1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị

109 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động nghề nghiệp của giảng viên khoa học xã hội nhân văn có những đặc trưng riêng, đòi hỏi người giảng viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình cần phải có những phẩm chất tâm lý phù hợp và cần thiết để đáp ứng. Để có được những phẩm chất tâm lý này, liên quan chặt chẽ đến việc tuyển chọn đầu vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn, giúp cho việc chọn được những người đạt được mức độ phát triển các phẩm chất tâm lý cần thiết theo đòi hỏi của nghề nghiệp ngay từ đầu khoá học.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ SỞ TÂM LÝ

TUYỂN CHỌN CÁN BỘ ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ 22

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TÂM LÝ NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG TUYỂN CHỌN CÁN BỘ ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ Ở HỌC

2.1 Thực trạng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay 412.2 Biện pháp tâm lý nâng cao chất lượng tuyển chọn cán

bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ,giáo viên quân đội, đáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng quân

đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” trong giai

đoạn hiện nay, Học viện Chính trị đã xây dựng và triển khai kế hoạch 5 năm

2015 - 2020 với nhiều nội dung, biện pháp đồng bộ Trong đó, vấn đề tuyểnchọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn đã và đang trở thànhvấn đề được quan tâm Một trong những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng trong

kế hoạch 5 năm của Học viện là: “Nâng cao chất lượng tuyển chọn cán bộ đàotạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn” Quán triệt tinh thần đó, Học viện đãtiến hành tuyển chọn cán bộ vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân vănquân sự Đó là một xu hướng tích cực để nâng cao chất lượng đội ngũ ngườigiảng viên tương lai cho Học viện và các nhà trường trong toàn quân

Hoạt động nghề nghiệp của giảng viên khoa học xã hội nhân văn cónhững đặc trưng riêng, đòi hỏi người giảng viên muốn hoàn thành tốt nhiệm

vụ của mình cần phải có những phẩm chất tâm lý phù hợp và cần thiết để đápứng Để có được những phẩm chất tâm lý này, liên quan chặt chẽ đến việctuyển chọn đầu vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn, giúp cho việcchọn được những người đạt được mức độ phát triển các phẩm chất tâm lý cầnthiết theo đòi hỏi của nghề nghiệp ngay từ đầu khoá học

Trên thực tế, việc tuyển chọn vẫn còn chứa đựng tính chất kinh nghiệm,khả năng lượng hoá không cao, thiếu các công cụ đo đạc Điều này làm hạnchế đến chất lượng tuyển chọn ở Học viện Nếu nghiên cứu xác định được nộidung, các tiêu chí tuyển chọn tâm lý phù hợp với yêu cầu đào tạo và hoạtđộng nghề nghiệp của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự;xác định được hệ thống phương pháp tuyển chọn và các công cụ đo kháchquan, khoa học, có tính lượng hoá cao sẽ góp phần tạo nên sự chính xác vàgóp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện

Trang 3

Trong tâm lý học, vấn đề tuyển chọn tâm lý được nghiên cứu và ứngdụng ở nhiều lĩnh vực đối với đào tạo và hoạt động nghề nghiệp Tuy nhiên,chưa có những công trình nghiên cứu về cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộđào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự Vì vậy, nghiên cứunâng cao chất lượng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hộinhân văn ở Học viện Chính trị là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận

và thực tiễn

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị” để nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

* Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ở nước ngoài, các nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý cho các lĩnh vựcnghề nghiệp xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử cả trong và ngoài quân đội Từcác tư tưởng mang tính khoa học ban đầu đã tạo nên những lý thuyết rõ ràng

và các phương pháp, quy trình tuyển chọn cụ thể

Các nghiên cứu lý thuyết về tuyển chọn tâm lý

Các nghiên cứu lý thuyết được bắt đầu từ các tư tưởng về tuyển chọn;tiếp đó, cùng với sự phát triển của lịch sử và khoa học, hình thành các lýthuyết đầy đủ hơn Có nhiều tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quanđến tuyển chọn tâm lý Trong đó, có một số tác giả tiêu biểu sau:

Tư tưởng về tuyển chọn đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người Từthời cổ đại, Platon (428 - 347 TCN) đã từng cho rằng: Để tất cả các công dânsống, cần thiết phải làm cho họ hiểu rằng, tất cả họ sinh ra nhưng không phảitất cả đều có khả năng như nhau cho cùng một trách nhiệm được giao phó, bởi

vì các con người theo khả năng của mình rất khác nhau: người thì sinh ra đểlàm quản lý, người khác - cho nghề phục vụ, còn số khác nữa cho nghề canhtác nông nghiệp, thủ công [dẫn theo 20, tr.14]

Trang 4

Tư tưởng có tính khoa học đầu tiên trong lĩnh vực tuyển chọn người đểđào tạo phải kể đến nhà triết học Aristote (384 - 322 TCN) Ông là người đãđưa ra vấn đề phân chia độ tuổi để chọn học sinh đến trường Cùng với thờigian, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã hình thành nên nhiều nghềnghiệp khác nhau và con người trong quá trình hoạt động nghề nghiệp củamình cộng với sự phát triển của khoa học, những tri thức, hiểu biết của conngười về tuyển chọn cũng không ngừng phát triển [dẫn theo 20, tr 14]

Huarte K (1575) đã đặt cho khoa học 4 vấn đề: Tự nhiên đem lại chocon người những phẩm chất, năng lực cho một ngành khoa học này mà khôngcho một ngành khoa học khác như thế nào? Các dạng như thế nào của tàinăng mà loài người có? Các nghệ thuật và khoa học như thế nào là phù hợpvới mỗi một tài năng nói riêng? Có thể nhận biết tài năng thích hợp theonhững dấu hiện nào? Đây là một tác phẩm đầu tiên trong lịch sử Tâm lý họcđặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sự khác biệt cá nhân liên quan đến năng lực conngười vì mục đích tuyển chọn nghề nghiệp [dẫn theo 20, tr.15-16]

Thomson - nhà tổ chức lao động khoa học người Mỹ, qua nghiên cứutại một phân xưởng vòng bi đã phát hiện ra mức độ nhạy cảm của con ngườiđối với các vật nhỏ là nguyên nhân chủ yếu và trước hết của nó là sự khácnhau về năng suất lao động giữa các công nhân Từ đó, ông đã đề xuất cáchxác định hệ số nhạy cảm này để dựa vào đó người ta tuyển chọn được nhữngngười có đặc điểm tâm, sinh lý phù hợp [dẫn theo 8, tr.44]

Nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Liên Xô (trước đây) ở trên xâydựng những vấn đề lý luận cơ bản về tuyển chọn tâm lý theo hướng tiếp cậnhoạt động; qua các quan điểm này ta thấy được mối quan hệ biện chứng giữađòi hỏi khách quan của nghề nghiệp về mặt tâm lý và các phẩm chất tâm lýhiện có ở cá nhân người dự tuyển

Các tác giả tâm lý học như Ananhev B.G (1962); Rutnưi N.M (1983);Cheplov B.M (1961) đã đề cập đến những tiền đề cơ bản cho việc giải quyết

Trang 5

những nhiệm vụ của tuyển chọn tâm lý: sự hiện diện của những khác biệt cánhân trong những phẩm chất nhân cách quan trọng đối với nghề nghiệp; mối liên

hệ giữa việc đào tạo có hiệu quả và hoạt động nghề nghiệp [dẫn theo 20, tr 27]

Platonov K.K trong: “Những vấn đề năng lực” (1972), Sarikov V.D.trong: “Những vấn đề về năng lực nghề nghiệp” (1982) đã bàn đến từ góc

độ tuyển chọn tâm lý một điều hết sức quan trọng là quan niệm về nhữngnăng lực nghề nghiệp với góc độ là những đặc điểm, phẩm chất tâm lý cánhân tạo nên sự khác biệt giữa người này với người khác, nhưng vẫn thểhiện được hiệu quả của việc lĩnh hội cũng như thực hiện nghề nghiệp cụthể Tuy nhiên, đối với việc tuyển chọn tâm lý một điều quan trọng nữa làphải nghiên cứu tiếp những đặc điểm phát triển và hình thành năng lựctrong quá trình đào tạo nghề cũng như sự thay đổi của nó dưới ảnh hưởngcủa các yếu tố bên trong, bên ngoài của hoạt động nghề Đặc biệt như vấn

đề động cơ hoạt động nghề nghiệp là yếu tố rất cần được quan tâm [dẫntheo 20, tr 28]

Những năm 1960 các công trình nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý đãđược các nhà Tâm lý học quân sự như Barabansicov A.V , Glotoskin A.D.,Phedenco N.Ph , Seliăc nghiên cứu trong: “Tuyển chọn về mặt tâm lý vớicác phi công” (1966), Rutnưi N.M trong: “Tâm lý học phi công quân sự”(1983) đã chỉ ra phần tuyển sinh vào các trường quân sự đã đề cập tuyển chọntheo yêu cầu nghiệp vụ quân sự Theo các quan điểm này, các phẩm chất, đặcđiểm nhân cách có thể quy về bốn nhóm được xây dựng theo thứ bậc: Khuynhhướng nhân cách (gồm các phẩm chất chính trị đạo đức và tình cảm cao cấp);Các thuộc tính nhân cách bao gồm các tri thức, kỹ xảo, kỹ năng và thói quen

mà nhân cách thu lượm được (kinh nghiệm của nhân cách); Tổng hợp các đặcđiểm tâm lý cá biệt như tư duy, tri giác, cảm giác, tình cảm, ý chí và trí nhớ;Các thuộc tính về cơ thể: loại thần kinh, nhu cầu bậc thấp, đặc điểm lứa tuổi[dẫn theo 20, tr.30]

Trang 6

Bodrov V.A (1985) cho rằng tuyển chọn tâm lý là xác định trạng tháimức độ phát triển của tổng thể các phẩm chất tâm lý nhân cách được quy địnhbởi những yêu cầu của nghề nghiệp cụ thể Theo tác giả, điều kiện giáo dục,hoàn cảnh sống và hoạt động lao động của con người có ảnh hưởng đáng kểđến sự hình thành phát triển của nhiều nét phẩm chất nhân cách của cá nhân.Tuy nhiên, trong các phẩm chất đó cũng có phẩm chất chịu ảnh hưởng nhiềucủa yếu tố bẩm sinh Do đó, tuyển chọn tâm lý cần phải đánh giá về nhữngchức năng tâm, sinh lý bền vững, có nghĩa là đánh giá trạng thái của cơ thể,kiểu hoạt động thần kinh và những phẩm chất được tạo thành trong quá trìnhsống và hoạt động xã hội Trong thực tiễn, tuyển chọn tâm lý của các nghềnghiệp dựa trên 3 nhóm phẩm chất về đặc điểm sinh học, đặc điểm tâm lý, cácquá trình trạng thái và phẩm chất xã hội của nhân cách [dẫn theo 20, tr 26-27]

