1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Tài liệu Nghiên Cứu Thực Nghiệm Về Quan Hệ Giữa Ý Kiến Kiểm Toán Đối Với Báo Cáo Tài Chính_2

94 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương này sẽ trình bày sơ nét về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến của kiểm toán viên, khái quát về tỷ số tài chính, khả năng sử dụng tỷ số tài chính để dự đoán tình hình hoạt động

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

W X

NGUYEÃN THIEÂN TUÙ

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

VỀ QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN

ĐỐI VỚI BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

W X

NGUYEÃN THIEÂN TUÙ

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

VỀ QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN

ĐỐI VỚI BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

Trang 3

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN CAM ĐOAN

Họ tên học viên: Nguyễn Thiên Tú Ngày sinh: 13/06/1986 Nơi sinh: TP.HCM

Trúng tuyển đầu vào năm: 2009

Là tác giả của đề tài luận văn: Nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 và tỷ số tài chính

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Vũ Hữu Đức

Ngành: Kế toán Mã ngành: 60.34.30

Bảo vệ luận văn ngày: 3 tháng: 1 năm: 2013

Điểm bảo vệ luận văn: 8,1

Tôi cam đoan đã chỉnh sửa nội dung luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài trên, theo góp ý của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013

Người cam đoan Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn

(Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thiên Tú

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các phụ lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 2

6 Nội dung nghiên cứu 2

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH 4

1.1 KIỂM TOÁN VÀ Ý KIẾN KIỂM TOÁN 4

1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán 4

Trang 6

1.2.1 Khái quát về tỷ số tài chính 7

1.2.2 Các nhóm tỷ số tài chính chủ yếu 7

1.2.3 Khả năng sử dụng các tỷ số tài chính để dự đoán tình hình hoạt động của doanh nghiệp 12

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH 14

1.3.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động của doanh nghiệp 14 1.3.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tỷ số tài chính 15

Kết luận chương 1 19

2 CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH DỰ ĐOÁN Ý KIẾN KIỂM TOÁN VIÊN DỰA VÀO TỶ SỐ TÀI CHÍNH 20

2.1 MÔ HÌNH .20

2.1.1 Chọn lựa phương pháp nghiên cứu 20

2.1.2 Chọn lựa ban đầu các biến đưa vào mô hình 21

2.1.2.1 Phân tích khả năng thanh toán 23

2.1.2.2 Phân tích khả năng sinh lời 24

2.1.2.3 Phân tích khả năng hoạt động 25

2.1.2.4 Phân tích cơ cấu tài chính 26

2.1.2.5 Phân tích sự phát triển về quy mô công ty 27

2.1.3 Chọn mẫu công ty nghiên cứu 29

2.2 CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 31

Trang 7

2.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

2.3.1 Kiểm tra mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 33

2.3.2 Phân tích biệt số với các biến độc lập ban đầu 35

2.3.2.1 Ước lượng hệ số hàm phân biệt 35

2.3.2.2 Xác định mức ý nghĩa 38

2.3.2.3 Giải thích kết quả 39

2.3.3 Ứng dụng phân tích biệt số với các biến được chọn lọc 43

Kết luận chương 2 48

3 CHƯƠNG 3: TÓM TẮT NGHIÊN CỨU, NHỮNG BÀN LUẬN VÀ GỢI Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 49

3.1 TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 49

3.2 NHỮNG BÀN LUẬN VÀ GỢI Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.2.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 51

3.2.2 Những gợi ý từ kết quả nghiên cứu 54

3.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 56

3.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 56

3.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 57

Kết luận chương 3 59

KẾT LUẬN 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TH : Tỷ số thanh toán hiện hành

PT : Sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước

DB : Tỷ số tổng tài sản trên tổng nợ

T1 : Tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản

T2 : Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản

T3 : Suất sinh lời trên tổng tài sản

T4 : Tỷ số vốn cổ phần trên tổng nợ phải trả

T5 : Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 : Các biến độc lập được sử dụng trong nghiên cứu 28

Bảng 2.2 : Bảng xếp hạng các tỷ số tài chính 34

Bảng 2.3 : Kết quả kiểm định Kruskal Wallis 35

Bảng 2.4 : Bảng thống kê theo nhóm ý kiến kiểm toán 36

Bảng 2.5 : Bảng kiểm tra sự bằng nhau của giá trị trung bình từng nhóm 37

Bảng 2.6 : Ma trận tương quan nội bộ nhóm chung 37

Bảng 2.7 : Tỷ số giữa tổng các độ lệch bình phương giữa các nhóm và tổng các độ lệch bình phương trong nội bộ nhóm 38

Bảng 2.8 : Hệ số Wilks’ Lambda 38

Bảng 2.9 : Hệ số hàm phân biệt chưa chuẩn hóa 39

Bảng 2.10 : Centroid của từng nhóm ý kiến kiểm toán 40

Bảng 2.11 : Bảng kết quả phân loại 41

Bảng 2.12 : Bảng hệ số chuẩn hóa của hàm phân biệt 42

Bảng 2.13 : Hệ số tương quan kết cấu 42

Bảng 2.14 : Hệ số Wilks’ Lambda 43

Bảng 2.15 : Hệ số hàm phân biệt chưa chuẩn hóa 44

Bảng 2.16 : Centroid của từng nhóm ý kiến kiểm toán 44

Bảng 2.17 : Bảng kết quả phân loại 45

Trang 10

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Tóm tắt về cỡ mẫu, biến tài chính, biến phi tài chính, phương pháp

nghiên cứu của các mô hình trước đó Phụ lục 2 : Tóm tắt về kết quả nghiên cứu của các mô hình trước đó

Phụ lục 3 : Danh sách các công ty niêm yết sử dụng trong mô hình

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đê tài

Nghiên cứu mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán là một hướng nghiên cứu thực nghiệm khá phát triển Thông qua các tỷ số liên quan đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động, nhiều mô hình đã được phát triển tại các quốc gia Các mô hình này một mặt cung cấp một công cụ cho kiểm toán viên, mặt khác giúp nhận định các nhân tố tác động đến ý kiến của kiểm toán viên nhằm

có những gợi ý cho các công ty kiểm toán

Tại Việt Nam hiện nay hầu như là chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này Nhận thấy sự thú vị của hướng nghiên cứu này cũng như mong muốn đóng góp vào hình thành một công cụ hỗ trợ kiểm toán viên trong công việc, tôi quyết định thực

hiện đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa ý kiến kiểm toán đối với

báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010

và tỷ số tài chính”

2 Mục tiêu nghiên cứu

của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 và các

tỷ số tài chính

của các công ty niêm yết tại Việt Nam dựa trên các tỷ số tài chính

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

cáo tài chính

Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 Các công ty niêm yết trên không bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm…)

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng bao gồm hai nghiên cứu chính:

phương pháp phân tích phi tham số Kruskall Wallis

kiến kiểm toán viên

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

o Ý nghĩa khoa học: tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ số tài chính và ý

kiến kiểm toán thông qua các nghiên cứu trước đó trên thế giới Từ đó đóng góp một mô hình phân biệt ý kiến kiểm toán viên dựa vào tỷ số tài chính trong bối cảnh Việt Nam

o Ý nghĩa thực tiễn: Mô hình hỗ trợ kiểm toán viên đưa ra quyết định

cuối cùng về ý kiến kiểm toán dựa vào các tỷ số có thể xác định được dựa vào các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính

