Đặc biệt, với bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc và khác biệt riêng có, với nhiều di sản văn hóa có giá trị nổi bật trong đó có các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng các d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Trần Thúy Anh
2 PGS.TS Phạm Văn Lợi
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận án tiến sỹ: PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở CON CUÔNG, NGHỆ AN là do tôi viết và chưa công bố Các trích dẫn, số liệu, kết quả nêu trong
luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020
Tác giả
TRẦN THỊ THỦY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thúy Anh, PGS.TS Phạm Văn Lợi đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, phòng Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Phòng Nghiên cứu Khoa học phát triển đã làm việc đầy trách nhiệm, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong những năm qua
Tác giả trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Vinh, nơi tác giả đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập Tác giả xin được cảm ơn các Thầy, Cô, các nhà khoa học tham gia Hội đồng chấm các chuyên
đề trong quá trình học tập; các chuyên gia đã hỗ trợ, chia sẻ, đóng góp tâm huyết, trách nhiệm và định hướng để công trình nghiên cứu của tác giả được hoàn thiện
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An; Sở Du lịch Nghệ An; Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An, Cục Thống kê Nghệ An; Ủy ban Nhân dân huyện Con Cuông, cộng đồng người Thái huyện Con Cuông đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tác giả nhiều tài liệu quý
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận án
Tác giả Luận án
Trần Thị Thủy
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
CSHT, VCKT Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
UNESCO United Nations Educational, Scientific
and Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)
Trang 71
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Câu hỏi nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa của luận án 9
6 Bố cục của luận án 11
Chương 1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, TÌNH HÌNH 12
NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 12
1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 12
1.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 16
1.2 Tình hình nghiên cứu 20
1.2.1 Về di sản và giá trị di sản văn hóa của người Thái ở Nghệ An 20
1.2.2 Về du lịch cộng đồng 25
1.2.3 Về phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng 29
1.2.4 Kết luận tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 30
1.3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 32
1.3.1 Một số khái niệm 32
1.3.2 Một số lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 35
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 52
*Tiểu kết chương 1 55
Chương 2 NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG DỰA TRÊN THỰC TRẠNG CÁC DI SẢN VĂN HÓA THÁI Ở CON CUÔNG, NGHỆ AN 57
2.1 Nhận diện và đánh giá khả năng phát triển du lịch cộng đồng của các di sản văn hóa vật thể 57
2.1.1 Danh lam thắng cảnh 57
2.1.2 Di tích lịch sử văn hóa 63
Trang 82
2.2 Nhận diện và đánh giá khả năng phát triển du lịch cộng đồng của các di
sản văn hóa phi vật thể 70
2.2.1 Phong tục, tín ngưỡng và các nghi lễ truyền thống 70
2.2.2 Các loại hình nghệ thuật và chữ viết 78
2.2.3 Nghề thủ công truyền thống 83
2.2.4 Văn hóa ẩm thực, kiến trúc nhà sàn và trang phục truyền thống 87
*Tiểu kết chương 2 98
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở CON CUÔNG 100
3.1 Nhìn từ các di sản văn hóa 100
3.1.1 Nhìn từ các di sản văn hóa vật thể 100
3.1.2 Nhìn từ các di sản văn hóa phi vật thể 103
3.2 Nhìn từ thực trạng phát triển du lịch cộng đồng 116
3.2.1 Về công tác quản lý 116
3.2.2 Về dịch vụ du lịch 118
3.2.3 Sự tham gia của các bên liên quan 120
3.2.4 Xúc tiến, đầu tư du lịch 131
3.2.5 Lượt khách và tổng thu 132
3.3 Đánh giá chung về thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái và thực trạng quản lý phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông 136
3.3.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân 136
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 139
*Tiểu kết chương 3 146
Chương 4 GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở CON CUÔNG 147
4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp và khuyến nghị 147
4.1.1 Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của đề tài 147
4.1.2 Căn cứ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính quyền địa phương 148
4.2 Những giải pháp cụ thể 154
4.2.1 Giải pháp nâng cao giá trị di sản văn hóa của người Thái 154
4.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ dịch vụ du lịch cộng đồng 161
Trang 93
4.2.3 Giải pháp về quản lý, tổ chức thực hiện du lịch cộng đồng 165
4.2.4 Nâng cao năng lực nguồn lực tham gia phát triển du lịch cộng đồng 170
4.2.5 Đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch cộng đồng 173
4.2.6 Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch cộng đồng 175
4.2.7 Các giải pháp khác 177
4.2.8 Cơ chế thực hiện các giải pháp 179
4.3 Đề xuất, khuyến nghị 181
4.3.1 Đối với UBND tỉnh Nghệ An 181
4.3.2 Đối với Sở Du lịch Nghệ An 181
4.3.3 Đối với UBND huyện Con Cuông 182
4.3.4 Đối với người dân địa phương 184
4.3.5 Đối với các hộ kinh doanh tham gia kinh doanh du lịch 184
4.3.6 Đối với các doanh nghiệp lữ hành 185
4.3.7 Đối với du khách 186
* Tiểu kết chương 4 187
KẾT LUẬN 189
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO 194 PHỤ LỤC
Trang 104
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mô tả các hình thức du lịch cộng đồng 42
Bảng 1.2 Bảng đánh giá độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch 47
Bảng 1.3 Bảng đánh giá độ bền vững của tài nguyên du lịch 48
Bảng 1.4 Bảng đánh giá thời gian hoạt động du lịch 49
Bảng 1.5 Bảng đánh giá sức chứa du khách của một khu vực du lịch 49
Bảng 1.6 Bảng đánh giá khả năng khai thác trong du lịch 50
Bảng 2.1 Bảng đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch huyện Con Cuông 62
Trang 115
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ khách du lịch muốn được sử dụng và đã sử dụng các dịch vụ du lịch cộng đồng tại Con Cuông (%) 120Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ du khách muốn được trải nghiệm và đã trải nghiệm các hình thức
du lịch cộng đồng ở Con Cuông 125Biểu đồ 3.3 Lượt khách du lịch và lượt khách du lịch cộng đồng đến Con Cuông trong thời gian qua 134Biểu đồ 3.4 Tổng thu từ hoạt động du lịch cộng đồng của người Thái bản Nưa giai đoạn 2011 – 2017 (ĐVT: Việt Nam đồng) 135Biểu đồ 3.5 Tổng thu từ hoạt động du lịch và hoạt động du lịch cộng đồng 136của người Thái Con Cuông trong thời gian qua 136
Trang 12và phát huy các giá trị di sản văn hóa đặc sắc Đặc biệt, với bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc và khác biệt riêng có, với nhiều di sản văn hóa có giá trị nổi bật trong đó có các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng các dân tộc ít người, đã được quan tâm, nghiên cứu, xác định các giá trị phục vụ cho phát triển
du lịch Nhiều sản phẩm du lịch văn hóa đã được xây dựng và tạo nên những khác biệt của hệ thống các sản phẩm du lịch Việt Nam Việc phát huy các giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch, trong đó có du lịch cộng đồng đã đạt được nhiều thành quả, và ngày càng trở thành một nội dung quan trọng đối với chiến lược phát triển du lịch trong bối cảnh mới
Việt Nam đã có nhiều thành công trong quản lý và phát huy các giá trị di sản, phối hợp chặt chẽ trong phát triển các lĩnh vực liên quan trong đó có du lịch Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động quản lý và phát huy các giá trị di sản gắn với phát triển du lịch còn những bất cập nhất định, ảnh hưởng tới tính bền vững của di sản và hoạt động phát triển du lịch Đặc biệt là những di sản văn hóa gắn với truyền thống của các cộng đồng các dân tộc ít người
