1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiểm họa xâm lăng và đồng hóa của trung quốc đinh khang hoạt

128 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiểm Họa Xâm Lăng & Đồng Hóa của Trung Quốc
Tác giả Đinh Khang Hoạt
Trường học Đại Học Cộng Đồng Portland
Chuyên ngành Chính Trị
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vũng Tàu
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự kế thống-trị toàn cõi Đông Nam Á của Tàuđã không còn giấu-giếm khi những lãnh-thổ như MiếnĐiện, Thái Lan, Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, Mã Lai,Singapore, Phi-Luật-Tân được vẽ vào một bả

Trang 1

cuûa Trung Quoác

Trang 2

Sinh quán: Ninh Bình, VN.

* Nguyên giảng viên:

- Chính Trị tại Trung Tâm Biệt Chính/XDNT (1964-1967, Vũng Tàu)

- Ban Cao Đẳng Sư Phạm Nông - Lâm - Súc (1971-1973)

- Chương trình GED thuộc Đại Học Cộng Đồng Portland (PCC - 1994)

* Thanh Tra Nha Học Vụ Nông Lâm Súc/Sàigon, (1971-1073).

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Việt Sử Trường Ca (1994).

- Vấn Đề Văn Hóa Việt (Viết chung với Hoài Nguyên, 1994).

- Tiếng Việt (1997).

- Tinh Hoa Sử Việt (1999).

- Tiếng Việt Dễ Học (Tập I & 2, 2002).

- Điểm Sách “Phật Giáo & Quốc Đạo Việt Nam, 2002.

- Con Đường Cách Mạng Việt I (2003).

- Bàn vè Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo (2004).

- Con Đường Cách Mạng Việt II, 2006 (Viết chung trong Nhóm Nghiên

Cứu Văn Hóa Việt).

- Những Tính Tốt & Xấu của Người Việt (viết chung với Ts VõQuí Hân,

2005).

- Tìm Hiểu Kinh Dịch, 2007.

- Hai Dòng Văn Chương Việt: Bác Học & Bình Dân, 2008 (sẽ xuất bản)

- Tết (viết chung với Đinh K Thanh Hà, Song ngữ, sẽ xuất bản).

Trang 3

Kính dâng TỔ QUỐC VIỆTNAM và các vị ANH HÙNG DÂN TỘC đã hy-sinh “Cứu Nước & Tồn Chủng”.

Chân thành tri ân qúy Tác-giả có tài liệu đã trích dẫn hay tham- khảo trong tập sách này.

Đinh Khang Hoạt

“ Bắc phương Hồ mã bon-bon, Cành Nam chim Việt héo-hon ngậm-ngùi !”

Duy Khang.

Trang 4

Mục Lục

Thay Lời Tựa v

Chương Dẫn Nhập (Trung Hoa hình thể tổng quát) * Thượng và Trung lưu triền Hoàng Hà 1

* Triền sông Dương Tử 3

Chương Hai (Các triều đại hoang đường 2852-2205 * Huyền Thoại & Giá trị .12

* Huyền Thoại của Trung Hoa: - Bàn Cổ 15

- Phục Hy 15

- Thần Nông 16

- Hoàng Đè 16

- Nữ Oa 18

* Luận về Truyền Thuyết của Trung Hoa 19 - Đế Nghiêu 22

- Đế Thuấn 23

- Nhà Hạ 23

- Nhà Thương 23

* Đặc Thái thời Hạ & Thương 24

* Những Danh Từ Đích Thực Trung Hoa thời Phong Kiến Truyền Hiền 26

* Ý Nghĩa của Đại Hội Chư Hầu 28

* Niên Biểu Huyền Thoại Trung Quốc 32

Chương Ba: Thời Kỳ Chuyển Tiếp từ Truyền Hiền sang Đế Chế Cha Truyền Con Nối * Nhà Chu (1122-256 trc C.N.) 39

- Tây Chu 39

* Tẩy Chay Thế Vận Hội Olympic 2008 Tiếp tục biểu Tình chống đối sự XâmLăng của Trung Cộng 209

* Mở Rộng Chiến Trường Đối Kháng Trung Cộng 215

PHỤ LỤC * Bản Tóm Tắt Những Điểm Khác Biệt Giữa Hai Nền Văn Minh Nông Nghiệp với Du Mục 235

- Sách Trích Dẫn & Tham Khảo .227

- Tham Khảo Sách Ngoại Quốc 228

- Mục Lục 229

*

Trang 5

- Đông Chu 46

- Niên Biểu Đế Chế Cực Quyền 48

* Nhà Tần 49

- Tham Luận (Thời Xuân Thu Chiến Quốc) 53

* Nhà Tiền Hán 61

* Nhà Tây Tấn 68

* Nam - Bắc Triều 68

* Nhà Tùy 69

* Nhà Đường 69

* Nhà Tống 72

- Tham Luận Mở Rộng 77

* Nhà Nguyên 79

- Tham Luãn Mở Rộng 82

* Nhà Minh 91

- Tham Luận Mở Rộng 94

* Nhà Thanh 99

- Tham Luận Mở Rộng 103

Chương Bốn * Chế Độ Cộng Hòa 113

* Trung Hoa Dân Quốc 115

- Đài Loan 118

* Thế Liên Hoành Bách Việt Cần Sớm Thành Hình 125

Chương Năm * Bách Việt trong vùng Đông Nam Á trước Hội Chứng Đại Hán và Thiên Triều Chủ Nghĩa 129

- Lược sử Bách Việt 131

- Tham luận mở rộng 147

Chương Sáu * Mưu Đồ Bá Chủ Qua Chiêu Bài Phục Hưng Khổng Học 153

* Xâm Lăng Lãnh Thổ Qua Những Hiệp Định Thân Hữu 155

* Xâm Lăng Qua Hình Thức Xâm Nhập Thị Trường Lậu Thuế 163

* Hình Thức Di Dân Qua Du Khách .165

* Hình Thức Tân Thái Thú 168

* Quốc Gia Nạn & Dân Tộc Nạn .172

Chương Bảy * Người Việt Phải Làm Gì Trước Tình Thế Nguy Vong của Đát Nước 185

* Khôi Phục Hồn Nước 187

* Diệt Nội Thù 202

* Dồn Địch vào Thế Cô Lập 204

* Tái Khơi Động “Lửa Tuẫn Quốc” vì Đạo Pháp & Dân Tộc 206

Trang 6

Thay Lời Tựa

Khi nói đến Trung Hoa, Đông cũng như Tâythường cho là một nước “khổng-lồ” với dân số trên tỷngười, có một nền văn-hóa cổ đại, và nhất là ngày nayvề hai mặt quân-sự và kinh-tế, Trung Hoa đang trỗimình để trở thành một trong những siêu cường

Với giọng điệu kiêu-căng, đầy thách-đố củaMao-Trạch-Đông khi nhân danh tỷ dân Tàu chắc-chắn

không phải vì ý-thức đấu-tranh cho giai-cấp vô sản “bần

cố nông” mà là để phô-trương sức mạnh “lấy thịt đè người”.

Tiếp nối truyền thống “Thiên Triều Chủ Nghĩa”,

(Đế quyền chuyên chế) với mưu-đồ muốn dùng hơn tỷ

dân để gây loạn xâm lăng, thế-giới chia nhiều hướng: phe cầu hòa, nhóm thần phục, hoặc chống đối

khuynh-Riêng ở Á Đông, muốn ý-thức được con đườngphải đi, xin hãy tự lắng nghe những tiếng thổn-thứcthì-thầm của các bộ tộc Bách Việt khi còn định cư ở

phía Nam sông Dương Tử trước thời Xuân Thu Chiến

Quốc!

Dự kế thống-trị toàn cõi Đông Nam Á của Tàuđã không còn giấu-giếm khi những lãnh-thổ như MiếnĐiện, Thái Lan, Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, Mã Lai,Singapore, Phi-Luật-Tân được vẽ vào một bản đồ vàcoi là lãnh-thổ của Trung Quốc từ năm 1840 đính kèm

trong cuốn “Tân Trung Quốc Sử Lược”, ấn hành vào

năm 1952 để huấn-luyện thanh thiếu niên Cộng sảnTrung Hoa!

Nguyên-tắc chủ yếu của lịch-sử Tàu là “Hưng

Hoa diệt di” (Hưng thịnh nòi Hoa, tiêu diệt các chủng tộc khác ở chung quanh) Nguyên-tắc này được quảng-

Vụ tàn-sát nhân dân Y Khắc Chiếu năm 1943,

cuộc trấn-áp bằng vũ trang ở Tân Cương năm 1944, vụ

tàn-sát tập thể trên 5 ngàn người dân Đài Loan đòi độc

lập 1947 lấn đất Mông Cổ, ngang-nhiên chiếm Tây

Tạng, đoạt Hoàng Sa và Trường Sa, dời aỉ Nam Quan

vào sâu đất Việt, Tất cả đều là thừa-kế chính-sách

đồng-hóa và diệt chủng các tộc khác của nòi Hoa

Chỉ qua những dẫn chứng trên cũng đủ để các

quốc gia thuộc Đông Nam Á phải làm gì để chận đứng

ý đồ khuynh-đảo, lũng-đoạn, chia-rẽ để dễ bề

thống-trị của đế quốc Trung Hoa

Cuốn “Hiểm Họa Xâm Lăng & Đồng Hóa của

Trung Quốc ” được biên soạn để quốc dân Việt trong

cũng như ngoài nước thấy rõ dã-tâm của nòi Hoa trong

qúa trrình lập quốc của họ, và cũng thiết-tha trông đợi

người dân cũng như chính quyền Trung quốc muốn có

một nền hòa-bình trong vùng Đông Nam Á cũng như

trong thế-giới, hãy xét lại chính-sách phát-triển Trung

Hoa Hãy noi theo tinh thần “Đồng Nhân” hay “Thái

Hòa” trong Dịch Lý mà xưa nay người Trung Hoa thường

tự cho: “Dịch, quán quần kinh chi thủ” (dịch là quyển

sách đầu não, bao quát tất cả mọi kinh sách của nền

văn học, nghệ thuật và khoa học của Trung Hoa)

Chân thành kính mong được các bậc thức giả

chỉ cho những điều thiếu sót hay sai lầm

Hoa Kỳ, Đón Xuân Mậu Tý, 2008

Cẩn Bút, Đinh Khang Hoạt

1

1- Lý Đông A, Hồn Sử, 1945.

Trang 7

bá theo nhiều mặt:

Về văn hóa suy-diễn theo đường lối “tam niên

dưỡng chi, giáo chi tất giai ngô dân” (ba năm nuôi dạy

tất trở thành dân Hoa);

Về chính-trị là chiếm lãnh, tất-cả đều phục-tùng

dưới lưỡi lê của nòi Hoa “Phổ thiên chi hạ, mạc phi

vương thổ” (gầm trời trên đất, không chỗ nào là không

thuộc về vua Tầu.)

Trong lịch-trình bành-trướng của nòi Hoa, lịch

sử Việt là cả một cuộc đấu-tranh liên-tục để bảo quốc

tồn chủng!

Để hiểu rõ mối dã tâm của nòi Hoa, thời Đông

Hán vào năm 54 T.L., Hán Quang Vũ cử Tô Định làm

thái-thú quận Giao Chỉ Tô Định đã bắt dân Việt theo

phong-tục, văn hóa của nòi Hoa, chịu sưu cao thuế nặng

buộc lên rừng tìm gỗ qúy, xuống biển mò ngọc trai

“Điển hình nhất, dưới triều Minh, bộ mặt tối quan

liêu, tối dã-man không còn lời nào tả xiết! Chính phủ

cai trị trung-ương tổ-chức bằng “ba đầu chính trị”

(triumvirat), tập trung quyền điều-khiển dưới Đô chỉ

huy sứ (vị đứng đầu về quân sự), án-sát sứ và bố-chính

sứ chỉ huy quyền tư pháp và dân sự Chế độ quân sự tập

quyền ấy đem tất cả người, vật, tiền, việc làm đất Việt

lại dưới một chế-độ cực kỳ nghiêm mật: công nhân bị

kiềm-chế dưới các ty lao động sản xuất, nông-dân bị

kiểm soát bởi các cơ quan nông vụ, thu hết thóc gạo tập

trung lại cũng ví như lao động-cục, bóc-lột hết sức, nhà

buôn bị kìm-chế dưới các ty thương-vụ, ở đấy thuế má

chiếm hết các lãi lờ mà quyền đối ngoại buôn bán trao

đổi hàng hóa bị hạn chế tối đa Giới tu sĩ bị trông coi

bởi các điều luật riêng cho tu sĩ Đạo giáo bị khống-chế

dưới các cơ quan kiểm-soát tôn giáo Thày bói cũng

bị khống-chế bởi một ty cục sở tại Muối bị khống-chế bởi ty thuế muối Ngoài các quân khu, tư-pháp khu, còn các hành-chính khu, tất cả những cơ-cấu ấy đan-lát nhau lại thành những gọng kìm sắt nóng ép người Việt dưới cuộc thống-trị Các cơ-cấu ấy đều thống-nhất dưới một chính-sách tiêu-diệt và đồng-hóa nòi giống Việt Cơ quan thống-trị nhà Minh đã dùng vũ lực bắt ép người Việt mặc áo Tàu, nói tiếng Tàu, cắt tóc, để răng trắng, mặc áo khách (áo cộc là di sỉ đến ngày nay), bắt các nhân tài Việt (như Lê Tắc làm quyển An Nam Chí Lược, Nguyễn văn An xây thành Bắc Kinh) đủ mọi mặt (nho, văn, nghệ-thuật, chính-trị, v.v ), giả vờ dụ các nhân tài ẩn cư ra rồi giết đi, hiếp tróc đàn bà con gái, di dân và tù tội sang tranh cướp, bá chiếm tài sản người Việt, thu sách vở, văn hóa phẩm, nghệ thuật phẩm, qúy vật của người Việt về dùng hay hủy đi, tiêu diệt hết thẩy dân-tộc ý thức, xử-dụng người Việt vào các công việc nguy hiểm mò trai đáy biển, kéo gỗ trên rừng, săn tê trên núi hạn-chế hết kinh-tế năng-lực và văn-hóa của người Việt, giao thông hoàn-toàn kiểm tra và trở cách

“Thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, năm 1940 đã quy định tám con đường phát triển của nòi Hoa trong bộ “Đông Á Điạ Lý “:

1- Tây Bá Lợi Á, 2- Tây Tạng Ba Tư, 3- Tân Cương, 4- Ấn Độ, 5- Việt, Thái, Miến, Tân Gia Ba, 6- Nam Dương liệt đảo,

7- Úc châu, 8- Thái Bình Dương đông liệt đảo, Hàn.”