6 Nội dung nghiên cứu

o Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ giữa ý kiến của kiểm toán viên

và tỷ số tài chính Chương này sẽ trình bày sơ nét về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến của kiểm toán viên, khái quát về tỷ số tài chính, khả năng sử dụng tỷ số tài chính để dự đoán tình hình hoạt động của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động và các nghiên cứu trước đó về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và các tỷ số tài chính

o Chương 2: Mô hình dự đoán ý kiến của kiểm toán viên dựa vào tỷ số

tài chính Chương này trình bày phương pháp chọn mẫu và các biến độc lập, phương pháp kiểm định phi tham số và phương pháp phân tích biệt số để dự đoán ý kiến kiểm toán Cuối cùng là trình bày kết quả nghiên cứu đạt được

Trang 13

o Chương 3: Tóm tắt nghiên cứu, các gợi ý từ kết quả nghiên cứu, hạn

chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Chương này sẽ tóm tắt

đề tài, đưa ra gợi ý sử dụng mô hình hỗ trợ kiểm toán viên trong việc trình bày ý kiến vê báo cáo tài chính Ngoài ra, nghiên cứu còn đánh giá các hạn chế của đề tài chưa khắc phục được, từ đó đưa ra các đề xuất cho những nghiên cứu trong tương lai

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH

1.1 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ Ý KIẾN KIỂM TOÁN

1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán

Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa

ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Quốc hội, 2011)

Theo chuẩn mực kiểm toán số 200, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính

là giúp cho kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, về sự tuân thủ pháp luật và các quy định nhà nước của đơn vị được kiểm toán (Bộ Tài chính, 1999)

Như vậy, ý kiến kiểm toán là mục đích sau cùng của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Ý kiến kiểm toán phản ảnh tổng hợp kết quả công việc kiểm toán và cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính một sự đảm bảo hợp lý

1.1.2 Các dạng ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính

1.1.2.1 Căn cứ vào chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700, điều 34 quy định: căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về báo cáo tài chính, như sau:

− Ý kiến chấp nhận toàn phần

− Ý kiến chấp nhận từng phần

− Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến)

− Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)

Trang 15

Đối với những báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Trong trường hợp kiểm toán viên không thu thập được bằng chứng kiểm toán cần thiết và không thực hiện được thủ tục thay thế phù hợp, nếu ảnh hưởng của giới hạn phạm vi kiểm toán nêu trên được xem là trọng yếu nhưng chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do giới hạn phạm vi kiểm toán); nhưng nếu ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên xem xét đến ý kiến từ chối đưa ra ý kiến Trong trường hợp kiểm toán viên và ban giám đốc bất đồng ý kiến trong việc trình bày một hoặc vài khoản mục trên báo cáo tài chính dẫn đến sai lệch trọng yếu nhưng chưa ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng ngoại trừ (do không nhất trí với ban giám đốc); nhưng nếu ảnh hưởng đến tổng thể báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp nhận Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự kiện đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cũng có thể trình bày đoạn nhấn mạnh về một số các yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên Các vấn đề thường được kiểm toán viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với báo cáo tài chính không nhất quán với báo cáo tài chính, hoặc khi khách hang còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh báo

cáo tài chính…

Trang 16

1.1.2.2 Đổi mới chuẩn mực kiểm toán về báo cáo kiểm toán tại Việt Nam

Nhằm mục tiêu hướng đến xu thế hội nhập hoàn toàn với quốc tế trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được soạn thảo lại có nội dung tương tự với chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Chuẩn mực kiểm toán mới (dự thảo) gồm 36 chuẩn mực Liên quan đến báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán có ba chuẩn mực:

− VSA 700 – Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

− VSA 705 – Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

− VSA 706 – Đoạn nhấn mạnh vấn đề và vấn đề khác trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

So sánh hai hệ thống chuẩn mực này về phương diện ý kiến kiểm toán, ta

thấy có hai điểm khác nhau cơ bản Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam sắp

ban hành gộp ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến thành dạng ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Vậy theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam dự thảo phân loại thành hai dạng ý kiến kiểm toán chính

là ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

Thứ hai, khi có yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự kiện có

thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên thì kiểm toán đưa ra ý kiến có đoạn nhấn mạnh thay vì ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào Vậy, chuẩn mực kiểm toán dự thảo đã loại bỏ ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào

Các chuẩn mực trên còn đang trong giai đoạn chuẩn bị ban hành Những thay đổi cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế sẽ giúp Việt Nam mau hòa nhập với các thông lệ chung trên thế giới

Trang 17

1.2 TỶ SỐ TÀI CHÍNH

1.2.1 Khái quát về tỷ số tài chính

Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của một doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các tỷ số tài chính Tỷ số tài chính là giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa hai hay nhiều số liệu tài chính với nhau Các tỷ số tài chính khi đứng một mình cung cấp thông tin khá hạn chế Chúng chỉ hữu ích thực

sự khi được so sánh giữa các kỳ với nhau, giữa tỷ số của doanh nghiệp với số liệu của các doanh nghiệp trong ngành hoặc giữa thực hiện với kế hoạch Vì vậy, phương pháp phân tích tỷ số tài chính chủ yếu là so sánh

Tỷ số tài chính giúp nhà phân tích tìm ra được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp nhà đầu tư hoặc các chủ nợ kiểm tra được tình hình tài chính của doanh nghiệp

Vấn đề đặt ra là tại sao chúng ta không sử dụng các số liệu của các khoản mục có sẵn trên báo cáo tài chính để so sánh mà lại sử dụng tỷ số tài chính Có hai

lý do cho việc sử dụng các tỷ số tài chính:

Thứ nhất, khi ta so sánh khả năng sinh lời của hai doanh nghiệp, chúng ta

không thể chỉ lấy lợi nhuận của chúng so sánh với nhau Bởi vì với cùng mức lợi nhuận như nhau trong khoảng thời gian như nhau, nhưng doanh nghiệp nào có số tài sản ít hơn thì khả năng sinh lời sẽ cao hơn

Thứ hai, khi so sánh tỷ số tài chính của một công ty với tiêu chuẩn của

ngành, người ta thường sử dụng tỷ số tài chính trung bình của ngành Sự khác biệt giữa tỷ số tài chính của công ty và tiêu chuẩn của ngành sẽ cho biết tình hình hoạt động của công ty, vị trí của công ty trong ngành

Trang 18

o Tỷ số thanh toán hiện hành (Current Ratio): đo lường khả năng doanh

nghiệp thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn Tỷ số thanh toán hiện hành được tính bằng công thức sau:

o Tỷ số thanh toán nhanh (Quick Ratio): đo lường mức thanh khoản cao hơn,

chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán như tiền, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn hoặc nợ phải thu ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền Hàng tồn kho không được xem là tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền nên bị loại ra khi tính tỷ số này

Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Tỷ số thanh

o Tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản (Working capital to total assets ratio):

cho thấy tỷ trọng của vốn lưu chuyển so với tổng tài sản Trong đó, vốn lưu chuyển được tính bằng cách lấy tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn Chỉ tiêu vốn lưu chuyển được dùng để xem xét khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty trong hiện tại Vì vốn lưu chuyển là một số tuyệt đối nên hạn chế trong việc so sánh giữa các doanh nghiệp khác biệt về quy mô Vì vậy, tỷ số vốn lưu chuyển trên tài sản giúp hạn chế khuyết điểm này Khi tỷ số này âm hoặc nhỏ sẽ phản ảnh một khả năng thanh toán kém

Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Tỷ số vốn lưu chuyển

Trang 19

− Phân tích khả năng hoạt động: các tỷ số tài chính phân tích khả năng hoạt động của doanh nghiệp được dùng để đo lường khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp, đồng thời cho thấy tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp

o Vòng quay tổng tài sản (Total Asset Turnover Ratio): đo hiệu quả sử dụng

tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng tài sản thì tạo

ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần hay nói cách khác là vốn của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng trong một chu kỳ kinh doanh