Kulagin B.V (1987) đã đánh giá những phẩm chất quan trọng cho nghềnghiệp là: Tâm lý - vận động, trí tuệ, thể lực Để đánh giá các đặc điểm trí tuệKulagin B.V đã sử dụng phương pháp như: Chọn từ, dãy số, trí nhớ thị giác, sốhọc, đánh dấu vòng tròn, trí khôn thính giác, ngôn ngữ [dẫn theo 20, tr.32]

Svedin V.Ia đề cập nhiều vấn đề lý luận liên quan đến tuyển chọn tâm

lý cho học viên đầu vào đào tạo sĩ quan các trường quân sự như: Mối quan hệgiữa đào tạo và tuyển chọn, những nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả củatuyển chọn tâm lý nghề nghiệp Theo tác giả, tuyển chọn và đào tạo có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau, để nâng cao các điều kiện của cá nhân, những cấuthành tâm lý phức tạp (kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng) và các thuộc tính (xuhướng, tính cách, khí chất, năng lực); đối với một loại hoạt động cần: Hoànthiện hệ thống đào tạo; Tiến hành tuyển chọn những cá nhân có tính đến tính

đủ điều kiện thực hiện hoạt động đó; Đồng thời tiến hành cả hai công việc đó[dẫn theo 20, tr.32-33]

Nhìn chung, các nghiên cứu lý luận về tuyển chọn tâm lý ở ngoài nước

từ rất sớm và khá phong phú Các nghiên cứu đã bao quát rất nhiều vấn đề của

Trang 7

tuyển chọn tâm lý Đáng chú ý nhất là nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý chohọc viên đầu vào đào tạo sĩ quan các trường quân sự như: Mối quan hệ giữađào tạo và tuyển chọn, những nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của tuyểnchọn tâm lý nghề nghiệp (Svedin V.Ia ) hay khẳng định việc tuyển chọn tâm

lý của các nghề nghiệp dựa trên 3 nhóm phẩm chất về đặc điểm sinh học, đặcđiểm tâm lý, các quá trình trạng thái và phẩm chất xã hội của nhân cách(Bodrov V.A., 1985)… là những hướng đi quan trọng cho chúng tôi thực hiệnnghiên cứu luận văn

Bên cạnh nghiên cứu về lý luận là các nghiên cứu hướng ứng dụng vềtuyển chọn tâm lý Các nghiên cứu ứng dụng về tuyển chọn tâm lý ở ngoàinước tập trung chủ yếu ở quy trình tuyển chọn và các phương pháp đánh giácác nhóm phẩm chất phù hợp bằng trắc nghiệm (test)

Thứ nhất, nghiên cứu các yếu tố liên quan đến quy trình tuyển chọn

Ở Ai Cập cổ đại, việc lựa chọn những người vào phục vụ trong cungđình phải trải qua một cuộc toạ đàm và trong quá trình này các tài liệu về tiểu

sử của người dự tuyển được tách ra như trình độ đào tạo Ngoài ra, họ cònđược đánh giá cả vẻ bề ngoài, kỹ năng tiến hành toạ đàm, kiểm tra kỹ nănglao động, phục tùng và sự nhẫn nhục chịu đựng thông qua các thử nghiệmbằng lửa, nước, sự sợ hãi, thử nghiệm khắc phục ở dưới lòng đất tối tăm trong

sự cô đơn hoàn toàn [dẫn theo 20, tr.14-15]

Các triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Quốc từ khoảng 2200 nămtrước công nguyên, những người muốn có một chức quan trong triều đình cầnphải trải qua một kỳ thi theo 6 “tài khéo léo”: Nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, kỹnăng viết, kỹ năng đọc và tri thức về các nghi lễ, xã giao Sau này, các tuyểnchọn có chú ý nhiều về phương diện tâm lý thông qua việc tìm hiểu, hỏi hancho tự trình bày, một thể hiện của tuyển chọn tâm lý [4, tr.546-636]

Braun và Pearson đã nghiên cứu và đưa ra một quy trình tuyển chọnhọc sinh năng khiếu gồm 10 bước: Kiểm tra năng lực trí tuệ chung; Test

Trang 8

chuyên biệt và điểm số học tập; Test sáng tạo; Sự tiến cử của giáo viên theotiêu chuẩn đã được ấn định; Tiến cử của bạn bè theo thang chuẩn mực cụ thểqua kỹ thuật trắc đạc xã hội; Sự tiến cử của cha mẹ trên cơ sở đánh giá nhữngsản phẩm kết quả học tập và quan sát hàng ngày theo một thang đánh giáthống nhất; Dựa vào các sản phẩm sáng tạo của học sinh như bài làm đượcđiểm cao trước đó, các sản phẩm thủ công, các báo cáo khoa học; Nhữngphẩm chất của học sinh như nhận thức thói quen làm việc, tự điều khiển, tựtin, ý thức trách nhiệm, hứng thú, say mê; Tự thuật bản thân và tự tiến cử [dẫntheo 22, tr.43]

Các tác giả Petơropski A.V và Iarosepki M.G cho rằng, tuyển chọn tâm

lý cho hoạt động học tập nhằm đáp ứng với những yêu cầu của đào tạo, đặt racác yêu cầu về các đặc điểm tâm lý cá nhân Tuyển chọn tâm lý cho hoạt độngnghề nghiệp được thực hiện trên cơ sở phân tích đặc điểm hoạt động nghềnghiệp mà tiến hành tuyển chọn những người tốt nhất thông qua các phươngpháp tuyển chọn Vì vậy, càng tuyển chọn kỹ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêucho hoạt động nghề nghiệp sau này Các chỉ số tương quan tâm sinh lý đượclưu tâm trên cơ sở tính đến đặc điểm hệ thần kinh [dẫn theo 20, tr.25-26]

Hướng thứ hai, xây dựng và sử dụng trắc nghiệm tuyển chọn tâm lý

Munsterberg H và các cộng sự đã soạn thảo hệ phương pháp tuyểnchọn nghề để tuyển người lái tàu điện nhằm tuyển chọn học sinh và côngnhân vào nghề lái tàu điện Munsterberg H đã nghiên cứu và đưa vào sử dụngnhững phương pháp đặc biệt dùng hình ảnh chuyển động trên màn ảnh, dùngnhững biểu tượng có điều kiện tượng trưng cho các chướng ngại vật tronggiao thông đang chuyển động theo những phương hướng khác nhau để xemxét sự phản ứng của người dự tuyển Những phương pháp này cho phép pháthiện những đặc điểm tâm lý phù hợp với nghề lái tàu điện [dẫn theo 20, tr.18]

Grath R.F Mc (1971) đã quan tâm nghiên cứu vấn đề tuyển chọn quản

lý nhân viên Grath R.F Mc đã đến Việt Nam nghiên cứu “tuyển lựa nhân

Trang 9

công người Việt Nam thuộc những trình độ kiến thức khác nhau, để quanhững cuộc huấn luyện và sau đó sẽ được giao phó những chức vụ thuộcnhiều ngành khác biệt”, cùng các đồng sự xây dựng 8 bài trắc nghiệm để đođạc tâm lý trong đó có tuyển chọn về trí thông minh [32].

Các tác giả Harold K., Odonnell C và Weihrich H đã xác địnhđược bốn nhóm trắc nghiệm hay được áp dụng nhất nhằm tuyển chọn tâm

lý cho các lĩnh vực nghề nghiệp: Trắc nghiệm về trí tuệ được xây dựng đểđánh giá năng lực trí tuệ, trắc nghiệm trí nhớ, tốc độ tư duy và khả năngnhận ra được những mối quan hệ trong những tình huống phức tạp; Trắcnghiệm về tài năng và năng khiếu được xây dựng nhằm phát hiện sở thích,

kỹ năng và tiềm năng để đạt được các kỹ năng khác nhau; Trắc nghiệm vềnghề nghiệp được xây dựng để chỉ ra nghề nghiệp thích hợp nhất đối vớimột ứng cử viên; Trắc nghiệm về tính cách được xây dựng để gợi lênnhững cá tính của ứng cử viên và cách chúng có thể tác động đến nhữngngười khác, qua đó có được một đại lượng để đánh giá khả năng lãnh đạo[dẫn theo 20, tr.20]

Ở lĩnh vực quân sự, nội dung tuyển chọn về chính trị, tuyển chọn vềtâm lý đã được các nhà tâm lý học quân sự tư sản sử dụng từ những năm đầuthế kỷ XX Các bài trắc nghiệm (test) của Stern, Binet, và xây dựng cả một

hệ thống những thủ tục tuyển mộ, tức là một hệ thống áp dụng các trắcnghiệm một cách liên tục để tuyển chọn [35, tr.94]

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), để tuyển chọn và đào tạocấp tốc những người có phẩm chất trí tuệ và thể lực cần thiết phục vụ nhu cầu

chiến tranh Werner W nhà Tâm lý học Mỹ trong cuốn: “What is psychology”

(1947) đã chỉ ra: “Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, kiểm tra trí thông minhđược tiến hành với 1750000 lính Mỹ Sau cuộc kiểm tra này 8000 người bị thảihồi vì trí tuệ kém; 10000 lính được sử dụng trong các ngành đòi hỏi ít trí tuệ,

và 10000 lính khác đưa đến các trại huấn luyện đặc biệt” [dẫn theo 20, tr.22]

Trang 10

Murray H (1943) đã tiến hành tuyển chọn binh sĩ làm nhiệm vụ đặc biệtcho quân đội Mỹ Phương pháp của ông là dùng trắc nghiệm phóng chiếu TAT(Thematic apperception test) để đo đạc về nhân cách, tập trung vào các nội dungnhư khám phá để biết: “những nhu cầu và khuynh hướng chủ yếu, những tìnhcảm, những cuộc xung đột nội tâm, những cảm xúc, những mặc cảm của mộtnhân cách Khi người ta biết những điểm này, người ta sẽ dễ dàng hơn trong việchướng dẫn tuyển chọn” [32, tr.37-38].