Trang 8

cao nguyên rồi theo ven phía Nam mà đi về hướng

Đông ra biển Càng lên phía Tây Bắc, bờ các sông

trong triền càng cao, nhiều nơi dòng chảy ở dưới sâu

cách đồng điền ở trên hàng trăm mét Cao nguyên

này chất đất rất tốt, lợi cho đồng cỏ và những ngũ

cốc cần rất ít nước như lúa mì, lúa mạch

Hoàng hà đã tiếp tay với Trường giang mà tạo

ra những đồng bằng Trung-nguyên bằng những trận

lụt trong những mùa tuyết tan và mưa trên những núi

rừng Trung Á Dân cư nòi Mông cổ theo những bồi

lấp này mà mở rộng vùng sống xuống phía Nam và

tạo nên những tập thể sống trên những đất cao

Thời thượng cổ, dân cư ở vùng này lực-lưỡng

và thô-phác Thành phần phía Bắc và Tây Bắc sống

bằng du mục và săn bắn Nhà cửa, quần áo hầu hết

bằng da, len và da lông Thành phần phía Nam và Đông

Nam định cư trồng lúa mì, lúa mạch Nguồn lợi kinh

tế là săn bắn và chăn nuôi tại chỗ Nhà cửa ở đây

nhiều nơi là những hang khoét sâu vào hai bên bờ

sông - ở nơi đủ cao để không bị ngập nước về mùa

mưa và tuyết tan nhưng cũng đủ thấp để tiện việc lấy

nước về mùa khô Những hang này có hang dành cho

người, có hang dành cho gia súc Ưu điểm của hang là

mát về mùa hè, và ấm về mùa đông Ngựa là gia súc

đắc lực trong việc canh tác chuyên chở và di chuyển

Họ đã sáng tạo ra bánh xe để chế xe ngựa dùng

vào việc chuyên chở và chiến tranh, họ cũng biết quan

sát tinh tú để định phương hướng di chuyển trên những

đồng cỏ mông-mênh

Chính vì những điều kiện thiên nhiên và đất

đai mà chiều hướng phát-triển Trung Hoa chia làm hai

hướng: Khởi đầu từ Tây Bắc sang Đông, sau từ Bắc

xuống Nam

Trang 9

CHƯƠNG DẪN NHẬP

Trung Hoa, Hình Thể Tổng Quát:

Nhìn vào bản đồ Trung Hoa (xin coi bản dồ ở

trang 6), đại thể ta thấy:

1- Thung lũng Tarim

2- Sa mạc Gobi

3- Cao nguyên Ordos

4- Cao nguyên Tây Tạng

5- Hy Mã Lạp Sơn

6- Vịnh Bengal

7- Rặng Tần Lĩnh

8- Thung lũng Szechwan

9- Cao nguyên Yunnan

* Thượng và trung lưu triền Hoàng Hà là mộtcao-nguyên hoàng thổ, không do triền này tạo nênmà do gió mùa Tây Bắc thổi cát từ Hãn hải tới lấp cácthung-lũng giữa những đồi núi mà thành Trừ vài khurừng núi phía Tây Bắc, mùa hè hay có mưa lớn, cònkhí hậu cao nguyên này khô, mùa đông rất lạnh, mùahè nóng Hoàng Hà khoét dòng chảy quanh co qua

Trang 10

* Triền sông Dương tử lấp nên những thunglũng và những đồng bằng vùng Hoa Trung và HoaNam bằng phù-sa bào mòn từ những sườn đồi núi TâyTạng, Tứ Xuyên và Hoa Nam Cả vùng này khí hậuẩm ướt, nhiều hồ đầm rừng rú, nhất là tre, nứa; mùahè nhiều mưa lũ, mùa Đông mưa tuyết Hoa Trung khíhậu ôn hòa, ấm về mùa Đông, mát về mùa hè HoaNam khí hậu nhiệt đới - mùa hè thì nóng, mùa Đônglạnh nhưng không quá khác như ở vùng cao nguyênhoàng thổ Thủy sản, lâm sản cũng như thảo mộc vàmuông thú thật phong phú.

Dân cư ở đây sống rải-rác thành những tập thểlớn, nhỏ trên các sườn đồi núi, ven những hồ đầm vàtrên những đồi đất cao ngày bồi thêm rộng để sauthành những đồng bằng lớn nhỏ vùng Hoa Trung vàHoa Nam

Nhà cửa ở những ven hồ đầm và sườn đồi núithường là những khóm nhà sàn, cất trên những hàngcọc cao Nếu những nhà cửa dựng trên mặt đất, vậtliệu có thể là tre, gỗ gạch, đá Vật liệu nhà sàn hầuhết là tre, nứa và lá gồi

Dân vùng này cấy lúa trên những ruộng nước.gieo lúa rẫy và trồng rau dưới các thung-lũng hay trênsườn đồi núi Họ cũng săn bắn và nuôi gia-súc Nguồnchất đạm và chất vôi chính là do các sinh-vật thủysản như tôm, cua, trai, sò và nhất là cá Họ trồngbông, nuôi tằm để kéo sợi Chẳng những biết dệt vải,lụa mà còn biết nung sành - gạch (mỹ nghệ đồ sứ),biết xây cất nhà cửa Như vậy, ở đây đã manh nhaphần lớn văn-minh Trung Hoa sau đó

Hình thế và thế đất cao thấp ở vùng này khácvới vùng cao nguyên hoàng thổ, nơi có những đồngcỏ hay đồng lúa mì mênh-mông cho con người rong

1- Thung-lũng TARIM 8- Thung lũng SZECHWAN.

2- Sa-mạc GOBI 9- Cao-nguyên YUNNAN.

3- Cao-nguyên ORDOS 10- Hoa Bắc.

4- Cao-nguyên Tây Tạng.11- Bình Nguyên.

5- Hy Mã Lạp Sơn 12- Hoàng Hải.

6- Vịnh Bengal 13- Biển Đông.

7- Rặng Tần Lĩnh 14- Nam Hải.

Trang 11

ruổi trên lưng ngựa, mà ở đây đồi núi, sông hồ là

những trở lực biên-giới tự nhiên cách biệt những khu

cư trú thành những tập-thể rời-rạc giữa những cảnh

vật hoang-nhiên cần luôn-luôn cảnh-giác Việc liên

lạc giao-thông ở đây thật khó-khăn, chậm-chạp, đòi

hỏi những phương tiện khác nhau tùy hoàn-cảnh Trợ

lực cho con người ở miền đồi núi là lừa ngựa, nhưng

là giống lừa ngựa nhỏ, dai sức để leo những đường

dốc, hẹp, quanh co Quan-trọng hơn cả là các loại

thuyền bè, từ những thuyền độc mộc đến những bè

tre, nứa, những thuyền nan và những thuyền gỗ đủ cỡ

to nhỏ đều vừa là phương-tiện giao-thông vận-tải vừa

là phương tiện ngư chài, và cũng là để cư trú

Điều đáng lưu ý là dân cư vùng sông Dương

Tử và Hoa Nam tuy được hoàn-cảnh thiên-nhiên phong

phú hơn, thời tiết đỡ khắc nghiệt, nhưng phải chế hóa

thiên-nhiên nhiều hơn là dân cư vùng cao nguyên

hòang thổ Chẳng hạn như ở đây, người ta dựng cất

nhà cửa, không những phải sử dụng tre gỗ một cách

kỹ thuật mà còn phải nung gạch, đá để bảo vệ nơi ăn

chốn ở chống mưa, chống lụt khác với việc dựng lều

hay khoét hang Quần áo cũng vậy, Hoa Bắc dùng

da, lông, len, kỹ thuật chế tạo không mấy khó khăn,

Hoa Nam phải nuôi tằm, trồng bông để chế thành sợi,

phải phát minh cách dệt và cách may cắt, không kể

những thêu thùa hoa mỹ Đến cả việc săn bắn, HoaBắc dùng cung tên và đuổi theo trên mình ngựa - ỞHoa Nam, dùng nỏ và bẫy, phải rình-rập và chờ thútới mà hạ tại chỗ Do đó chế nỏ và bẫy đòi hỏi nhiềukỹ-thuật hơn chế cung Đến việc di chuyển, vận tảicũng khác nhau Thuần phục ngựa rừng và chế xengựa ít công phu và kỹ thuật hơn là chế tạo thuyền bè

đủ loại Tục-ngữ Trung Hoa có câu: “Bắc cưỡi ngựa,

Nam chở thuyền” đã chỉ rõ sở-trường của mỗi miền

Ngoài ra, trong sách Trung Dung đã nêu sựphân biệt tính tình người phương Bắc khác với người

phương Nam: “Dùng khoan nhu để dạy kẻ vô đạo, đó

là cái dũng của người phương Nam, người quân tử nên theo đó Nằm trên áo giáp, binh khí, chết mà không sợ, đó là cái cường của người phương Bắc ”

Trong cuốn “Ba Vấn Đề Khởi Đầu Văn Hóa

Việt” tác-giả Hoài Nguyên đã nêu rõ: “Tại vùng hoàng thổ, thay vì biến chế tài nguyên làm nguồn trợ lực cho mình thì họ “gồng mình” thích-ứng với môi sinh Sống theo thiên-nhiên nên thô phác, sơ lậu và “rừng tính” hơn Cũng vì rèn mình sinh-hoạt trực tiếp với hoàn cảnh khắc nghiệt nên con người Hoa Bắc, nòi Mông Cổ lực-lưỡng và hùng mạnh hơn người Hoa Nam Trong sinh-hoạt phát-triển đụng độ với tập thể khác, thành phần du mục có nhiều ưu điểm như:

- Khoẻ sức và to lớn hơn.

- Sinh hoat giản-dị hơn.

- Trang bị nhẹ-nhàng hơn.

- Kết tập dễ, mau, và chặt-chẽ hơn.

- Tiến, lui nhanh-nhẹn nhờ sử dụng ngựa và chiến xa ngựa kéo thành thục hơn

Những tập thể sinh-động nhẹ-nhàng này lúc nào cũng sẵn-sàng trở thành những đoàn quân sở

1

1- Qua các khai quật có hệ thống trong vòng 10 năm nay, nhất

là giai đoạn từ 1963-1968 tại Non Nok Thay Bắc Thái, nhóm

chuyên viên thuộc hai trường đại học Otago (Tân Tây Lan) và

Hawai (Hoa Kỳ) đã chứng minh một cách khá chính xác về

nông nghiệp, miền Đông Nam Châu Á đã trồng lúa từ trên

3000 năm trc C.N., nghĩa là trước Ấn Độ và Trung Hoa ít ra là

1000 năm; về kỹ thuật miền Đông Nam Châu Á đã biết đúc

đồng bằng khuôn đôi sa thạch từ 2300 đến 3000 năm truớc

C.N nghĩa là trước Ấn Độ 500 năm và trước Trung Hoa 1000

năm (National Geographic Magazine tháng 3/1971.)

Trang 12

trường về vận-động tốc chiến, tốc quyết.

Dựa trên những thắng điểm ấy, thành phần du mục đã sớm khuất-phục được thành phần định cư, lập nên những tập thể rộng lớn hơn dưới một quyền lực thống lĩnh Thành quả của sự thống nhất này thể hiện qua sử kiện Hoàng đế đã Nam tiến, chiến thắng được Suy Vưu (Bắc Thần Nông) mở đầu cho lịch-sử đế chế Trung Hoa.

Về “khảo cổ học”, đặc-biệt ở Việt Nam nhiều

chứng-tích khảo-cổ đã tìm thấy ở nhiều điạ-điểm như

ở vùng lưu-vực sông Mã, sông Cả, sông Lam, ThanhHóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sa Hùynh, Quảng Nam, ĐàNẵng, ở vùng Óc Eo, Đồng Nai, Đại thể những xươngcốt tìm được ở những vùng đất này, nói chung ngườiViệt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Miến Điệnđều giống nhau về đại thể và đều thuộc đại chủngNam Mongoloid, tất nhiên có pha chủng đại dương dađen tóc quăn nhiều hay ít tùy thuộc từng điạ-phương

Qua phương-pháp phóng xạ C-14, người ta đãxác định được những sọ người đào được ở NgưỡngThiều, Long Sơn, đa số thuộc đại chủng NamMongoloid như người miền Nam Trung Hoa ngày nay.Càng đi lần về phương Nam, người ta càng thấy cànggần trung tâm Hòa Bình của Việt Nam càng gặp nhữngxương cốt có niên đại cổ hơn Do đó văn hóa HòaBình ở Việt Nam có những niên đại xưa hơn, nên coinhư là gốc của một nền văn hóa Đông Nam Á

Cuộc hội thảo ở Berkeley vào năm 1978 đã

đưa đến kết quả việc ấn hành cuốn “The Origins of

1

1- Cung Đình Thanh, “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam”, Nhà xuất bản Tư Tưởng, Sydney, Australia, 2003, trang 203.

Các nền văn hóa gốc góp phần

tạo nên văn hóa Trung Hoa

(Dẫn theo Cung Đình Thanh, “Văn Minh Việt Nam”,

trích của Andreas Lommel)

1- Văn Hóa Tung Xích 2- Văn hóa Mông Cổ

3- Văn hóa Thổ 4- Văn hóa Tây Tạng

5- Văn hóa Bách Việt 6- Văn hóa Thái

7 Văn hóa Dao

Trang 13

Chinese Civilization”, nội-dung đã làm sáng tỏ những

vấn đề về cổ sử Trung Hoa, cổ sử Việt Nam và Đông

Nam Á:

- Trong nội địa Trung Hoa, văn hóa miền Nam

Trung Hoa có trước văn hóa miền Bắc

- Văn hóa miền Nam Trung Hoa có nhiều nét

giống văn hóa Hòa Bình, và có sau văn hóa Hòa Bình

Tác giả bộ sách “Science and Civilization in

China”, giáo sư Joseph Needhan đã đưa ra nhận định

là có sáu (6) nền văn hóa cổ đại đã hội tụ thành văn

hóa Trung Hoa:

1/ Nền văn hóa gốc người Tung Gu Xích từ

phương Bắc ảnh-hưởng đến lối sống người Ngưỡng

Thiều và Long Sơn

2/ Văn hóa từ Tây Bắc tới, có nguồn gốc là người

Thổ (Turkish), chuyên nghề săn bắn và trồng lúa tắc,

biết cách thuần hóa ngựa

3/ Từ phương Tây đến, gốc cổ Tây Tạng

4/ Còn bốn, năm và sáu từ phương Nam và Đông

Nam truyền lên

Nhìn vào hình thể tổng-quát Trung Hoa, ta thấy

ba phía: Bắc là sa mạc Gobi, cao nguyên Ordos, Tây

Bắc là thung lũng Tarim, phía Tây là cao nguyên Tây

Tạng và dãy Hy Mã Lạp Sơn, phía Tây Nam là vịnh

Bengal, phía Đông nhìn ra biển Thái Bình Dương, nên

Trung Hoa thời thượng cổ tựa như cô lập không tiếp

xúc với các nên văn minh khác như Ai Cập, Luỡng Hà,

Ba Tư, ngoại trừ các nền văn minh khác ở Châu Á

Với các con sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử, Tây

Giang đều chảy từ tây qua đông hợp với các dãy núi

mà chia Trung Hoa thành các miền quan trọng:

- Phía bắc lưu vực sông Hoàng Hà gồm các tỉnh

Hà Bắc, Sơn Tây (nước Tấn thời Chiến quốc), Tuy Viễn,

Ninh Hạ, Cam Túc,

- Phía nam Hoàng Hà và phía bắc lưu vực sông

Dương Tử gồm các tỉnh: Sơn Đông (nước Tề thời Chiến

Quốc), Giang Tô, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Thiểm

Tây (trung tâm của thời Tây Chu), Tứ Xuyên,

- Phía nam lưu vực sông Dương Tử (gồm nước

Sở, Ngô, Việt thời Chiến Quốc) gồm các tỉnh: Chiết

Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Qúy Châu, CônMinh, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây (chưa kể đếnnhững miền như Mãn Châu, Mông Cổ, Tân Cương, vàTây Tạng mà nòi Hoa mới chiếm mấy thế kỷ nay)

Chính vì Trung Hoa rộng lớn, và chia thành 3miền rõ rệt, ngay nội cánh đồng Tứ Xuyên cũng đã lớnhơn nuớc Việt, mà ta thấy có ba (3) nét chính:

- Rộng mênh-mông.

- Đa dạng và phức-tạp.

- Nhu-cầu truyền kiếp bành-trướng về phương Nam.

Xưa nay, vẫn thường có quan-điểm về chủngtộc, nhất là về văn hóa đều cho là từ Bắc truyền xuống

phương Nam, nhưng gần đây (khoảng hai ba chục năm)

qua khảo cổ học đã được minh định rõ ràng qua phươngpháp phóng xạ C-14, đã cung-cấp cho nhân loại những

chứng cớ khả tín, “Miền Bắc Việt Nam là một cái nôi cổ

của người Nam Mongoloid, trước cả những trung tâm cổ ở Trung Hoa”.

Trong luận án của tiến sĩ J.M Mathews, viện

đại học Camberra, 1964, với nhan đề “Văn Hóa Hòa

Bình ở Đông Nam Á và những nơi khác” đã coi Tứ

Xuyên như một dạng điạ phương của văn hóa Hòa Bình

Trang 14

B/ Giá Trị của Huyền Thoại.