Doanh thu thuần Vòng quay tổng

o Vòng quay hang tồn kho (Inventory Turnover Ratio): được dùng để đo lường

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua hiệu quả sử dụng tài sản lưu động mà cụ thể là hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho được tính bằng công thức sau:

Giá vốn hang bán Vòng quay

Bên cạnh vòng quay hàng tồn kho, chỉ tiêu số ngày tồn kho bình quân cũng được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Số ngày tồn kho bình quân cho biết một vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày và được xác định bằng công thức:

Số ngày trong kỳ

Số ngày tồn kho

Thông thường, một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là một năm tài chính Vì vậy, số ngày trong kỳ thông thường được sử dụng là 360 ngày Số ngày tồn kho bình quân càng lớn tương đương với việc vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho khá chậm, vốn được sử dụng không hiệu quả và ngược lại

Trang 20

o Vòng quay nợ phải thu (Receivables Turnover Ratio) : được dùng để đo

lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Vòng quay nợ phải thu thể hiện tốc độ luân chuyển nợ phải thu hay khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ nợ thu hồi càng nhanh Vòng quay nợ phải thu được tính bằng công thức sau:

Doanh thu bán chịu thuần Vòng quay nợ

Bên cạnh vòng quay nợ phải thu, chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân cũng được sử dụng để đo lường khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp và được tính bằng công thức sau:

Số ngày trong kỳ

Kỳ thu tiền

Nếu rút ngắn kỳ thu tiền bình quân thì chẳng những tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động mà còn giảm bớt được rủi ro trong khâu thanh toán

− Phân tích cơ cấu tài chính (còn gọi là đòn bẩy tài chính): cơ cấu tài chính được xem như là một chính sách tài chính thông qua các khoản nợ vay để khuếch đại lợi nhuận cho doanh nghiệp, chính vì vậy còn gọi cơ cấu tài chính là đòn bẩy tài chính Các phép đo đòn bẩy tài chính là công cụ để xác định xác suất doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản và kiệt quệ tài chính Tuy nhiên, nợ là một dạng tài trợ tài chính quan trọng và tạo “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp do lãi suất tiền vay được tính như một khoản chi phí hợp lệ

o Tỷ số nợ (Debt Ratio): được dùng để đo lường tương quan giữa nợ phải trả

và tổng tài sản Các chủ nợ thường thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp thì món nợ càng được đảm bảo thanh toán khi doanh nghiệp có khả năng phá sản Tuy nhiên, các chủ sở hữu doanh nghiệp muốn có một tỷ số nợ cao vì

họ muốn gia tăng lợi nhuận nhanh và việc tăng thêm vốn chủ sở hữu có thể làm giảm quyền điều hành hay kiểm soát của doanh nghiệp

Tổng nợ phải trả

Tỷ số nợ =

Tổng tài sản

Trang 21

− Phân tích khả năng sinh lời: khả năng sinh lời của doanh nghiệp là kết quả của việc sử dụng tất cả tài sản doanh nghiệp nắm giữ Chính vì vậy, phân tích khả năng sinh lời tức là phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

o Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Return on Sales – ROS): đo lường lượng

lãi ròng tức lợi nhuận sau thuế trong một đồng doanh thu thu được Các ngành khác nhau thì sẽ có lợi nhuận biên tế khác nhau Trong cùng một ngành, nếu công ty nào có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao hơn thì chứng tỏ công ty đó quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào tốt hơn

Lãi ròng

Tỷ suất lợi nhuận

Trong công thức trên, một số nhà phân tích sử dụng tử số là lợi nhuận trước và chi phí lãi vay Lý do là cách tính này giúp loại bỏ ảnh hưởng của thuế và cơ cấu tài chính đến việc so sánh khả năng quản lý chi phí của công ty

o Suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On Assets - ROA): đo lường khả năng

sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp, qua đó đo lường hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn tài sản của một doanh nghiệp Khi tính toán chỉ tiêu ROA, nhà phân tích thường sử dụng một trong hai công thức sau:

Lợi nhuận sau thuế ROA =

Tổng vốn Hoặc:

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay ROA =

Tổng vốn Tuy nhiên, trong hai công thức này, công thức sử dụng lợi nhuận trước thuế

và lãi vay để tính ROA phản ánh tốt hơn về mặt ý nghĩa Vì lợi nhuận trước thuế và lãi vay là kết quả mà doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản của mình để tạo ra, không phân biệt người thụ hưởng kết quả này là chủ doanh nghiệp hay chủ nợ cho vay; cũng giống như toàn bộ tài sản không phân biệt tài sản đó có được do tự đầu tư hay đi vay

Trang 22

o Suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường (Return on Equity – ROE): đo lường

khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần, qua đó đo lường hiệu quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp để tạo ra thu nhập và lãi cho các cổ đông cổ phần phổ thông

Lãi cho cổ đông cổ phần phổ thông ROE =

Tổng vốn cổ phần phổ thông ROE còn được tính theo công thức sau:

Lợi nhuận sau thuế ROE =

Tổng vốn cổ phần phổ thông

1.2.3 Khả năng sử dụng các tỷ số tài chính để dự đoán tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tỷ số tài chính được sử dụng cho rất nhiều mục đích Người ta có thể dùng

tỷ số tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của một công ty, hoặc đánh giá năng lực làm việc của ban giám đốc, hoặc sự phát triển về quy mô của công ty trong thời gian kinh doanh trước đó… Ngoài ra, tỷ số tài chính còn được sử dụng cho mục đích dự đoán Các nhà phân tích hoặc kế toán thường sử dụng tỷ số tài chính để dự đoán các biến tài chính trong tương lai Riêng những nhà nghiên cứu sử dụng tỷ số tài chính trong mô hình thống kê để dự đoán khả năng phá sản của công ty hoặc đánh giá rủi ro, dự đoán hệ số tín nhiệm của công ty… Các mô hình đáng chú ý là

mô hình của Horrigan (1966) dùng phương pháp phân tích tương quan, Pinches và Mingo (1973) dùng phương pháp phân tích biệt số để dự đoán điểm của trái phiếu các công ty… Hoặc mô hình phân tích đơn biến của Beaver (1966) sử dụng các tỷ

số tài chính trong giai đoạn năm năm trước khi các doanh nghiệp phá sản để dự đoán khả năng phá sản với xác suất đoán đúng khá cao Đến năm 1968, Atman đã

sử dụng phương pháp phân tích biệt số trong mô hình Z – score để phân tích tín dụng, phân tích đầu tư và đánh giá khả năng không thể tiếp tục hoạt động của các công ty

Trang 23

Sau đó, kỹ thuật này được áp dụng ở nhiều nước và nhiều ngành nghề khác nhau, và đặc biệt được sử dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng Việc sử dụng Z – score để phân tích và dự đoán ngày càng mở rộng hơn và được ưu tiên trong việc dự đoán sự phá sản của các công ty Một số các mô hình khác cũng sử dụng tỷ số để dự đoán sự phá sản của doanh nghiệp như mô hình của Wilcox (1976), mô hình của Ohlson (1980) và mô hình của Zavgren (1985)… Bên cạnh mô hình dự đoán phá sản doanh nghiệp, việc sử dụng tỷ số tài chính còn giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các mô hình dự đoán rủi ro doanh nghiệp mà sự phát triển mạnh nhất của loại mô hình này là sử dụng tỷ số tài chính để dự đoán chỉ số beta như mô hình của Thompson (1976), Roenfeldt và Cooley (1978)