Liên quan đến vấn đề này, nhiều nghiên cứu khoa học lĩnh vực du lịch và văn hóa cũng đã triển khai thực hiện, nhiều vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu như mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Bên cạnh đó, trong nghiên cứu khoa học chuyên ngành, đã có các nghiên cứu liên quan đến bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch, nhiều vấn đề đã được
Trang 137
phân tích, làm rõ, tuy nhiên, vấn đề cách thức quản lý, phát huy; mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan; cơ chế quản lý và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, trong đó có du lịch cộng đồng,… là những vấn đề còn bỏ ngỏ, cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu và tổng thể hơn Các nghiên cứu chưa giải quyết được mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa,
đa phần nhấn quá nhiều vào phát triển du lịch, không chú ý nhiều đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa; số khác nghiêng quá sang bảo vệ di sản, không tạo điều kiện cho
du lịch phát triển, Bên cạnh đó, việc nhận diện các giá trị di sản văn hóa có thể phát huy trong du lịch cộng đồng hay các phương pháp đánh giá khả năng phát huy giá trị các di sản văn hóa trong du lịch cộng đồng và các giải pháp phát huy giá trị của di sản văn hóa tộc người trong phát triển bền vững loại hình du lịch cộng đồng
là những vấn đề cần được nghiên cứu thêm
Là một huyện miền núi phía Tây của tỉnh Nghệ An, Con Cuông có tới 88% dân số là người dân tộc thiểu số, trong đó 74% là cộng đồng dân tộc Thái với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo và chứa đựng tính nhân văn cao đẹp Hệ thống di sản văn hóa của người Thái ở Con Cuông, Nghệ An được đánh giá tương đối đa dạng và phong phú với nhiều di tích lịch sử văn hóa; phong tục, tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống; loại hình nghệ thuật; làng nghề thủ công truyền thống; văn hóa ẩm thực, kiến trúc,… có khả năng khai thác phát triển du lịch cộng đồng Tuy nhiên, nhiều di sản văn hóa của người Thái ở huyện Con Cuông đang đứng trước nguy cơ biến đổi và biến mất hoàn toàn Tình trạng này cũng xảy ra tương tự ở các huyện khác ở các huyện miền núi Nghệ An Việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu để bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Thái ở huyện Con Cuông nói riêng, các huyện miền núi Nghệ An nói chung là vô cùng cần thiết
Trong những năm qua, với sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, huyện Con Cuông đã xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Thái Du lịch cộng đồng của người Thái ở đây
đã có những bước phát triển nhất định Các điểm du lịch cộng đồng được hình thành, một bộ phận người dân đã tham gia vào các hoạt động du lịch, các di sản văn hóa như ẩm thực, các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghề truyền thống
Trang 148
đã phần nào phát huy giá trị trong phát triển du lịch Mặc dù vậy, việc khai thác giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng mới được triển khai gần đây, và bộc lộ một số bất cập, hạn chế dẫn đến lượt khách, tổng thu từ hoạt động du lịch cộng đồng chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên
di sản văn hóa của địa phương
Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra về lý luận khoa học và tình hình thực tế phát triển du lịch cộng đồng của địa phương và các địa bàn trong nước, NCS nhận
thấy vấn đề nghiên cứu Phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Nghệ An trong thời điểm hiện nay là phù
hợp và cần thiết
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng giá trị di sản văn hóa của người Thái và thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị nhằm phát huy giá trị của di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là cách thức để phát huy giá trị của các di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng
Trang 153.2.2 Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của luận án là toàn bộ địa bàn cư trú của người Thái ở
huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nhưng NCS chọn 3 cộng đồng thôn/bản làm địa
bàn nghiên cứu trọng tâm, bao gồm: bản Nưa (xã Yên Khê), bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Xiềng (xã Môn Sơn) Đó là những cộng đồng thôn/bản bảo tồn khá tốt các di sản văn hóa Thái và đang triển khai các hoạt động du lịch cộng đồng
3.2.3 Phạm vi thời gian
Về phạm vi thời gian, nghiên cứu hiện trạng trong giai đoạn từ 2011 khi các
giá trị văn hóa Thái ở Con Cuông bắt đầu được quan tâm phát huy giá trị của nó trong các hoạt động du lịch cộng đồng Hoạt động khảo sát được tập trung chính trong năm 2016, 2017, 2018 Các đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2025
4 Câu hỏi nghiên cứu
Cách thức phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng? Khả năng phát triển du lịch cộng đồng của các di sản văn hóa Thái ở Con Cuông, Nghệ An như thế nào?
Việc phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Thái trong phát triển loại hình du lịch cộng đồng đang được thực hiện như thế nào?
Làm thế nào để phát huy hơn nữa giá trị của các di sản văn hóa Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Nghệ An?
5 Ý nghĩa của luận án
5.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án đã tổng quan được những công trình nghiên cứu về văn hóa Thái, du lịch cộng đồng, đặc biệt là phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng
Trang 16Luận án đã giải quyết mối quan hệ giữa di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng giúp cho việc phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng cư trú của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong khi vẫn bảo tồn được chính các di sản văn hóa đó
Về nhận diện và đánh giá khả năng khai thác phát triển du lịch cộng đồng của các di sản văn hóa, luận án không chỉ nhận diện tính bản địa, tính hấp dẫn độc đáo của di sản mà còn tiến hành nhận diện các yếu tố tương tác, xác định các công đoạn khách du lịch có thể tham gia, các công đoạn khách du lịch có thể quan sát, các nội dung có thể khai thác và các hình thức khai thác phát triển du lịch Để đánh giá khả năng phát triển du lịch, luận án đã xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá tài nguyên nhằm xác định cơ sở thực tiễn để phát huy các giá trị di sản dân tộc gắn với phát triển du lịch Cho đến nay, những vấn đề này còn mờ nhạt trong các nghiên cứu tương đồng
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nhận diện và xác định được khả năng phát triển du lịch cộng đồng dựa trên
cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa của người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Đặc biệt luận án đã nhận diện rõ những giá trị cụ thể của di sản văn hóa Thái với với tư cách một dạng tài nguyên du lịch
Luận án đã đưa ra bức tranh thực trạng về khai thác di sản văn hóa dân tộc Thái trong phát triển loại hình du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn này từ góc nhìn di sản văn hóa của người Thái Bên cạnh đó, luận án đã xác định những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Nghệ An Kết quả nghiên cứu giúp chính quyền địa
Trang 1711
phương, các nhà quản lý văn hóa, nhà khoa học nhận diện được những tác động tích cực của di sản văn hóa đối với con người và đời sống xã hội đương đại nhằm tìm cách phát huy hơn nữa các giá trị của nó
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị để hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Nghệ An; giúp các doanh nghiệp du lịch có định hướng phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng; góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống của cộng đồng người Thái, tăng nguồn ngân sách địa phương
Chương 4 Giải pháp và khuyến nghị nhằm phát huy giá trị di sản văn hóa