II-2/ Huyền Thoại của Trung Hoa:

- Bàn Cổ (Pan-Ku) sống 18,000 năm

- Phục Hy (Ox Tamer) 2852 Trc C.N

- Thần Nông (Shen-Nung, Divine Farmer)

2737 Trc C.N

- Hoàng Đế (Huang-Ti, Yellow Emperor) 2697-2600 Trc C.N

- Đế Nghiêu (Yao), 2356-2255 Trc C.N

- Đế Thuấn (Shun) 2255-2205 Trc C.N

xưa gần chân lý nhất Hơn nữa, “huyền thoại” còn là

gia-sản qúy báu vì tính-chất thiêng-liêng, điển-hình

và có ý nghĩa ”

(Mircea Eliade, Myth and Reality, trang 4)

- “Huyền-thoại là một sáng-tạo tập-thể về giấc

mơ siêu ý-thức của thực-tại (Le mythe est une création

collective d’un rêve surconscient de la vérité.)

(Paul Diel, Le Symbolisme dans la Mythologie Grecque.)

- “ Không có bộ huyền-thoại thì không thể thành

một dân-tộc Dân-tộc nào không có bộ huyền-thoại

không thể được coi là có văn-hóa hay văn-minh, vì bộ

huyền-thoại là những câu chuyện diễn-tả tinh-thần

của dân-tộc ở mức độ cao nhất và cũng là di-sản

thiêng-liêng của dân-tộc đó.”

(Laurens Van Der Post, Pattern of

Renewal,Pendel Hill, trang 9)

Như vậy, huyền-sử vốn có một giá-trị tự tại, vì

ít ra nêu lên quan-niệm sống của một dân-tộc,

gói-ghém ý-hướng thâm sâu của tiền-nhân

Huyền-sử của một dân-tộc không những là một

quốc bảo, mà còn là kho-tàng bất tận cho nguồn

thi-hứng và sáng-tác Huyền-sử tất-nhiên không hoàn-toàn

xác-thực Nhưng huyền-sử là cốt-lõi của sử học;

Huyền-sử rộng-rãi hơn chính sử, biên sử Huyền-sử

1

1- “Unlike their predecessors, who treated myth in the usual

meaning of the word, that is, as “fable”, “invention”, “fiction”,

they have accepted it as it was understood in the archaic

societ-ies, where, on the contrary , “myth”means a “true story” and,

beyond that, a story that is a most precious possession because

it is sacred, exemplary, significant ”

(Mircea Eliade, “Myth And Reality”, Page 1, Harper & Row,

Publishers, 1963.)

Trang 15

object, for instance an old tin that has been thrown away, can suddenly assume the importance of a fetish This effect

is obviously not inherent in the tin, but is a psychic product.”

(C.G Jung, “Civilization in Transition” V.10 ed 2

- A Modern Myth, P 329.)

¾ “Ngôn từ trong Thần Thoại là ngôn từ tự nhiên

nguyên thủy đến siêu hình mà không cần đến công-thức trí thức nào để diễn tả biểu-tượng của thần thoại nhưng lại là những phương-thức giản-dị nhất, tốt nhất để ghi lại những biểu tượng của ngôn từ.”

*

hận xét về “huyền thoại”, trong tập “Tinh Hoa

Tư-Tưởng Việt ”, các trang 18, 19, và 20, hai ông

Hoài-Vân-Tử và Vĩnh-Như đã dẫn-chứng ý-kiến của một sốnhà văn nổi tiếng:

- “Bộ huyền-thoại của một dân-tộc là đạo sống

của dân-tộc ấy Nếu mất huyền-thoại thì bất-cứ một dân-tộc nào, kể cả những dân-tộc văn-minh nhất cũng sẽ sụp-đổ khủng-khiếp” (Carl Jung)

- “Khác vơi tiền nhân trước thế kỷ XIX, coi “thần thoại” là những truyện “ngụ ngôn”,”hoang đường”,

“tiểu thuyết”, mà là những truyện trong xã-hội cổ

II-1/ Huyền Thoại & Giá Trị:

A/ Định Nghĩa :

¾ Huyền : mầu-nhiệm, thâm ảo

¾ Thoại : Nói chuyện

Huyền thoại (Mythology): Những câu chuyện

hoang-đường, huyễn-hoặc, nguồn gốc nhân gian

(récit fabuleux, d’origine populaire et non

réfléchie… (Larousse).

¾ Huyền thoại là hiện-tượng thần thánh hóa các

hiện-tượng thiên-nhiên khó giải-thích như sấm,

chớp, bão lụt, động đất,… (Max Muller)

¾ Theo E Taylor, Mannhardt, Andrew Lang, thì cho

rằng: “Huyền thoại phản-ảnh cảm nghĩ của các

dân-tộc cổ sơ đặt nền tảng trên quan-niệm duy

hồn (aninisme)”.

¾ “Huyền thoại là một sáng tạo tập thể về giấc mơ

siêu ý thức của thực tại “ (Le mythe est une création

collective d’un rêve surconscient de la vérité.)

(Paul Diel)

B/ Giá Trị Huyền Sử :

¾ Huyền sử là yếu tố quan trọng trong việc tìm về

nguồn

¾ “Huyền thoại là sản phẩm rất cần thiết cho một

bản-vị mơ hồ không hề được biết đến nên đòi hỏi

sự giải thích về tâm lý Đối với người cổ sơ, bất

cứ vật gì, thí dụ như một miếng thiếc han rỉ đã

vứt bỏ bỗng trở thành một bùa phép thì hiệu-quả

này hiển-nhiên không nói về thiếc mà về

siêu-hình.”

(“A myth is essentially a product of the unconscious

archetype and is therefore a symbol which requires

psychological interpretation For primitive man any

1- “Myth is the primordial language natural to these psychic processes, and no intellectual formulation comes anywhere near the richness and expressiveness of mythological imagery Such processes are concerned with the primordial images, and these are best and most succinctly reproduced by figurative language.”

(Jung & The Jungians on Myth:, chapter One, published

in 2002 by Routledge, p.17)

1

N

Trang 16

bao gồm dĩ-vãng, hiện-tại và tương-lai Đặc-tính củahuyền-sử là siêu thời-gian Cái lõi sự thật của huyền-sử là ở ý-nghĩa ẩn-tàng trong câu truyện Giá-trịcủa huyền-sử thường đặt trên triết-học nhiều hơn làsử-học.

II-2/ Huyền Thoại của Trung Hoa

- Ông Bàn Cổ (Pan-Ku):

Theo truyền-thuyết của Trung Hoa “Vũ trụ vốn là một khối hỗn-mang mờ-mịt, ban đầu chỉ là thể khí nóng, nguội dần thành khối đá khổng-lồ Ông Bàn Cổ bực-tức sống trong tối-tăm, bèn lấy một vật bổ thẳng về phía trước Khoảng tối bèn vỡ tung ra Chất trong và nhẹ bốc lên cao thành bầu trời, chất đục và nặng lắng xuống thấp thành đất.

“Bàn Cổ thủ xuất Phán định âm dương ”

Bàn Cổ sống 18000 năm, ông lớn đến đâu thìkích thước vũ trụ cao rộng đến đó Mỗi ngày ông lớn

10 bộ (1 bộ = 0.3048m) Khi ông chết, hai mắt biến

thành mặt trời và mặt trăng; hơi thở thành không-khí,xương thành đồi núi, da thịt thành đồng ruộng, máuông thành sông biển, chấy rận thành các sinh vật

- Phục Hy (Fu-hsi [Ox-tamer]):

Theo truyền-thuyết, Phục Hy (niên đại khoảng

3500 năm trước CN.) là người có công thuần-hóa giasúc và sắp đặt đời sống gia-đình Phục Hy cũng là

người đầu tiên vạch ra đồ hình “Bát Quái” và kết hợp

thành 64 quẻ, tạo nên hệ-thống ký hiệu đầu tiên của

Dịch học gọi là Hy Dịch (“Cổ giả Bào Hy thị chi vương

thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan thượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư điạ; quan điểu thú chi văn, dữ điạ chi

Trong bộ sách thuốc “Hoàng Đế Nội Kinh” tương

truyền Hoàng đế là tác-giả của sách này và tôn ông

làm tổ của y học Trung Hoa Vị nguyên phi của Hoàng

đế là bà Lũy Tổ, bà đã dạy cho dân Hoa nghề nuôi tằm

và dệt lụa

* Huyền thoại Nữ Oa: Huyền thoại về Nữ Oa

có liên-quan đến “Hậu Thiên Bát Quái” trong Kinh

Dịch, một cổ thư lâu đời ở Trung Hoa

Vào thời xa xưa, có một lần tai ương khủng-khiếp

xảy ra, do cuộc chiến tranh giữa hai thần nước Cộng

Công và thần lửa Chúc Dung Thần lửa Chúc Dung bị

đánh thua, lao đầu vào cây trụ chống trời, thế là trời

sập, đất lở, chỗ này hồng thủy dâng ngập tràn lan, nơi

kia lửa bùng thiêu đốt Hoang thú chạy ra khỏi rừng

gây tai họa cho con người Trước cảnh tai ương gây đau

thảm cho loài người, bà Nữ Oa thấy loài người gặp cảnh

khốn khổ, bèn lấy đá ngũ sắc (năm màu), dùng lửa

nung nấu thành một thứ keo đặc-biệt Bà đem keo ấy

dán vào lỗ thủng trên bầu trời Để chống bầu trời lên,

bà chọn một con rùa lớn, chặt bốn chân của nó làm trụ

Bốn chân rùa dựng lên ở bốn góc trời làm bốn trụ vững

chắc để chống đỡ bầu trời Bà dùng tro của lau sậy bị

cháy lấp chặn hồng thủy Cuối cùng tai họa lớn của

loài người được qua khỏi Đó đều là công lao của bà

Nữ Oa

Tuy trời đất đã được vá-víu, chống đỡ, nhưng

không giữ lại được nguyên hình thể trước kia Bầu trời

bị nghiêng về phía Tây, vì vậy mà mặt trời, mặt trăng

và các tinh tú cứ theo chiều hướng nghiêng ấy mà

chạy từ đông sang tây; mặt đất tuy đã được tu bổ, nhưng

vẫn còn vực sâu ở phía đông-nam, vì vậy nước các sông

ngòi đều chảy về vực sâu, tích tụ thành biển lớn

Trang 17

nghi; cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật; ư thị thủy

tác Bát Quái dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn

vật chi tình” = Vua Phục Hy ngửa xem tượng trời, cúi

xem phép dưới đất, xem các văn vẻ chim muông cùng

những thích-nghi của trời đất Gần thì lấy thân mình,

xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái đề thông đức thần

minh và phân loại các tính của vạn vật”).

Khi chết, Phục Hy truyền ngôi cho Thần Nông

(Dịch Kinh, tiết I, Hệ Từ Hạ, Chương 2)

* Thần Nông (Xích Tử, Shen-nung [Divine

farmer], niên đại vào khoảng 2737 trc CN).

“Về giai-thoại Thần Nông, được coi như người

đầu tiên phát-minh nông nghiệp, chế ra cày cuốc và

chợ búa để trao đổi

Sách Thập Di Ký của Vương gia đời Tấn viết

rằng: “Ở thời Thần Nông có con hồng tước (chim sẻ

đỏ) ngậm chín hạt thóc, bay đến nhả xuống đất Thần

Nông lấy chín hạt thóc ấy gieo xuống ruộng Đến mùa

gặt lúa, ai ăn vào sẽ trường sinh bất tử.”

Điều này bao-hàm nhiều ẩn dụ, có thể đưa đến

những luận giải dị đồng Tuy nhiên, nhận định chung,

Thần Nông ở phương Nam, do ý “Nam phương hỏa

đức thịnh”, ở phương Nam lòng nhân ấm-áp như được

sưởi bên lửa nên gọi Thần Nông là Viêm đế, Xích Tử

* Hoàng Đế (Huang-ti, Yellow Emporor, niên

đại khoảng 2697 trc CN).

Về Hoàng đế, đại-để sách Trung Hoa ghi là họ

Công Tôn, sinh ở Hiên Viên nên gọi là Hiên Viên, hoặclại ghi là Hoàng đế họ Hiên Viên Các sách sử Trung

Hoa đều ghi chung một điều: Hoàng đế không có cha,

mẹ tên là Phụ Bảo, nhận thấy ánh sáng như chớp vây quanh sao Bắc Đẩu, cảm mà mang thai, sinh ra Hoàng Đế.

Sách Tả Thị Xuân Thu viết về xã hội Trung Hoa

thời thái cổ như sau: “Ở thời thái cổ, dân sống thành

bầy, không có vua chỉ biết có mẹ, không biết có cha Trai gái chung chạ, chưa biết phân-biệt anh em, vợ chồng, họ hàng thân thích.”

Có giả-thuyết cho rằng địa-bàn gốc của HiênViên là châu thổ sông Hoàng Hà nên gọi là Hoàng đế.Dưới thời Hoàng đế, điạ-bàn Trung quốc mới ở giữatrung lưu Hoàng Hà và Dương Tử Đông tới biển vùngnúi Hoàn Sơn, Đại Tông; phía Tây tới núi Không Động,Kê Đầu; Nam tới Giang, Hùng, Tương

Cũng có giả-thuyết khác, Hiên Viên lấy thổ (đất)làm đức, đất mầu vàng nên gọi là Hoàng đế

Tương truyền sau khi Hoàng đế chiến thắng SuyVưu (thủ lãnh của Bắc Thần Nông) được tôn làm thiêntử và về sau các sử-gia Tàu coi Trung Hoa được thành-lập một quốc gia kể từ thời Hoàng Đế, nói cách kháccoi Hoàng đế là thủy tổ Trung Hoa

1- Âu Đại Nhậm, người dịch Trầøn Lam Giang, “Bách Việt Tiên

Hiền Chí” Lĩnh Nam Di Thư, Thư Viên Việt Nam xb 2006., tr.37).“

Về Tam Hoàng có ba thuyết:

Tam Hoàng: - Thiên Hoàng, Điạ Hoàng và Nhân Hoàng.

- Phục Hy, Thần Nông và Hoàng đế.

- Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông.

1

1- Huang-ti reportedly fought and won a great battle against “barbarians” somewhere in modern Shansi province, and after his victory was accepted as national leader by tribes throughout the Yellow River plain Some Chinese writers suggest that China’s history as a na- tion actually begins with Huang-ti.”

(Charles O Hucker, “China’s Imperial Past”, Stanford University Press, Stanford, California, 1975)

1

Trang 18

Luận về Truyền Thuyết

của Trung Hoa

1/ Tính-chất bất nhất và nhiều giả thuyết về một thời kỳ:

heo thông thường mỗi dân tộc có một truyền

thuyết, như dân Pháp chọn “gà trống” để biểu-tượng

cho dân tộc Gaulois, một dân tộc tự nhận sớm minh để tỉnh-thức các dân-tộc khác; Dân Nhật chọn

văn-“Thái Dương thần nữ”, tượng sự cao qúy của dân Nhật; Chim “ưng” là biểu-tượng sức mạnh cho dân Đức; Nòi Hán (Hoa) trước chọn “hổ” sau chọn “rồng”; Dân Việt chọn “Tiên Rồng” biểu-tượng tính cách thanh cao và

sức uy dũng vô song,

Theo các học-giả Trung Hoa, sau khi Bàn Cổmất thì có ba ông vua đầu tiên gọi là “Tam Hoàng” rồiđến “Ngũ Đế”

Về “Tam Hoàng” có ba thuyết:

- Thiên hoàng - Điạ hoàng và Nhân hoàng (Theo

Tam Ngũ Lịch).

- Phục Hy - Thần Nông và Hoàng Đế (thuyết

của Khổng An Quốc đời Hán).

- Phục Hy - Nữ Oa - Thần Nông (Theo Tiểu Chu,

nhà Thục Hán).

* Ngũ đế có những 4 thuyết:

- Thái Hạo, Hoàng đế, Thần Nông, Thiếu Hạo,Chuyên Húc

- Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hạo,

Chuyên Húc, (thuyết được thông dụng nhất).

- Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc,Đế Chí

T

“vũng nước” Ở Việt Nam, từ Bắc vào Trung rất

phổ-biến trong dân gian truyện Nữ Oa “.

Còn Thần Nông, chữ “nông” chứng-tỏ liên

quan đến nông nghiệp, đều vốn là của cư dân bản điạ

phương Nam bị sát nhập vào Hoa tộc (Needman 1954;

163) Không phải ngẫu-nhiên mà Thần Nông luôn

luôn được coi là vị thần cai quản phương Nam và còn

có tên khác là Viêm Đế (vua xứ nóng) Niên đại truyền

thuyết của Thần Nông (khoảng 2737 trc CN) tương

ứng với giai-đoạn người Đông Nam Á phát-triển mạnh

nghề nông (thời đá mới) Như vậy, Thần Nông thực

chất là tên gọi biểu-tượng cho những thành-tựu tập

thể của cả một giai-đoạn

Cứ theo “Sơ Học Vấn Tân”, nước Việt xưa gọi

là Việt Thường; nhà Đường đổi làm An Nam, nhà Hán

gọi là Nam Việt Cháu bốn đời vua Thần Nông được

phong làm vua gọi là vua Kinh Dương, hiệu là họ Hồng

Bàng (Kỳ tại quốc bản, cổ hiệu Việt Thường; Đường

cải An Nam, Hán xưng Nam Việt Thần Nông tứ thế,

thứ tử phân phong; viết Kinh Dương vương, hiệu Hồng

Bàng thị.)

[Sơ Học Vấn Tân, phần 2, tóm tắt lịch sử nước

Nam từ đời Hồng Bàng đến triều Nguyễn].

* Đế Nghiêu (Yao, niên đại 2357-2256 trc CN.)

Vị vua đời thượng cổ, được tôn là bậc vua thánh,

họ Y Kỳ, tên Phóng Huân, mẹ vua tên là Khánh Đô, có

thai 24 tháng mới sinh ra ngài ở đất Đơn Lăng, năm 20

tuổi lên ngôi vua, đóng đô ở Bình Dương Làm vua mà

ở nhà cỏ, thềm đất Dưới thời Nghiêu, dân cư an lạc,

thái bình

1- Trần Ngọc Thêm, “Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam”,

trang 78-79, nhà xuất bản T/P HCM, năm 2002.

1

Trang 19

- Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu,

Đế Thuấn

Căn-cứ trên, ta thấy mỗi thuyết một khác; nhân

vật không giống nhau; thứ tự lung-tung, thuyết thì gọi

là “hoàng”, thuyết lại gọi là “đế”; về nhân vật có sự

trùng tên với truyền-thuyết của sắc dân nông nghiệp ở

phía Nam! Điều này chứng tỏ có sự lầm lẫn về cỗi

nguồn của người Trung Hoa, hoặc vì muốn che giấu

gốc-tích du mục hiếu chiến của mình?

Khi bàn đến cổ thư và danh nhân Trung quốc

thì thật là điều “mù mờ”, giống như việc tìm hiểu chủng

tộc và lịch sử cổ đại văn minh của người Tàu Cho đến

nay, không ai biết được dân tộc Trung Hoa từ đâu tới,

gốc văn minh của họ thế nào?

Trong bài tựa cuốn “China” của Caroline

Blunden và giáo-sư Mark Elvin thuộc đại-học Oxford

đã viết: “ Liệu ngay chính người Trung Hoa có được

bao nhiêu ý-niệm về Trung Quốc xưa kia thực sự ra

sao? Đây là một nền văn-minh cổ xưa nhất của

thế-giới còn tồn tại Xét theo sự liên-tục về văn-hóa, ấy

vậy mà quá-khứ của nó đã bị tái hiệu-đính liên-miên

thay vì thực sự được bảo tồn Chẳng những vậy, ngày

nay đã chẳng còn được bao nhiêu tài-liệu nguyên bản.

Hầu hết chỉ là những bản sao của những bản sao

Đôi lúc kể cả những họa phẩm.”

Charles O Hucker, giáo sư Trung Hoa học và

sử học tại đại học Michigan khi nghiên-cứu sử liệu Trung

quốc đã phát-giác ra rằng: “ Có một sự bỏ sót đáng

lưu ý không có một gợi ý nào trong các truyền thuyết

cổ sơ đề cập tới một đấng anh hùng nào đã đưa dân

tộc Trung Hoa từ đâu đó đến nước Tàu ngày nay ”

(Charles O Hucker, “China’s Imperial Past, Standford

Univer-sity Press, 1975, trang 22.)

Để giải-thích điều này, lý-do chủ-quan duy nhứt

vềø hành-vi cố tình xóa bỏ nguồn gốc du mục của tổtiên mình cũng như phủ-nhận sự thâu hóa các tinh-hoavăn hóa của các dân tộc bản điạ trong quá trình hình

thành một quốc gia độc tôn là Trung Hoa Sự tự tôn, tự

đại tự nhận mình là dân “con Trời”, có nhiệm-vụ vương hóa các dân tộc chung quanh mà người Tàu coi là Bắc Địch, Nam Man, Dông Di, Tây Nhung.

Đọc đến huyền thoại về “Tam Hoàng, Ngũ Đế”,

ta thấy trong đó có nhiều nghi-vấn:

Trước hết, truyẹân Bàn Cổ đã được các nhà

nghiên-cứu thừa-nhận rằng nguồn gốc huyền thoại

này không phải của Trung Hoa mà đã vay mượn từ các dân tộc láng giềng phương Nam là các bộ tộc Mèo Dao Nhà nghiên cứu Trung quốc Viên Kha trong

cuốn “Trung Quốc Cổ Đại Thần Thoại” còn chỉ rõ:

“Thủy tổ của người Mèo Dao đã được tu chỉnh đưa

vào Trung Hoa trong thời Tam Quốc rồi kết hợp với những mẩu chuyện của Hán tộc mà tạo nên huyền thoại Bàn Cổ “.

Theo V.V Evsjukov trong cuốn “Thần Thoại Trung Hoa Thời Đá Mài”,đã được các nhà nghiên cứu

thừa nhận rằng theo nguồn gốc đó không phải là của Trung Hoa mà được vay mượn từ các dân tộc láng giềng phương Nam của Trung Hoa là các bộ tộc Mèo Dao.

“Phục Hy là nhân vật thần thoại có gốc từ miền Tây Bắc Trung Quốc nhưng lại chịu ảnh-hưởng của thần thoại phương Nam mà đồng hóa vào nhân vật người anh trong các truyện về quả bầu gặp nạn hồng thủy rồi lấy cô em gái Phục Hy là dạng Hán hóa của Pu-i

Về Nữ Oa thì rõ-ràng có nguồn gốc phươngNam, xuất thân từ vùng Bách Việt phía Nam sông

Dương Tử (Oa là một từ phiên âm mà nhà Hán học

E.H Schafer cho là liên-quan đến nghĩa về “con cóc”,

Trang 20

* Đế Thuấn (2255-2205 trc CN.).

Ông Thuấn được đế Nghiêu truyền ngôi Tươngtruyền ông Thuấn được truyền ngôi nhờ nổi tiếng làngười con hiếu thảo

Hai triều đại Nghiêu - Thuấn được coi như thờikỳ vàng son trong lịch sử chính trị Trung Quốc Theotruyền thuyết, đời Nghiêu đã chế ra âm lịch để nônggia nương theo đó mà cày cấy, đặt lễ nghi cưới hỏi vàkhởi đầu chế độ trung ương

* Nhà Hạ (Hsia -Niên đại từ 2205- 1783 tr CN)

Trong thời Nghiêu - Thuấn gặp nạn hồng thủy,

vua Thuấn cử ông Vũ trị thủy (Dưới triều Thuấn, ông

Vũ giữ chức tư không, như chức thượng thư bộ công).

Ông Vũ đào sông ngòi để nước chảy ra biển, suốt 13năm liền, qua nhà không kịp vào, người đời nhớ ơn gọilà Đại Vũ Ông Vũ được vua Thuấn truyền ngôi, lập ranhà Hạ, trải 18 đời vua, kéo dài 422 năm Cuối đời Hạlà vua Kiệt, vị vua nổi tiếng bạo ngược, hoang dâm,mê nàng Muội Hỉ, bị Thành Thang đánh bại Nhà Hạdứt, chuyển sang nhà Thương (Ân)

* Nhà Thương (Shang = cũng gọi là nhà Ân,

niên đại khoảng 1766 - 1122 trc CN):

Ông Khiết: Ân Khiết, mẹ tên là Giản Địch, congái dòng họ Hữu Nhung, thứ phi của Đế Cốc Một hôm

1- Theo truyền thuyết, ông Thuấn mẹ mất sớm, cha là Cổ Tẩu lấy người vợ thứ sinh ra người con trai tên là Tượng Người dì ghẻ này rất cay nghiệt, thường hành hạ Thuấn, ăn không đủ no, áo không đủ ấm, làm việc cực nhọc suốt ngày Nhân một hôm đánh

xe cho cha, vì đói lạnh nên để rớt càng xe Sau khi đánh mắng Thuấn, người cha hiểu ra vì con mình đói yếu nên để rớt càng

xe, về nhà định bỏ người vợ thứ Ông Thuấn không những không oán ghét người dì ghẻ, lại còn xin bố tha cho bà Sau đó bà dì ghẻ và người em khác mẹ đổi tính nết đối xử tốt với ông Thuấn.

“Quốc”, “Thiên Hạ”,”Trung Hoa”, “Tứ Di”.)))))

***** Theo cuốn “Ba Vấn Đề Khởi Đầu Văn Hóa

Việt Trên Thế Giới”, xuất-bản năm 2000 tại Canada,

tác-giả đã viết:

“Quân “ theo như ngày nay thường được hiểu làQuân

để chỉ chức-vụ tối cao trong một guồng máy quân chủ,

như vua, quốc vương, quốc trưởng hay thủ tướng trong

chế độ dân chủ Ở thời tối cổ Trung Hoa, mới đầu tước

hiệu là “đế”, là “hoàng” (tam hoàng ngũ đế) Sang thời

“tam đại” tước hiệu đổi là “vương” như Vũ Vương nhà

Hạ, Trụ vương nhà Ân (Thương), Văn vương nhà Chu,

thời Tam Đại, tước “vương” cũng được tôn xưng là “thiên

tử” Thiên tử là kẻ thừa mệnh trời dẫn-dắt cả thiên hạ.

Thời khởi sử, vua cả thiên hạ được hiệu là

“hoàng”, là “đế”, vua chư hầu gọi là “quân”, tiếp đó

tùy nước lớn nhỏ, tùy công nghiệp mà “thiên tử” ban

cho tước “công” hay “hầu” Căn-bản, đều là hầu, riêng

“công” cao hơn “hầu”.

Cuối thời Chu (thời Xuân Thu), chư-hầu nhiều

tranh chấp, có bốn vị “công” được trao quyền “bá chủ”:

Tề Hoàn Công, Tấn văn Công, Sở Trang Công và Tần

Mục Công

Người được thiên tử trao cho trách-nhiệm thay

mình giữ trật-tự trong thiên hạ, không để chư-hầu gây

loạn thì gọi là “tướng quốc” , sau gọi là “bá chủ”.

Người đầu tiên thiết -lập chế-độ có một lý-thuyết

là Chu Đản (Chu Công), em Chu Vũ Vương Ông này

đặt rõ quyền hạn và trách-nhiệm của mỗi vai trong “tam

vị chế” (Thiên Tử, tướng quốc và sử gia):

1

Trang 21

cùng hai người đi tắm, thấy chim đen đẻ trứng, Giản

Địch nhặt mà nuốt, bèn cảm mà mang thai, sinh ra Ân

Khiết Ân Khiết là tổ của nhà Ân Qua huyền sử, nhà

Ân gốc mẫu hệ, vật tổ là con chim đen

Theo sử ký của Tư Mã Thiên, Thành Thang sau

khi diệt vua Kiệt, khai sáng ra nhà Thương, được nhiều

bộ lạc quy tụ nên đất đai của nhà Thương gồm các tỉnh

Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam ngày nay

Nhà Thương gồm tất cả 30 đời vua Mười ba

vua đầu, anh truyền cho em cùng mẹ, nhưng đến bốn

đời vua cuối triều Thương thì truyền ngôi cho con và từ

đó thành lệ “cha truyền con nối” Cuối đời Thương là

Đế Tân, hiệu là Trụ hoang dâm bạo ngược giống vua

Kiệt đời Hạ

* Đặc Thái Thời Hạ và Thương (Ân):

- Đổi từ truyền hiền sang “cha truyền con nối”:

Theo sử sách Trung Hoa, khi chết ông Vũ truyền

ngôi cho người hiền là ông Ích, nhưng Ích không nhận,

nhường lại cho con ông Vũ là Khải mà đi ở ẩn tại chân

núi Kỳ Sơn Chư hầu và bách tính đều ca ngợi ông

Khải, như vậy là lòng dân đều hướng về ông Khải

Nếu cho ý dân là ý trời, trời cho Khải làm vua, chứ

không phải vua Vũ cho Do đó chế độ truyền hiền coi

như được tiếp tục cho đến bốn đời vua cuối thì đều

truyền cho con

- Tục lệ chôn người sống

Qua các cuộc khai-quật ở An Dương từ năm

1950, người ta tìm thấy ở những ngôi mộ của thiên tử

và chư hầu, người tuẫn táng (tự chết theo) nhiều-ít tùy

theo ngôi vị thiên tử hay vương hầu Điều đó chứng tỏ

số người bị hy sinh rất lớn, nhất là khi chôn cất nhà

vua Có một ngôi mộ, người ta khai quật trên 300 bộ

xương người Những bộ xương đó có thể là của hoànghậu, cung phi, các kẻ hầu cận vua, vệ binh, đánh xe,một số quan tướng nữa Tục lệ này duy trì rất lâu, mãiđến thiên niên kỷ thứ nhất mới được lần-lần thay thếbằng những hình nộm đan bằng tre, hay những tượnglớn như người thật bằng đá, gỗ hay đất nung

- Về binh bị:

Điều đặc-biệt là khoảng giữa triều Thương bắtđầu nuôi ngựa Có ngựa rồi chế ra chiến xa Chiến xacủa nhà Thương không khác gì chiến xa đời Chu Theo

Mercel Granet diễn tả trong “La Civilization Chinois”

“Xe có hai bánh, một cái thùng hẹp, bịt ở phía trước,

mở phía sau Mỗi xe kéo bởi 4 ngựa, người đánh xe ngồi ở giữa xe, cầm cương, bên trái là một chiến sĩ cầm cung, bên phải một chiến sĩ cầm thương Ngựa và ba người trên xe đều có áo giáp bằng da thú Có ba mộc gỗ để che chở cho 3 người trên xe Người đánh xe và chiến sĩ đều ở trong giai cấp thượng lưu, còn lính là thường dân thì đi bộ để sai bảo như đào đất, bác cầu, chăn ngựa, v.v , họ không dự chiến chỉ đứng xa ngó.

Trang 22

tài của một vị thiên tử) Cũng đừng lầm chế độ này với

chế độ “đế chế cực quyền”.

Chế độ phong kiến ra đời trước hết là một giải

pháp giải-quyết sự xung-đột giữa Hoa Mông và Việt

trên đường phát-triển gặp nhau ở Trung nguyên Sự

đáp ứng nhu cầu hòa bình giữa các tập thể quốc gia,

nhất là giữa những tập thể dị tộc Hoa - Việt Nó là con

đẻ của một thỏa-hiệp thành công giữa những kẻ tương

đối mạnh và những kẻ tương đối yếu, đôi bên đều thừa

nhận nhau Những trao đổi sản phẩm và văn hóa, kỹ

thuật, những giao thoa về dòng máu đã tạo ra ở

Trung-nguyên

Quyền lực ở đây không còn là quyền lực áp đặt

bằng võ lực mà là quyền lực được trông cậy, phát sinh

trong những đại hội chư hầu Vị minh chủ không phải

là ông vua quyền năng tuyệt đối mà chính yếu là kẻ

chịu sự ủy-thác long-trọng và trang-nghiêm của chư

hầu để làm trọng-tài giữa chư hầu

Trung-nguyên trong thời này được phát-triển

trong hòa bình, thịnh vương (Đầu triều Hạ, đại hội họp

lên tới hàng vạn Hầu, nên hiểu đây mới chỉ là những

phôi thai của một quốc gia, thực chất chỉ là những liên

bộ lạc) do sự gia nhập của nhiều tập thể Tình thế này

tiếp-tục phát-triển cho tới thời Xuân Thu khi uy quyền

* Thiên tử tiêu-biểu cho quyền lực tối cao, thần

quyền “thiên”, cho nên gọi là “thụ thiên mệnh” và được

hiệu danh là thiên tử, một tấm gương sáng truyền cái

đức “hiếu sinh” của Trời Đất.