Vậy, việc sử dụng các tỷ số tài chính để dự đoán khả năng hoạt động của các công ty đã được đưa vào nghiên cứu từ rất lâu và càng ngày càng được nghiên cứu sâu hơn và áp dụng rộng rãi hơn tại nhiều nước trên thế giới Các nhà nghiên cứu cũng đã mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cả mục đích nghiên cứu để tận dụng hết khả năng dự đoán của các tỷ số tài chính đối với tình hình hoạt động của công ty Trong nghiên cứu này, tỷ số tài chính được sử dụng để

dự đoán khả năng công ty niêm yết có đươc nhận ý kiến chấp nhận toàn phần của kiểm toán viên hay không Khả năng dự đoán của tỷ số tài chính đối với tình hình hoạt động của công ty đã được chứng minh bởi những nghiên cứu vừa nêu trên Phần tiếp theo của đề tài sẽ tìm hiểu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trang 24

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN VÀ TỶ SỐ TÀI CHÍNH

1.3.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 quy định, kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần nếu báo cáo tài chính sau khi kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận tại Việt Nam

Tuy nhiên, trên thực tế, khi tình hình hoạt động của doanh nghiệp không tốt

sẽ gây ra nhiều vấn đề khiến kiểm toán viên phải cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa ra ý kiến kiểm toán Sự cân nhắc kỹ lưỡng vốn là công việc của kiểm toán viên trong bất

kỳ cuộc kiểm toán nào Tuy nhiên, đối với những công ty có tình hình hoạt động không tốt, kiểm toán viên càng phải cẩn thận hơn, đánh giá kỹ hơn những áp lực, thách thức của công ty đang gặp phải, xem xét khả năng những khó khăn đó làm ảnh hưởng đến tính chính trực của ban lãnh đạo

Đặc biệt là với công ty niêm yết, vì sức ép rất lớn đối với việc phải đạt được chỉ tiêu lợi nhuận theo kế hoạch trong điều kiện tình hình hoạt động gặp nhiều khó khăn, các công ty này có khả năng sẽ sử dụng các thủ thuật kế toán để “làm đẹp” báo cáo tài chính, biến lỗ thành lãi, biến lãi ít thành lãi nhiều để giữ giá cổ phiếu, tránh sức ép của cổ đông, hoặc nhằm thu hút vốn từ các cổ đông tiềm năng khác giúp công ty đứng vững trong điều kiện kinh doanh khó khăn

Họ cũng có thể lợi dụng các ước tính kế toán để giảm chi phí từ đó tăng lợi nhuận theo mong muốn Các biện pháp giảm chi phí có thể được sử dụng là thay đổi chính sách khấu hao nhằm giảm chi phí khấu hao, hoặc việc cắt giảm các chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, duy tu và bảo dưỡng thiết bị… Để tăng lợi nhuận, bên cạnh việc giảm phí, các công ty niêm yết cũng thường tăng doanh thu bằng cách ghi nhận doanh thu không có thật hoặc doanh thu của năm sau vào năm hiện tại Việc ghi nhận doanh thu ảo như vậy chẳng những làm tăng lợi nhuận mà còn cải thiện tính thanh khoản của doanh nghiệp gây ra sai lệch nhiều khoản mục trên báo cáo tài chính Các sai lệch này nếu trọng yếu này sẽ bị

Trang 25

kiểm toán viên yêu cầu điều chỉnh và có thể gây ra sự bất đồng giữa kiểm toán viên

và ban giám đốc Nếu bàn luận và thương lượng không giải quyết được vấn đề thì

có khả năng kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Cũng với mục đích hạn chế những điểm xấu, không muốn kiểm toán viên phát hiện ra những sai lệch trên báo cáo tài chính, công ty được kiểm toán có thể giới hạn phạm vi kiểm toán bằng cách áp đặt một số các điều khoản của hợp đồng kiểm toán, hoặc không thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán, lẩn tránh trách nhiệm, từ chối cung cấp thông tin, bằng chứng cần thiết, hay ngăn chặn công việc của kiểm toán viên… Trong những trường hợp như vậy, kiểm toán viên thực hiện thủ tục kiểm toán thay thế khác một cách hợp lý Nếu không thể thu thập được bằng chứng kiểm toán cần thiết, kiểm toán viên sẽ cân nhắc đưa ra ý kiến khác với ý kiến chấp nhận toàn phần

Khi tình hình hoạt động của doanh nghiệp không tốt, và thậm chí vi phạm giả định hoạt động liên tục, kiểm toán viên sẽ cân nhắc sự đầy đủ của việc công bố thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến kiểm toán

trọng trong việc kiểm toán viên cân nhắc xem xét khi đưa ra ý kiến kiểm toán

1.3.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tỷ số tài chính

Từ những vấn đề đã nêu trên, chúng ta thấy rõ tỷ số tài chính và tình hình hoạt động của công ty có quan hệ mật thiết với nhau; bên cạnh đó, ý kiến kiểm toán lại có mối liên hệ khá chặt chẽ với tình hình hoạt động của công ty Theo tính chất bắc cầu, tỷ số tài chính và ý kiến kiểm toán cũng có tương quan với nhau Điều đó

đã được chứng minh bởi rất nhiều nghiên cứu trên thế giới (phụ lục 1 và phụ lục 2) Nghiên cứu đầu tiên được kể đến là mô hình sử dụng phương pháp xác suất của Dopouch và cộng sự (1987) sử dụng biến tài chính và biến thị trường để dự đoán kiểm toán viên có đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần hay không Kết quả cho thấy biến quan trọng nhất trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán là biến giả lợi nhuận của doanh nghiệp năm hiện tại, sự thay đổi lợi nhuận công ty trừ lợi nhuận trung bình ngành và sự thay đổi của tỷ số tài chính tổng nợ đối với tổng tài sản

Trang 26

Ngoài ra, mô hình còn có khả năng phân biệt các dạng ý kiến chấp nhận từng phần với ý kiến nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục được các biến độc lập phân biệt tốt nhất Nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng các công ty nhận ý kiến chấp nhận từng phần ở năm trước thì khả năng năm tiếp theo nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ cao hơn ý kiến chấp nhận toàn phần

Sau đó, Spathis và cộng sự đã đưa ra mô hình tương tự vào năm 2003 Điểm mới của mô hình này là sử dụng phương pháp phân loại UTADIS rồi sử dụng kết quả đó so sánh với kết quả của các mô hình phân tích đa biến khác như phương pháp hồi quy tuyến tính, phân tích biệt số Kết quả cho thấy phương pháp phân loại UTADIS dự đoán khả năng kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hay toàn phần hiệu quả hơn các phương pháp khác với xác suất đúng hơn 80% Các biến được chọn lọc sau khi kiểm định phi tham số Kruskal Wallis được đưa vào mô hình gồm mười biến độc lập Trong đó, các biến quan trọng nhất trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán gồm lợi nhuận thuần/ tổng tài sản, doanh thu/ tổng tài sản và vốn lưu chuyển/ tổng tài sản

Đến năm 2006, Caramanis và Spathis tiếp tục phát triển mô hình này với sáu biến gồm bốn biến tỷ số tài chính và các biến phi tài chính thể hiện đặc điểm của công ty kiểm toán và công ty khách hàng Phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu này là sử dụng T – test và Chi bình phương để kiểm định mối tương quan của các biến độc lập với ý kiến kiểm toán Sau đó dùng phương pháp hồi quy (logistic regression) để kiểm tra khả năng kết hợp của các biến độc lập trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán Cuối cùng sử dụng mô hình phân tích hồi quy OLS để xác định mối tương quan giữa các biến độc lập và số lượng nhân tố không thỏa mãn sự hài lòng của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận từng phần Kết quả là trong sáu biến được chọn đưa vào mô hình có hai biến quan trọng là lợi nhuận cận hoạt động/ tổng tài sản và tài sản ngắn hạn/ nợ ngắn hạn Xác suất dự đoán đúng ý kiến kiểm toán của mô hình xấp xỉ 90% là một con số khá cao