Các tác giả Lauschner E.A (1964) và Plumlee L.B (1975),Phelan J.G (1962) và Sparvieri F (1970), Ulrich L., Trumbo D (1965)

đã khái quát các phương pháp sử dụng chủ yếu trong tuyển chọn tâm lý

và chia thành các nhóm sau: Test xác định năng lực, Test xác định trìnhđộ; ngoài ra còn sử dụng Test phóng chiếu Trong lực lượng vũ trang của

Mỹ, các Test tâm lý được sử dụng rộng rãi để tiến hành tuyển chọn tâm

lý như các Test đo trí tuệ, năng lực, kỹ xảo vận động ngoài ra, nhiềunước khác còn sử dụng Test phóng chiếu, Rorschach trên ba bình diệncấu trúc động cơ, tính trọn vẹn của nhân cách và tính bền vững của cảmxúc [dẫn theo 20, tr.24]

Nhìn chung cho đến nay, các quy trình, phương pháp tuyển chọn tâm lýrất phong phú được thể hiện ở nhiều nước, trên nhiều lĩnh vực Mỗi phươngpháp lựa chọn đánh giá mức độ các phẩm chất tâm lý ở các ứng cử viên đều

có những điểm mạnh riêng và những khía cạnh cần lưu tâm (cần nhiều thờigian, cần đào tạo người đánh giá ) Sự khác nhau của các phương pháp chothấy không có cách lựa chọn nào được coi là hoàn hảo để tuyển chọn về mặttâm lý mà cần kết hợp nhiều phương pháp, cách thức khác nhau

Tóm lại, các nghiên cứu ở nước ngoài về tuyển chọn tâm lý khá đầy đủ

từ lý thuyết đến ứng dụng Với sự tham gia nghiên cứu của đông đảo các nhàkhoa học, các kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ vấn đề tuyển chọn tâm lý từcác lý thuyết tổng thể đến các nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cụ thể

Trang 11

Từ các quy trình tuyển chọn đến các trắc nghiệm nhằm tìm ra các phẩm chấtphù hợp của các ứng viên.

* Các nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam tư tưởng về tuyển chọn tâm lý cũng đã xuất hiện qua việctuyển chọn, đào tạo sử dụng quan lại ở các triều đại phong kiến nước nhà

Trần Quốc Tuấn trong “Binh thư yếu lược” ở phần chọn tướng đã chú ýnhiều đến trí tuệ của người được tuyển chọn: “Người làm tướng không nênlấy giỏi cung đao cưỡi bắn làm tài, mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi”.Ông đã đề ra phương pháp cụ thể để tuyển chọn tướng gồm có 8 vấn đề cơbản: 1, Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không 2, Gạn cùng bằng lời lẽxem có biến hoá không 3, Cho gián điệp thử để xem có trung thành không 4,Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào 5, Lấy của mà thử để xem cóthanh liêm không 6, Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không 7, Lấyviệc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không 8, Cho uống rượu say đểxem có giữ được thái độ không Có thể thấy qua một số vấn đề cụ thể vậndụng trong tuyển chọn để làm bộc lộ những đặc điểm về tư duy và phẩm chấtnhân cách cần thiết với người làm tướng dưới chế độ phong kiến [47]

Sau này, các tác giả trong nước nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý thểhiện ở hai khuynh hướng:

Khuynh hướng thứ nhất, nghiên cứu ở góc độ lý luận

Một số tác giả tiêu biểu thuộc khuynh hướng này như Phạm Tất Dong,Trần Trọng Thuỷ, Mạc Văn Trang

Trần Trọng Thuỷ cho rằng, trên cơ sở tạo ra những an toàn lao động,đưa ra biện pháp tuyển chọn về mặt tâm lý cũng như khẳng định ý nghĩa quantrọng của nó với quá trình sản xuất nguy hiểm Cơ sở để tiến hành tuyển chọntâm lý là bản hoạ đồ nghề nghiệp cụ thể (Professiogramme) cho từng nghề.Bản hoạ đồ nghề nghiệp cần phải bao gồm: Đặc điểm chung của nghề, sự mô

tả quá trình lao động của công việc, những tri thức về sự chuẩn bị phải có,

Trang 12

những đặc điểm sinh lý và vệ sinh, những chống chỉ định về mặt y học, đặcđiểm kinh tế của nghề, những triển vọng phát triển và đặc điểm tâm lý củanghề Sự mô tả những đặc điểm tâm lý của nghề được thể hiện trong hoạ đồtâm lý (Psychogramme) [40, tr.52-70].

Tác giả Phạm Tất Dong qua các tác phẩm “Nghề nghiệp tương lai”(1978), “Giúp bạn chọn nghề” (1989), “Sự lựa chọn tương lai” (2000) đã đềcập nhiều vấn đề về nghề nghiệp nói chung và tuyển chọn nghề về tâm lý nóiriêng [7], [8]

Theo Từ điển tâm lý học (2000) thì đối với việc tuyển chọn tâm lýtrước hết phải đưa những yêu cầu về mặt tâm lý cho người muốn lựa chọn vàtập hợp những hệ phương pháp thử nghiệm trên cơ sở phân tích hoạt độngtương lai của người đó Kiểm tra sự thích hợp của những ứng viên với yêucầu tâm lý và hệ phương pháp này đối với nhóm cá nhân tiêu biểu và so sánhkết quả thực nghiệm với hiệu quả làm việc, nghề nghiệp mà ở đó hiệu quả laođộng phụ thuộc nhiều và trực tiếp vào các đặc điểm tâm lý của con người.Song dù quá trình tuyển chọn tâm lý có chính xác và tốt đến đâu thì nó vẫnchưa hứa hẹn sự hữu ích chắc chắn trong thực tế Bởi vì để hoạt động có hiệuquả ngoài những yếu tố bẩm sinh ra còn cần một yếu tố quan trọng là động cơlàm việc của cá nhân [9, tr.386]

Khuynh hướng thứ hai, nghiên cứu ở góc độ ứng dụng

Đồng tác giả Đỗ Thị Hoà và Phạm Đức Quang với công trình nghiêncứu: “Tuyển chọn giáo viên dạy thực hành nghề (nhóm nghề cơ khí) về nănglực sư phạm” (1987), là những công trình đầu tiên nghiên cứu ứng dụng tuyểnchọn tâm lý cho nghề nghiệp ở Việt Nam

Mạc Văn Trang cùng các đồng sự đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứunhững yêu cầu tâm lý cơ bản đối với một số nghề và phương pháp xác địnhnhững yêu cầu tâm lý cá nhân phù hợp nghề làm cơ sở cho công tác hướngnghiệp và tư vấn nghề” Trong đề tài đề cập đến 6 nghề: Nghề y, giáo viên

Trang 13

mẫu giáo, giáo viên tiểu học, nghề khảm trai truyền thống, nhân viên bánhàng, lái xe Có thể thấy một quy trình chung nhất của các tác giả khi nghiêncứu là chỉ ra các đặc điểm của nghề, xác định các yêu cầu tâm lý phù hợpnghề, sau đó dùng các Test tâm lý phù hợp để đo với cá nhân để đánh giá mức

độ phù hợp Nội dung nghiên cứu đã xác định được những đặc điểm tâm lýphù hợp nghề với các nghề nghiệp như nghề y, giáo viên tiểu học, giáo viênmầm non, nghề khảm trai, nghề lái xe Qua đó, xác định được những tập hợpphẩm chất tâm lý cần có ở người làm các nghề cụ thể [43]

Nhóm tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Thàng, Ngô Hiệu (1989)

đã nghiên cứu: “Xây dựng bộ trắc nghiệm tâm lý thăm dò một số phẩm chấttrí tuệ, nhân cách và một số tri thức chuyên ngành của sinh viên sư phạm vàotrường” với mã số B91-24-29 Các phẩm chất tâm lý được nghiên cứu là: Xácđịnh mức độ phát triển trí tuệ của sinh viên qua trắc nghiệm tâm lý; tươngquan giữa các chỉ số trí tuệ và kết quả thi tuyển sinh vào đại học Xác địnhmột số năng lực giao tiếp ban đầu vào trường như: Năng lực thiết lập mốiquan hệ trong giao tiếp (tự chủ và tự điều khiển quá trình giao tiếp), sự nhạycảm trong giao tiếp Xác định kết quả những chỉ số ban đầu về xu hướng nghề

sư phạm [17, tr.20]

Tuyển chọn trong lĩnh vực thể thao, tác giả Nguyễn Mậu Loan (1999)

đã đưa ra các tiêu chí khái quát để tuyển chọn vận động viên trong đó có tiêuchí tuyển chọn tâm lý ở các nội dung như: Phẩm chất ý chí, động cơ thể thao,hứng thú và say mê của thể thao, trạng thái xúc cảm [24, tr.133-144]

Nguyễn Thị Kim Quý (2000), đã sử dụng bộ trắc nghiệm tâm lý mangtên: “Trắc nghiệm I.Q” (Test Your I.Q) để đo chỉ số IQ của học sinh tuyểnchọn vào đào tạo lớp kỹ sư tài năng ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội đốitượng là sinh viên khoá 44 gồm 337 sinh viên [33, tr.22]

Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội tuyểnsinh lớp đào tạo cử nhân khoa học tài năng khoá 5 (2001), với những đối

Trang 14

tượng phải thi tuyển qua kỳ kiểm tra sẽ tiến hành làm bài để kiểm tra đánh giá

về tâm lý: chỉ số thông minh (IQ) và chỉ số sáng tạo (CQ); kiểm tra kiến thức

và hiểu biết xã hội qua bài tự luận” [dẫn theo 20, tr.37]

Trường Đại học An ninh đã sử dụng trắc nghiệm giao tiếp của Dakharov V.P

để nghiên cứu tuyển chọn sinh viên vào trường đào tạo [15, tr.23]

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều hướng đến tuyển chọn sinh viênvào học tập trong các trường đại học, vì vậy phẩm chất trí tuệ luôn được sửdụng trong tuyển chọn đánh giá Bên cạnh đó, các phẩm chất nhân cách (giaotiếp) cũng đã được đưa ra để tuyển chọn tuỳ theo đặc điểm nghề nghiệp cụ thểsau khi tốt nghiệp ra trường Phương pháp chủ yếu để nghiên cứu đánh giámức độ các phẩm chất tâm lý là sử dụng các trắc nghiệm (test) tâm lý của cáctác giả nước ngoài để đo, coi như một cơ sở để bổ trợ trong quá trình xéttuyển, nhằm nâng cao chất lượng tuyển chọn

Đối với lĩnh vực Tâm lý học quân sự ở Việt Nam

Nguyễn Sĩ Hưng (1995) đã đề cập đến tuyển chọn tâm lý đối với thanhniên trước khi vào trường dự bị bay Trong đó, đặt tuyển chọn tâm lý trong hệthống tuyển chọn nói chung; bao gồm nội dung, phương pháp tuyển chọn tâm

lý Tác giả cho rằng, hoạt động nghề nghiệp càng phức tạp bao nhiêu thì vaitrò của tuyển chọn tâm lý càng đòi hỏi cao bấy nhiêu Hoạt động bay làmột trong những loại hình hoạt động phức tạp nhất, vì vậy tuyển chọn tâm

lý đối với những ứng viên là rất cần thiết Nó có tác dụng đảm bảo vànâng cao chất lượng huấn luyện và an toàn bay, làm giảm tỷ lệ thải loại,tăng thêm hiệu quả kinh tế của huấn luyện bay Nội dung của tuyển chọntâm lý đối với thanh niên khi vào dự tuyển ở trường dự bị bay bao gồm 4

hệ thống phẩm chất: Các phẩm chất tâm lý đánh giá xu hướng, động cơnghề nghiệp (mục đích, nguyện vọng, động cơ, hứng thú với nghề nghiệplái máy bay phản lực chiến đấu); Các chức năng tâm lý cá nhân như khảnăng của cảm giác, tri giác, trí nhớ, tập trung, phân phối chú ý, tốc độ tư

Trang 15

duy, chỉ số thông minh; Các thuộc tính tâm lý như tính cách, khí chất,mức độ cân bằng, linh hoạt, cường độ hoạt động của thần kinh cao cấp;Khả năng tiếp thu kỹ thuật lái máy bay cũng như khả năng tiếp thu kiếnthức, kỹ xảo, kỹ năng và năng khiếu với hoạt động bay [23, tr.119-120].