* Tướng quốc là người được thiên tử chỉ định

(chịu mệnh của thiên tử) cho nên gọi là “quân tử” ,

nghĩa gốc là người chịu mệnh vua để cầm quyền loquản-lý những việc trong thiên hạ để duy trì trật-tự vàhòa bình Tướng quốc toàn quyền sáng kiến trong việclàm của mình, nhưng dưới quyền trọng tài của thiên tử

* Sử gia là người đứng ngoài hệ-thống quyềnlực, ghi chép mọi điều đã xảy ra trong thiên hạ cả ởđương thời và quá khứ, giúp thiên tử có dữ kiện đểhiểu biết và phán xét

Tiếp đến danh từ “Trung Hoa” có nghĩa là

thiên hạ trong sứ mệnh của thiên tử gồm hai phần:một phần gồm các quốc gia đã tự đặt dưới quyền chỉđạo và xây-dựng an hòa của thiên tử Vào thời thượngcổ, phần này nằm trong vùng Tây Bắc Hoa Trung, làphần lõi trong sứ mệnh thiên tử, lại là phần đất giàuthịnh trên những đất phì-nhiêu do hai triền Hoàng Hà

và Dương Tử nên được sử gia xưng tụng là đất “trung

hoa”, điạ lý gọi là “trung nguyên”; phần kia là vùng

chung quanh tiến chậm hơn, đám sử quan đế chế cực

quyền gọi là “Từ Di” (Bắc Địch, Tây Nhung, Đông Di,

và Nam Man).

*

1

1- Sách xưa có dẫn “Đức của quân tử như gió, tiểu nhân như cỏ Gió thổi thì cỏ lướt” là ý nói đức của người cầm quyền như gió, người dân thường (tiểu nhân) chỉ có thể lướt theo Đây chính là nghĩa xưa của chữ “quân tử” và “tiểu nhân”.

1-Phong Kiến đúng nghĩa là “phong hầu và kiến ấp” Đây là

một chính sách chứ không phải chế độ Chính sách này không

còn hiệu lực vào cuối thời Chu khi thiên tử trung ương không

còn đủ uy để giữ an hòa trong thiên hạ Thiên tử nặng về uy đức

tinh thần, chư hầu là quyền lực quân chính trong quản hạt của

mình Thiên tử là chúa tinh thần trên mặt đất, thiên tử lo làm

gương, giáo hóa cả thiên hạ Một chư hầu có biên giới, còn

thiên hạ không biên giới, như vậy trên nguyên tắc thì thiên tử

không có lãnh thổ riêng.

1

Trang 23

3/ Nghĩa của Đại Hội Chư Hầu và Phong

Kiến Truyền Hiền:::::

au cuộc chiến-tranh đầu tiên trong lịch-sử

Trung nguyên là trận Hoàng đế, lãnh-tụ của liên quân

Hoa Mông chiến thắng Suy-vưu, lãnh-tụ liên quân Bách

Việt (Thần Nông Bắc) Sau trận này, ở Trung nguyên

ra đời một cộng-đồng ổn-định trong trật-tự phong kiến

với một quyền lực chúa tể dung-hòa với những quyền

lực điạ phương Tổ-chức và học thuyết chính trị

danh-hiệu hóa những quyền lực này là một thiên tử

lãnh-đạo thiên hạ và các vua chư hầu “Chư” là một

phiếm-định số lượng tĩnh-từ, có nghĩa là đông đảo; “Hầu” là

danh hiệu gọi những thủ-lãnh địa phương, sau “chư

hầu” mang luôn nghĩa là một nước, một quốc gia (Như

vậy “Hầu” và “Chư hầu” tuy trong một câu văn mà có

nghĩa hoặc là một nước, một ông vua hay đông đảo

vua các nước.)

Trong thời gian đầu, chính quyền trung-ương

lẽ tất nhiên thuộc về những thủ-lãnh Hoa Mông vì họ

là những kẻ chiến thắng Họ có uy quyền để triệu

tập những “đại hội chư hầu”, nơi đó khởi đầu quyền

lực của ngôi minh-chủ

Nhưng phe nào đặt ra nghi lễ, đặt ra danh hiệu?

Nghi thức, phẩm phục, danh hiệu, một phần sẵn có

trong phe mạnh và trong phe yếu; một phần phải sáng

tạo Sẵn có, như trật-tự trong đại hội thì đương nhiên

theo trật-tự tùy kẻ chiến thắng Nhưng còn chuyện nghi

lễ, trang-trí tạo nên không-khí long-trọng, trang nghiêm

in vào tâm trí người tham-dự - Những vấn-đề này khôngphải là sở-trường của những kẻ quen sống trong lều,trong hang với một nếp sống giản-dị Ở đây có hai lý

do hợp lại khiến ta thấy việc sáng tạo những nghi-thứcnày, người Hoa Mông cần đến những đóng góp củangười Việt: một là những thủ lãnh Hoa Mông đặt mìnhgiữ vai chính yếu trong một nghi lễ lớn với những nétmà người Việt đã quen và cảm rõ những nghiêm trang,cung kính là cách hay nhất để gây uy-tín; hai là, như đãtrình bày, sống trong hoang-sơ giữa những hoang nhiênbát-ngát, quen lấy thiên-nhiên làm bối cảnh cho nhữngtập họp, người Hoa Mông không quen sáng-tạo ra nhữngnghi-thức, trang-trí phiền-toái Đây phải là sở-trường

của người Việt (tất cả một số người Việt hoặc là

thân-thuộc hoặc pha lai từ trước với người Hoa Mông, hoặc

do đầu hàng và được họ dùng làm cố-vấn khi cần thiết)

đã từng tổ-chức những lễ hội để biểu-lộ lòng thờ kínhnhững sức mạnh thiên-nhiên Những nét văn-hóaphong-kiến khởi lên từ đây và ngày càng đa phức, tinhtế hơn Những đại hội chư hầu ngày càng thành nhữngngày đại lễ với tiến trình lớp lang uy nghi Nào số lượngtrật tự, nào đài cao, cờ quạt, trang trí, phẩm phục, nàođèn đuốc, trống chiêng, ca vũ với lễ phẩm, văn chương,yến tiệc, Đại hội chư hầu là những ngày mà các tậpthể của hai dòng sống đem những phẩm vật qúy báunhất, những tài-năng, kỹ-thuật cao nhất của mình màđặt dưới chân của vị minh-chủ trong chứng-kiến củatrời đất

Ta đừng hiểu chế-độ phong-kiến này theo nghĩa

của từ-ngữ “phong hầu, kiến ấp ”, mà theo nội-dung là

một chính quyền trung ương cộng với những chính

quyền địa phương tự trị (nói cách khác là một chế độ

liên bang của những nước quân chủ chịu quyền trọng

1- Bách Việt, theo Từ Hải đó là danh xưng chỉ trăm giống Việt

từ Giao Chỉ đến Cối Khê, mỗi xứ có dòng họ riêng Nói chung

các xứ Việt nằm kế tiếp từ hữu ngạn Dương Tử giang qua lưu

vực Việt Giang, Hồng Hà tới tận bình nguyên sông Mã.

Trang 24

thiên tử đã lung-lay.

Suốt trong thời kỳ “Phong kiến truyền hiền”

này, trên dưới 2000 năm, trừ hai cuộc chư hầu liên kết

dấy lên diệt Kiệt, Trụ (hai bạo chúa) và những xâm

phạm của “Nhung - Địch” ở biên khu Tây Bắc thì ởTrung Nguyên không bị họa chiến tranh Sử sách Tàuđã lý tưởng hóa qua hình ảnh Đế Thuấn ngồi gảy đànmà yên thiên hạ, và còn ghi truyện sứ Việt Thường,một chư hầu ở thật xa Trung nguyên đã tới cống rùathần mà vua Nghiêu đã sai chép lại và làm ra quy lịch

Học giả Tây phương không tin giai đoạn “phong

kiến truyền hiền” là có thực Thực ra chế-độ truyền

hiền và chính trị thời Nghiêu Thuấn chẳng có gì là lýtưởng cả Đó là sự thể tất-yếu khi đã có đủ dữ-kiện đểxảy ra:

- Người thượng cổ chất-phác, thái-độ minh bạch,nhu-cầu đơn giản, chiến-tranh không ngã ngũ, khôngdứt khoát được thua, nhu-cầu cả đôi bên là cầu đượcsống an hòa Cả đôi bên đều nhằm vào đó mà tìm rathỏa-hiệp

- Xã hội chuyển biến chậm, thế ổn định trongtương giao giữa những tập thể trong cộng đồng đã dễthực hiện mà lại lâu bền

- Khu vực cộng đồng chưa rộng lớn, thành viênchưa phải là những quốc gia bề thế, mà mới chỉ là nhữngtổ chức liên bộ-lạc Nói gọn lại, bản chất con ngườicòn mộc mạc, trung thực, nhu-cầu giản-dị, thiên nhiêncòn rất phong phú, đời sống dễ-dàng Một khi đã ổnthỏa được một trật tự trong tương giao thì mọi tranh

chấp không còn lý do để xảy ra (chuyện đế Thuấn ngồi

gảy đàn mà yên thiên hạ, tuy chỉ là cách nói để gây cảm nghĩ, nhưng thực ra việc thiên hạ thời ấy cũng chẳng có gì phức tạp).

Bài đọc thêm

Song-song với thời-đại nhà Thương (Ân) bên

Trung quốc, nước Việt ta, đời Hùng Vương thứ sáu, đất

nước an lạc thái hòa, nhân sinh vui-vẻ tự nhiên mà hợp

với luân thương đạo lý

Tương truyền nên văn minh thái hòa ấy ảnh

hưởng qua phương Bắc, người phương Bắc kính phục

thốt lên “Nam phương hỏa đức thịnh” (Phương Nam

lòng nhân ấm áp).

Đương thời, Ân vương nghe nước Văn Lang dân

hiền đất tốt, bèn nảy ý tham, chuẩn-bị binh mã chờ dịp

tiến sang đánh cướp

Ba năm sau, giặc kéo đến biên thùy, nhà vua

điềm tĩnh sai sứ rao truyền cầu người tài giỏi ra dẹp

giặc

Bấy giờ nước ta ở làng Phù Đổng thuộc bộ Vũ

Ninh (nay là Bắc Ninh) có vợ chồng nông dân lương

thiện, tuổi đã già, sinh được một trai lên ba mà chưa

biết ngồi, chẳng biết nói cười, chỉ ăn rồi nằm Ông bà

nông dân, càng thương con, càng tu nhân tích đức giúp

đỡ những kẻ sa cơ lỡ bước, lấy câu “thương người như

thể thương thân” làm phương châm xử thế.

Bữa kia, sứ giả triều đình qua làng Phù Đổng

Nghe loa cầu tướng ra quân, bà mẹ nựng bỡn con rằng:

“Con mẹ chỉ biết ăn với nằm, bao giờ biết dẹp loạn an

dân?” Đứa bé nghe mẹ nói, bất-chợt ngồi lên chững

chạc, nói năng đàng hoàng, thưa với mẹ: - “Thưa mẹ

mời sứ giả vào cho con hỏi chuyện.” Bà mẹ vừa mừng

vừa sợ Con bà biết ngồi, biết nói, thật ngoài mơ ước

Nhưng còn việc nghe lời trẻ mời sứ giả, thật là nguy

Trang 25

NIÊN BIỂU HUYỀN THOẠI

TRUNG QUỐC

Bàn Cổ Sống 18,000 năm tr T.L. HUYỀN SỬ

VIỆT

Lộc Tục Kinh Dươngvương

(Chuyển từ Phong Kiến Truyền Hiền

sang quân chủ cha truyền con nối.)

Trang 26

hiểm, có thể đắc tội với triều đình Bà đang chần-chừ,chú bé lại năn-nỉ, thúc-giục cho đến khi bà phải chiều

ý Sứ giả vào gặp chú bé, hỏi rằng:

- Em là đứa bé lên ba mới biết nói, gọi ta vào cóviệc chi? Chú bé khiêm cung nói:

- Xin ngài về tâu với triều đình đúc cho tôi mộtngưạ sắt cao một trượng, một thanh gươm vàng để tôi

đi dẹp giặc

Sứ giả phi báo về triều đình Vua Hùng rỡ bèn sai quân hỏa-tốc lấy sắt tốt giao cho thợ đúcngưạ, và lấy vàng ròng trong kho đúc một thanh gươm.Xong xuôi, chuyển đến làng Phù Đổng

mừng-Nguyên làng Phù Đổng có tên là làng Gióng,nên triều đình đặt tên cho chú bé là Gióng

Nói về bé Gióng, từ hôm gặp sứ giả, đi đứng ănnói trở nên bình-thường Khi quan quân đưa gươm vàngngưạ sắt đến nơi, cả làng lo sợ, tưởng như sắp gặp taihọa Chú bé thưa rằng:

- Xin cha mẹ nói với dân làng đem gạo kho thổicơm cho con ăn để con đi dẹp giặc, đền nợ nước Nóirồi hắt hơi và vươn vai ba lần, thân hình trở nên to lớn,cao hơn hai trượng, ăn hết gạo làng trong một bữa Vìchuyện tích này mà trong dân gian ta, cho đến nay, mỗikhi trẻ nhỏ hắt hơi, người lớn thường cầm hai tay con

đưa lên khỏi đầu và nói: “Vươn vai dài lớn”.

Dân làng Gióng gom góp tơ lụa gấm vóc maymột bộ nhung phục vừa vặn cho Gióng Chú bé bâygiờ khổng-lồ, mặc nhung phục lạy cha mẹ:

- Gặp cơn quốc nạn, con trẻ không được hầudưới gối báo đền công đức cù lao Xin bậc sinh thànhnhận cho con lấy trung làm hiếu Rồi cầm gươm lênngựa, lạ lùng, ngựa sắt hí vang, cất vó như bay GiặcÂn đang đóng ở Trâu Sơn Gióng phi ngựa phóng vào

trại giặc, thét lớn lên rằng: “Ta là tướng nhà trời đây.”

Mộ vua quan đời Thương chôn theo người sống.

(Theo Charles O Hucker, China’s Imperial Past)

Trang 27

Ngựa sắt phun lửa, gươm vàng loang-loáng những vòng

tuyệt diệu, trại giặc tan tành Gươm vàng bỗng gẫy,

ông tướng nhà trời nhổ tre mà quật giặc Ân

Phá xong giặc Ân, thiên tướng lên núi Sóc Sơn,

cởi bỏ nhung phục, cưỡi ngựa bay lên trời

Đến nay chân núi Sóc Sơn còn có những cái ao

xếp hình bước ngựa Dân gian truyền rằng đó là dấu

chân ngựa của Thánh Gióng ngày xưa

Vua Hùng ghi nhớ công ơn vị nhi đồng cứu

nước, phong làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ

ở làng Phù Đổng

Sau trận Vũ Ninh, triều đại nhà Ân không dám

một lần dòm ngó nước ta

Đến triều đại nhà Lý, vua Lý Thái Tổ lại sắc

phong Thánh Gióng làm “Xung Thiên Thần Vương”, tu

bổ lại miếu thờ Miếu này hiện nay vẫn còn ở làng Phù

Đổng, huyện Tiên Du, bên chùa Kiến Phúc Vua Lý

còn cho tạc tượng ngài ở núi Vệ Linh để đời-đời chiêm

ngưỡng

Trong dân gian, hàng năm cứ đến ngày mồng

chín tháng tư âm lịch mở hội đốt đuốc ở làng Phù Đổng

mừng ngày Thánh Gióng đánh tan giặc Ân

Cho đến bây giờ, ở các huyện Chế Võ và Gia

Lương vẫn còn loại tre đặc-biệt, mầu vàng lốm-đốm

đen, gọi là tre “đằng ngà” Người dân bảo rằng đó là

hậu duệ của những cây tre ngày xưa bị ngựa sắt của

Thánh Gíóng phun lửa cháy nám Lại cũng còn loại tre

ở gần núi Việt Sóc, rễ mọc cả lên thân, lên cành - tương

truyền đó là dòng dõi của những cây tre ngày xưa được

Thánh Gióng nhổ lên làm lao phóng giặc, ngọn cắm

xuống đất, gốc rễ hướng lên trời

(Trích theo “Thánh Gióng” trong “Cổ Tích Việt Nam”

tập I, người kể chuyện Trần Lam Giang, Thư viên VN

ấn hành, 2002)

Yellow river = Hoàng Hà Beijing = Bắc Kinh Hangzhou = Hàng Châu Luoyang =Lạc Dương Yangzi river = Sông Dương Tử.