Trang 27

Cũng trong năm 2006, Pasiouras và cộng sự đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán với kỹ thuật phân tích là phương pháp UTADIS và phương pháp hierarchical MHDIS Giai đoạn đầu của cuộc nghiên cứu là kiểm định phi tham số Kruskal Wallis với kết quả chọn lọc bốn biến tỷ số tài chính và một biến phi tài chính đánh giá rủi ro tín dụng của công ty Cả hai mô hình sử dụng phương pháp UTADIS và phương pháp MHDIS đều có khả năng dự đoán với xác đúng khá cao trên 70% Tuy nhiên, với mô hình sử dụng phương pháp UTADIS, biến ROA là biến quan trọng nhất trong việc đóng góp vào mô hình dự đoán, còn với mô hình sử dụng phương pháp MHDIS thì biến quan trọng nhất là tỷ số thanh toán nhanh và ROA Đến năm 2007, Gaganis và cộng sự đưa ra một mô hình mới với các biến được chọn theo từng mặt tình hình tài chính của công ty: khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, sự phát triển về quy mô của công ty, đòn bẩy tài chính và hai biến phi tài chính Phương pháp phân tích được sử dụng là hệ số “láng giềng gần nhất k” (nearest neighbor), phân tích biệt số và phân tích hồi quy Sau quá trình phân tích, kết quả của ba phương pháp được so sánh với nhau và kết quả là mô hình sử dụng phương pháp hệ số láng giềng gần nhất k hiệu quả hơn vì khả năng dự đoán với xác suất đúng cao nhất 72%, trong khi xác suất đúng của hai phương pháp còn lại chỉ hơn 60%

Bên cạnh các mô hình vừa kể trên còn rất nhiều mô hình sử dụng tỷ số tài chính để dự đoán ý kiến của kiểm toán viên, cụ thể là ý kiến nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục Nghiên cứu đầu tiên là của Mutchler (1985) sử dụng phương pháp phân tích biệt số Các biến được sử dụng ngoài tỷ số tài chính còn có biến phi tài chính về yếu tố làm giảm nhẹ và thông tin trái ngược như thông tin tốt và thông tin xấu góp phần tác động vào ý kiến của kiểm toán viên đưa ra về khả năng tiếp tục hoạt động của doanh nghiệp, biến giả về ý kiến kiểm toán của năm sau và ý kiến kiểm toán năm trước Với mô hình chỉ sử dụng biến tỷ số tài chính, xác suất đoán đúng khoảng 83%, khi kết hợp thêm yếu tố làm giảm nhẹ và thông tin trái ngược làm giảm khả năng dự đoán của mô hình xuống còn 80%, kết hợp với dạng ý kiến kiểm toán năm sau thì khả năng đoán đúng giảm nhẹ còn khoảng 82%, kết hợp với dạng ý kiến kiểm toán năm trước khả năng đoán đúng tăng lên đến gần 90%

Trang 28

Nghiên cứu chỉ rõ rằng các thông tin tốt và xấu, ý kiến kiểm toán năm sau làm giảm khả năng dự đoán của mô hình Điều đó chứng tỏ kiểm toán viên không sử dụng các yếu tố đó khi đưa ra ý kiến kiểm toán Ngược lại, ý kiến kiểm toán của năm trước như một dấu hiệu củng cố niềm tin đối với kiểm toán viên và được kiểm toán viên

sử dụng khi đưa ra ý kiến cho năm nay Đến năm 1986, Mutchler tiếp tục nghiên cứu mô hình này nhưng mở rộng hơn với đặc điểm của kiểm toán viên và quy mô công ty khách hàng Kết quả cho thấy đối với công ty nhỏ có tình hình tài chính sa sút thì các công ty kiểm toán không phải là big 8 thường có khuynh hướng không đưa ra ý kiến về giả định hoạt động liên tục

Vậy, các mô hình trên thế giới đều sử dụng tỷ số tài chính và một số biến phi tài chính để dự đoán ý kiến kiểm toán với xác suất đoán đúng khá cao Tại Việt Nam, mô hình dự đoán này hầu như là chưa có Với mong muốn bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và các tỷ số tài chính của công ty để đưa ra mô hình dự đoán, đề tài chỉ tập trung vào việc sử dụng các tỷ số tài chính và không đưa các biến phi tài chính vào mô hình

Trang 29

Kết luận chương 1:

Từ những vấn đề trên cho thấy ý kiến của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính của công ty khách hàng nói chung và công ty niêm yết nói riêng rất có ý nghĩa đối với người sử dụng Ý kiến kiểm toán làm tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính, làm người sử dụng an tâm hơn khi dựa vào đó để đưa ra quyết định kinh tế Chính vì vậy, trước khi đưa ra ý kiến, kiểm toán viên phải thận trọng xem xét tình hình hoạt động của công ty khách hàng Khi đương đầu với áp lực làm đẹp báo cáo tài chính để thu hút nguồn vốn từ cổ đông trong điều kiện kinh tế khó khăn và nhiều cạnh tranh, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán có nhiều động cơ làm sai lệch báo cáo tài chính; và đó cũng là một trong những nguyên nhân kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Từ đó cho thấy ý kiến kiểm toán

có mối tương quan với tình hình hoạt động của công ty

Bên cạnh đó, tình hình hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua các tỷ

số tài chính thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Một số nghiên cứu trước

đó trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều mô hình dự đoán tình hình hoạt động của doanh nghiệp căn cứ vào tỷ số tài chính Điều đó chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp và tỷ số tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau

Từ hai vấn đề trên, căn cứ vào tính chất bắc cầu, một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu và kết luận rằng ý kiến kiểm toán và tỷ số tài chính có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Đây là cơ sở lý thuyết của việc xây dựng các mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên dựa vào tỷ số tài chính

Trang 30

2 CHƯƠNG 2

MÔ HÌNH DỰ ĐOÁN Ý KIẾN KIỂM TOÁN VIÊN

DỰA VÀO TỶ SỐ TÀI CHÍNH

2.1 MÔ HÌNH

2.1.1 Chọn lựa phương pháp nghiên cứu

Để đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán dựa vào các biến độc lập đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đó đã sử dụng khá nhiều phương pháp: phương pháp phân tích biệt số (Mutchler, 1985, 1986), phương pháp phân tích hồi quy (Caramis và Spathis, 2006), phương pháp xác suất đơn vị (Dopouch và cộng sự, 1987)… Bên cạnh các nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê truyền thống trong mô hình dự đoán, một số nghiên cứu khác đi theo hướng sử dụng phương pháp thống kê hiện đại như phương pháp phân loại hỗ trợ quyết định đa tiêu chí UTADIS hoặc MHDIS, phương pháp hệ số k láng giềng gần nhất… rồi so sánh kết quả đó với kết quả của phương pháp thống kê truyền thống

để tìm ra phương pháp tốt nhất, có khả năng đoán đúng cao nhất (Spathis và cộng

sự, 2003; Pasiouras và cộng sự, 2006; Gaganis và cộng sự, 2007)

Dù các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng các phương pháp thống kê hiện đại có khả năng đoán đúng cao hơn những phương pháp thống kê truyền thống, nhưng lại phức tạp hơn và tốn thời gian hơn rất nhiều lần để đạt được kết quả cuối cùng (Gaganis, 2009)