của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông
Trang 1812
Chương 1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Vị trí địa lý
Con Cuông là huyện miền núi tỉnh Nghệ An, giới hạn trong tọa độ địa lý:
18046’ đến 19024’ vĩ độ bắc, 104032’ đến 105003’ kinh độ đông Diện tích tự nhiên của huyện là 1.738,53km2
, phía tây bắc giáp huyện Tương Dương, phía tây nam giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông và đông nam giáp huyện Anh Sơn, phía bắc và đông bắc giáp huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợp
Với vị trí này, Con Cuông nhận được lượng bức xạ dồi dào, nền nhiệt ẩm quy định tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh của lãnh thổ Nằm ở khu vực miền núi phía tây tỉnh Nghệ An nên các điều kiện tự nhiên và cảnh quan có sự phân hóa đai cao khá rõ rệt theo sự phân bố của các dạng địa hình
Thị trấn trung tâm huyện lị Con Cuông cách cửa khẩu Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) 120 km về phía Tây, cách thành phố Vinh 130 km về phía Tây Bắc Con Cuông có 27 km quốc lộ 7A chạy xuyên qua Từ Con Cuông, có thể đi đến tất cả vùng miền của cả Việt Nam và với Lào, vùng Đông Bắc Thái Lan và từ đó đến vùng Tây Bắc của Đông Nam Á thông qua các loại hình trong hệ thống giao thông quốc gia, bao gồm: đường bộ (quốc lộ 7A, quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh), đường sắt (Thống Nhất), đường thủy (sông Lam, cảng Cửa Lò ra Biển Đông), đường hàng không (sân bay Vinh)
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Địa hình
Con Cuông là huyện miền núi có địa hình đa dạng, phân hóa khá phức tạp Đặc điểm địa hình có thể nhận thấy là: Địa hình cao ở hai phía đông bắc và tây nam, thấp dần về vùng trung tâm, tạo nên sự phân bậc địa hình khá rõ rệt Địa hình tương đối hiểm trở, núi bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 300
- 350 Một số nơi có độ dốc rất lớn đã tạo thành các thác nước đẹp mà điển hình chính là Khe Kèm Phần Tây Nam của huyện thuộc dãy Trường Sơn, độ cao trung bình 1.200 - 1.500 m, đây là địa bàn phát triển lâm nghiệp phòng hộ Toàn bộ lãnh thổ Con
Trang 1913
Cuông phân cách bởi sông Cả tạo thành 2 vùng hữu ngạn và tả ngạn: Vùng hữu ngạn sông Lam (các xã Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Chi Khê, Châu Khê, Lạng Khê và thị trấn Con Cuông) Địa hình gồm các dãy núi chạy theo hướng tây bắc - đông nam, cấu tạo bởi các đá biến chất hệ tầng sông Cả Độ cao trung bình 150m Vùng tả ngạn sông Lam: gồm các xã Cam Lâm, Đôn Phục, Mậu Đức, Thạch Ngàn
và Bình Chuẩn Vùng này địa hình thấp, ít hiểm trở hơn, có nhiều thung lũng và khe suối lớn
Con Cuông có 3 kiểu địa hình chính là địa hình núi, đồi và thung lũng Trong
đó địa hình đồi núi và địa hình thung lũng là những dạng địa hình có sức hấp dẫn du lịch Địa hình núi ở Con Cuông chủ yếu là núi trung bình và núi thấp Pù Mát là đỉnh cao nhất trong khu vực và được đặt tên cho VQG thuộc địa phận huyện Con Cuông Ngoài địa hình núi trung bình và núi thấp, huyện Con Cuông còn có địa hình núi đá vôi với các dãy núi phân bố thành từng khối, phân tán trên lãnh thổ Trên địa hình này xẩy ra các quá trình rửa lũa, ăn mòn tạo nên các dạng địa hình hang hốc trên bề mặt và hang động ngầm, trong đó huyện Con Cuông cũng đang chủ trương đưa các điểm du lịch hang động vào khai thác phục vụ hoạt động du lịch Địa hình thung lũng ở Con Cuông được hình thành do quá trình đứt gãy kiến tạo và xâm thực của dòng chảy Địa hình này có diện tích không lớn nhưng có giá trị cho sản xuất nông nghiệp Các thung lũng sông suối khe Thơi, khe Choang, khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông Cả hiện tại đang được sử dụng để trồng lúa, hoa màu Không chỉ có cảnh quan đẹp, dựa vào địa hình này có thể phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm nông nghiệp
1.1.2.2 Khí hậu
Con Cuông nằm trong tiểu vùng khí hậu Bắc Trung Bộ với đặc điểm chung
là nhiệt đới ẩm gió mùa; có hai mùa: mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa đông
từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; xen giữa là 2 mùa chuyển tiếp Mùa hạ mưa nhiều, chịu tác động mạnh mẽ của gió mùa tây nam nên rất khô và nóng, mùa đông mưa ít, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên rất lạnh Con Cuông có những đặc trưng riêng về thời tiết Rét đến sớm và mùa khô hanh thường kéo dài Lượng mưa bình quân hàng năm ở Con Cuông không nhiều, từ 1.200 - 1.600
Trang 2014
mm/năm So với các huyện miền núi Tây Nam Nghệ An cùng nằm trên tuyến đường quốc lộ 7 như Tương Dương, Kỳ Sơn thì Con Cuông có lượng ẩm khá dồi dào, nhưng so với các huyện miền núi Tây Bắc Nghệ An nằm trên tuyến đường 48 như Quỳ Hợp, Quỳ châu, Quế Phong thì tổng lượng mưa hàng năm ở Con Cuông thấp, khô hơn Chế độ gió ở Con Cuông cũng là một trở ngại đối với các hoạt động kinh tế nói chung và du lịch nói riêng Gió mùa đông bắc xuất hiện từ tháng 11năm trước đến tháng 3 năm sau thường kèm theo mưa phùn, giá lạnh và có thể có sương muối Gió mùa Tây Nam (gió Lào) xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8 gây khô nóng
và hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh Thủy chế sông ngòi cũng vì thế phân thành 2 mùa rất rõ rệt, mùa lũ (mùa mưa) tốc độ dòng chảy lớn, tốc độ xâm thực, vận chuyển vật liệu diễn ra mạnh mẽ, ngược lại mùa cạn (mùa khô), tốc độ dòng chảy nhỏ, một số sông suối có thể cạn khô lòng Đặc điểm khí hậu như vậy đã quy định tính mùa, thời vụ trong sản xuất nông nghiệp của đồng bào người dân huyện Con Cuông
1.1.2.3 Tài nguyên nước
Con Cuông là huyện có mật độ sông ngòi khá dày đặc, mật độ khoảng 4 đến
6 km/km2, nguồn nước dồi dào, thế năng lớn, chảy theo hướng tây bắc – đông nam Sông Lam (Nặm Pao) là con sông lớn nhất Nghệ An, bắt nguồn từ hai nhánh Nặm
Mộ và Nặm Nơn, hợp lưu ở huyện Tương Dương rồi chảy về huyện Con Cuông, dài
30 km, chia huyện làm đôi Đây là dòng sông ngoài cung cấp các loại thủy sản, nước cho thủy điện và sinh hoạt còn là đường giao thông rất thuận lợi trên địa bàn Sông Giăng bắt nguồn từ vùng lõi VQG Pù Mát rồi chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và hợp lưu với sông Lam tại huyện Thanh Chương Trước khi đổ vào sông Lam ra biển, sông Giăng được hợp nhất từ 2 con khe là khe Khặng và khe Mọi để hình thành nên một dòng chảy trong xanh chở đầy phù sa Phần hạ nguồn sông Giăng rộng mênh mông tạo nên một bức tranh thủy mặc kỳ thú Nằm trong quần thể VQG Pù Mát với hệ sinh thái phong phú và đa dạng bậc nhất Việt Nam, chính bản thân con sông Giăng cũng là một kỳ quan mà tạo hóa ưu ái dành cho huyện Con Cuông Bên cạnh các dòng sông lớn, Con Cuông còn có hệ thống
Trang 2115
sông suối nhỏ tương đối dày đặc như khe Choăng, khe Phèn, khe Chai, khe Đốc, khe Mọi mang lại những giá trị đáng kể về thủy điện, nước tưới và thực phẩm
1.1.2.4 Sinh vật
Con Cuông là huyện có tiềm năng sinh vật lớn Diện tích đất lâm nghiệp năm
2013 là 154.111.94 ha, chiếm 88,66% diện tích tự nhiên của huyện, khoảng 16,82% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh
Rừng ở Con Cuông có nhiều loại, trong đó rừng già, với thảm thực vật dày đặc và hệ động vật phong phú như voi, gấu, hổ, hoẵng, lợn rừng, các loại chim muông Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: lát hoa, sến, dổi, táu với trữ lượng lên tới 6.391.000 m3 Ngoài ra còn có song, mây, trúc, tre, nứa cùng với các lâm thổ sản như sinh địa, sa nhân, ý dĩ, hoài sơn, nâu
VQG Pù Mát có diện tích vùng lõi rộng 94.804 ha và vùng đệm rộng 86.000 ha, trải rộng trên địa giới hành chính của ba huyện: Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương; đường ranh giới phía nam chạy dọc theo biên giới Việt – Lào Đến nay đã ghi nhận ở đây 2.494 loài thực vật của 931 chi thuộc 202 họ, 6 ngành thực vật, trong đó có