Yellow sea = Hoàng hải.

Bản Đồ Trung Quốc thời Hạ - Thương (Theo John King Fairbank, China in New History)

Trang 28

CHƯƠNG BA

III/ Thời Kỳ Chuyển Tiếp từ Truyền Hiền sang Đế Chế, Cha Truyền Con Nối:

III-1/ * Nhà Chu: (1122 - 256 trc CN.)

III1A/ Tây Chu (Western Chou 1122

-771tr C.N.)

Theo truyền-thuyết, tổ họ Chu là Chu Hậu Tắctên là Khí, mẹ Khí là Khương Nguyên con gái dònghọ Hữu Khai, nguyên phi của Đế Cốc Một hômKhương Nguyên ra ngoài, thấy dấu chân lớn, ướm chânmình vào, cảm mà mang thai Đến kỳ sinh nở đượcmột trai, cho là điềm gở, đem bỏ vào chuồng trâu ngựa.Trâu ngựa đều tránh không đạp lên đứa bé bèn đembỏ vào rừng, lại nghĩ rừng có người qua lại, e có thểnhặt đứa bé về nuôi, cho nên đem ra bờ sông mà bỏ.Các loài chim đem đồ ăn đến mớm cho đứa bé,Khương Nguyên biết con mình là bậc thần nhân, ẵm

về chăm nuôi, đặt tên là Khí (nghĩa là vứt bỏ). ĐờiNghiêu Thuấn, Khí làm tù trưởng đất Thai, gọi là HậuTắc Không thấy nói đến họ của Khí, nhiều sử gia suyluận rằng nhà Chu vốn dòng du-mục, theo mẫu hệ.Đến cuối triều Hạ, bộ lạc này sống vùng Thiểm Tây,Cam Túc ngày nay Họ bị các bộ lạc Nhung, Địch tiếnđánh, phải lui vào sống ở Kỳ Sơn, (nay là đông bắchuyện Kỳ Sơn tỉnh Thiểm Tây) Với lãnh-thổ nhỏ bénhư vậy, bộ tộc này cũng không lấy gì làm đông đảo

Hoa chỉ là Trung bộ sông Hoàng Hà, tức là điạ phương

Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây, Hiệp Tây ngày nay vậy.

Phía Bắc Trực lệ, Sơn Tây thì gọi là Bắc Địch, phần lớn

điạ hạt Hiệp Tây thuộc Tây Nhung, hạ lưu sông Hoàng

Hà thuộc Đông Di.”

Trang 29

Thủ lãnh của họ tương truyền là Cổ Công Đản Phụ.

Cháu sáu đời của Cổ Công Đản Phụ là Cơ Xương, sau

thành Chu văn Vương,

Trạng-huống xã hội Trung Hoa vào đời Ân Chu

(Thương và Chu) mới bắt đầu định cư nông nghiệp, về

trước sống đời bộ-lạc du-mục; trình-độ sinh-hoạt còn

phôi-thai và khu-vực định cư giới-hạn trong lưu-vực

Hồng Hà trung bộ, như Quách Mạt Nhược đã viết:

“Cương vực cổ đại Trung Hoa là Trung bộ sông

Hoàng Hà tức là địa phương Hà Nam, Trực Lệ, Sơn

Tây, Hiệp Tây ngày nay Phía bắc Trực lệ, Sơn Tây thì

gọi là Bắc Địch, phần lớn địa hạt Hiệp Tây thuộc Tây

Nhung, hạ lưu sông Hoàng Hà thuộc Đông Di.”

Mạnh Tử còn để lại đoạn văn tả bước đầu của

dân tộc Trung Hoa ở trung bộ sông Hoàng Hà để ca

ngợi các vua thần thoại:

“Đương thời vua Nghiêu, thiên hạ còn chưa bình

định, nước lớn chảy ngang, đầy rẫy cả thiên hạ, cỏ cây

rậm tốt, chim muông thịnh nhiều, năm thứ thóc chưa

thành thục được, chim muông ở lẫn với người Vua

Nghiêu cử ông Thuấn ra trị việc thiên hạ; ông Thuấn

1- Âu Đại Nhậm, “Bách Việt Tiên Hiền Chí”, người dịch Trần

Lam Giang, Lĩnh Nam Di Thư, Thư Viên Việt Nam xb 2006.,

tr.287) Qua huyền sử, chứng tỏ nhà Chu vốn gốc mẫu hệ.

Ông Vũ được vua Thuấn truyền ngôi Sau khi vua Vũ

mất không được truyền cho người khác mà lại truyền cho con

-Chế độ truyền hiền chấm dứt.

2- Phần đất giữa trung lưu hai sông Hoàng Hà và Dương Tử là

phần lõi trong sứ mệnh của thiên tử thời phong kiến và cũng là

phần đất phì nhiêu nên được gọi là “Trung Hoa” Danh từ địa

lý Trung quốc gọi phần đất này là Trung Nguyên Sau thời đế

chế cực quyền, sử quan gọi gồm chung bốn phía quanh Trung

Hoa là “Tứ Di”: Bắc Địch Nam Man, Tây Nhung và Đông Di.

1

2

1- Nguyễn Đăng Thục, “ Lịch Sử Triết Học Phương Đông, Tập I, tr 115, 125 (Mạnh Tử - Đằng Văn Công Thượng); nhà xb T/P HCM, 2001.

1

sai ông Ích giữ việc lửa, đốt núi cho chim muông trốn náu Ông Vũ đào chín cái sông, khơi sông Tế, sông Loa cho chảy về bể, xẻ sông Nhử sông Hán, khơi sông Hoài, sông Tứ chảy về sông Giang, rồi sau Trung quốc mới có thể cày cấy được mà ăn .”

Khoảng năm 1134 trước Tây lịch, nhà Tây Chu

cấu kết với tộc Khương (cổ Tây Tạng) để diệt nhà

Thương Ba đời Hạ - Thương - Chu, sử Trung Hoa gọi là

“Tam Đại”

Các sử gia Trung Hoa chia thời Chu làm hai:

- Thời Tây Chu từ 1121 - 770 tr C.N Thời kỳ nàynhà Chu đóng đô ở đất Phong (thuộc Thiểm Tây ngàynay)

Tương truyền Văn Vương xưa tên là Xương bịvua Trụ giam ở ngục Dữu Ly Trong thời-gian bị giamtrong ngục, ông Xương đã nghiên-cứu 64 quẻ Dịch Sauvua Trụ tha ông, và phong làm Tây Bá, sai ông đi dẹploạn, ông thắng rồi dời qua ở đất Phong (Thiểm Tây)

Ông mất, con ông là Phát nối ngôi Tây Bá, hộichư hầu đánh Trụ, dứt nhà Ân (Thương) tự xưng là ChuVũ Vương, truy phong cha là Văn Vương

Như vậy, nhà Chu vốn là một bộ-lạc hiếu chiếnđã diệt được một bộ-lạc khác văn minh hơn (nhàThương) ở phía Đông Sử kiện này, tiếp tục xảy ra nhiềulần trong lịch sử Trung Hoa, thời nào cũng bị các bộ-lạc du-mục phía Tây lấn áp Đó là điểm đáng chú ýtrong lịch sử Trung Hoa

Theo Quách Mạt Nhược mà giáo sư Nguyễn

Đăng Thục đã trích dẫn trong “Lịch Sử Triết Học Đông

Phương”, tập 1, trang 114: “Cương vực cổ đại của Trung

Trang 30

Vũ vương ở ngôi được 7 năm, đóng đô ở đấtCao (tỉnh Thiểm Tây) thì mất, con là Thành Vương cònnhỏ nối ngôi May nhờ em Vũ vương là Chu Công Đáncó tài cai trị, chế độ phong kiến nhà Chu được thi hànhnghiêm-chỉnh làm rạng-rỡ trăm năm đầu cho lịch sửvăn minh của Trung Hoa.

Theo chế độ này, vua Chu chỉ nắm quyền trungương ở Thiểm Tây (Gần Tân An ngày nay), còn thì chiađất cho họ hàng, người hiền hay công thần và các tùtrưởng

Trên nguyên tắc thì đất của thiên tử được ngàndậm vuông và có 10 ngàn cỗ chiến xa (vạn thặng) dướithiên tử có 5 tước: Công, hầu, bá, tử, nam Mỗi chư hầucó ngàn cỗ chiến xa và đất được trăm dậm vuông Riênghai bậc tử và nam, đất phong chỉ được 50 dậm vuôngvà chiến xa là 50 cỗ Chung quanh đồn là nhà dân chúnggọi là “lê dân”, qúy tộc sống trong thành gọi là “báchtính”

Bổn phận của mỗi chư hầu phải triều cống hàngnăm cho thiên tử ngược lại thiên tử có bổn phận chechở, giúp đỡ các chư hầu

Thời Tây Chu đặt ra chế-độ quân dịch, đàn ôngtừ 20 đến 60 tuổi đều có nghĩa vụ đi lính tác chiến.Nửa năm hay một năm luân phiên thay thế Khi tácchiến phần nhiều dùng chiến xa Trên mỗi cỗ xe có 3chiến sĩ khí giới và cắp cung tên, gọi là “tam giáp sĩ”,hai bên và sau xe có 72 bộ binh, 25 người phu, cộng lạithành 100 người họp thành một thặng Thiên tử có vạnthặng binh xa, nên gọi là “vạn thặng chi quân”

Nét đẹp của chế độ “phong kiến truyền hiền” ở

chỗ mỗi chư hầu độc lập trong một liên hiệp, nhờ vậythời Tây Chu được coi là văn minh nhất trong lịch sửTrung Hoa

Ngoài chế độ “phong kiến” còn có điền chế là

- Thời Đông Chu từ 770 - 256 tr C.N

Đời Chu Bình Vưong, nhà Chu thường bị các dân

Hiểm Doãn và Khuyển Nhung ở phía Tây uy-hiếp nên

dời đô về Lạc Dương ở phía Đông (Hà Nam ngày nay),

nên gọi là Đông Chu

Ở Lạc Dương, mỗi ngày một nhỏ lại, nhà Chu chỉ

còn danh hiệu thiên tử mà không có thực quyền

Tới thời Chiến quốc (482-221 tr C.N.) , chư hầu Tần

có lần đòi chín cái đỉnh biểu-tượng quyền thiên tử của

nhà Chu, nhà Triệu chiếm ruộng tế điền, ruộng gây hoa

lợi dùng vào việc tế lễ của nhà Chu, và khi các chư hầu

tự xưng vương mà không cần thiên tử nhà Chu cho phép

tức tự coi mình ngang hàng với vua Chu

Nhà Chu suy, chư hầu nào mạnh nhất đứng ra

thay quyền thiên tử làm bá chủ các chư hầu Thời Xuân

Thu có “ngũ Bá”, năm chư hầu lớn: Hoàn Công nước

Tề, Văn Công nước Tấn, Mục công nước Tần, Tương công

nước Tống và Trang vương nước Sở Đến cuối thời Xuân

Thu thêm hai vị bá là Hạp Lư nước Ngô và Câu Tiễn

nước Việt

Trong số “ngũ bá”, Tềø Hoàn Công một thời thịnh

nhất Tề Hoàn Công được chư hầu tín dụng là nhờ ở tài

chính trị của tướng quốc Quản Trọng

Trong sách “Luận Ngữ”, Khổng Tử đã ca ngợi:

1

1- “Một nhóm người gọi là T’ung-jen sống ở vùng phía Tây

tỉnh Sơn Đông thời Nhà Chu di dân từ đó đến phía Tây Nam

Hồ Bắc, nơi họ đã giữ được độc lập cho đến khi bị thôn tính

bởi các nhà cầm quyền đời Chu hồi năm 648 trước Tây lịch.

Lịch sử của họ kéo dài đến tận thời kỳ sau Tây lịch Năm 450,

họ nổi dậy và đủ mạnh để kháng cự lại quân nhà Hán Trung

Hoa gởi đến để dẹp họ”ï

(Herold J Weins, “Han Chinese Expansion in South China”,

The Shoe String Press Inc 1967).

Trang 31

phép “tỉnh điền” (chia đều ruộng công).

Thực ra chế độ “tỉnh điền” đã có từ đới Thương,

sau đời Chu không thay đổi mà chỉ tăng thêm diện tích

cấp cho dân

700 mẫu đới Thương

900 mẫu đời Chu.

Đời Thương, từng ô vuông là 700 mẫu, đến đời

Chu tăng thành 900 mẫu Mỗi ô chia thành 9 phần bằng

nhau

Tám phần chung quanh chia cho 8 nhà để cày

cấy Ô ở giữa, 8 nhà cùng chung sức lao tác, đến mùa

thu hoạch đóng lợi tức cho triều đình Hình miếng đất

khi chia giống như chữ “tỉnh” nên gỏi là phép “Tỉnh

điền”.

- Về pháp luật đời Chu, theo Tả Truyện ghi “Chu

hữu loạn chính, nhi tác cửu hình” (Đời Chu chính sự

rối loạn nên đặt ra chín loại hình phạt) Đến đời Mục

vương cửu hình này được bổ sung nên gọi là “lữ hình”

Tổng quát đời Tây Chu đã mở rộng phạm vi áp dụng

của ngũ hình đời Hạ và Thương và tăng thêm “thục

hình” (tội chuộc), tội lưu (đi dày), tiên (tội đánh bằng

roi), phốc (đánh giữa chợ), v.v

Một đặc-điểm pháp chế đời Tây Chu là lễ trị đi

đôi với pháp luật

Tuy nhiên căn cứ vào Lễ ký, ta thấy thời Chu xã

hội Trung Hoa phân chia giai cấp rõ-rệät: “đại phu” và

“dân thường” hay “thượng lưu” với “bình dân”!

Câu “Hình bất thướng đại phu - Lễ bất há thứ

dân” (Hình phạt không áp dụng cho giới đại phu - Lễ

không dùng xuống thứ dân) nêu rõ sự khác-biệt của

hai giai-cấp trong xã hội: qúy tộc và bình dân! Điều

này khác với văn minh nông nghiệp,

“Nhất sĩ nhì nông

Hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.”

- Về binh chế, quân đội chia làm ngũ (5 người),lượng (5 ngũ), tốt (5 lượng), lữ (5 tốt), sư (5 lữ), quân (5sư), Thiên tử có 6 quân, chư hầu có 3 quân - Về sinhhoạt xã hội: Trạng huống sinh hoạt xã hội ở thời kỳphôi thai nông nghiệp đã phản chiếu vào các câu ca-dao trong Kinh Thi:

“Cát chi đàm hề !

Duy diệp mịch-mịch.

Vi nỉ vi khích.

Thi vu trung cốc.”

(Quốc Phong) Cây sắn dài thay !

Lá rậm xìn-xịt Vải nhỏ, vải to Bò lan hang núi.