Vì lý do về thời gian, để đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên, nghiên cứu này quyết định sử dụng phương pháp thống kê truyền thống, cụ thể là phương pháp phân tích biệt số Hạn chế lớn nhất của phương pháp này là đòi hỏi các giả định khắt khe khó thỏa mãn được Các giả định của phương pháp phân tích biệt số là mỗi nhóm của một mẫu của một tổng thể có phân phối chuẩn đa biến và tất cả các tổng thể này có ma trận hiệp phương sai giống nhau, các biến độc lập có tương quan với nhau thấp Đối với hai giả định cuối, phương pháp phân tích biệt số

Trang 31

tự kiểm tra và hiển thị kết quả trong bảng ma trận tương quan nội bộ nhóm chung (Pooled within – group correlation matrix) Riêng giả định thứ nhất, mô hình yêu cầu phải kiểm định sự phân phối chuẩn của mẫu Tuy nhiên, một số nghiên cứu trước đó như nghiên cứu của Deakin (1976) và So (1987) đã chứng minh hầu hết các tỷ số tài chính không có phân phối chuẩn Đây cũng là hạn chế lớn nhất của phương pháp phân tích biệt số và của đề tài này

2.1.2 Chọn lựa ban đầu các biến đưa vào mô hình

Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng rất nhiều biến độc lập bao gồm biến tài chính và biến phi tài chính để dự đoán ý kiến của kiểm toán viên Tuy nhiên, nghiên cứu này bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ số tài chính và ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính nên không sử dụng các biến phi tài chính làm dữ liệu đầu vào Việc lựa chọn tỷ số tài chính đưa vào mô hình gây ra khá nhiều khó khăn Vì có rất nhiều

tỷ số tài chính cùng thể hiện một mục đích đo lường, và không có tỷ số tài chính nào được chứng minh là thể hiện tốt nhất cho mục đích đo lường đó; nếu chúng ta

sử dụng tất cả các tỷ số để đưa vào mô hình phân tích thì gây tốn kém về thời gian

và chi phí cho giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu mà không cải thiện được khả năng dự đoán của mô hình Chính vì vậy, công việc trước tiên là phải đưa ra các nhóm tỷ số tài chính cùng thể hiện một mục đích đo lường rồi sau đó mới chọn lọc các tỷ số tài chính vào từng nhóm

Các nhóm tỷ số tài chính được đưa vào sử dụng trong nghiên cứu này gồm nhóm tỷ số phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng sinh lời, phân tích khả năng hoạt động, phân tích cơ cấu tài chính và phân tích sự phát triển của công

ty Việc xây dựng các nhóm tỷ số tài chính trên dựa vào các cơ sở sau:

− Các nhóm tỷ số tài chính này đã từng được sử dụng ở các nghiên cứu trước đây

− Các nhóm tỷ số tài chính này có đóng góp trong mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên ở các nghiên cứu trước đây

− Các tỷ số tài chính trong nhóm phải được tính toán từ các chỉ tiêu có sẵn trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam

Trang 32

Sau khi lựa chọn các nhóm tỷ số tài chính, vấn đề quan trọng tiếp theo là chọn các tỷ số tài chính của từng nhóm để đưa vào mô hình phân tích Việc lựa chọn tỷ số tài chính cho từng nhóm cũng dựa trên cơ sở các tỷ số này được sử dụng nhiều tại các mô hình trước đó và có đóng góp quan trọng trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn sử dụng năm tỷ số tài chính của mô hình dự đoán phá sản nổi tiếng của Atman năm 1968 Điểm khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó là đã không sử dụng hệ số Z – score của Atman mà tách hệ số Z – score thành các tỷ số tài chính nhỏ cấu thành nên nó Lý

do nghiên cứu này không sử dụng Z – score của Atman như một biến độc lập trong

mô hình là do mô hình hệ số Z – score được áp dụng cho từng ngành, loại hình doanh nghiệp riêng biệt như ngành sản xuất, phi sản xuất, hoặc doanh nghiệp tư nhân… Trong khi đó, mẫu của nghiên cứu này là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán không phân biệt ngành nghề Vì vậy, thay vì sử dụng hệ số Z – score như một biến độc lập, nghiên cứu này sử dụng năm tỷ số tài chính cấu thành nên hệ số Z – score gồm:

thanh toán của doanh nghiệp

thông tin cho người sử dụng Thứ nhất, tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp được tích lũy trong suốt giai đoạn kinh doanh Nếu tỷ số này của cùng một doanh nghiệp tăng đều qua các năm chứng tỏ doanh nghiệp có lãi liên tục qua các năm và ngược lại Thứ hai, tỷ số này cũng thể hiện cơ cấu tài chính của công ty Tỷ số này càng cao thì chứng tỏ tài sản của công ty được tài trợ từ phần lợi nhuận giữ lại hơn là từ khoản đi vay

khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp

vốn huy động bằng đi vay và vốn cổ phần nên được dùng để đo lường cơ cấu tài chính của công ty

sản Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Trang 33

2.1.2.1 Phân tích khả năng thanh toán:

Trong các nghiên cứu trước, tỷ số tài chính thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem là có mối quan hệ với ý kiến của kiểm toán viên Trong nghiên cứu của Ireland (2003), ông đã chỉ ra rằng một doanh nghiệp với khả năng thanh toán không tốt sẽ có khả năng nhận ý kiến nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục nhiều hơn những công ty khác Đồng quan điểm với Ireland, nghiên cứu của Spathis và cộng sự (2003) cũng cho rằng một doanh nghiệp có khả năng thanh toán không tốt thể hiện sự sa sút về sức khỏe tài chính nên khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ tăng lên Vì tỷ số tài chính thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp có mối quan hệ với ý kiến kiểm toán, nên nghiên cứu này quyết định

sử dụng nhóm tỷ số số tài chính phân tích khả năng thanh toán để dự đoán ý kiến kiểm toán

Để phân tích khả năng thanh toán có khá nhiều tỷ số tài chính, nghiên cứu này sử dụng tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số vốn lưu chuyển so với tổng tài sản Việc chọn lựa hai tỷ số này để đưa vào mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên dựa trên các lý do sau:

Thứ nhất, Spathis và cộng sự (2003) đã sử dụng tỷ số thanh toán hiện hành

và tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản để dự đoán ý kiến của kiểm toán viên và

có xác suất đoán đúng khá cao trên 80% Bên cạnh đó, trong số các biến có đóng góp quan trọng trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán viên, biến tỷ số tài chính vốn lưu chuyển trên tổng tài sản là một trong những biến có đóng góp quan trọng nhất Thứ hai, Caramanis và Spathis (2006) đã sử dụng tỷ số thanh toán hiện hành

để dự đoán ý kiến kiểm toán viên với xác suất đoán đúng trên 90% và biến tỷ số thanh toán hiện hành là một trong những biến có đóng góp quan trọng nhất

Thứ ba, bên cạnh hai mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên đưa ra là chấp nhận toàn phần hay ý kiến chấp nhận từng phần dựa vào các biến tài chính và biến phi tài chính, nghiên cứu của Mutchler (1985, 1986) nhằm dự đoán ý kiến kiểm toán viên có đưa ra ý kiến về giả định hoạt động liên tục hay không cũng sử dụng tỷ

số thanh toán hiện hành và xác suất đoán đúng cũng khá cao trên 80%

Trang 34

Thứ tư, tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản cũng là một trong năm tỷ số cấu thành nên hệ số Z – score mà nghiên cứu quyết định đưa vào mô hình như đã nói ở phần trên

Nhóm biến này được kỳ vọng có quan hệ nghịch biến với khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần Nghĩa là những công ty có khả năng thanh toán tốt thì khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ thấp hơn