Ngoài ra, trong nghiên cứu của một số tác giả cũng đã bàn đến tuyểnchọn tâm lý trong lĩnh vực quân sự qua một số các luận án, bài viết, tiêu biểunhư: Nguyễn Ngọc Phú, Trương Thành Trung, Nguyễn Sinh Phúc, Ngô MinhTuấn, Hoàng Văn Thanh…

Nguyễn Ngọc Phú trong: “Một số vấn đề về tâm lý học quân sự trongxây dựng quân đội” (2000) đã đề cập đến hướng nghiên cứu “Tuyển chọn tâm

lý (đi vào các lĩnh vực nghề nghiệp quân sự cụ thể) và vấn đề nâng cao chấtlượng, hiệu quả sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện hiện nay”[29, tr.44] Tác giả cho rằng: “Điều cốt yếu là quân đội trong bất kỳ điều kiệnhoàn cảnh nào cũng phải mạnh Những con người đó: Cán bộ, chiến sĩ, cácthành phần chuyên môn kỹ thuật, phục vụ phải tuyệt đối trung thành vớiĐảng, với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Bởi vậy cả sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến

sĩ cần được tuyển chọn kỹ, tốt nhất là trên cơ sở tự nguyện tuyển chọnnhững con người yêu thích hoạt động quân sự, có tâm huyết và tình nguyệngắn bó đời mình với cuộc sống quân sự” [29, tr.130-131]

Nguyễn Sinh Phúc trong: “Một số ý kiến về tăng cường và phát triểntâm lý học thực nghiệm quân sự” (1998) cũng đã đề cập tới việc xác định cácchỉ tiêu tâm lý trong tuyển chọn đầu vào đối với những dạng nghề nghiệpquân sự khác nhau [31, tr.355]

Ngô Minh Tuấn (2000) cho rằng, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vũkhí kỹ thuật quân sự hiện đại cần phải chú ý đến tuyển chọn quân nhân chophù hợp với những đòi hỏi riêng biệt của từng loại hoạt động; trong đó cầnlàm rõ các chỉ số tâm, sinh lý theo yêu cầu của lĩnh vực chuyên môn nghềnghiệp quân sự [45, tr.68]

Trang 16

Một số luận án tâm lý học trong lĩnh vực quân sự cũng đề cập đếntuyển chọn tâm lý, tiêu biểu như Trương Thành Trung (1989) Tác giả đã đềcập đến tuyển chọn tâm lý ở khía cạnh như là một giải pháp nâng cao chấtlượng tuyển chọn học viên vào các trường sĩ quan [44].

Hoàng Văn Thanh (2000) dưới góc độ của tuyển chọn nghề nghiệp đốivới học viên sĩ quan ở trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp đã nhấn mạnh cầnphải tuyển chọn về các phẩm chất tâm lý cá nhân và đặt nó trong hệ thốngtiêu chuẩn tuyển chọn học viên sĩ quan nói chung [36, tr.138]

Luận án tiến sĩ Tâm lý học: “Tuyển chọn tâm lý đầu vào đào tạo cán bộchính trị cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam’’(2003) của tác giả TrươngQuang Học đã chỉ ra đặc trưng hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ chính trịcấp phân đội, trên cơ sở đó làm rõ các phẩm chất tâm lý phù hợp nghề của cán

bộ chính trị cấp phân đội; Luận giải các tiêu chí trong tuyển chọn tâm lý đầu vàođào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội và cách đánh giá chúng; Đề xuất các kiếnnghị cho tuyển chọn tâm lý đối tượng dự tuyển đào tạo cán bộ chính trị cấp phânđội phù hợp với những biến đổi kinh tế - xã hội của đất nước, những đòi hỏi củanhiệm vụ xây dựng quân đội trong giai đoạn cách mạng mới [20]

Tóm lại, qua điểm lại các công trình nghiên cứu tuyển chọn tâm lý của

các tác giả trong và ngoài nước có thể nhận thấy: Thứ nhất, tuyển chọn tâm lý

là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử Dù đứngtrên những cơ sở phương pháp luận khác nhau, nhưng các tác giả đều quantâm nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý Đồng thời xác định, tuyển chọn tâm

lý cho đào tạo, hoạt động nghề nghiệp phải được quan tâm trước khi đưaứng viên vào đào tạo nghề Cần xác định mức độ phù hợp nghề về mặt tâm

lý của đối tượng dự tuyển (ứng viên dự tuyển) Tuy vẫn chưa có nhiều sựthống nhất về cơ sở lý luận trong tuyển chọn tâm lý, nhưng mặt ứng dụnglại được phát triển khá mạnh, nhằm mục đích lựa chọn những người có cácphẩm chất phù hợp cho các lĩnh vực nghề nghiệp trong và ngoài quân đội

Trang 17

Thứ hai, trên cơ sở các thành tựu về tuyển chọn tâm lý ở thế giới và đặcbiệt là Tâm lý học Liên Xô với cơ sở lý luận và phương pháp luận đúngđắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm tiếp cận hệ thống, hoạt động,nhân cách Nghiên cứu tuyển chọn tâm lý ở Việt Nam đang được kế thừa vàbắt đầu có những thành tựu, đã trực tiếp đi vào một số lĩnh vực hoạt độngnghề nghiệp cụ thể và hứa hẹn nhiều triển vọng tốt đẹp Các kết quả thuđược trên lĩnh vực này cả lý luận và ứng dụng thực tiễn là rất to lớn, do đó

đã khẳng định được nhiều vấn đề về lý luận của tuyển chọn tâm lý phục vụtốt cho đào tạo và hoạt động nghề nghiệp cả trong và ngoài quân đội

Trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đềtài, chúng tôi cho rằng, cơ sở tâm lý tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị phải dựa trên cơ

sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm tưtưởng của Đảng và nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận, phươngpháp tiếp cận trong nghiên cứu của tâm lý học mác xít Trên cơ sở đó, kếthừa và vận dụng sáng tạo các thành tựu nghiên cứu về tuyển chọn tâm lý

đã có để nâng cao chất lượng công trình nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tuyển chọn cán bộ đào tạogiảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đề xuất một số biện pháptâm lý nhằm nâng cao chất lượng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận về mặt tâm lý học của tuyển chọn cán bộ đào tạogiảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự

Phân tích thực trạng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay.

Trang 18

Đề xuất biện pháp tâm lý nâng cao chất lượng tuyển chọn cán bộ đàogiảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị.

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn quân sự

Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung xác định các nội dung tâm lý phù

hợp nghề, các tiêu chí và biện pháp tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn quân sự

Giới hạn về địa bàn: Đề tài nghiên cứu tuyển chọn cán bộ đào tạo

giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị

Giới hạn về thời gian: Các số liệu được nghiên cứu, phân tích từ năm

2013 đến năm 2017

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của người giảng viên khoa học xãhội và nhân văn quân sự có những đặc trưng riêng đòi hỏi phải có những phẩmchất nhân cách tương ứng Công tác tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoahọc xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay còn có nhữnghạn chế nhất định Nếu trong quá trình tuyển chọn các chủ thể quản lý xác địnhđược nội dung, tiêu chí và biện pháp tuyển chọn tâm lý phù hợp, thì sẽ nâng caochất lượng tuyển chọn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên khoa

Trang 19

học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị.

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Luận văn xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đường lối quan điểmcủa Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục; Nghị quyết của Quân uỷ Trungương về giáo dục - đào tạo sĩ quan quân đội; đồng thời luận văn được xâydựng trên cơ sở phương pháp luận của Tâm lý học Mác - xít, như: Nguyên tắcquyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý; nguyên tắc thống nhất giữatâm lý, ý thức và hoạt động; nguyên tắc tiếp cận hoạt động - nhân cách Luậnvăn tiếp cận vấn đề tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội vànhân văn quân sự từ góc độ của tâm lý học

* Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng nhằm nghiên cứu cácquan điểm khác nhau của các trường phái tâm lý học xoay quanh vấn đềtuyển chọn tâm lý; nghiên cứu quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩaMác - Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về những vấn đề cóliên quan đến tuyển chọn đào tạo giảng viên giảng dạy các môn khoa học xãhội và nhân văn

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng gồm: Phương phápquan sát; phương pháp trao đổi, trò chuyện; phương pháp phỏng vấn sâu;phương pháp khái quát các nhận định độc lập; phương pháp thống kê các sảnphẩm hoạt động; phương pháp trắc nghiệm

7 Ý nghĩa của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ cơ sở tâm lý tuyển chọn cán bộ đào tạo giảngviên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị

Trang 20

Đề xuất được hệ thống biện pháp tâm lý nâng cao chất lượng tuyểnchọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự.

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để các Khoa giáoviên và Học viện Chính trị tiến hành tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự

8 Kết cấu của luận văn

Đề tài gồm: Phần mở đầu, 2 chương, kết luận và kiến nghị, danh mụctài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 21

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ SỞ TÂM LÝ TUYỂN CHỌN CÁN BỘ ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Tuyển chọn nghề nghiệp

Tuyển chọn học viên vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân

văn quân sự là tuyển chọn quân nhân vào một dạng hoạt động nghề nghiệp cụthể - đó là hoạt động sư phạm quân sự Vì vậy, để xác định khái niệm tuyểnchọn cán bộ vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sựtrước hết cần làm rõ khái niệm tuyển chọn nghề nghiệp

“Nghề”, theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa là: “Công việc làm theo sự

phân công lao động của xã hội [46, tr.654] Như vậy, khi đề cập đến thuật ngữ

“nghề” là chỉ một loại hình lao động trong quá trình phân công lao động xã

hội Con người với tư cách là chủ thể của hoạt động nghề Mục đích của hoạtđộng nghề là nhằm tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần phục vụ nhu cầu bảnthân và xã hội Do nhu cầu của con người và xã hội, thúc đẩy sự phát triển củasản xuất sẽ kéo theo sự phát triển các nghề khác nhau

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, cuộc cách mạng khoa họccông nghệ đã kéo theo sự xuất hiện của nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau,các nghề do đó mà phát triển rất đa dạng, phong phú Với tâm lý học, sự quantâm của nó thuộc về chủ thể của hoạt động nghề Đối tượng chính nhằm nângcao chất lượng hoạt động nghề Nghiên cứu sự phù hợp nghề là tìm chìa khoácho bài toán hoàn thiện và phát triển các phẩm chất nhân cách nghề cho conngười trong các lĩnh vực hoạt động

Phù hợp nghề, là vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên

cứu Đi từ tiếp cận hoạt động, các tác giả Cudơmin E.X., Voncov J.p.,Emelianov Iu.N đã chỉ ra: “Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật tất nhiêndẫn theo sự hình thành và phân định nghề nghiệp, điều đó, đến lượt nó sẽ

Trang 22

nâng cao yêu cẩu đối với những thuộc tính tâm, sinh lý và tâm lý xã hộicủa con người, nâng cao yêu cầu làm cho những thuộc tính đó phù hợp vớicông việc đảm nhiệm” Điều này cho thấy: Mỗi nghề nghiệp khác nhau đặt

ra những yêu cẩu khác nhau về tâm, sinh lý và tâm lý - xã hội đối với chủthể hoạt động nghề; Sự phù hợp nghề là sự phát triển tương ứng các thuộctính tâm, sinh lý, tâm lý - xã hội của chủ thể với yêu cầu nghề nghiệp đảmnhiệm; Muốn nâng cao chất lượng hoạt động nghề của con người tất yếuphải tính đến việc tuyển chọn nghề nghiệp

Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Sự phù hợp nghề là tập hợp những đặc

điểm tâm sinh lý bảo đảm cho con người đạt kết quả cao trong hoạt động nghề nghiệp” [7].