Du tai, du tai triển chuyển phản trắc”

(Trung Tư - Chu Nam) Muốn ăn rau hạnh theo dòng

Muốn cô thục nữ, mơ mòng được đâu Nhớ cô giằng dặc cơn sầu

Cho ta trằn trọc dễ hầu ngủ yên.

(Tản Đà dịch)

1- Nguyễn Đăng Thục, “Lịch Sử Triết Học Phương Đông”, tập 1 nhà xb t/p HCM, 2001, trang 115, 118.

1

Trang 32

“Quản Trọng giúp Hoàn Công, khiến Hoàn công

làm bá chủ chư hầu, thiên hạ quy về một mối, nhân dân đến ngày nay còn mang ơn ông Nếu không có ông thì ngày nay chúng ta (người Tàu) phải gióc tóc, mặc áo có vạt bên trái (tả nhậm) như người Di Địch rồi!” [Thật là giọng điệu kỳ thị Hoa Di! Không hiểu khi Khổng Tử thú nhận là “Thuật nhi bất tác” (chỉ thuật lại chứ không sáng tác) những điều nhìn thấy, đọc thấy ở các chư hầu phương Nam mà nay quy về nòi Hoa Hán thì rõ thật là mạo hóa hay mạo nhận!!!]

Nhà Chu truyền được 37 đời vua, cộng 866 năm(1122-256 tr T.L.) Suốt thời Xuân Thu Chiến Quốc,thiên hạ đại loạn trên 500 năm

em mà thống nhất tất cả thành quận, huyện rồi bổ

nhiệm các quan lại từ trung ương cai trị

Theo dòng lịch sử bành trướng về phương Nam

kể từ đời Tần Sau khi Tần Thủy Hoàng diệt Đông

Chu đã thôn tính các chư hầu, thống nhất Trung Quốc

Nhà Tần phát khởi từ miền biên tải viễn Tây Trung

quốc lúc bấy giờ Trong thời gian ngắn-ngủi 15 năm

mà nhà Tần đã bành trướng lãnh thổ từ Nam Mông Cổ

xuống đến tận Lưỡng Quảng

Nhà Tần theo “pháp gia”, rất ghét Nho gia

nên chủ trương đốt tất cả các sách sử, trừ những sách

sử của nhà Tần Trong dân gian, nếu từ hai người dám

bàn đến KInh Thi, Kinh Thư thì chém giữa chợ; Lấy

đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ; quan lại biết

mà không tố cáo thì cũng bị tội Lệnh ban ra trong ba

mươi ngày không đốt sách thì khắc vào mặt cho đi thú

để xây và canh giữ Trường thành Những sách không

bị đốt là sách thuốc, sách bói, sách trồng cây

Tại Hàm Dương, Thủy Hoàng đã cho chôn sống

hơn 460 nho sĩ, sau đó lại đày ra biên giới nhiều người

bị tội để đi thú

Năm 214 trc C.N Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư

đem quân xâm chiếm Bách Việt Trong cuộc giao tranh

dân Bách Việt đã giết được tướng Đồ Thư và tiêu hao

quân Tần

Năm 211 tr C.N., Thủy Hoàng năm thứ 37 đi

quan sát dân tình Đi qua đất Ngô theo sông Trường

giang và đi dọc bờ biển lên phía Bắc, tiếp đi về phía

Tây đến bến Bình Nguyên ngả bệnh mà chết

Con thứ hai là Hồ Hợi được Triệu Cao cùng

thừa tướng Lý Tư tráo di thư của Thủy Hoàng lên nối

ngôi là “Nhị Thế Hoàng đế”

Nhị Thế Hoàng đế lên ngôi (năm 209 trc C.N.)

lúc 21 tuổi, hết sức tin dùng Triệu Cao, ban cho chức

Trang 33

Theo sử ký của Tư Mã Thiên: Tầøn Thủy HoàngĐế là con của Trang Tương vương nước Tần TrangTương vương làm con tin của Tầøn ở nước Triệu, khigặp người thiếp của Lã Bất Vi lấy làm ưa thích; sauđược Lã Bất Vi hiến tặng Người vợ này sinh ThủyHoàng vào tháng giêng năm thứ 48 đời Tần Chiêuvương ở Hàn Đam đặt tên là Chính Khi lên 13 tuổi,Trang Tương vương chết, Chính được lập làm Tầnvương (247 trước C.N.)

Lã Bất Vi được phong làm thừa tướng, hiệu VănTín Hầu

Năm 221 tr C.N., Tần thôn tính tất cả chư hầu,

xưng Hoàng đế, đế chế cực quyền khởi từ đây.

Tần Thủy Hoàng nghe theo đình úy (chức quan

cao nhất về tư pháp) là Lý Tư không chia đất cho anh Nhà Tần 221 - 206 tr T.L. Thục An Dương

Minh 1368 - 1644 T.L - Nhà Hồ (1400-1406)

- Nhà Minh đô hộ 1414-1427.

Nguyên 1279 - 1368 T.L. - Nhà Lý (1010-1223)

- Nhà Trần (1225-1399)

Tống 960 - 1278 T.L. - Loạn 12 sứ quân.

-Đinh Tiên Hoàng lên làm vua.

Ngũ Đại 907 - 960 T.L.

Đường 618 - 907 T.L.

Nhà Tùy 581 - 618 T.L. - Triêïu QuangPhục

Nam Bắc Triều 316-580 T.L. Lý Nam Đế

Tây Tấn 280 - 316 T.L.

Tam Quốc 220 - 280 T.L. Bắc thuộc lần 2

(43-540 TL)

Đông Hán 23 - 220 T.L. Bà Trưng khởi nghĩa

Vương Mãn 9 - 23 T.L Bắc thuộc (110-39)

Tiền Hán 206- tr T.L - 8 T.L Nhà Triệu

2- Sau khi nghe thừa tướng và ngự sử tâu: “Ngũ đế ngày xưa đất chỉ vuông ngàn dậm,ngoài xa là đất của chư hầu Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất, từ thượng cổ đến nay chưa hề có, ngũ đế đều không bằng Ngày xưa có thiên hoàng, điạ hoàng, thái hoàng, nhưng thái hoàng là cao qúy nhất, bọn thần liều chết xin dâng tôn hiệu của nhà vua lá Thái hoàng, mệnh ban ra gọi là “chế”, lệnh ban ra gọi là “chiếu”, thiên tử tự xưng gọi là “trẫm”.

Nhà vua phán: - Ta bỏ chữ “thái” lấy chữ “hoàng”, thêm chữ “đế” của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là

“hoàng đế”, còn những điều khác thì như lời các khanh tâu.

(Tư Mã Thiên, “Sử Ký”, Nhử Thanh dịch, Nhà xuất bản Văn Học, Hànội, 1988 tr 43)

SỬ VIỆT đối chiếu

Trang 34

“lang trung lệnh”, tăng nhiều luật lệ Nhị thế e-ngại

các quan đại thần không phục, và sợ các thế tử tranhquyền nên lập mưu giết các đại thần và các thế tử

Thời Thủy Hoàng cho triều đình ở Hàm Dươngnhỏ, nên sai xây cung A Phòng, nhưng chưa xong thìmất Nhị Đế cho xây tiếp Ngoài ra trưng tập tất cảnhững kẻ bắn giỏi gồm năm vạn người lập đồn đểbảo vệ Hàm Dương

Với chính tình hà khắc, dân chúng nhiều nơinổi loạn: Vũ Thần tự lập làm Triệu vương, Ngụy Cửulàm Ngụy vương, Điềm Đam làm Tề vương, Bái Côngnổi dậy ở đất Bái, Hạng Võ dấy binh ở Cối Kê

Nhị Thế bị Triệu Cao giết rồi lập con ngườianh Nhị Thế là công tử Anh làm Tần vương

Tử Anh giết Triệu Cao để nêu gương cho dânHàm Dương, và làm vua Tần được bốn mươi sáu ngàythì tướng Sở là Bái Công đã phá quân Tần vào QuanTrung, sau đó đến Bái Thượng sai người khuyên TửAnh đầu hàng

T.L.) có 5 chư-hầu lần-lượt làm minh-chủ, gọi là ngũ

“Bá”: Tề, Tấn, Tống, Sở và Tầâøn Cuối đời Xuân-Thu

có thêm hai nước (chư-hầu) là Ngô (Ngô Phù-Sai)

và Việt (Việt Câu-Tiễn) là hai bá chủ xuất-sắc.

Tiếp Xuân-Thu là thời Chiến Quốc, còn lại 7

chư-hầu tranh hùng (Tần, Sở, Yên, Tề, Triệu, Ngụy,

và Hàn).

Trong thời Chiến Quốc, mỗi chư hầu (bộ lạc)

đều có quân đội thường trực, đa số binh sĩ đều được

lựa chọn, và được huấn luyện như nhuệ sĩ của Tần,

kỳ kích của Tề, vũ tốt của Ngụy (vũ tốt của Ngụy

đòi hỏi mặc áo giáp 3 tầng, cầm cung sức kéo mấy

trăm thạch và 50 cây tên, vác đao kiếm, đội mũ khôi,

mang lương 3 ngày ăn, trong nửa ngày đi bộ trăm

dậm, như vậy đòi hỏi mỗi chiến sĩ phải có cơ thể

cường tráng (Sau cùng Tần Thủy-Hoàng diệt sáu

nước, thống nhất, áp dụng chế độ trưng binh).

Nhà Chu (Châu), từ đời Võ-Vương đến

Noãn-Vương, tổng-cộng 866 năm (1122-256 tr T.L.).

Nhà Chu chấm dứt, chư-hầu không còn, Trung

Nguyên chỉ còn một nước duy-nhất do

Tần-Thủy-Hoàng-đế lãnh-đạo Chức-danh “thiên-tử” của chế

độ “truyền hiền” chỉ còn là một tiếm danh của một

vua Vua nào cũng có quyền tế cáo trời đất lên ngôi

thiên-tử Từ đây chính quyền Trung Nguyên thành

một đế-quốc dùng vũ-lực để thôn-tính bốn phương

Đế-quốc tuy ban tước-hiệu cho một nước nhỏ

ngoại-vi đã thần-phục và triều cống, nhưng luôn-luôn

rình-rập thôn-tính

Đây chính là thời-gian các bộ-tộc Bách Việt

tại Trung Nguyên hoặc phân-tán, linh-lạc, hoặc ở

lại để bị đồng-hóa

1

1- Theo sách Hoài Nam Tử, Quảng Châu Ký và Giao Châu Ngoại vực ký: Khoảng năm 221 trc C.N sau khi diệt được nhóm Đông Âu và Mân Việt, Tần Thủy Hoàng sai hiệu Úy là Đồ Thư đem quân xâm chiếm đất Lĩnh Nam, Lạc Dương, Quế Lâm (nay thuộc tỉnh Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Đông) Đến lượt Tây Âu (Giao Chỉ) cũng bị xâm lăng của đạo quân Đồ Thư Sau khi tù trưởng Tây Âu bị hại, nhân dân Tây Âu bèn cử Thục Phán lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tần Cuộc kháng chiến kéo dài 10 năm, sau quân Tần bị hại rất nhiều, Đồ Thư bị giết, triều Tần phải ngưng lại, thiết lập bộ máy cai trị ở những nơi đã chiếm được, lập ra ba quận: Nam Hải (Quảng Đông), Quất Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận.

Tần Thủy Hoàng cũng cử Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân xâm lược Âu lạc An Dương vương nhờ có nỏ thần, Triệu Đà đại bại, sau dùng kế trá hôn cho Trọng Thủy lấy Mỵ Châu để ăn cắp thuật nỏ thần, chiếm Âu lạc sau nhập chung thành Nam Việt.

Trang 35

Tử Anh buộc ấn phù của thiên tử đầu hàng ở

gần Chỉ Đạo Bái Công vào Hàm Dương niêm phong

cung thất, các kho rồi về đóng quân ở Bái Thượng

Hơn một tháng, quân chư hầu kéo đến, Hạng Tịch

cầm đầu chư hầu giết Tử Anh và các công tử của Tầøn

Diệt xong nhà Tần làm cỏ thành Hàm Dương, đốt cung

thất

Sau khi diệt xong nhà Tần, Hạng Vũ chia đất

Tần cho ba vua gọi là Ung vương, Tắc vương, Địch

vương hiệu là Tam Tần Hạng Vũ làm Tây Sở Bá vương

chủ việc chia thiên hạ, phong vương cho chư hầu

Bản đồ Trung Quốc thời Tần

Tham Luận Mở Rộng

Thời-Kỳ Xuân-Thu - Chiến-Quốc

(Thời-Kỳ Bách-Việt linh-lạc!)Cứ theo lịch-sử Trung-Quốc, vào thời Tây-Chu,

chư-hầu (bộ-lạc) lúc đó có hơn 1,000 Nhưng dưới các

triều-đại Chu Vương kém tài đức, chư-hầu thôn-tínhlẫn nhau, dần-dần rút gọn chỉ còn:

1- Nước Tề, thuộc huyện Giang-Lăng (nay thuộcHồ-Bắc);

2- Nước Tấn thuộc huyện Giáng (thuộc Sơn-Tây,nước Tàu hiện nay);

3- Nước Tần thuộc huyện Kỳ-Sơn (nay thuộcThiểm-Tây);

4- Nước Lỗ thuộc huyện Khúc-Phụ (Sơn-Đôngngày nay);

5- Nước Vệ thuộc huyện Kỳ (Hà-Nam ngày nay);6- Nước Trịnh thuộc huyện Tân-Trịnh (Hà Namngày nay);

7- Nước Trần thuộc Hoài-Dương (Hà-Nam ngàynay);

8- Nước Thái thuộc huyện Tân-Thái (Hà Namngày nay);

9- Nước Tống thuộc huyện Thương Khâu Nam ngày nay)

(Hà-10- Nước Yên thuộc huyện Đại Hưng (Kinh Triệungày nay);

11- Nước Tào thuộc huyện Định-Đào (Sơn Đôngngày nay);

12- Nước Sở thuộc huyện Giang-Lăng (Hồ Bắcngày nay);

* Đời Xuân-Thu và Chiến Quốc (770-256 tr

Trang 36

Cuối thời Đông Chu, thiên-tử thiếu tài đức, độ suy-thoái Tần Thủy-Hoàng đánh chiếm toàn bộTrung-Nguyên, thống-nhất tất-cả làm một nước lớn,đế-chế cực quyền ra đời Nước có cương-giới rõ-

chế-rệt, tuy cũng còn gọi là “thiên-hạ”, nhưng không phải “thiên-hạ” trong thời “Phong kiến truyền hiền”, vốn chỉ là một ý-niệm “gầm trời” không biên-giới.

Đặc-tính này của Tần-Thủy-Hoàng bộc-lộ rõ-rệt

Phía Bắc, xây “Vạn-Lý Trường Thành” để ngăn chặn những tập-thể Mông-Cổ (Hung Nô); phía Nam và

Đông Nam mở các cuộc xâm-lăng các bộ-tộc Việtcòn lại để mở rộng thêm bờø cõi gieo hại cho xã-hội Trung-Nguyên nói riêng và Á-Đông nói chung

Tần Thủy-Hoàng bỏ danh-hiệu “vương” mà

xưng là “hoàng-đế ” Ông cho “vương” là tự hiệu tầm-thường Ông lấy cả hai hiệu “Hoàng” và “Đế” là những tự-hiệu thời “Tam Hoàng, Ngũ Đế” Ông quên rằng những tự hiệu “hoàng” và “đế” đã được

dùng khi vùng phát-triển còn quá nhỏ, quanh-quẩn

ở phía Tây và Tây-Bắc Trung-Nguyên và khi hoạt xã-hội cũng như guồng máy chính quyền còn

sinh-rất sơ-khai Ông muốn biểu-dương “sự-nghiệp

vĩ-đại” của ông mà lại dùng một tự hiệu thời “thái cổ”, vô-tình tự tố-cáo thái-độ thoái-hóa biểu-lộ tâm

địa ngang-ngược qua hành-động “đốt sách và chôn

sống nho-sỹ” (Phần thư, khanh Nho)

Trước tình-trạng hỗn-loạn và tan-rã của hội Trung-Nguyên thời Chiến Quốc, Tần-Thủy-Hoàng đã sáng-tạo bằng võ-lực ra một đế quốc áp-chế và xâm-lăng Sự thống-trị, kiềm-chế quan-hệnhất mà ông đã khởi-xướng từ mặt chính-trị trànngập sang văn-hóa Sau Tần-Thủy-Hoàng cho tớihiện-đại, xã-hội Trung-Nguyên mà ngày nay là

xã-Tiếc thay, dòng tiến-hóa cách-mạng từ thời

lập quốc đến Tần-Thủy-Hoàng thì bị gãy khúc!