2.1.2.2 Phân tích khả năng sinh lời:

Các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng một doanh nghiệp có khả năng sinh lời thấp hơn các doanh nghiệp tương tự thì khả năng doanh nghiệp đó nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ cao hơn (Spathis và cộng sự, 2003; Caramanis và Spathis, 2006; Pasiouras và cộng sự, 2006; Gaganis và cộng sự, 2007) Vì tỷ số tài chính thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng có mối quan hệ với ý kiến của kiểm toán viên nên nghiên cứu này quyết định đưa nhóm tỷ số tài chính phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp vào mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán

Nghiên cứu này sử dụng tỷ số suất sinh lời của tài sản và tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản trong nhóm tỷ số phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp

để đưa vào mô hình Lý do tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản được đưa vào mô h́nh của nghiên cứu này là v́ trong nhiều nghiên cứu trước đó, suất sinh lời trên tổng tài sản là biến được sử dụng nhiều nhất đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Spathis và cộng sự, 2003; Pasiouras và cộng sự, 2006; Gaganis và cộng sự, 2007) Ngoài ra, biến suất sinh lời trên tổng tài sản còn là biến có đóng góp quan trọng nhất trong mô hình của Spathis và cộng sự năm 2003 với việc sử dụng phương pháp phân loại UTADIS và nghiên cứu của Pasiouras và cộng sự năm 2006 khi sử dụng cả phương pháp phân loại UTADIS và phương pháp phân loại MHDIS Như vậy, tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản là một biến có tương quan cao với ý kiến kiểm toán

Ngược lại với tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước đó, tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản hầu như chưa từng được đưa vào mô hình nào trước đó để kiểm định mối tương quan với ý kiến kiểm

Trang 35

toán Tuy nhiên, đây là một trong năm tỷ số tài chính cấu thành nên hệ số Z – score của Atman nên được đưa vào mô hình của nghiên cứu này như đã nói ở phần trên Nhóm biến này được kỳ vọng có quan hệ nghịch biến với khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần Nghĩa là những công ty có khả năng sinh lời cao thì khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ thấp hơn

2.1.2.3 Phân tích khả năng hoạt động:

Việc sử dụng các tỷ số tài chính để phân tích khả năng hoạt động của doanh nghiệp được khá nhiều mô hình sử dụng như mô hình của Dopouch và cộng sự (1987), mô hình của Spathis và cộng sự (2003), mô hình của Caramanis và Spathis (2006) Các tỷ số được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó là doanh thu trên tổng tài sản, nợ phải thu trên tổng tài sản, nợ phải thu trên doanh thu, hoặc hàng tồn kho trên tổng tài sản… Tuy nhiên, tỷ số hàng tồn kho trên tổng tài sản trong nghiên cứu của Dopouch và cộng sự (1987) được xem là không có tương quan với ý kiến kiểm toán Tỷ số nợ phải thu trên tổng tài sản (Dopouch và cộng sự, 1987; Spathis

và cộng sự, 2003) và tỷ số nợ phải thu trên doanh thu (Spathis và Carmanis, 2006) cũng được sử dụng khá nhiều trong các mô hình dự đoán Tuy nhiên, biến doanh thu trên tổng tài sản được sử dụng trong mô hình của Spathis và cộng sự (2003) đã được chứng minh là có đóng góp quan trọng cho việc dự đoán ý kiến kiểm toán Đó cũng chính là lý do tỷ số doanh thu thuần trên tổng tài sản được đưa vào mô hình của nghiên cứu này

Ngoài ra, việc chọn lựa tỷ số doanh thu trên tổng tài sản còn có nguyên nhân

là do đây là một trong năm tỷ số cấu thành nên hệ số Z – score

Nhóm biến này được kỳ vọng có quan hệ nghịch biến với khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần Nghĩa là những công ty có khả năng hoạt động tốt thì khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ thấp hơn

Trang 36

2.1.2.4 Phân tích cơ cấu tài chính:

Cơ cấu tài chính hay còn gọi là đòn bẩy tài chính thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp sử dụng chủ yếu vốn vay hay vốn chủ sở hữu để hoạt động Việc

sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công ty như một con dao hai lưỡi, nó có khả năng tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nếu sử dụng không tốt nó có thể đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản Với rủi ro phá sản cao như vậy, khả năng kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần sẽ là khá cao Nghiên cứu của Gaganis

và cộng sự (2007) chỉ ra rằng các công ty nhận ý kiến chấp nhận toàn phần thường

có tỷ lệ tự tài trợ cao Nhận biết được tầm quan trọng của cơ cấu tài chính trong việc

dự đoán ý kiến kiểm toán viên, các nghiên cứu trước đó cũng đã đưa nhóm tỷ số này vào mô hình nghiên cứu (Dopouch và cộng sự, 1987; Gaganis và cộng sự, 2007; Mutchler, 1985; Mutchler, 1986) Thừa hưởng thành quả từ những nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này quyết định sử dụng cơ cấu tài chính để dự đoán ý kiến kiểm toán viên

Trong bốn nghiên cứu kể trên thì ba nghiên cứu đã sử dụng tỷ số nợ phải trả trên tổng tài sản (Dopouch và cộng sự, 1987; Mutchler, 1985; Mutchler, 1986), chỉ

có nghiên cứu của Gaganis và cộng sự (2007) sử dụng tỷ số vốn cổ phần trên tổng tài sản Bên cạnh đó, mô hình của Dopouch và cộng sự (1987) còn cho thấy tỷ số tổng nợ phải trả trên tổng tài sản là một trong những tỷ số đóng góp quan trọng nhất cho mô hình dự đoán Đó chính là lý do nghiên cứu này sử dụng tỷ số tổng nợ phải trả trên tổng tài sản như một biến độc lập trong mô hình dự đoán

Bên cạnh tỷ số nợ phải trả trên tổng tài sản, tỷ số tự tài trợ vốn cổ phần trên tổng tài sản cũng được đưa vào nghiên cứu này Ngoài lý do tỷ số này được sử dụng

và có đóng góp vào mô hình dự đoán của Gaganis và cộng sự (2007), một lý do khác là vì đây là một trong năm tỷ số cấu thành nên hệ số Z – score của Atman Tuy nhiên, tỷ số của Atman có đưa thêm nhân tố giá thị trường của vốn cổ phần vào công thức Vì vốn cổ phần sẽ biến động theo giá cổ phiếu, còn vốn vay thì không biến động, nên công thức này đo lường tỷ lệ vốn cổ phần trên tổng nợ phải trả tại thời điểm công ty được kiểm toán Với tỷ số của Atman, chúng ta thấy kiểm toán viên sẽ đánh giá về cơ cấu tài chính của công ty sẽ đầy đủ hơn

Trang 37

Nhóm biến này được kỳ vọng có quan hệ nghịch biến với khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần Nghĩa là những công ty sử dụng nợ để tài trợ quá nhiều cho tài sản thì dẫn đến rủi ro mất thanh toán cao nên khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ cao hơn Như vậy, để dễ dàng đánh giá mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc và các biến độc lập trong cùng nhóm có quan hệ cùng chiều, tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản được đổi lại thành tổng tài sản trên tổng

nợ

2.1.2.5 Phân tích sự phát triển về quy mô công ty:

Các biến độc lập đo lường sự phát triển về quy mô của công ty được sử dụng trong mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán của Pasiouras và cộng sự (2006) và Gaganis và cộng sự (2007) Mô hình của Gaganis và cộng sự (2007) sử dụng tỷ số

sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước Nghiên cứu này cho rằng công ty với tỷ lệ phát triển thấp hơn những công ty tương tự thì khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ cao hơn Còn mô hình của Pasiouras và cộng sự (2006)

sử dụng sự thay đổi giá trị tổng tài sản mỗi năm làm biến độc lập Kết quả mô hình cũng chỉ ra rằng, với phương pháp phân loại UTADIS, biến sự thay đổi giá trị tổng tài sản mỗi năm là một trong những biến quan trọng nhất đóng góp vào mô hình dự đoán