70 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam có nguy cơ bị tiêu diệt Khu hệ động vật VQG Pù Mát có tính đa dạng sinh học cao nhất so với các khu rừng đặc dụng khác ở Việt Nam Tại đây có hơn 1.500 loài, trong đó có những loài quý hiếm như: voọc, vượn đen má trắng, hổ, bò tót, mang lớn Trường Sơn, sói đuôi đỏ Thành phần và số lượng loài động vật quý hiếm ở đây khá cao, có tới 77 loài trong sách đỏ Việt Nam, 62 loài trong sách đỏ thế giới
Tóm lại, các hợp phần tự nhiên trên lãnh thổ Con Cuông đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, trữ tình Các hợp phần tự nhiên trong mối quan hệ tương hỗ với nhau đã tạo nên một bức tranh được phủ kín bởi màu xanh của thực vật và được điểm xuyết bởi hệ sống sông ngòi Các dãy núi thấp chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam tạo nên tính đặc thù trong phân hóa cảnh quan, bên cạnh đó một số đỉnh nhô cao hẳn mà điển hình là đỉnh Pù Mát như những nét chấm phá thú vị làm cho sự phân hóa địa hình thêm mạnh mẽ, có sức hấp dẫn du khách Các khối núi, hang động, thung lũng đá vôi như Phà Tằng, Phà Cầu, Phà Kham, Phà Phày nằm ở phần trung tâm lãnh thổ, chạy song song với đường Quốc
Trang 2216
lộ số 7 và dòng sông Cả tạo nên nét đặc thù riêng của huyện Con Cuông Hai bên dòng sông Cả là hệ thống phụ lưu tạo nên dạng xương cá của mạng lưới sông suối hài hòa với địa hình núi thấp Đặc biệt phải kể tới sông Giăng, phát nguồn từ Trường Sơn đưa nước về cho các cánh đồng ở Môn Sơn, làm dịu mát phía tây Con Cuông vào mùa hè Hệ thống thủy văn này không những thực hiện chức năng tưới tiêu cho các cánh đồng, không những đảm bảo chức năng sinh hoạt hằng ngày cho dân cư mà còn điểm tô cho bức tranh thiên nhiên miền núi Con Cuông
1.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
1.1.3.1 Lịch sử cư trú
Người Thái ở huyện Con Cuông có 44.595 người, cư trú ở hầu khắp 12 xã và thị trấn huyện1 Đây là dân tộc đông nhất, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Văn hóa Thái luôn nổi trội, bao trùm và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các dân tộc khác trên lãnh thổ
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, người Thái ở Con Cuông có nguồn gốc từ người Thái ở vùng tây bắc đã di cư đến đây vào khoảng thế kỷ XIV [Đặng Nghiêm Vạn (1968), Lê Sỹ Giáo (1998), Vi Văn An (1998)] Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mặc dù người Thái ở Nghệ An đều có nguồn gốc chung từ tây bắc, song đại bộ phận người Thái ở đây lại chủ yếu chuyển cư trực tiếp từ vùng Thượng Lào sang Sở dĩ như vậy là vì giữa miền tây bắc Việt Nam và miền núi Nghệ An địa hình bị chia cắt phức tạp, rất khó đi lại, trao đổi; còn nếu từ Lào có thể thâm nhập , trao đổi với miền núi Nghệ An bằng nhiều con đường khác nhau rất dễ dàng Có thể vào khoảng thế kỷ XV , nơi đây mới bắt đầu hình thành nên những bản , mường lớn, dân cư đông đúc Tuy nhiên , sau đó còn có một đ ợt chuyển cư rất lớn của người Thái từ miền tây Thanh Hóa vào , diễn ra trong khoảng từ khoảng thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỷ XVIII
Cho đến nay, lịch sử cư trú của người Thái ở huyện Con Cuông vẫn là một vấn đề hết sức phức tạp cần phải được nghiên cứu thêm Thời gian và sự có mặt của các nhóm người Thái ở Con Cuông sớm muộn khác nhau, trải qua nhiều diễn biến phức tạp, chia làm nhiều đợt, nội bộ các nhóm không thuần nhất Có nhiều ý
1 Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An năm 2016
Trang 23An, 2017, tr 32] Những cuộc chuyển cư này kéo dài cho đến thế kỷ XVIII - XIX, khiến cho vùng Phủ Quỳ trở thành một trung tâm của người Thái ở vùng miền núi Nghệ An Do sự gia tăng về dân số , vùng Phủ Quỳ trở nên “đất chật người đông” nên một bộ phận người Thái đã di chuyển sang vùng Con Cuông để tìm nơi sinh
cơ lâ ̣p nghiê ̣p Một bộ phận khác tiếp tục chuyển qua vùng Tương Dương Bên cạnh đó , còn có một số dòng họ người Thái từ Phủ Quỳ di cư sang vùng Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay hợp cư với nhóm Phu Thay ở Lào
Mặc dù chưa thể xác định thời gian đích xác, nhưng có thể từ cuối thời Trần
và nhất là vào thời Lê, những bộ phận đầu tiên của người Thái đã có mặt tại khu vực đường 7A Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí “năm 1425, sau khi giải phóng thành Trà Lân, Lê Lợi liền vỗ về các bộ lạc, khen thưởng các tù trưởng và trong một thời gian ngắn đã tuyển lựa được 5000 thanh niên xung vào đội nghĩa binh” [Đại Nam Nhất Thống chí, Tập 2, 1990, tr 132] Những con người được nhắc đến ở đây chắc chắn phải có con em người Thái Ngoài ra, trên địa bàn huyện Con Cuông hiện nay còn có rất nhiều địa danh liên quan đến nghĩa quân của Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như: đền Tòng ở xã Lục Dạ thờ Khả Lam Khai Quốc Công, Đầm Chín gian, Đầm Đỏ, Thung Đống, Hẻm Voi Chẹt thuộc địa bàn các xã Môn Sơn, Lục Dạ và Chi Khê ngày nay Tương truyền đó là những địa điểm tụ nghĩa của quân Lam Sơn khi xây dựng lực lượng, khi ăn mừng chiến thắng và nơi trở về rửa giáo mác sau mỗi trận chiến Có thể thấy, Con Cuông từ lâu đã là quê hương lâu đời của
Trang 2418
người Thái và cũng vùng đất đó đã trải qua nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Đồng bào Thái từ lâu đã có truyền thống cách mạng, góp người, góp của vào công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và mở rộng giang sơn bờ cõi của đất nước Việt Nam
Người Thái ở Nghệ An tự gọi mình là “Phủ Tày/Phu Tày” hay “Côn Ty/Côn Tày” Người Thái ở Con Cuông không phân biệt Thái Trắng hay Thái Đen như ở vùng Tây Bắc Nơi đây , các bộ phận người Thái ch ỉ phân biệt theo các nhóm địa phương, với những căn cứ về nguồn gốc li ̣ch sử c ủa họ Theo cách
đó mà người Thái ở Con Cuông được chia thành ba nhóm là Tày Mương, Tày Thanh và Tày Mười
Nhóm Tày Mương, hay còn gọi là Táy Xiêng, Hàng Tổng và Táy Dọ chủ yếu
là Thái Trắng, có mặt sớm hơn so với các nhóm Thái khác Các nguồn tài liệu cho biết, nhóm cư dân này đã dựng bản, lập mường tại vùng đường 7 vào khoảng thế kỷ XIII - XIV Đến thế kỷ XV, nhóm Tày Mương đã định cư ở vù ng miền núi Nghệ An khá đông và cư trú trên một địa bàn khá rộng từ vùng Bồ Đằng , trung tâm là xã Châu Nga (Quỳ Châu), đến Quỳ Hợp và Trà Lân thuộc Con Cuông hiện nay Tại phủ Quỳ Châu cũ , nhóm Táy Mường đã cư trú tại Mường Cha Le (Quế Phong) đến mường Cồ Bá, qua Mường Choọng, Mường Hạt, Mường Ngình, Mường Ham Phần lớn nhóm Tày Thanh là ngườ i Thái Đen , một số sống xen kẽ với nhóm Tày Mường Theo Đặng Nghiêm Vạn thì nhóm Tày Thanh gồm hai bộ phận Thái (một nhóm Thái Đen) ở Mường Thanh xưa thuộc châu Ninh Biên, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa (nay thuộc Điện Biên - Lai Châu) Họ di cư vào Nghệ An muộn hơn, cách ngày nay khoảng từ 200 -300 năm, phần đông là họ đi qua đất Lào mới vào Nghệ An [Đặng Nghiêm Vạn, 1974, tr 27] Ở Nghệ An, họ sinh sống trên đ ịa bàn của các huyện dọc theo quốc lộ 7, và một số cư trú rải rác trên địa bàn của các huyện miền núi khác Như vậy, có thể đoán định con đường chuyển cư của nhóm Táy Thanh vào đ ất Nghệ An được xác định theo hai hướng Hướng thứ nhất, từ Thanh Hóa sang Quỳ Châu nhưng vì đến muộn nên nhóm Tày Thanh phải sống xen ghép với nhóm Táy D ọ đã di cư đến từ trước đó Tuy nhiên, nhóm Tày Thanh không phải chuyển cư đến cùng một lúc, mà có bộ phận đến trước, bộ phận đến sau,
Trang 2519
đươ ̣c chia làm nhi ều đợt khác nhau Khi chuyển cư đến đây họ phải sống phân tán trong các ngọn nguồn, khe suối để tìm những vùng đất có thể khai khẩn canh tác nông nghiệp Do vậy, tuy đến sau nhưng một số người đứng đầu nhóm Tày Thanh vẫn trở thành những chủ đất nhỏ và lập nên các mường riêng
Hướng thứ hai là bộ phận Tày Thanh ở huyện Con Cuông hiện nay, chủ yếu chuyển cư từ vùng Tây Thanh Hóa (cụ thể là vùng mường Xia, Mường Mìn, huyện Quan Sơn) vào Phủ Quỳ rồi tới Con Cuông Riêng nhóm Tày Thanh ở Môn Sơn, Lục Dạ đã tự khai khẩn ruộng nước, lập bản dựng mường và tự coi là mường Quạ hay mường Phạ như một cõi trời riêng biệt [Vi Văn An, 2017, tr.33]