Từ mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm của tác giả Phạm Tất Dong: Sự phù hợp nghề là sự phát triển tương ứng các thuộc tính tâm

sinh lý, tâm lý - xã hội của chủ thể với yêu cầu nghề nghiệp bảo đảm cho con

người đạt kết quả cao trong lao động nghề nghiệp [7, tr 35].

Tuyển chọn nghề nghiệp là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứucủa các nhà quản lý, phân công lao động xã hội, đặc biệt là các nhà tâm lý học.Nghiên cứu về tuyển chọn nghề nghiệp được các nhà tâm lý học tiếp cận trênnhiều phương diện khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau Nhưng nhìnchung, các công trình nghiên cứu về tuyển chọn nghề nghiệp trong tâm lý họcmác xít đều có sự thống nhất trên những nội dung cơ bản sau:

Mỗi một hoạt động nghề nghiệp có những yêu cầu khách quan nhấtđịnh, đòi hỏi con người phải có các phẩm chất tương ứng Có được các phẩmchất nhân cách phù hợp thì con người có điều kiện phát huy hết khả năng củamình và đảm bảo cho hoạt động nhanh chóng, thành thạo, đạt hiệu quả cao.Nếu con người không có những phẩm chất phù hợp sẽ làm cho hoạt độngnghề nghiệp không đạt hiệu quả cao Vì vậy, tuyển chọn nghề nghiệp lànhằm phát hiện, đánh giá, xác định mức độ và khả năng phù hợp nghề củacác phẩm chất con người theo những tiêu chí nhất định do yêu cầu hoạt độngnghề nghiệp đặt ra

Trang 23

Tuyển chọn nghề nghiệp được đề cập dưới nhiều góc độ và được tiến

hành trên nhiều bình diện như: Y học, sinh học, sinh tâm lý học, tâm lý học,kinh tế, xã hội, kỹ thuật Song tựu chung lại, cho tới nay việc tuyển chọnnghề nghiệp được chia thành 4 dạng tuyển chọn cơ bản là: Tuyển chọn ngườihọc, tuyển chọn học vấn, tuyển chọn xã hội và tuyển chọn tâm, sinh lý nghềnghiệp Mỗi một tuyển chọn có vai trò, vị trí riêng trong việc tuyển chọn conngười đáp ứng các yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp

Từ những phân tích trên và xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề

tài, tác giả cho rằng: Tuyển chọn nghề nghiệp là quá trình được tổ chức khoa

học nhằm đánh giá mức độ và khả năng hình thành sự phù hợp nghề về thể lực và phẩm chất tâm, sinh lý đối với những yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, trên cơ sở đó có quyết định đúng đắn về việc tuyển hay không tuyển người vào đào tạo hoặc làm việc.

1.1.2 Cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa

học xã hội và nhân văn quân sự

Cơ sở tâm lý là những luận cứ, luận chứng khoa học tâm lý về cácđặc điểm nhân cách, đặc điểm hoạt động sư phạm quân sự của người giảngviên, làm căn cứ để tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn quân sự Do đó, khi nghiên cứu cơ sở tâm lý của tuyển chọn

nghề nghiệp chính là nghiên cứu những yếu tố tâm lý tạo thành nền tảng và từnền tảng đó nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp sau này

Cơ sở tâm lý của tuyển chọn nghề nghiệp là sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu đánh giá sự phù hợp các phẩm chất nhân cách của người dự tuyển đối với những yêu cầu khách quan do hoạt động nghề nghiệp quy định, trên cơ sở đó ra quyết định lựa chọn về mặt tâm lý đối với người dự tuyển, nhằm nâng cao hiệu quả học tập hoặc hoạt động của một nghề nghiệp nhất định.

Đối tượng đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự là

Trang 24

những cán bộ, sĩ quan được đào tạo cơ bản ở các nhà trường quân sự, đang đảmnhiệm các chức vụ từ chính trị viên đại đội và tương đương trở lên, cóphẩm chất chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chi Minh, có xu hướng nghề nghiệp giảng viên, giảng dạy được các

môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự, có năng lực trí tuệ khá trở lên,ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lôgic, diễn cảm, chữ viết dễ đọc, có trí nhớ tốt,

có khả năng giao tiếp rộng, có năng lực tổ chức hoạt động học tập, có tri thứcsâu rộng về các vấn đề chính trị - xã hội

Tuyển chọn cán bộ vào đào tạo giảng viên giảng dạy các môn khoa học

xã hội và nhân văn quân sự là tiến hành tuyển chọn những cán bộ vào học nghề

sư phạm để sau này giảng dạy các môn khoa học xã hội trong các nhà trường

quân đội Về thực chất, đây chính là tuyển chọn tâm lý nghề nghiệp cho đào tạo

và hoạt động nghề nghiệp sư phạm quân sự Hiện nay, hàng năm Học việnChính trị đang tuyển những cán bộ đã và đang công tác tại các nhà trường, đơn

vị hoặc đã làm giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn quân

sự nhưng chưa được đào tạo cơ bản Các đối tượng này, sau khi tốt nghiệp sẽđược phân công về giảng dạy tại các học viện, nhà trường trong Quân đội

Do vậy, tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân

văn quân sự là quá trình đánh giá sự phù hợp các phẩm chất nhân cách của

người dự tuyển với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và hoạt động nghề nghiệp của

người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong các nhà trường

quân đội, trên cơ sở đó quyết định lựa chọn phù hợp nhằm nâng cao hiệu quảhọc tập và hoạt động sư phạm quân sự của họ

Từ cách tiếp cận trên, chúng tôi quan niệm rằng: Cơ sở tâm lý của

tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân

sự là quá trình sử dụng các phương pháp của tâm lý học nhằm đưa ra quyết định lựa chọn về mặt tâm lý đối với đối tượng cán bộ dự tuyển trên

cơ sở xác định mức độ phù hợp nghề của các phẩm chất tâm lý cá nhân

Trang 25

đối với mục tiêu, yêu cầu đào tạo tại thời điểm tuyển chọn.

Cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn quân sự là các yếu tố tâm lý của hoạt động tuyển chọn, từ việcxác định mục tiêu, nội dung, cách thức của các chủ thể tuyển chọn đến nộidung các tiêu chí về phẩm chất tâm lý của người được tuyển chọn Tất cả cácyếu tố đó tạo thành nền tảng, thành quy trình của tuyển chọn Các yếu tố củahoạt động tuyển chọn quan hệ qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau bao gồmnhiều khâu, nhiều bước cụ thể

Mục tiêu tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhânvăn quân sự là xác định những ứng viên có những phẩm chất tâm lý phù hợpcho việc học tập, nghiên cứu để trở thành giảng viên khoa học xã hội nhân văntrong các nhà trường quân đội Mục tiêu sâu xa hơn, là để đảm bảo khi cácgiảng viên tốt nghiệp, nhận công tác sẽ đảm đương được các nhiệm vụ giảngdạy, nghiên cứu; thích ứng và gắn bó với nghề nghiệp; bắt kịp sự thay đổi vềđòi hỏi chất lượng của giảng viên nhà trường quân đội trong giai đoạn cáchmạng mới

Nội dung tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhânvăn quân sự bao gồm: Tuyển chọn tâm lý; tuyển chọn năng lực sư phạm; tuyểnchọn chuyên môn Trong đó, tuyển chọn tâm lý tập trung vào tuyển chọn cácphẩm chất tâm lý phù hợp, đặc biệt là lập trường chính trị, tính cách, khí chấtcủa các ứng viên cán bộ, trình độ nhận thức, xu hướng nghề nghiệp, năng lựcgiao tiếp, trình độ trí nhớ, khả năng thích ứng, khả năng học tập, nghiên cứu,…

Hình thức tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội vànhân văn quân sự rất phong phú; căn cứ vào từng nội dung mà có những hìnhthức tuyển chọn cho phù hợp Về quy trình tuyển chọn, bắt đầu từ cấp trungđoàn; các sĩ quan chính trị, chủ yếu là chính trị viên tiểu đoàn, trợ lý cơ quanchính trị trung đoàn, chính trị viên đại đội trực thuộc,… có những phẩm chấtphù hợp, có thành tích trong công tác, có đủ thời gian tích luỹ thực tiễn ở đơn vị

Trang 26

sẽ được tuyển chọn từ trung đoàn và đề xuất lên cấp trên Cơ quan cán bộ các cấp

rà soát, tổng hợp và báo cáo Thường vụ Đảng uỷ cùng cấp; báo cáo đề xuất với cơquan cấp trên Cơ quan cán bộ quân khu, quân đoàn,… tiếp tục kiểm tra, rà soát,đối chiếu và cân đối theo các tỷ lệ, thông qua Thường vụ Đảng uỷ Quân khu,Quân đoàn và cơ quan tương đương Sau khi danh sách được thông qua Cục Cán

bộ, sẽ được gửi về Học viện Chính trị Học viện tiến hành đánh giá kiểm tra đầuvào và tổ chức kiểm tra năng khiếu sư phạm của học viên

Nội dung các tiêu chí về phẩm chất của người được tuyển chọn đảmbảo phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp sư phạm quân sự Để tuyển chọn đượcnhững cán bộ dự tuyển phù hợp nhất cần thực hiện các bước tuyển chọn trongquy trình tuyển chọn một cách chặt chẽ Đồng thời, việc đánh giá hệ thốngphẩm chất cần được thực hiện sát sao và đầy đủ Tất cả điều này các cấp từđơn vị đến cơ quan Cục Cán bộ và Học viện Chính trị tiến hành rất đầy đủ vàchính xác trong thời gian qua Tuy nhiên việc xây dựng một bộ tiêu chí cụ thể,khoa học và đầy đủ, nhằm xác định các tiêu chí tuyển chọn tâm lý sẽ giúp choquá trình tuyển chọn nâng cao hơn chất lượng đầu vào