* Cứu-cánh trong thời “Phong kiến truyền

hiền” là một cộng-đồng sinh-hoạt an hòa Quyền

lực ở đây không phải là quyền lực áp-đặt bằng

võ-lực mà là quyền võ-lực được trông-cậy phát-sinh trong

những đại-hội chư-hầu Vị thiên-tử do đại-hội chư

hầu tín-nhiệm, có sứ-mạng đem lại an-hòa

thịnh-vượng trong thiên-hạ Công việc này, sử sách sau

gọi là “vương hóa”.

* Tư-tưởng đã bị thụt lùi (từ thái-hòa trở lại

hoang tính, cái “Ta” bao trùm cái “chung”, Tần

Thủy-Hoàng rồi Hán đế, Minh đế; tương-tự tại

Âu-Châu, Alexandre Le Grand, hoàng-đế La-Mã, bọn

Pierre le Grand, Ivan Le Terible, kẻ trước người

sau, khắp nơi trên thế-giới đều đã chinh-phục bằng

võ-lực, tiêu-diệt bằng bạo-tàn, đồng-hóa bằng

cám-dỗ và cưỡng-bức - Rất nhiều dòng sống đã bị

tịch-diệt như văn-hóa Maya, Aztec, da Đỏ ở toàn bộ Mỹ

Châu, !

Như trên đã trình-bày, vai-trò “thiên-tử” trong

Nho học chỉ là một người, trước đại-hội chư-hầu,

tuyên-thệ lãnh nhiệm-vụ chấp-hành thiên-lý (Cái

đức hiếu sinh của Trời Đất (tức là lãnh thiên mệnh).

Sang Tần Thủy-Hoàng, thiên-tử thành một nhân-vật

tuyệt-đối uy-quyền; Chữ “trung” là trung tín, là một

lòng giữ chắc những điều giao-ước giữa thiên-tử và

chư hầu - Sang thời “Đế chế Cực Quyền”, chữ “trung”

trở-thành cái đạo mù quáng, “Quân xử thần tử - thần

bất tử bất trung” Cả một nền văn-học của Hán và

Tống Nho đã đúc-nặn ra bọn bày-tôi nô-lệ, tranh

nhau nịnh kẻ cầm quyền Chính thái-độ

xu-phụ cường quyền này đã sản-sinh ra những từ: Hán

dân, Hán Tộc, Hán học, Hán tự, Hán văn, Đường

Trang 37

Trung-quốc giãy-giụa mãi trong tù-ngục của

thần-trí con người về mặt chính-trị, và văn hóa Nếu

theo-dõi chính-tình Trung-quốc trong lịch-sử cận-đại và

hiện-đại đều thấy rõ điều này: Cách-mạng nông

dân Chu-Nguyên-Chương, cách-mạng nông-dân

Hồng-Tú-Toàn, cách-mạng trí-thức tư-sản

Tôn-Dật-Tiên, cách-mạng nông-dân Mao-Trạch-Đông - tất

cả những vùng-vẫy đẫm máu này, khi bùng lên thì

tươi sáng như buổi bình-minh, nhưng chẳng

bao-lâu trở lại oi-nực, tối-tăm đến nghẹt thở! Nguyên

nhân vì thần trí con người đi vào đấu-tranh

chính-trị đã mang sẵn chủng-tố tư-tưởng Tần-Thủy-Hoàng

(gêne mentale engendré par Tần-Thủy-Hoàng) khi

gặp điều-kiện thuận-tiện thì tác-động

Cho tới nay, dù ở chế-độ nào, mối liên-hệ

giữa Trung-quốc với các nước lân-bang, chính

quyền Trung-quốc vẫn coi là mối liên-hệ giữa thiên

triều với thuộc quốc ! Ngay danh-từ “Trung-Hoa”

đã mặc-nhiên bao-hàm ý-nghĩa “một trung-tâm

văn-minh của thế-giới” (Trung = giữa, Hoa = văn-văn-minh,

đẹp tốt) Những nét “Đại đồng” ghi trong Lễ Ký,

hay được hô-hào bởi các lãnh-tụ Trung-quốc, nếu

hiểu theo một cách đích-thực: thiên-hạ đại đồng

trong sự “coi sóc” của nòi Hoa, và được biểu-hiện

qua chủ-nghĩa chủng-tộc đế quốc, mệnh-danh là

“thiên- hạ chủ-nghĩa” Đời đời, chính-quyền

Trung-Hoa tiếp nối chính-sách “Xâm-lăng và đồng-hóa”.

Chiếu theo tiến-trình bành-trướng của nòi

Hoa, chúng ta thấy:

- Thời lập quốc, khởi từ Hiên-Viên hoàng-đế

cho đến Đông Chu, lãnh-thổ Trung-quốc bao gồm

vùng cao-nguyên hoàng thổ của Hoàng-Hà và đất

của dân Suy-Vưu thuộc dòng Bách-Việt ở phía Bắc

vùng Dương-Tử giang

- Thời Xuân-Thu Chiến -Quốc, Bách-Việt

linh-lạc, phân tán và sau Tần-Thủy-Hoàng tiếp đếnnhà Hán, lãnh-thổ Trung-quốc mở rộng gồm Hoa-

Bắc, Hoa Trung và gần hết Hoa-Nam.

Song song với chính-sách chiếm đất là di-dânđồng-hóa Xâm-lăng bằng cách này, đất đã bị chiếmkhông bao-giờ hy-vọng thâu-hồi Vì chính sách di-dân và đồng hóa mà dân-số Trung-Hoa gia-tăng mộtcách vượt bực !

Để thấy rõ điều này, trong cuốn “A History

of China”, Wolfram Eberhard, giáo-sư đại-học

California đã lập bản dân-số của Trung-quốc từ năm

* Sau Tần, triều Hán tuy có sưu-tầm và

phục-hưng Nho học, nphục-hưng thực ra “nhãn-hiệu” này cũng

chỉ là một thứ mạo hóa Để gọi được chính-xác phầnnào, văn-học sử gọi cái học này là Hán Nho rồi TốngNho và nhiều Nho khác nữa, tùy theo triều-đại

Những Nho này, thực-sự chỉ để biện-minh cho

đế-chế cực quyền.

Trang 38

nhân, Tống nhân, v.v

Tóm lại, dưới thời-đại Tần Thủy-Hoàng, hội Trung Nguyên bị đế chế cực-quyền áp-bức.Không-khí sinh-hoạt an-hòa và tự-do phát-triển trongsự bảo-vệ của cả hai cấp chính-quyền “thiên-tử” vàđịa-phương trở thành thống-trị và bị-trị Đây lànguyên-nhân duy-nhất và trường-kỳ đã gây nên mốihận-thù truyền-kiếp giữa hai sắc dân Hoa - Việt

“Bắc phương Hồ mã bon-bon, Cành Nam, chim Việt héo-hon ngậm-ngùi!”

(Duy-Khang)

Hạng Vũ bèn đem quân đi về phía Tây làm cỏ và

đốt các cung thất nhà Tần ở Hàm Dương Hạng Vũ oán

giận Sở Hoài Vương về lời giao ước bèn tự lập làm Tây

Sở Bá vương, làm vua đất Lương, đất Sở, trị chín quận,

đóng đô ở Bành Thành Vũ bỏ lời giao-ước, lập Bái Công

làm Hán vương, cai trị đất Ba, đất Thục và đất Hán Trung

Sở và Hán nhiều lần giằng-co, chưa ai thắng ai,

dân tình khốn khó, trai tráng khổ vì đi lính, người già

yếu mệt vì việc vận chuyển lương thực Hán vương

(Bái Công) và Hạng Vũ gặp nhau ở Quảng Vũ, Hán vương

kể tội Hạng Vũ:

- Lúc đầu ta cùng ngươi đều theo lệnh của Hoài

vương: “Ai vào Quan Trung trước thì người ấy được làm

vương” Nhà ngươi bội ước, phong ta làm vương ở đất

Thục và đất Hán, đó là một tội

- Nhà ngươi giả mệnh lệnh của vua giết Khanh

Tử Quân và tự tôn mình lên, đó là hai tội

- Sau khi đã cứu Triệu, đáng lý nhà ngươi phải

quay về báo với nhà vua, nhưng lại chuyên quyền ép

quân chư hầu vào Quan Trung, đó là ba tội

- Hoài vương có giao ước: Vào đất Tần không

được làm việc hung bạo, cướp bóc nhưng nhà ngươi đốt

cháy cung thất nhà Tần, đào mả Tần Thủy Hoàng , thu

của cải của Tần, đó là bốn tội

- Nhà ngươi đã giết vua Tần đã đầu hàng là Tử

Anh, đó là năm tội

- Lừa đối chôn sống hai mươi vạn con em Tần ở

Tân An, đó là sáu tội

- Phong các tướng của ngươi làm vương ở những

nơi đất tốt, còn đầy đuổi chủ cũ của mình, khiến bọn

bày tôi ở dưới tranh nhau làm phản, đó là bảy tội

Trang 39

* Nhà Tiền Hán (202 trc C.N - 9 C.N.):

Khởi dựng nhà Hán là Lưu Bang (Cao Tổ), ngườilàng Trọng Dương, quận Bái, cha là Thái Công Khi lớnlên được làm đình trưởng ở sông Từ

Khi Cao Tổ làm đình trưởng, một hôm dẫn giảinhững người bị đày đến Lịch Sơn, giữa đường nhiều ngườibỏ trốn, khi đến ngôi đền ở phía tây ấp Phong bèn dừnglại uống ruợu, đêm đến thả hết những người bị đày, rồicũng trốn theo Hơn 20 tráng sĩ trong số những người bịđày tình nguyện theo Cao Tổ

Năm thứ nhất đời Tần Nhị thế tức 209 trc C.N.,nhiều quận, huyện nổi lên chống Tần Trong khi đó, huyệnlệnh đất Bái muốn phản lại nhà Tần, nửa muốn hưởngứng theo Trần Thiệp xưng vương hiệu là Trương Sở

Lưu Bang (Cao Tổ) bèn dùng tên bắn thư vàothành, hô-hào phụ lão quận Bái giết huyện lệnh Sau khigiết huyện lệnh, dân chúng mở cửa thành đón bọn LưuBang và tôn Lưu Bang làm Bái Công

Bái công đem quân đánh đất Phong, nhưng khôngđược Sau Bái Công theo Hạng Lương Hạng Lương dãhai lần đánh bại quân Tần, nhưng vì kiêu căng nên bịquân Chương Hàm phá tan

Năm 207 trc C.N Sở Hoài Vương sai Bái Côngđem quân vào Quan Trung, Hạng Vũ làm thứ tướng quânđem quân về hướng Bắc cứu Triệu; đồng thời có giao

ước “Ai vào bình định Quan Trung trước thì sẽ cho người

ấy làm vua”.

Lúc bấy giờ quân Hạng Vũ hơn bốn mươi vạn,Bái Công có hai mươi vạn, binh lục không đủ chống lại,nên đến Hồng Môn yết kiến và xin lỗi Hạng Vũ

Bản đồ Vạn Lý Trường Thành

1

1- Thời đó, 10 làng thành một đình, mười đình thàng một hương.

Trang 40

- Nhaø ngöôi ñuoơi Nghóa ñeâ ra khoûi Baønh Thaønhñeơ ñaịt ñođ cụa mình ôû ñaây, chieâm ñoát ñaât cụa Haøn vöông,thođn tính ñaât Löông, ñaât Sôû, daønh cho mình nhieău ñaât, ñoùlaø taùm toôi.

- Nhaø ngöôi sai ngöôøi ngaăm gieât Nghóa ñeâ ôû GiangNam, ñoù laø chín troôi

Phaøm laøm tođi maø gieât vua, gieât nhöõng ngöôøi ñaăuhaøng, cai trò khođng cođng bình, khođng giöõ lôøi giao-öôùccụa vua thì thieđn há khođng theơ naøo tha toôi phạn nghòchvođ ñáo, ñoù laø möôøi toôi

Háng Vuõ cạ giaôn, giöông cung baĩn truùng Haùnvöông, Haùn vöông bò thöông beøn ruoơi ngöïa vaøo thaønhCao

Khi khoûi beônh, Haùn vöông ñem quađn veă phía Tađy,nhöng theo keâ cụa Traăn Bình vaø Tröông Löông, tieân quađnñuoơi Háng Vuõ veă phía Nam thaønh Döông Há thì döøng lái

Naím 202 trc C.N Löu Bang cuøng quađn chö haăuñaùnh quađn Sôû moôt traôn quyeât lieôt ôû Cai Ha Háng Vuõthua cháy, Haùn vöông sai kî töôùng quađn ñuoơi theo gieâtHáng Vuõ ôû Ñođng Thaønh, bình-ñònh ñöôïc ñaât Sôû

Haùn vöông ñöôïc suy tođn leđn ngođi Hoaøng ñeâ, ñoùngñođ ôû Lác Döông, sau dôøi veă Quan Trung

Cao Toơ (Löu Bang) maât ôû cung Tröôøng Loôc, HieâuHueô (con cụa Löõ Haôu vôï cụa Cao Toơ töø luùc coøn haøn vi)noâi ngođi

Hueô Ñeâ maât, thaùi töû leđn ngođi Taât cạ caùc hieôuleônh ñeău do thaùi haôu chuyeđn cheâ Caùc meônh leônh cụa

thaùi haôu gói laø “cheâ ” Chụ yeâu cụa Löõ Haôu chư chuù vaøo

vieôc giaønh chính quyeăn cho hó Löõ, toaøn laø nhöõng vieôcgieât nhau trong cung ñình!

Töø Cao Toơ ñeân Cạnh ñeâ (206 - 139 trc C.N.) gaăn

65 naím; luùc ñaău vaên giöõ theo cheâ-ñoô cụa Taăn, sau ñoù

Bạn ñoă Trung quoâc thôøi nhaø Haùn

Veă phaùp luaôt, Tieđu Haø ñaõ thu thaôp phaùp luaôt nhaø

Taăn, chón laây nhöõng gì thích-hôïp vôùi thôøi-theâ môùi, ñaịt ra

luaôt chín chöông laø phaùp ñieơn cô-bạn cụa nhaø Haùn Cöûu

chöông luaôt tređn cô sôû saùu thieđn: ñáo, taịc, tuø, boâ, táp, cú

taíng theđm 3 thieđn: höng, cöùu, ho Ñôøi Haùn cuõng ñaõ cheâ

ñònh moôt loát caùc luaôt leônh rieđng lẹ nhö: Vieôt cung luaôt,

Trieău luaôt, Ñieăn luaôt, Kim Boâ luaôt, Tieăn luaôt, Dao luaôt, Trí

lái luaôt, Hieôu luaôt, Truyeăn thöïc luaôt, Haønh thö luaôt, Táp

luaôt, Quađn Du luaôt, Söû luaôt, Caùo luaôt, Töû luaôt, Nođ tyø luaôt,

vaø Man Di luaôt

Thôøi Haùn vuõ Ñeẩ baõi truaât Baùch gia, ñoôc tođn Nho

thuaôt

Trong gađøn boân theâ kyû, nhaø Haùn ñaõ laøm cho ñeâ

quoâc Trung Hoa roông lôùn, phía baĩc tôùi Maõn Chađu, Trieău

Tieđn; phía nam tôùi Ñođng Döông, baĩc Mieân Ñieôn, phía tađy

tôùi Tađy Táng, phía tađy baĩc tôùi Trung AÙ

Ngày đăng: 09/08/2021, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w