Tày Mười là tên gọi theo địa danh quê hương cũ trước khi họ di cư vào Nghệ
An, là nhóm có nguồn gốc từ Mường Muổi, trung tâm của người Thái Đen ở Tây Bắc thuộc xã Chiềng Pấc, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La , di cư đến Ngh ệ An vào khoảng nữa đầu thế kỷ XV [Đặng Nghiêm Vạn, 1974, tr 27] Vì đến sau, nên họ phải khai phá các nương rẫy để gieo trỉa lúa nương hoă ̣c phải cày ruô ̣ng cho các chủ Thái khác
Do cư trú xen kẽ, gần gũi với nhóm Táy Mường và nhóm Táy Thanh nên ho ̣ chi ̣u ảnh hưởng văn hóa, ngôn ngữ và phong tu ̣c tâ ̣p quán của hai nhóm cư dân này Hiện nay, nhóm Tày Mười cư trú rải rác ở một số huyện ở Nghệ An trong đó có Con Cuông
1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Huyện Con Cuông gồm 12 xã và 01 thị trấn, gồm các xã Yên Khê, Bồng Khê, Chi Khê, Lạng Khê, Châu Khê, Môn Sơn, Lục Dạ, Bình Chuẩn, Cam Lâm, Đôn Phục, Mậu Đức, Thạch Ngàn và thị trấn Con Cuông Toàn huyện có 125 bản Trong đó các xã Yên Khê, Môn Sơn và Lục Dạ gồm 32 bản với các hoạt động kinh
tế là làm ruộng nước là chính kết hợp với trồng màu và khai thác lâm sản 3 xã Chi Khê, Yên Khê và Thạch Ngàn gồm 23 bản và có sản xuất màu chiếm vị trí chủ đạo, kết hợp trồng cây công nghiệp và lúa nước Các xã còn lại như Châu Khê, Cam Lâm, Bình Chuẩn, Mậu Đức và Đôn Phục gồm 70 bản với hoạt động kinh tế chính khai thác nương rẫy kết hợp khai thác lâm thổ sản
Hoạt động chính trong sản xuất kinh tế của người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An là trồng trọt với hai phương thức chính là canh tác trên ruộng nước và nương rẫy nhưng canh tác trên ruộng nước chiếm vai trò chủ đạo.Từ lâu đời, họ đã khai phá đất đai thành những cánh đồng rộng lớn, màu mỡ, tiêu biểu là cánh đồng
Trang 2620
Môn Sơn - Lục Dạ rộng đến 700 ha Bởi sống gần sông suối nên họ có kinh nghiệm làm thủy lợi khá tốt Theo truyền thuyết dân gian, vùng đất Môn Sơn - Lục Dạ được khai phá bởi ông Hầu Bông (Lang Văn Út) cùng dân bản địa Ông đã kêu gọi dân bản ở Phủ Quỳ sang giúp sức đào mương dài 3 km từ bản Mét (Lục Dạ) đến bản xiềng (Môn Sơn) Lòng mương rộng 5m, sâu 4m (còn gọi là Khe Ló), hiện nay dân bản vẫn đang sử dụng Hệ thống mương phai, cọn nước gắn bó với quá trình canh tác ruộng nước của đồng bào người Thái Ngoài trồng trọt, người Thái ở Con Cuông
có truyền thống chăn nuôi khá phát triển Bên cạnh đó việc khai thác, thu nhặt lâm sản cũng được chú ý Người Thái ở huyện Con Cuông, Nghệ An có một số nghề thủ công như trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm, thêu thùa Nhiều người biết đan lát thành thạo các đồ dùng mây tre trong gia đình, đi lại, chuyên chở trên sông và vạn chài Một số người biết làm đồ mộc và đồ rèn Mặc dù có đời sống tương đổi ổn định nhưng từ nghề trồng trọt, chăn nuôi đến các nghề phụ gia đình đều chỉ mới đủ sức đáp ứng nhu cầu của cuộc sống thường ngày Về cơ bản, xã hội của người Thái nơi đây vẫn là một xã hội sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp là chính
1.2 Tình hình nghiên cứu
1.2.1 Về di sản và giá trị di sản văn hóa của người Thái ở Nghệ An
Nghiên cứu về văn hóa Thái không thể không kể đến những tên tuổi lớn như Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Hoàng Lương, Lê Sỹ Giáo Đặng Nghiêm Vạn là một trong những nhà nghiên cứu về văn hóa Thái đầu tiên, ông đặc biệt quan tâm đến các vấn đề văn hóa xã hội của người Thái Ông đã có những nghiên cứu về xã hội người Thái được công bố từ rất sớm như: “Sơ lược về sự thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Việt Nam”, “Quá trình hình thành các nhóm dân tộc Tày - Thái ở Việt Nam Mối quan hệ với các nhóm ở Nam Trung Quốc và Đông Dương” Đặc
biệt cuốn Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái được xem như công trình đầu
tiên nghiên cứu riêng về người Thái Cầm Trọng - người đã dành cả cuộc đời để
chuyên tâm nghiên cứu về người Thái Năm 1978, cuốn Người Thái Tây Bắc ở Việt Nam do ông biên soạn đã được xuất bản Cuốn sách là tập hợp những tư liệu quý
giá của tác giả về cơ cấu kinh tế, xã hội cổ truyền của người Thái Ngoài ra, vấn đề
văn hóa xã hội còn được thể hiện qua rất nhiều nghiên cứu của ông như: Mấy vấn
Trang 27tổ chức xã hội và chế độ sở hữu đất đai của người Thái vùng đường 7 Nghệ An; quá trình hình thành các tổ chức mường của người Thái ở miền Tây Nghệ An; hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng ở miền tây Nghệ An Mới đây nhất là cuốn “Người Thái ở miền Tây Nghệ An” cuốn sách được hình thành trên cơ sở tập hợp các nguồn tài liệu đã công bố và nguồn tư liệu điền giả của tác giả trong khoảng thời gian hơn 20 năm qua Tác giả đã dành phần lớn dung lượng đề cập đến các di sản văn hóa phi vật thể của người Thái ở miền Tây Nghệ An
Góp phần làm rõ thêm về văn hóa Thái còn phải kể đến những đóng góp của
chương trình Thái học Việt Nam Năm 1998, cuốn Văn hóa và lịch sử người Thái ở việt Nam thuộc Chương trình Thái học được xuất bản và sau đó là các tập Kỷ yếu
Hội nghị Thái học toàn quốc đã tập hợp các bài viết của các tác giả về nhiều khía cạnh khác nhau của người Thái ở Việt Nam, từ ngôn ngữ, chữ viết cho đến các phong tục, tâp quán và các nghi lễ gia đình Các bài viết này đã đề cập đến vấn đề phát huy di sản văn hóa Thái trong đời sống đương đại nói chung và một số nghiên cứu đã hướng đến vấn đề phát huy các giá trị di sản văn hóa Thái trong phát triển du lịch cộng đồng Một số công bố có thể kể đến như: “Sân khấu “Hạn khuống” cổ truyền của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, “Khắp Thái - Một di sản văn hóa cần
Trang 2822
được bảo tồn và phát huy”, “Xòe Thái - di sản văn hóa cần được bảo tồn và phát huy trong quá trình hội nhập”, “Tập quán ăn uống của người Thái ở Con Cuông, Nghệ An: truyền thống và biến đổi”, “Trang phục truyền thống của người Thái ở Quỳ Châu”
Có thể thấy, về các nhóm Thái ở Nghệ An tiếp sau tác giả Đặng Nghiêm Vạn đã được Nguyễn Đình Lộc đề cập một cách khái quát Sau Nguyễn Đình Lộc
là Cầm Trọng và kế đến là các nhà nghiên cứu khác, tiêu biểu là Vi Văn An Nhìn vào các công trình đã công bố, chúng ta thấy các di sản văn hóa phi vật thể của người Thái đã được quan tâm nhiều hơn các di sản văn hóa vật thể Các tác giả Đặng Nghiêm Vạn và Nguyễn Đình Lộc đề cập đến nhiều vấn đề chung nhưng nặng về mô tả để phân loại Cầm Trọng thiên về các mối quan hệ xã hội trong các nhóm Thái ở Nghệ An với các nhóm Thái khác còn Vi Văn An lại tập trung nghiên cứu về cơ cấu xã hội truyền thống Trên đây là nguồn tài liệu giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn cơ bản về văn hóa Thái Tây Bắc nói chung và văn hóa Thái Nghệ An nói riêng Đây đồng thời cũng là nguồn tài liệu giúp NCS nhận diện tính bản địa, tính hấp dẫn, độc đáo của những di sản văn hóa Thái ở Con Cuông Tuy nhiên, vấn
đề đặt ra cho tác giả luận án là những nhận diện về các yếu tố tương tác, những công đoạn mà khách du lịch có thể quan sát, có thể tham gia Bên cạnh đó, những đánh giá
về khả năng khai thác và phát triển du lịch của những di sản văn hóa này như thế nào cũng cần phải được tiến hành
Di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là những di sản văn hóa vật thể của người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ngoài các công bố về từng di sản trên các tạp chí khoa học của địa phương, thì di sản văn hóa vật thể của người Thái đã được đề cập dưới dạng tổng hợp qua các tài liệu như: UBND huyện Con Cuông (1993), Trần Minh Siêu (1995), Trần Kim Đôn (2004), Dương Thúc Hạp (2005), Trần Viết Thụ (2005), Sau này tác giả Quán Vi Miên có những nghiên cứu chuyên sâu hơn như Quán Vi Miên (2011), Quán Vi Miên (2015) Tuy nhiên, những tài liệu này mới chỉ dừng lại ở dạng liệt kê, miêu tả mà chưa bàn đến vấn đề phải bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị của những di tích lịch sử, văn hóa như thế nào Khoảng trống dành cho luận án,
Trang 2923