Như vậy, cả hai nghiên cứu trên đều đưa đến kết luận rằng sự phát triển về quy mô của doanh nghiệp có tác động đến ý kiến của kiểm toán viên Đó cũng chính là lý do mô hình này sử dụng tỷ số phân tích sự phát triển về quy mô của doanh nghiệp để dự đoán ý kiến kiểm toán viên Vì mô hình trong nghiên cứu này chỉ sử dụng yếu tố đầu vào là tỷ số tài chính nên biến độc lập của Pasiouras và cộng

sự (2006) không phù hợp Do đó, tỷ số được chọn lựa là sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước

Nhóm biến này được kỳ vọng có quan hệ nghịch biến với khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần Nghĩa là những công ty phát triển tốt hơn thì khả năng nhận ý kiến chấp nhận từng phần sẽ thấp hơn

Trang 38

Tóm lại, mô hình gồm có các biến sau:

Biến phụ thuộc là ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính Biến phụ thuộc này là biến định tính có hai biểu hiện: ý kiến chấp nhận toàn phần được mã hóa là 0 và ý kiến chấp nhận từng phần được mã hóa là 1

Biến độc lập: tám biến độc lập là các tỷ số tài chính (biến định lượng) được phân thành 5 nhóm như sau:

Bảng 2.1: Các biến độc lập được sử dụng trong nghiên cứu Nhóm biến Biến độc lập

năng thanh toán Tỷ số vốn lưu chuyển

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Suất sinh lời trên tổng

Lợi nhuận giữ lại

Phân tích khả

năng sinh lời Tỷ số lợi nhuận giữ lại

Doanh thu Phân tích khả

cơ cấu tài chính Tỷ số vốn cổ phần trên

Tài sản năm nay – Tài sản năm trước Phân tích

sự phát triển về

quy mô

Sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước (PT)

=

Tổng tài sản

Để tính toán các tỷ số trên, các chỉ tiêu được lấy từ báo cáo tài chính Các chỉ tiêu lấy từ số liệu có sẵn trên bảng cân đối kế toán gồm có: Tài sản ngắn hạn, Nợ phải trả ngắn hạn, Tổng Tài sản, Tài sản năm trước, Tổng nợ phải trả Riêng chỉ tiêu lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận còn lại tích lũy được sau khi chia cổ tức cho cổ đông và được tính bằng cách lấy số dư của lợi nhuận chưa phân phối cộng với số dư

Trang 39

quỹ đầu tư phát triển, số dư quỹ dự phòng tài chính, số dư quỹ khác thuộc vốn chủ

sở hữu trên bảng cân đối kế toán Lý do là các khoản này về bản chất cũng là lợi

nhuận giữ lại không chia cho các cổ đông

Các chỉ tiêu có sẵn trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm có:

Doanh thu Riêng chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế và lãi vay được tính bằng cách lấy

tổng lợi nhuận kế toán trước thuế cộng với lãi vay được thể hiện trong báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh

Chỉ tiêu Giá trị thị trường của vốn cổ phần được tính bằng cách lấy số lượng

cổ phiếu phổ thông đang lưu hành nhân với giá thị trường của cổ phiếu tại ngày

cuối năm tài chính được kiểm toán hoặc ngày giao dịch gần nhất Số lượng cổ phiếu

đang lưu hành được lấy từ thuyết minh báo cáo tài chính, còn giá thị trường của cổ

phiếu được lấy từ trang điện tử http://cafef.vn

2.1.3 Chọn mẫu công ty nghiên cứu

Như đã nêu trong lời mở đầu, nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và các tỷ số tài chính của công ty niêm yết giai đoạn 2006 –

2010 để đưa ra mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán Chính vì vậy, mẫu trong nghiên

cứu này bao gồm các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngoài việc đáp ứng mục tiêu của đề tài, việc chọn các công ty niêm yết còn có

thuận lợi cho nghiên cứu là do thông tin, số liệu tài chính của các công ty niêm yết

thường có sẵn trên trang web chứng khoán hoặc tại website công ty

Theo dữ liệu trang điện tử http://cafef.vn vào ngày 6/5/2012, tổng số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam gồm có 969 công ty Trong đó, 65

công ty thuộc loại hình công ty tài chính như công ty bảo hiểm, công ty chứng

khoán, ngân hàng và quỹ đầu tư bị loại ra khỏi mẫu nghiên cứu vì các đặc điểm của

loại hình này khác rất nhiều so với các công ty niêm yết phi tài chính khác Trong

số các công ty còn lại, 69 công ty bị loại trừ do không cung cấp bất kỳ báo cáo tài

chính đã kiểm toán trong giai đoạn 2006 – 2010 Nghiên cứu tiếp tục chọn lọc các

công ty có ý kiến kiểm toán là chấp nhận từng phần năm đầu tiên trong giai đoạn 5

năm Sự chọn lọc này nhằm giảm bớt ảnh hưởng của các nhân tố phi tài chính mà

Field Code Changed

Trang 40

đề tài này không nghiên cứu tác động đến ý kiến kiểm toán Các yếu tố phi tài chính

cụ thể là ý kiến kiểm toán năm trước được nghiên cứu của Mutchler năm 1985

kiện này gồm có 114 công ty tương ứng là 228 ý kiến kiểm toán gồm 118 ý kiến chấp nhận toàn phần của năm trước và 118 ý kiến chấp nhận từng phần vào năm sau

Tuy nhiên, đây chưa phải là mẫu của nghiên cứu, vì trong 236 ý kiến kiểm toán này, chỉ có 201 ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính được chọn Vì tại thời điểm được kiểm toán, một số công ty chưa được niêm yết nên bị loại ra Trong 201 ý kiến kiểm toán có 76 ý kiến chấp nhận toàn phần và 125 ý kiến chấp nhận từng phần Nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên trong hai nhóm ý kiến này theo tỷ lệ 50% tổng thể Như vậy, mẫu cuối cùng của nghiên cứu gồm có 100 ý kiến kiểm toán gồm 38

ý kiến chấp nhận toàn phần và 62 ý kiến chấp nhận từng phần

Xem mẫu của các nghiên cứu trước đó, ta thấy hầu hết các mô hình đều sử dụng số lượng mẫu khá lớn (trên 100 công ty) So sánh về mặt số lượng, ta thấy số lượng mẫu quan sát của nghiên cứu này nhỏ hơn hầu hết các nghiên cứu trước đó Nguyên nhân là do yêu cầu khá khắt khe của mô hình đòi hỏi mẫu quan sát phải là công ty niêm yết nhận ý kiến chấp nhận từng phần lần đầu tiên trong giai đoạn 2006 – 2010 sau khi đã loại trừ tất cả công ty tài chính Điều đó dẫn đến chỉ có 201 công

ty thỏa mãn yêu cầu Tuy nhiên, một lý do khác nữa là do thời gian làm đề tài có hạn nên công ty đã tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên theo tỷ lệ 50% các công ty thỏa mãn yêu cầu Con số 100 tuy không lớn như các nghiên cứu trước đó nhưng cũng bằng với mẫu trong nghiên cứu của Spathis và cộng sự (2003) và đây cũng được xem là mẫu đủ lớn để tiến hành phân tích thống kê

1 Khả năng công ty nhận ý kiến chấp nhận từng phần nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục sẽ cao nếu như năm trước công ty đã nhận ý kiến tương tự.

Ngày đăng: 08/08/2021, 21:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w