1.2 Đặc trưng tâm lý hoạt động sư phạm của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự

Giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự là những người trựctiếp truyền thụ cho học viên trong các nhà trường quân sự những tri thức về cácmôn khoa học xã hội và nhân văn quân sự và tiến hành các hoạt động của quátrình sư phạm quân sự Chức năng cơ bản của đội ngũ giảng viên nói chung,giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự nói riêng là dạy học, giáo dục,chuẩn bị nghề nghiệp và kích thích sự phát triển toàn diện nhân cách học viêntheo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội Phạm vi hoạtđộng chủ yếu của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự làgiảng dạy theo chuyên ngành đào tạo Ngoài ra, giảng viên khoa học xã hội vànhân văn quân sự còn phải tham gia vào các hoạt động khác của nhà trường

Trang 27

như: Giáo dục học viên, nghiên cứu khoa học và các hoạt động chính trị - xãhội, hành chính, quân sự Với vai trò là nhà sư phạm, nhà khoa học và nhàhoạt động chính trị - xã hội, người giảng viên khoa học xã hội và nhân vănquân sự góp phần to lớn trong thực hiện các mục tiêu, yêu cầu giáo dục ở cácnhà trường trong toàn quân, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân độiđáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn cách mạng

Qua nghiên cứu lý luận và kết quả điều tra, khảo sát hơn 50 cán bộ,giáo viên đã có nhiều năm làm công tác giảng dạy các môn khoa học xã hội

và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị (phụ lục số 04), cho thấy: Hoạtđộng sư phạm của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự làhoạt động xã hội đặc thù, nhằm góp phần xây dựng nhân cách đội ngũ cán bộ,

sĩ quan đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng,cùng với toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa Trong hoạt động nghề nghiệp, người giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự vừa là người dạy học, giáo dục, vừa làngười kích thích sự phát triển toàn diện nhân cách học viên theo mục tiêu, yêucầu đào tạo trong các nhà trường quân đội Đặc trưng hoạt động sư phạm vàyêu cầu nhân cách của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sựđược thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

* Là hoạt động trực tiếp xây dựng thế giới quan, phương pháp luận và các phẩm chất nhân cách cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Để đáp ứng yêu cẩu sự nghiệp xây dựng quân đội trong giai đoạn mớicủa cách mạng, hiện nay nội dung chương trình đào tạo ở các nhà trường quânđội có sự phát triển toàn diện, bao gồm một khối lượng lớn kiến thức về khoahọc tự nhiên, khoa học quân sự và khoa học xã hội và nhân văn quân sự Trong đó, chức năng của các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự làtrang bị cho người học những tri thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

Trang 28

tưởng Hồ Chí Minh; các tri thức về chính trị học, sử học, văn học, kinh tếhọc, luật học, đạo đức học, văn hoá học Hệ thống kiến thức này trực tiếpgiúp học viên hiểu biết về các quy luật hình thành, vận động, phát triển của tựnhiên, xã hội và tư duy con người Đồng thời, giúp học viên nắm vững nhữnggiá trị văn hóa, đạo đức, chính trị của xã hội, của Đảng, của dân tộc Đó chính

là những “chất liệu” để hình thành thế giới quan, phương pháp luận và nhữngphẩm chất nhân cách tốt đẹp của người sĩ quan tương lai Vì vậy, hoạt độngcủa người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự có tác động trựctiếp đến xây dựng thế giới quan, phương pháp luận và những phẩm chất nhâncách cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Đặc trưng này cho thấy, để nâng cao hiệu quả giảng dạy các môn khoahọc xã hội và nhân văn quân sự trong các nhà trường quân đội, trước hết độingũ giảng viên giảng dạy phải có thế giới quan Mác - Lênin, có phương phápluận khoa học; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén, sắc sảo về chính trị.Đồng thời, phải có trình độ tri thức sâu rộng; có kỹ xảo, kỹ năng thuyết phục,cảm hoá học viên, nhanh chóng làm cho người học biến các tri thức đượctruyền thụ thành thế giới quan, lý tưởng, niềm tin và nguyên tắc ứng xử trongcuộc sống Muốn vậy, ngay từ khi tuyển chọn học viên vào đào tạo giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự phải chọn được những học viên có bản

lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, say sưa hứng thú với nghề nghiệp sư phạm, có năng lực trí tuệ, năng lực giao tiếp.

* Là hoạt động đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật, tính sáng tạo cao

Hoạt động nghề nghiệp của người giảng viên khoa học xã hội và nhânvăn quân sự gồm 2 nhiệm vụ chính: Giảng dạy và nghiên cứu khoa học Hoạtđộng dạy là hoạt động truyền thụ những tri thức có tính lý luận cao, phản ánh

ở các nguyên lý, phạm trù, qui luật của môn học, ngành học Hệ thống trithức này vừa phải mang tính cơ bản, hệ thống, vừa phải cập nhật thông tin từthực tiễn cuộc sống Có như vậy, hoạt động dạy của người giảng viên mới

Trang 29

giúp học viên nắm và vận dụng sáng tạo những tri thức đó Vì vậy, hoạt độnggiảng dạy của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phảiluôn có sự sáng tạo Sự sáng tạo của giảng viên được phản ánh ở sự đổi mớinội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với đốitượng giảng dạy Có như vậy, bài giảng của giảng viên mới hiệu quả

Bên cạnh hoạt động giảng dạy, truyền thụ tri thức, đòi hỏi giảng viênphải tích cực nghiên cứu lý luận, thực tiễn thì mới nâng cao được hiệu quảcông tác giảng dạy, tính uyên bác và tính thực tiễn Do đó, nghiên cứu khoahọc là một trong những chức năng cơ bản gắn chặt với hoạt động giảng dạy

và bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy Cả hoạt động giảng dạy

và nghiên cứu khoa học của giảng viên đều có vai trò quan trọng, bổ sung chonhau để giúp giảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Từ đặc trưng cơ bản trên, để đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghềnghiệp đòi hỏi người giảng viên phải có sự phát triển toàn diện các phẩmchất tâm, sinh lý tương ứng như: Có trình độ tri thức rộng về các chuyênngành khoa học, đặc biệt phải có kiến thức sâu về chuyên ngành mà mìnhđảm nhiệm; có sự sáng tạo cao trong lối tư duy, luôn nhiệt tình, say sưatrong giảng dạy, nghiên cứu khoa học; có tình yêu thương, quý trọng conngười; có ngôn ngữ trong sáng, diễn giảng các nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, dễvận dụng Đồng thời, có khả năng tiếp cận nhân cách học viên, có kỹ năng,

kỹ xảo dẫn dắt người học, tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt độngdạy và hoạt động học Muốn vậy, trong quá trình tuyển chọn học viên vàođào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải lựa chọn đượcnhững người có hứng thú với nghề nghiệp sư phạm quân sự, có năng lực trítuệ phát triển; có trí nhớ tốt, tư duy độc lập sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng,logic, thiện cảm, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh

Trang 30

* Là hoạt động mà công cụ chủ yếu là nhân cách của người giảng viên

Trong dạy học và giáo dục, người giảng viên khoa học xã hội và nhânvăn quân sự dùng chính nhân cách của mình để tác động vào người học Đólà: Phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ học vấn, năng lực chuyên mônnghiệp vụ sư phạm; kỹ năng giao tiếp, thuyết phục giáo dục cảm hoá conngười Nếu người đi giáo dục không có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêucầu hoạt động sư phạm sẽ không thể hoàn thành được chức năng, nhiệm vụđược giao Trong khi đó, giáo dục đào tạo con người là lĩnh vực hoạt độngkhông được phép tạo ra những “phế phẩm” Lý luận và thực tiễn đều chỉ rarằng, người giáo dục trước hết phải là người được giáo dục; nhân cách chỉ

có thể được giáo dục bằng nhân cách Vì lẽ đó, Đảng ta chỉ rõ: “Giáo viên

là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh.Giáo viên phải có đủ đức, tài”

Từ đặc trưng hoạt động trên, muốn đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giáo dụctrong các nhà trường quân đội đòi hỏi người giảng viên khoa học xã hội vànhân văn quân sự phải có sự phát triển nhân cách toàn diện và thường xuyên

có ý thức, kỹ năng tự tu dưỡng, hoàn thiện bản thân Vì thế, trong tuyển chọnhọc viên vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải lựachọn được những người có động cơ, xu hướng nghề nghiệp bền vững; có đạođức trong sáng, trách nhiệm cao; có ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm; ý thức tậpthể cao; có lối sống trong sạch, lành mạnh

* Là hoạt động tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng.

Với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị - xãhội và chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, hoạt động củangười giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải là hoạt động

Trang 31

tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng V.I.Lênin dạy rằng: “Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất làphương hướng chính trị của các bài giảng Cái gì quyết định phương hướngđó? Hoàn toàn và chỉ là thành phần của các giảng viên thôi” Để tuyêntruyền và đấu tranh bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng đòi hỏigiảng viên phải có nhận thức sâu sắc những vấn đề cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng, nhiệm vụ của quân đội Đặc biệt là phải có tri thức sâu rộng về bộmôn mình đảm nhiệm Đồng thời, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tưduy chính trị nhạy bén, sắc sảo; có ý thức cảnh giác cách mạng cao; cónăng lực và kỹ năng đấu tranh với những nhận thức, quan điểm tư tưởngphi vô sản, trái với chủ trương, chính sách của Đảng và những biểu hiện tiêucực, lạc hậu; có thế giới quan, nhân sinh quan và phẩm chất đạo đức cáchmạng trong sáng.

Muốn đáp ứng những yêu cầu trên, trong tuyển chọn học viên vào đàotạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải lựa chọn đượcnhững người có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống trong sáng,lành mạnh, có năng lực tư duy phát triển; thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

có tinh thần cảnh giác cách mạng cao

Các đặc trưng trên có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại lẫn nhau cùng quy định hiệu quả đạt được trong quá trìnhhoạt động nghề nghiệp của người giảng viên khoa học xã hội và nhân vănquân sự Đồng thời, các đặc trưng cơ bản đó cũng đặt ra những yêu cầurất khắt khe về nhân cách của người giảng viên khoa học xã hội và nhânvăn quân sự Muốn đáp ứng được các đặc trưng hoạt động nghề nghiệp sưphạm quân sự đòi hỏi ngay trong quá trình tuyển chọn học viên vào đàotạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải tuyển chọn được

Trang 32

những người có đủ các phẩm chất nhân cách cần thiết Để cùng với quátrình đào tạo họ có đủ điều kiện tu dưỡng, rèn luyện nhân cách bản thânđáp ứng yêu cầu hoạt động giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân vănquân sự trong nhà trường quân đội.

1.3 Nội dung và các tiêu chí tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự

1.3.1 Nội dung các phẩm chất tâm lý phù hợp nghề giảng viên

khoa học xã hội và nhân văn quân sự

Mỗi nghề nghiệp khác nhau đòi hỏi người làm nghề phải có hệ phẩm chất tâm lý khác nhau Nếu cá nhân có hệ phẩm chất tâm lý nghề phù hợp sẽ

là những điều kiện thuận lợi để họ có thể học tập các kỹ năng nghề, thực hành các thao tác nghề nhanh chóng và đạt hiệu quả cao, tạo ra những sản phẩm nghề có chất lượng cao Chính những điều này tạo nên sợi dây gắn bó người làm nghề với chính nghề nghiệp mà họ đang thực hiện Tạo ra tình yêu nghề nghiệp giúp họ luôn có ý thức nỗ lực vươn lên hoàn thiện bản thân, nhằm phục vụ tốt hơn cho nghề, qua đó khẳng định bản thân, tự tôn nghề.

Tiếp cận nguyên tắc phương pháp luận hoạt động - giá trị và nhân cách,

và dựa trên quan điểm của của Bodrov V.A (1985) khẳng định việc tuyểnchọn tâm lý của các nghề nghiệp dựa trên 3 nhóm phẩm chất về đặc điểm sinhhọc, đặc điểm tâm lý, các quá trình trạng thái và phẩm chất xã hội của nhâncách Và dựa trên quan niệm của Lomov B.F (1990) cho rằng, mọi tiêu chíđánh giá tuyển chọn tâm lý nghề nghiệp cần phải phản ánh các phẩm chất

xã hội của nhân cách (tính Đảng, tính tư tưởng, bộ mặt đạo đức, tính tậpthể, kỷ luật,…), phẩm chất tâm lý (chú ý, cảm xúc, tình cảm, trí nhớ, tưduy,…) và các phẩm chất sinh lý (thể lực, tính cơ động, tính linh hoạt,…)

Kế thừa các nghiên cứu của các tác giả trong nước và dựa trên đặc điểmhoạt động sư phạm của người giảng viên khoa học xã hội nhân văn nhàtrường quân sự; đồng thời trên cơ sở xin ý kiến chuyên gia, luận văn đi đến

xác định nội dung các phẩm chất tâm lý phù hợp nghề giảng viên khoa học

Trang 33

xã hội và nhân văn quân sự bao gồm ba nhóm phẩm chất: Nhóm phẩm chất chính trị, đạo đức; các phẩm chất tâm lý thích ứng nghề và các phẩm chất sinh lý thích ứng nghề.

Trong mối quan hệ với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và hoạt động nghềnghiệp của người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự, vai trò, tácđộng của các nhóm phẩm chất trên được biểu hiện trên những khía cạnh cơbản sau:

* Nhóm các phẩm chất chính trị, đạo đức

Đây là nhóm phẩm chất đóng vai trò nền tảng chi phối mọi mặt hoạtđộng của người giảng viên Đó cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệuquả đạt được trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học… của người họcviên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự Sự tác động đóđược biểu hiện cụ thể như sau:

- Bản lĩnh chính trị vững vàng là tổng hợp những kiến thức, quan điểm,

niềm tin và hành vi chính trị đã phát triển tới trình độ tự giác, tạo nên nănglực làm chủ về chính trị của họ trong bất kỳ tình huống nào Bản lĩnh chínhtrị được biểu hiện ở sự giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, quan điểm của Đảng; có thế giới quan, phương pháp luậnkhoa học; có tinh thần triệt để cách mạng và sự nhạy bén chính trị cao Cóbản lĩnh chính trị vững vàng là điều kiện cơ bản quyết định giúp giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự có quan điểm xem xét, đánh giá đúngđắn tình hình chính trị xã hội, kiên định niềm tin vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc; sự nghiệp giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ, sĩ quan trongcác nhà trường quân đội

- Đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh và ý thức tổ chức kỷ luật

nghiêm là tổng hợp của nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của người giảng

viên luôn phù hợp với các yêu cầu chuẩn mực đạo đức của người quân nhâncách mạng và các yêu cầu của Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước; Điều lệnh,

Trang 34

Điều lệ của Quân đội và các quy định của đơn vị Phẩm chất đạo đức cáchmạng được biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, vớinhân dân; sự thật thà ngay thẳng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêuthương, tin tưởng, quý trọng con người; say sưa với sự nghiệp giáo dục;khiêm tốn giản dị, có lối sống văn hoá; thường xuyên tự yêu cầu cao đối vớibản thân, yêu cầu cao và tôn trọng nhân cách người học; luôn chấp hànhnghiêm điều lệnh, điều lệ quân đội, các yêu cầu của quy chế giáo dục - đàotạo và nghiên cứu khoa học… Có được những phẩm chất trên là điều kiện cốtlõi giúp người giảng viên xây dựng được niềm tin, sự kính trọng ở học viên

và những người xung quanh Trong quá trình đào tạo để trở thành người giảngviên thì phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật là yếu tố tạo nên động lựcbên trong thúc đẩy học viên không ngừng vươn lên tu dưỡng, hoàn thiệnphẩm chất, năng lực bản thân để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp

* Nhóm các phẩm chất tâm lý thích ứng hoạt động nghề

Đây là những phẩm chất tâm lý có tác động trực tiếp đến việc hình thànhphẩm chất, năng lực hoạt động nghề nghiệp và quyết định hiệu quả hoạt độngnghề nghiệp của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự Tác độngcủa nhóm phẩm chất này đến quá trình hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạtđộng nghề của giảng viên được biểu hiện trên những khía cạnh cơ bản sau:

- Xu hướng hoạt động nghề nghiệp: Là tổng hợp hệ thống động cơ,

mục đích hoạt động nghề nghiệp sư phạm ổn định, bền vững thúc đẩy ngườigiảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự không ngừng vươn lên trongquá trình học tập và nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học, giáo dục Nó đượcbiểu hiện ở sự nhận thức sâu sắc trách nhiệm, vinh dự của người giảng viên;

sự hứng thú, say mê, miệt mài trong học tập, nghiên cứu nâng cao trình độchuyên môn; say sưa với sự nghiệp giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ, sĩ quanquân đội… Có xu hướng nghề nghiệp sư phạm đúng đắn là nhân tố tạo nên

Trang 35

sức mạnh giúp người học viên vượt qua mọi khó khăn về tinh thần và vật chất

để chuyên tâm vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo

- Có trí nhớ tốt, là điều kiện quan trọng giúp người giảng viên tích luỹ

tri thức kinh nghiệm giảng dạy, liên kết các nội dung và cơ sở lý luận, thựctiễn của nó Đồng thời, giúp giảng viên trình bày các bài giảng chính xác, đầy

đủ, góp phần nâng cao chất lượng trong từng bài giảng

- Có năng lực trí tuệ khá trở lên Để thực hiện chức năng dạy học, giáo

dục và kích thích sự phát triển, hoàn thiện nhân cách học viên đáp ứng mụctiêu, yêu cầu đào tạo trong các nhà trường quân đội, bên cạnh sự phát triển vềphẩm chất chính trị, đạo đức, đòi hỏi người giảng viên khoa học xã hội vànhân văn quân sự phải có sự phát triển toàn diện năng lực sư phạm Bao gồm:Năng lực dạy học, giáo dục, nghiên cứu khoa học; phát triển trí tuệ người học

và kỹ năng giao tiếp sư phạm… Muốn phát triển được hệ thống năng lực đápứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp sư phạm thì vấn đề có ý nghĩa quyết định

là người giảng viên phải có năng lực trí tuệ khá trở lên

Năng lực trí tuệ của người giảng viên được biểu hiện ở độ sâu, tầmrộng, tính mau lẹ của tư duy; tính độc lập, sáng tạo và có tri thức sâurộng về các vấn đề chính trị xã hội… Vì vậy, năng lực trí tuệ là điềukiện, phương tiện không thể thiếu để người giảng viên nhanh chóng tiếpthu các tri thức, kỹ xảo, kỹ năng hoạt động sư phạm và nhanh chóng làmcho các hoạt động dạy học, giáo dục, nghiên cứu khoa học của người giảngviên đạt hiệu quả cao

- Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, logic, diễn cảm Có thể nói, phương

tiện quan trọng nhất để người giảng viên thực hiện các nội dung giảng dạy,giáo dục học viên là ngôn ngữ Việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động củangười giảng viên được thể hiện từ khâu chuẩn bị; thực hành dạy học, giáodục; kiểm tra, đánh giá; động viên cổ vũ hoặc phê bình, nhắc nhở học viên.Trong quá trình đó, yêu cầu cơ bản đặt ra đối với mỗi giảng viên là phải thông

Trang 36

qua ngôn ngữ của mình tác động đến học viên, lôi cuốn sự chú ý của họ, dẫndắt họ đi tới nhận thức đúng các nội dung giảng dạy Đồng thời, làm thay đổicác quan điểm, thái độ, tình cảm của học viên, thuyết phục họ tin tưởng vàlàm theo các yêu cầu, nội dung giảng dạy, giáo dục Vì vậy, để đáp ứng yêucầu hoạt động sư phạm đòi hỏi phải tuyển chọn được những cán bộ có ngônngữ trong sáng, giản dị, logic, diễn cảm.

- Có năng lực giao tiếp sư phạm Giao tiếp là thành phần cơ bản của

hoạt động sư phạm Những hình thức chủ yếu của công tác giảng dạy, giáodục diễn ra trong điều kiện giao tiếp Vì vậy, muốn đáp ứng yêu cầu nghềnghiệp sư phạm, người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự phải

có năng lực giao tiếp sư phạm Năng lực giao tiếp sư phạm của giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự được biểu hiện ở hệ thống các năng lực

cụ thể như: Năng lực hiểu tâm lý học viên thông qua các biểu hiện thái độ,giáo dục; năng lực sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tronggiao tiếp Để hình thành phát triển năng lực giao tiếp sư phạm ngay từ khâutuyển chọn phải chọn lựa được những cán bộ có năng lực giao tiếp tốt, làm cơ

sở cho sự phát triển năng lực giao tiếp sư phạm

- Tri thức sâu rộng về các vấn đề chính trị xã hội Có tri thức sâu rộng về

các vấn đề chính trị xã hội là một trong những điều kiện quan trọng quyết định,giúp người giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự đáp ứng và nângcao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp sư phạm Trình độ tri thức sâu rộng củangười giảng viên được biểu hiện ở sự nắm vững các vấn đề lý luận cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chínhsách, hiến pháp, pháp luật của Đảng, Nhà nước, có trình độ khoa học nghệthuật quân sự và những kiến thức cần thiết về quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội;

am hiểu sâu sắc tri thức bộ môn giảng dạy và các tri thức về tâm lý học, giáodục học Có trình độ tri thức sâu rộng là điều kiện quyết định giúp giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự xử lý nhanh, chính xác các thông tin, tài

Trang 37

liệu giảng dạy; bảo đảm cho việc truyền đạt bài giảng có đầy đủ cơ sở lý luận

và thực tiễn với những luận chứng, luận cứ có sức thuyết phục Đồng thời, đócòn là điều kiện để người giảng viên đi sâu khám phá thế giới nội tâm của đốitượng giáo dục và vận dụng đúng đắn các phương pháp giảng dạy, giáo dục đểnâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp Vì vậy, trong tuyển chọn cán bộ đàotạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự cần phải tuyển chọn đượcnhững người có tri thức sâu rộng về các vấn đề chính trị - xã hội

* Nhóm các phẩm chất sinh lý

Các phẩm chất sinh lý là cơ sở tự nhiên tạo thành tiền đề vật chất choviệc hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách của con người Tronghoạt động nghề nghiệp của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự,các phẩm chất sinh lý như: Sức khoẻ, ngoại hình, giọng nói có ảnh hưởng khámạnh đến chất lượng, hiệu quả hoạt động nghề nghiệp

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động giảng dạytrong môi trường hoạt động quân sự, đòi hỏi người giảng viên khoa học xãhội và nhân văn quân sự phải có những phẩm chất sinh lý đáp ứng yêu cầuhoạt động nghề nghiệp như:

- Có sức khoẻ tốt

- Ngoại hình cân đối, không có dị tật bẩm sinh

- Ngôn ngữ trong sáng, không nói hụt hơi, đầy lưỡi, nói lắp, nói ngọng

Có được các phẩm chất trên sẽ tạo điều kiện cho giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn quân sự có đủ sức khoẻ để vượt qua những khó khăn, giankhổ trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học; nhanh chóng tạo đượcnhững ấn tượng ban đầu đối với người học và nâng cao hiệu quả giáo dụcthuyết phục trong giảng dạy, giáo dục học viên

1.3.2 Các tiêu chí tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn quân sự

Tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

Trang 38

quân sự ở Học viện Chính trị được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, thống nhất từ các đơn vị và cơ quan trong Quân đội Bên cạnh các tiêu chí, tiêu chuẩn chung, việc xác định các tiêu chí tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự là rất quan trọng

Trên cơ sở nội dung các phẩm chất tâm lý phù hợp nghề giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự đã được trình bày ở trên, xác định các tiêu chí tâm lý tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn quân sự; đây chính là xác định các các phẩm chất tâm lý cụ thể, để căn cứ vào đó đánh giá mức độ đáp ứng của người dự tuyển và ra quyết định tuyển chọn Đồng thời, qua đó đo đạc, đánh giá thực trạng mức độ tuyển chọn cán bộ cử đi dự tuyển đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn tại Học viện Chính trị.

Từ việc xác định các nhóm phẩm chất của cán bộ dự tuyển đã xác định

ở mục 1.3.1, tác giả đã tiến hành xây dựng mẫu phiếu điều tra số 01 (phụ lục 01) nhằm xác định các tiêu chí cụ thể để đo đạc thực trạng tuyển chọn Phiếu này được tiến hành điều tra trên 89 khách thể gồm 3 nhóm: Cán bộ chính trị cấp trung đoàn, sư đoàn và tương đương (21 đồng chí); giảng viên Học viện Chính trị (23 đồng chí) và học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn đang học tại Học viện Chính trị (45 đồng chí).

Từ kết quả nghiên cứu (Phụ lục 02), với 16 phẩm chất được đo đạc, có

14 phẩm chất có điểm trung bình trung từ quan trọng đến rất quan trọng Các phẩm chất đó được xác định bao gồm ba nhóm thể hiện như sau:

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phẩm chất chính trị đạo đức:

- Bản lĩnh chính trị vững vàng

- Đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh

- Ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phẩm chất tâm lý thích ứng nghề nghiệp:

- Có xu hướng nghề nghiệp giáo viên giảng dạy các môn khoa học xãhội và nhân văn quân sự

Trang 39

- Có năng lực trí tuệ khá trở lên.

- Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lôgic, diễn cảm, chữ viết dễ đọc

- Có trí nhớ tốt

- Có khả năng giao tiếp rộng

- Có năng lực tổ chức hoạt động có kế hoạch

- Tri thức sâu, rộng về các vấn đề chính trị - xã hội

* Nhóm các tiêu chí đánh giá phẩm chất sinh lý phù hợp với nghề nghiệp:

- Sức khoẻ tốt, ngoại hình cân đối, không có dị tật bẩm sinh

- Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, logic, diễn cảm, chữ viết dễ đọc.

- Không nói hụt hơi, đầy lưỡi, nói lắp, nói ngọng

- Khí chất không nóng nảy, có tính cơ động, linh hoạt cao

*

Tuyển chọn cán bộ vào đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

quân sự là quá trình đánh giá sự phù hợp các phẩm chất nhân cách của người dự

tuyển với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và hoạt động nghề nghiệp của người giảng

viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong các nhà trường quân đội; trên

cơ sở đó quyết định lựa chọn phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và hoạtđộng sư phạm quân sự của họ Từ các quan niệm của các tác giả, chúng tôi điđến lựa chọn cách tiếp cận của các tác giả và xác định cơ sở tâm lý của tuyểnchọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự là quá trình

sử dụng các phương pháp của tâm lý học, nhằm đưa ra quyết định lựa chọn vềmặt tâm lý đối với đối tượng dự tuyển đầu vào đào tạo giảng viên khoa học xãhội và nhân văn quân sự, trên cơ sở xác định mức độ phù hợp nghề của cácphẩm chất tâm lý cá nhân đối với yêu cầu đào tạo và hoạt động nghề nghiệp củagiảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự tại thời điểm tuyển chọn Đồngthời, xác định các nội dung và tiêu chí đánh giá thực trạng tuyển chọn cán bộđào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị

Trang 40

theo ba nhóm tiêu chí: Nhóm phẩm chất chính trị đạo đức, nhóm phẩm chát tâm

lý nghề nghiệp và nhóm các phẩm chất sinh lý phù hợp với nghề nghiệp Đâychính là cơ sở cho việc đánh giá thực trạng chất lượng tuyển chọn giảng viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TÂM LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN

CHỌN CÁN BỘ ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

2.1 Thực trạng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay

2.1.1 Hệ phương pháp nghiên cứu thực trạng

Để minh chứng được giả thuyết khoa học của đề tài, thu thập tài liệucần thiết cho việc xác định rõ tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học

xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay, chúng tôi sử dụng

hệ phương pháp sau đây:

* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phương pháp ankét)

Mục đích: Đo thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển chọn cán bộ

đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị, đặcbiệt là các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tuyển chọn

Đối tượng: Tiến hành điều tra trên 2 nhóm đối tượng gồm:

Đối với học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân

sự ở Học viện Chính trị gồm 169 đồng chí, phân bố ở 7 chuyên ngành đào tạo

và ở hai năm thứ nhất và thứ hai

Đối với học viên dự khoá tuyển chọn đào tạo giảng viên khoa học xãhội và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị gồm 142 đồng chí phân bố ở 7chuyên ngành

Các chuẩn đo:

Để đo thực trạng tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội

và nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay, chúng tôi tiến hành đo

Ngày đăng: 09/08/2021, 07:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Kết quả nghiên cứu từ bảng 2.1 chỉ ra, trong ba phẩm chất chính trị đạo đức được điều tra, theo các học viên và cán bộ dự tuyển thì các phẩm chất về - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
t quả nghiên cứu từ bảng 2.1 chỉ ra, trong ba phẩm chất chính trị đạo đức được điều tra, theo các học viên và cán bộ dự tuyển thì các phẩm chất về (Trang 48)
Bảng 2.2. Thực trạng mức độ tuyển chọn các phẩm chất thích ứng nghề nghiệp của cán bộ dự tuyển đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
Bảng 2.2. Thực trạng mức độ tuyển chọn các phẩm chất thích ứng nghề nghiệp của cán bộ dự tuyển đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự (Trang 50)
Kết quả thu được từ bảng 2.2 cho thấy, hiện nay mức độ tuyển chọn các phẩm chất thích ứng nghề nghiệp của cán bộ cử đi đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự đang ở mức khá cao (ĐTB = 3.66) - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
t quả thu được từ bảng 2.2 cho thấy, hiện nay mức độ tuyển chọn các phẩm chất thích ứng nghề nghiệp của cán bộ cử đi đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự đang ở mức khá cao (ĐTB = 3.66) (Trang 51)
Bảng 2.3. Kết quả học tập của các học viên có điểm trắc nghiệm trí nhớ ngắn hạn thấp và trung bình - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
Bảng 2.3. Kết quả học tập của các học viên có điểm trắc nghiệm trí nhớ ngắn hạn thấp và trung bình (Trang 53)
Bảng 2.4: Bảng biểu đạt tham số của công thức tính tương quan - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
Bảng 2.4 Bảng biểu đạt tham số của công thức tính tương quan (Trang 54)
Bảng 2.5. Thực trạng mức độ tuyển chọn các phẩm chất sinh lý nghề nghiệp của cán bộ dự tuyển đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
Bảng 2.5. Thực trạng mức độ tuyển chọn các phẩm chất sinh lý nghề nghiệp của cán bộ dự tuyển đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn (Trang 56)
Kết quả từ bảng 2.5 cho thấy, trong các phẩm chất sinh lý nghề của cán bộ cử đi đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự được xem xét tuyển chọn, Khí chất không nóng nảy, tính cơ động, linh hoạt đang được quan tâm hơn cả với ĐTB = 3.82 - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
t quả từ bảng 2.5 cho thấy, trong các phẩm chất sinh lý nghề của cán bộ cử đi đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự được xem xét tuyển chọn, Khí chất không nóng nảy, tính cơ động, linh hoạt đang được quan tâm hơn cả với ĐTB = 3.82 (Trang 57)
11 Sức khoẻ Tốt, ngoại hình cân đối không có dị tật bẩm sinh đối không có dị tật bẩm sinh  - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
11 Sức khoẻ Tốt, ngoại hình cân đối không có dị tật bẩm sinh đối không có dị tật bẩm sinh (Trang 100)
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO HỌC VIÊN HỆ 2 - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
2 (Trang 103)
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO HỌC VIÊN HỆ 2 (KHÓA 34) - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
2 (KHÓA 34) (Trang 105)
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO HỌC VIÊN HỆ 2 (KHÓA 35) - LUẬN văn THẠC sĩ   cơ sở tâm lý của tuyển chọn cán bộ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở học viện chính trị
2 (KHÓA 35) (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w