chính là việc chưa có tài liệu nào nhận diện và chỉ rõ khả năng khai thác những di sản văn hóa này như một nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cộng đồng Các nghiên cứu đã đề cập đến giá trị của các danh thắng nhưng chưa đề cập đến các nội dung như khả năng quan sát, tiếp cận danh thắng của du khách, các nội dung khai thác và hình thức phát triển du lịch có thể tiến hành tại di tích
Về nghề truyền thống, phần lớn là những nghiên cứu về nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đã có những nghiên cứu như: “Hình tượng động vật trên sản phảm dệt Thái”, “Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại”, “Nghề dệt truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An”, “Nghề dệt thổ cẩm “tằm hục màn” của người Thái Quỳ Châu - Nghệ An”, Các nghiên cứu này đã đề cập đến quy trình dệt thổ cẩm từ khâu sản xuất nguyên liệu, xử lý nguyên liệu, kỹ thuật nhuộm và kỹ thuật dệt của người Thái Tây Bắc Việt Nam, là nguồn tư liệu rất quan trọng để tác giả luận án có thể đối sánh với những tài liệu sơ cấp khi nghiên cứu về nghề dệt thổ cẩm của người Thái Con Cuông
Các loại hình nghệ thuật truyền thống của người Thái thường được nghiên cứu qua các thành tố như dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống và các hình thức diễn xướng khác Có nhiều nghiên cứu đề cập đến các làn điệu dân ca truyền thống của người Thái như: Lò Văn Sỹ (1976), Lâm Tô Lộc (1985), Hoàng Bích (1975) Hoàng Ngọc Sửu (2015) Về nhạc cụ truyền thống, ngoài những nghiên cứu chung về nhạc cụ truyền thống còn có những nghiên cứu về từng loại nhạc cụ, trong đó đàn tính tẩu là nhạc cụ được nghiên cứu nhiều nhất Không gian biểu diễn âm nhạc truyền thống cũng thu hút
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như Trần Chính (1995), Trần Lê Văn (1987) Không chỉ có những nghiên cứu mô tả mà còn có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống trong xu hướng hội nhập quốc tế Tuy nhiên, những nghiên cứu này hầu hết mang tính mô tả riêng lẽ, là những nghiên cứu cụ thể về một loại hình nghệ thuật của một bộ phận người Thái, thiếu những nghiên cứu tổng hợp Một số loại hình nghệ thuật truyền thống khá phổ biến như nhảy sạp, múa lăm vông, múa trống chiêng, nhuôn, lăm, hát ru và các nhạc cụ truyền thống chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến
Trang 3024
Tôn giáo tín ngưỡng của người Thái là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm Từ rất lâu đã có những khảo cứu của các nhà nghiên cứu như: Lã Văn Lô (1965), Nguyễn Doãn Hương (1998), Lê Ngọc Thắng (1998) Sau năm 2000, văn hóa tâm linh của người Thái tiếp tục được nghiên cứu ở nhiều phương diện hơn và
đã có những nghiên cứu đi sâu vào phân tích, liên hệ, so sánh Có thể kể đến một số nghiên cứu như: “Quan niệm về vũ trụ và các “phi” của người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An”; “Đôi điều về tín ngưỡng của dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, “Tôn giáo và tín ngưỡng của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam - mấy vấn đề đặt ra”, “Tín ngưỡng nông nghiệp của người Thái ở miền núi hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An”,
“Tín ngưỡng vòng đời trong đời sống xã hội của người Thái ở Việt Nam và một số
vấn đề đặt ra hiện nay”
Hôn nhân truyền thống là vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất Đỗ Thúy Bình đã có những nghiên cứu tổng hợp trong cuốn “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam”; Quán Vi Miên nghiên cứu về tục rửa chân cô dâu trong đám cưới của người Thái,… Các nghiên cứu đã thể hiện một cách chi tiết các nghi thức, nghi lễ cùng các quan niệm, nguyên tắc, các hình thức hôn nhân của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Phong tục tang ma được nghiên cứu cụ thể qua các nghiên cứu về đám tang truyền thống của người Thái Phù Yên, người Thái Trắng ở Mường La Đặc biệt Quán Vi Miên (2010) đã đề cập đến đầy đủ các bước tiến hành tang lễ của người Thái Nghệ An cùng với nhiều bài mo cúng từ lúc tắt thở cho đến khi chôn cất tử thi Ngoài tục lệ cưới hỏi, tang ma còn có những nghiên cứu
đề cập đến các phong tục khác như uống rượu cần, tục ăn tết cổ truyền và các phong tục liên quan đến nhà cửa Bên cạnh những phong tục cổ truyền thì một số tập quán của đồng bào Thái cũng đã được đề cập đến nhưng những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả lại chứ chưa có những phân tích, so sánh
Từ năm 2004 đến nay, tác giả Lê Hải Đăng đã có những nghiên cứu về nghi
lễ gia đình của người Thái ở huyện Con Cuông Đặc biệt, với nghiên cứu “Các nghi
lễ gia đình của người Tày Mường ở Con Cuông, Nghệ An” tác giả đã đi sâu nghiên
cứu về 3 nhóm nghi lễ: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con cái, nghi lễ cưới xin, nghi lễ tang ma và một số nghi lễ khác Luận án vừa mô tả, lý giải các nghi lễ cổ truyền
Trang 3125
đồng thời cho thấy những biến đổi đang diễn ra trong các nghi lễ gia đình ở cộng
đồng người Thái ở huyện Con Cuông
Nhà sàn Thái là một trong những giá trị văn hóa nổi bật nhất của người Thái, do vậy từ rất lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Những nghiên cứu sớm nhất có thể kể đến “Kiến trúc nhà sàn Thái”, “Nhà sàn Thái” Các tác giả Đặng Thái Hoàng, Cầm Trọng, Lê Ngọc Thắng, Hoàng Nam đã có những khảo sát kỹ lưỡng về các vấn đề, nguyên liệu, kiến trúc, quy trình, kỹ thuật dựng nhà Về sau, vấn đề này tiếp tục được nghiên cứu một cách chi tiết hơn, có những nghiên cứu tập trung vào kiến trúc, có những nghiên cứu tập trung vào quy trình dựng nhà, có những nghiên cứu thiên về phân tích so sánh, có thể kể đến Phạm
Văn Lợi (2013)
Một trong những giá trị văn hóa được nghiên cứu nhiều nhất đó chính là trang phục truyền thống của người Thái Lê Ngọc Thắng là học giả có nhiều những nghiên cứu về trang phục Thái Từ năm 1987 đến 1991, ông đã có công bố những nghiên cứu của mình trên Tạp chí Dân tộc học Các nghiên cứu của ông về trang phục Thái được thể hiện trong “Trang phục cổ truyền của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” Hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Đoàn Thanh Thủy đã công bố “Nữ phục Thái Tây Bắc” Những nghiên cứu này đã đề cập đến các vấn đề như y phục nam
nữ, trang sức, tang phục cổ truyền của người Thái Không chỉ vậy, những công bố khoa học về trang phục Thái đã cho thấy những nét đặc sắc trong quá trình dệt vải, nhuộm chàm cho đến sự đa dạng, phong phú của hoa văn trên trang phục đặc biệt
là trang phục nữ
Tác giả luận án đã kế thừa nguồn tài liệu này để tiến hành nhận diện tính hấp dẫn, độc đáo và tính bản địa của từng loại hình di sản Phần đóng góp của luận án chính là hiện trạng bảo tồn, các yếu tố tương tác và đánh giá được khả năng phát triển du lịch cộng đồng của các di sản văn hóa với tư cách là một nguồn tài nguyên
du lịch
1.2.2 Về du lịch cộng đồng
Khái niệm, điều kiện, nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Có thể kể đến các nhóm tác giả: Nicole Hausle
Trang 3226
và Wolfang Stradas, The Mountain Institute, Fariborz Aref, Sarijt S Gill Theo đó,
du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch do người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Nguyên tắc du lịch cộng đồng được các tác giả Diana McIntyre - Pike, The University of The West Indies at Mona Jamaica đề cập trong nghiên cứu “Countrystyle Community Tourism” Theo đó, du lịch cộng đồng là quá trình phát triển bền vững thông qua du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và cách sống của một cộng đồng Du lịch bền vững không thể thành công nếu không có sự tham gia của cộng đồng Trên tạp chí Journal of American Science, 2011, tác giả Abrisham Aref, Science and Research Branch, Islamic Azad University, Fars, Iran với bài “Tourism among Indigenous communities” là nghiên cứu để tích hợp giữa hai yếu tố du lịch và cộng đồng bản địa Những phát hiện của nghiên cứu này góp phần phát triển du lịch cộng đồng bản địa, hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nông thôn và ngành du lịch
Ở Việt Nam, từ năm 2000, đã có những nghiên cứu về du lịch cộng đồng tại những vùng núi phía Bắc Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai Lan (2003), đã nghiên cứu những tác động của du lịch đến cộng đồng các tộc người thiểu số ở Sa
Pa Các tác giả đã khẳng định sự đóng góp của các dân tộc thiểu số để hình thành sản phẩm du lịch đặc thù, bước đầu đưa ra một định hướng phát triển du lịch mới ở nước ta hoàn toàn phù hợp với xu hướng thế giới đó là phát triển du lịch gắn với cộng đồng để đạt mục tiêu phát triển bền vững Năm 2005, Tổ chức phát triển Hà
Lan đã tổ chức Hội thảo về Du lịch cộng đồng, qua đó các vấn đề lý luận về du lịch
cộng đồng đã được làm rõ, khẳng định vai trò của cộng đồng trong sự phát triển bền vững của ngành du lịch Tác giả Võ Quế (2006) đã tổng hợp, phân tích, nghiên cứu
lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa, điều kiện, nguyên tắc và tiêu chí tham gia phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu một số mô hình phát triển dựa vào cộng đồng ở khu vực châu Á và một số khu sinh thái trong nước ThS Bùi Thanh Hương (2007)
cùng cộng sự với đề tài “Nghiên cứu các mô hình Du lịch cộng đồng ở Việt Nam”,
đã nghiên cứu các mô hình du lịch cộng đồng cụ thể ở nước ta, từ đó phân tích chi tiết các phương pháp luận, những khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển
Trang 3327
du lịch gắn với cộng đồng và những bài học kinh nghiệm mà các địa phương thu nhận được Từ năm 2008 đến 2010, các nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải đã phân tích, đánh giá khả năng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo, phát triển du lịch cộng đồng tại vùng đệm ở VQG Cúc Phương Đây là các nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại các địa bàn là nơi cư trú của các dân tộc ít người, trong đó nghiên cứu cụ thể trường hợp vùng đệm của VQG Cúc Phương qua các phân tích, đánh giá khoa học chi tiết
Khi nghiên cứu về du lịch cộng đồng, ngoài những nội dung về nguyên tắc, điều kiện phát triển, cách thức quản lý, những tác động của du lịch cộng đồng thì một nội dung nhận được nhiều quan tâm của các nhà khoa học nữa đó là sự tham gia của người dân vào các hoạt động du lịch Trong cuốn Tài liệu hướng dẫn du lịch dựa vào cộng đồng tác giả Häusler và Strasdas cho rằng “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [Häusler, Nicole/ Strasdas, Wolfgang, 2002, tr.44], các tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò chủ đạo của người dân địa phương trong phát triển du lịch và từ đó hướng dẫn các kỹ thuật tiếp cận phát triển du lịch lấy cộng đồng làm trung tâm Đồng tình với quan điểm này, trong “Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng”, Quỹ phát triển châu Á cho rằng “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do chính cộng đồng người tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương” [Quỹ phát triển châu Á, 2012, tr.3] Sự thành công hay thất bại trong loại hình du lịch này phụ thuộc rất nhiều vào cộng đồng Tác giả Brohman trong cuốn
“Hướng dẫn cho ngành du lịch ở các nước đang phát triển” cho rằng sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch là một công cụ để giải quyết những vấn đề lớn của ngành du lịch Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch sẽ đạt được sự công bằng trong phân phối lợi ích, khuyến khích việc ra tự quyết và đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng địa phương một cách tốt hơn [Brohman, J, 1996]
Trang 3428
Để cộng đồng nhận thức được những vấn đề nêu trên và sẵn sàng tham gia vào hoạt động du lịch một cách tự nguyện và tích cực, tác giả Claiborne đã đề cập đến vai trò của vốn xã hội trong cộng đồng ở nghiên cứu “Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch và giá trị của vốn xã hội” Nghiên cứu đã chỉ ra vốn xã hội trong cộng đồng chính là nhận thức, hiểu biết về du lịch, sự tình nguyện, hợp tác và các sáng kiến tham gia vào các dự án phát triển du lịch tại địa phương Để kiểm chứng vai trò của vốn xã hội trong cộng đồng, tác giả đã so sánh hai cộng đồng khác nhau tại Panama trong nghiên cứu của mình [Petra Claiborne, 2010] Những rào cản, thách thức ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng cũng như các mức độ tham gia của họ ở từng phạm vị cụ thể cũng được đề cập trong rất nhiều các nghiên cứu như “Rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong du lịch ở các nước đang phát triển” của tác giả Tosun (1999) Tác giả Worku với đề tài “Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch ở Tigray: Nghiên cứu trường hợp Axum” hay “Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch: Nghiên cứu trường hợp ở Tai O, Hong Kong” của tác giả Mak Kwun-ling, “Rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng ở Shiraz, Iran, Journal” của 2 nhà nghiên cứu Aref & Redzuan Trong cuốn “Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” tác giả Phạm Trung Lương khẳng định sự cần thiết phải thu hút cộng đồng vào hoạt động du lịch Liên quan đến sự tham gia của cộng đồng, luận án tiến sĩ “Nhận thức của người dân địa phương về tác động của du lịch và sự ủng hộ của họ cho phát triển du lịch: trường hợp vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, Việt Nam” tác giả Phạm Hồng Long đánh giá cao nhận thức của cộng đồng trong hoạt động du lịch, qua việc đề xuất và kiểm nghiệm mô hình nghiên cứu Trong các nghiên cứu ở những địa bàn cụ thể, các tác giả đã chỉ ra lợi ích khi cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch, sự tham gia đó ở mức độ nào của thang đo, những nhân tố thúc đẩy và những thách thức cản trở sự tham gia Các nghiên cứu liên quan đến phát triển cộng đồng là những chỉ dẫn tham khảo rất hữu ích để tăng cường năng lực tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch cộng đồng Đây cũng là một nguồn tài liệu rất hữu ích cho NCS khi nghiên cứu về vấn đề phát huy di sản văn hóa bởi cộng đồng địa phương chính là chủ thể văn hóa, sự tham gia của cộng đồng địa phương đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của loại hình du lịch này
Trang 351.2.3 Về phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng
Về du lịch cộng đồng gắn với phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái, Nguyễn Kim Lê (2012) đã làm rõ những dạng thức của văn hóa vật chất và tinh thần với hoạt động du lịch và những tác động của du lịch tới các giá trị văn hóa Thái qua đó tác giả đề xuất những giải pháp phát triển Trong một nghiên cứu khác, Vũ Văn Cường (2014) đã đưa ra bức tranh tổng quan về du lịch cộng đồng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông Trên cơ sở đó đề tài đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch cộng đồng, góp phần đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương trong việc xóa đói giảm nghèo trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa truyền thống của cộng
đồng địa phương Đặc biệt là cuốn Managing Growth and Sustainable Tourism
Governance in Asia and the Pacifc đã bàn về sự phát triển của 15 dự án du lịch cộng
đồng bền vững tại Việt Nam, đặc biệt là mô hình CBT Travel của ông Dương Minh Bình trong việc triển khai mô hình du lịch cộng đồng Mai Hịch - một bản ở vùng sâu thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, là nơi cư trú của cộng đồng dân tộc thiểu số Thái Trắng, sở hữu nhiều cảnh đẹp hữu tình và văn hóa dân tộc bản địa độc đáo Những tài liệu này giúp NCS có cái nhìn đối sánh khi nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng gắn với phát huy giá trị di sản tộc người Thái ở Con Cuông
Trang 36Về phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trong thời gian qua đã thút một số đề tài và dự án đầu tư Kết quả nghiên cứu, đầu tư được thể hiện qua các tài liệu như: Trung tâm xúc tiến Du lịch Nghệ An (2008), Báo cáo tổng kết đề tài “Phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững cho Bản Yên Thành - Xã Lục
Dạ - huyện miền núi Con Cuông”; Khu Dự trự Sinh quyển Miền tây Nghệ An,
(2011), Báo cáo tổng kết dự án “Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tuyến Bồng Khê - Yên Khê - Lục Dạ - Môn Sơn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” Kết quả thực hiện các đề tài, dự án là nguồn tài liệu vô cùng hữu ích cho luận án, cung cấp cho NCS những tư liệu định tính và định lượng về thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Con Cuông, Nghệ An
1.2.4 Kết luận tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về di sản văn hóa Thái, du lịch cộng đồng và vấn đề phát huy giá trị văn hóa Thái trong phát triển du lịch cộng đồng đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học, giúp NCS có nguồn tài liệu phong phú cho đề tài nghiên cứu của mình
Về những nghiên cứu về di sản và giá trị di sản văn hóa Thái, các nghiên cứu đã khẳng định tính hấp dẫn, độc đáo, sức hấp dẫn du lịch của các di sản văn hóa Những
Trang 3731
nghiên cứu này đã giúp NCS có thể nhận diện các yếu tố không gian và thời gian cũng như nhận diện được các giá trị vật chất và tinh thần của di sản Mặc dù vậy việc xác định các yếu tố tương tác, bao gồm: (1) Nhà cung ứng du lịch, (2) Chính quyền địa phương, (3) Dân cư địa phương và (4) Khách du lịch thì hoàn toàn thiếu trong các nghiên cứu này
Về những nghiên cứu về du lịch cộng đồng, đã có các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, nguyên tắc, mục tiêu phát triển Đồng thời, các vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch, nhiều vấn đề đã được phân tích, làm
rõ, tuy nhiên, vấn đề cách thức quản lý, phát huy; mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan; cơ chế quản lý và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng;… là những vấn đề còn bỏ ngỏ, cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu
và tổng thể hơn
Liên quan đến vấn đề phát huy giá trị văn hóa của người Thái trong phát triển du lịch cộng đồng, đã có nhiều nghiên cứu Những nghiên cứu này đã đề cập đến cả hai cách phương thức phát huy giá trị di sản thông qua xúc tiến, quảng bá
và khai thác giá trị di sản văn hóa tạo thành các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách, trong đó phương thức khai thác giá trị di sản tạo thành các sản phẩm du lịch vẫn được nghiên cứu đầy đủ hơn Tuy nhiên, về cách thức phát huy này, các nghiên cứu chưa làm rõ mối quan hệ giữa giá trị di sản và phát triển du lịch cộng đồng Hay nói cách khác, các nghiên cứu chưa giải quyết được mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, đa phần nhấn quá nhiều vào phát triển du lịch, không chú ý nhiều đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa; số khác nghiêng quá sang bảo vệ di sản, không tạo điều kiện cho du lịch phát triển, Bên cạnh đó, việc nhận diện các giá trị di sản văn hóa có thể phát huy trong du lịch cộng đồng hay các phương pháp đánh giá khả năng phát huy giá trị di sản văn hóa trong du lịch cộng đồng và các giải pháp phát huy giá trị của di sản văn hóa tộc người trong phát triển bền vững loại hình du lịch cộng đồng là những vấn đề cần được nghiên cứu thêm Đó chính là những khoảng trống mà luận án này cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 3832
1.3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
Khái niệm Di sản văn hóa xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 90 của thế
kỷ XX và được hiểu là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, hay “chỉ chung cho các tài sản văn hóa như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học,… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau” [Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995] Căn cứ Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 của Quốc hội và Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Từ định nghĩa trên, ta thấy: Thứ nhất, di sản văn hóa phải là sản phẩm do lao động sáng tạo của con người làm ra; Thứ hai, không phải tất cả các sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra đều là di sản văn hóa mà chỉ những sản phẩm vật chất và tinh thần nào hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mới đủ điều kiện để trở thành di sản văn hóa; Thứ ba, để trở thành di sản văn hóa, các sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị đó, qua quá trình thẩm định, chọn lọc của thực tế, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [Luật Di sản Văn hoá năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009]
Trang 3933
1.3.1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Trong công ước đầu tiên về di sản văn hóa phi vật thể (Intangible Culture
Heritage) năm 2003, UNESCO đã luôn sử dụng thuật ngữ “Safeguarding” (được
các văn bản thống nhất dịch sang tiếng Việt là “Bảo vệ”) để thể hiện quan điểm, định hướng của mình trong việc lưu giữ các giá trị của di sản văn hóa Theo đó, trong mục 3, điều 2, khoản I, “bảo vệ” (Safeguarding) được hiểu: Là các biện pháp
có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này [Công ước UNESCO, 2003]
Tiếp nhận định hướng trên với vai trò của một quốc gia tham gia công ước,
Luật Di sản văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa 2009 ở Việt Nam thống nhất sử dụng thuật ngữ “Bảo vệ và phát huy” trong các
chỉ đạo chung đối với việc quản lý di sản văn hóa Theo đó, ở các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học trong nước có xu hướng sử dụng thuật ngữ “Bảo tồn và phát huy” giá trị di sản văn hóa Tác giả Quản Hoàng Linh cho là “Bảo tồn” mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, nói cách khác là bảo quản kết cấu hoặc địa điểm ở hiện trạng và kìm hãm
sự xuống cấp của kết cấu đó Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội
“Phát huy”được hiểu: Là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp Có thể nói, phát huy là việc sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế” [Quản Hoàng Linh, 2012, tr 3 - 7]
Trang 4034
1.3.1.3 Cộng đồng, du lịch cộng đồng, phát triển du lịch cộng đồng
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, Cộng đồng được hiểu là “Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [Từ điển bách khoa Việt Nam, 2000, tr.601] Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, đối tượng nghiên cứu và triển khai tổ chức, phát triển các hoạt động du lịch cộng đồng là các cộng đồng địa phương ở các làng, bản nên nghiên cứu sinh sử dụng khái niệm cộng đồng được hiểu theo nghĩa hẹp là: “Một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như các đơn vị làng (bản, buôn, sóc), xã, huyện nhất định qua nhiều thế hệ và có những đặc điểm chung về các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn, sử dụng các nguồn tài nguyên môi trường, có cùng các mối quan tâm về kinh tế - xã hội, có sự gắn kết về huyết thống, tình cảm, và
có sự chia sẻ về nguồn lợi và trách nhiệm trong cộng đồng” Khái niệm cộng đồng được hiểu theo nghĩa rộng: “là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, được gọi tên như làng, xã, huyện, thị, tỉnh, thành phố, quốc gia,… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [Bùi Thị Hải Yến (Chủ biên), 2012, tr.33]
Theo Bùi Thị Hải Yến, “Du lịch cộng đồng là phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, của chính quyền địa phương, cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường
du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách để mọi tầng lớp dân cư đều có thể sử dụng tiêu dùng các sản phẩm du lịch” [Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), 2012, tr.35 - 36] Nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch và bảo vệ môi trường nói chung, Quỹ Châu Á cho rằng
“Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp
tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương”