ của nhà Lê tương ứng với 13 tỉnh của Trung Hoa đương thời Tuy nhiên, nhà Lê đã tiếp thu, chọn lọc lấy những gì cần thiết, phù hợp với đất nước, chứ không hoàn toàn dập khuôn theo mô hình của Trung Hoa Đến thời điểm vua Lê Thánh Tông lên ngôi (1360), tình trạng hưởng thụ, cậy thế, cậy quyền, tham nhũng, hối lộ, vu cáo, sát hại lẫn nhau là tương đối phổ biến trong bộ máy chính quyền Nhà vua đã đi đến quyết định cải cách mà mở đầu là dụ “Hiệu định quan chế” ban bố năm 1471
Điểm đáng lưu ý trong thời kỳ này chính là sự ra đời của Quốc triều hình luật Bộ luật được ra đời trong thời kỳ Nho giáo đã trở thành Quốc giáo, vì thế ít nhiều chịu ảnh hưởng từ luật pháp Trung Hoa, như các tư tưởng tôn quân, tam cương, ngũ thường, chính danh, thân dân, an dân… được vận dụng để hình thành
bộ luật Sau khi vua Lê Thánh Tông qua đời được khoảng 10 năm, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kỳ khủng hoảng rồi suy vong Nguyên nhân là do bộ máy tập quyền quan liêu đòi hỏi phải có một cơ chế vận hành minh bạch, tính chuyên nghiệp của quan lại và sự công tâm của cơ quan tư pháp, nếu không sẽ phát sinh tiêu cực, tha hóa, biến chất, cửa quyền, xa dân Bên cạnh đó, triều Lê chưa giải quyết rốt ráo mối mâu thuẫn giữa nhà nước và làng xã, giữa phép vua với lệ làng Sau cùng là sở hữu ruộng đất, nhà nước áp dụng nhiều chính sách cấm tư hữu hóa đất công, nhưng thực tế nó vẫn diễn ra một cách lặng lẽ, quyền lực kinh
Trang 3929
Đánh bại nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi với niên hiệu Gia Long, bắt đầu vương triều nhà Nguyễn (1802 - 1945) Chính sách tập quyền chuyên chế của Gia Long còn mang nhiều nét thời kỳ lĩnh quản quân đội nhằm ngăn chặn việc tiếm quyền trong hoàng tộc và tập trung quyền lực tối đa trong tay vua Sau đời Gia Long, các vị vua kế nhiệm đều được trưởng thành, dạy dỗ trong dòng tư tưởng Nho giáo (chủ yếu là Tống nho) và không có vị vua nào có
tư tưởng cải cách triệt để mà chủ yếu đi theo truyền thống xưa kia Vua Minh Mệnh, người được kế vị ngai vàng của vua Gia Long, là người thiết kế, hoàn thiện thiết chế trung ương tập quyền của triều Nguyễn và là người vô cùng sùng bái vua Lê Thánh Tông Từ lý tưởng đó, các vua triều Nguyễn không ngừng nỗ lực kiến thiết đất nước để đưa nước Đại Nam trở về thời hoàng kim cách ba thế
kỷ trước Thế nhưng, điều kiện đất nước lúc đó hoàn toàn khác với những gì diễn
ra ở thế kỷ XV cho nên chính sách cai trị của nhà Nguyễn trở nên bảo thủ, cực đoan cho kết quả trái với những gì mong đợi
Về tổ chức bộ máy nhà nước, nhà Nguyễn phân ra thành chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Trong hệ thống hành chính trung ương, Lục bộ vẫn có vai trò quan trọng vẫn được triều Nguyễn giữ lại Sự sáng tạo của nhà Nguyễn là lập 26 ty thuộc Lục bộ được đặt theo chuyên môn và theo khu vực hành chính Hệ thống cơ quan chuyên môn của triều đình nhà Nguyễn được thành lập đầy đủ nhất trong tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam thời phong kiến như: Lục tự, Lục khoa, Thái y viện, Hàn lâm viện, Đô sát viện, Quốc Tử giám, Khâm Thiên giám, các Ty: Tào chính, Bưu chính, Thông chính…
Về mặt chính quyền địa phương, từ năm 1832, cơ cấu hành chính của Đại Nam gồm 01 phủ Thừa Thiên và 30 tỉnh Trong đó, để tăng cường sự kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau, Minh Mệnh đã cho liên tỉnh lại với nhau thành 14 liên tỉnh (trừ Thừa Thiên và Thanh Hóa đứng độc lập) Dưới tỉnh là phủ/huyện/châu, được bố trí đầy đủ các chức quan Các châu ở miền núi bị nhà nước bỏ chế độ thổ quan (bổ nhiệm người tại chỗ), mà đặt lưu quan (quan do triều đình cử đến), nhằm hạn chế tình trạng cục bộ, bè phái và những tiêu cực do người thân gây ra Triều đình còn áp dụng chính sách cấp thêm tiền cho các quan ở địa phương để khuyến khích trong sạch, gọi là tiền “dưỡng liêm” Đối với cấp xã, triều Nguyễn quy định chuẩn hóa chức Cai tổng và đổi Xã trưởng thành Lý trưởng Lý trưởng
Trang 40được thôn bầu ra dựa trên những tiêu chuẩn nhất định do nhà nước ban hành như: Phải có ruộng đất, tài sản, phải được Cai tổng và nhân dân địa phương hiệp đồng bầu cử và được quan huyện phê duyệt Tuy nhiên, Lý trưởng không còn nằm trong phẩm trật chức quan của triều đình
Giống như thời Lê sơ, nhà Nguyễn tìm mọi biện pháp can thiệp sâu vào công việc làng xã (trừ việc bầu cử của dân làng); áp đặt những điều kiện, tiêu chuẩn trong ứng cử, bầu cử chức Lý trưởng; ban hành Chỉ dụ sử dụng chữ viết Hán thay cho chữ Nôm để tiện thống nhất, quản lý làng xã; thực hiện các chính sách hạn chế quyền lực người đứng đầu thôn…Thế nhưng, những nỗ lực cải cách
ấy không mang lại kết quả khả quan, ngược lại đã tạo điều kiện cho những cường hào ở địa phương có cơ hội phát triển ngày một mạnh hơn, một mặt họ nắm thiết chế tự trị khống chế chức dịch địa phương và dùng danh nghĩa nhà nước để chèn
ép nông dân, mặt khác họ nhân danh làng xã chống lại triều đình… Từ đó, nhà nước dần dần mất sự kiểm soát về làng xã và tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân với chính quyền, giữa làng xã với nhà nước… làm tiền đề cho những cuộc đấu tranh của nhân dân chống sự hà khắc của triều đình diễn ra liên tiếp cho tới khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược
Nhìn chung, bộ máy công quyền Việt Nam thời phong kiến (từ năm 939 đến năm 1884) được mô phỏng, xây dựng theo quan chế nhà nước Trung Hoa, sử dụng tư tưởng của Nho giáo trong việc cai trị, quản lý nhà nước, xã hội Thế nhưng, mô hình nhà nước quân chủ Việt Nam hoàn toàn không tiếp nhận nguyên bản, mà có sự chọn lọn, tiếp thu những nội dung phù hợp với tình hình đất nước, với nhân dân, để hoàn thiện hệ thống thiết chế quan lại của mình Nhất là, tư tưởng “trọng dân, gần dân, vị dân” được các triều đại phong kiến kế thừa và phát huy qua các cuộc đấu tranh, bảo vệ độc lập của dân tộc Mỗi triều đại cũng đề ra nhiều chính sách, biện pháp phòng ngừa, xử lý những quan viên nhận tham ô, hối lộ, đặc biệt là các chế độ dưỡng liêm đối với quan lại đã góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước