1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm hình thái khớp thái dương hàm không triệu chứng ở người việt trưởng thành nghiên cứu trên hình ảnh cắt lớp điện toán chùm tia hình nón

156 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (16)
    • 1.1. Giải phẫu khớp thái dương hàm (16)
    • 1.2. Kỹ thuật hình ảnh khớp thái dương hàm (18)
    • 1.3. Cắt lớp điện toán chùm tia hình nón và khảo sát khớp thái dương hàm (0)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (44)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (44)
    • 2.3. Cỡ mẫu (44)
    • 2.4. Phương tiện nghiên cứu (45)
    • 2.5. Phương pháp thu thập dữ liệu (45)
    • 2.6. Dữ liệu ở tƣ thế lồng múi tối đa (46)
    • 2.1. Dữ liệu ở tƣ thế há tối đa (0)
    • 2.2. Tính toán (0)
    • 2.3. Các biến số nghiên cứu (0)
    • 2.4. Phương pháp xử lý số liệu (0)
    • 2.5. Kiểm soát sai lệch thông tin (0)
    • 2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ (0)
    • 3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (63)
    • 3.2. Các đặc điểm về lồi cầu (64)
    • 3.3. Các đặc điểm về hõm khớp (66)
    • 3.4. Các đặc điểm về lồi khớp (67)
    • 3.5. Tương quan giữa các đặc điềm hình thái lồi cầu, hõm khớp và lồi khớp (70)
    • 4.1. Mẫu nghiên cứu (82)
    • 4.2. Phương pháp nghiên cứu (84)
    • 4.3. Khảo sát các đặc điểm về lồi cầu (0)
    • 4.4. Hõm khớp (0)
    • 4.5. Lồi khớp (0)
    • 4.6. Vị trí lồi cầu tƣ thế lồng múi tối đa (106)
    • 4.7. Vị trí của lồi cầu ở tƣ thế há tối đa (117)
    • 1. Đặc điểm hình thái lồi cầu xương hàm dưới (130)
    • 2. Đặc điểm hình thái hõm khớp, lồi khớp (130)
    • 3. Vị trí lồi cầu xương hàm dưới (130)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

CBCT hiển thị hình ảnh lồi cầu và các cấu trúc xung quanh theo mặt phẳng bất kỳ với độ phân giải cao, cho phép phân tích hình thái, tương quan vị trí các thành phần khớp TDH.. Tương quan

TỔNG QUAN

Giải phẫu khớp thái dương hàm

Khớp thái dương hàm (TMJ) ở hai bên vùng mặt được hình thành từ xương hàm dưới, xương thái dương, đĩa khớp và hệ thống cơ, dây chằng, mạch máu, thần kinh đi kèm Hình ảnh X-quang cho phép khảo sát các thành phần mô xương chính như lồi cầu, lồi khớp và hố hàm dưới trên xương thái dương, từ đó đánh giá cấu trúc và chức năng của TMJ [2].

1.1.1 Lồi cầu xương hàm dưới

Lồi cầu có dạng hình khối bầu dục, trục dài theo hướng ngoài – trong, trục ngắn theo hướng trước - sau Đầu ngoài và đầu trong của lồi cầu tận hết bởi các cực ngoài và cực trong, đường nối hai cực lồi cầu có hướng vào phía trong và ra phía sau, đường thẳng qua hai trục lồi cầu bên trái và phải gặp nhau ở vùng bờ trước lỗ chẩm, tạo thành một góc khoảng 145-160˚ Cực ngoài gần cổ lồi cầu hơn cực trong, khá tù và là nơi bám của đĩa khớp, dây chằng thái dương hàm bám vào củ dưới lồi cầu ngoài Cực trong xa cổ lồi cầu so với cực ngoài và cũng gồ ghề ở nơi bám của đĩa khớp và bao khớp (Hình 1.1)

Diện khớp của lồi cầu là một mặt cong lồi, có giới hạn phía trước và phía sau bởi các gờ xương Gờ trên lồi cầu đóng vai trò là giới hạn phía sau của diện khớp và tương ứng với điểm cao nhất của xương hàm dưới.

1.1.2 Hố hàm dưới (hõm khớp) và lồi khớp xương thái dương

Diện khớp ở sọ của khớp TDH thuộc xương thái dương, ngay trước ống tai và sau mỏm gò má Diện khớp gồm 2 phần: hố hàm dưới (hõm khớp) và lồi khớp

Hình 1.1: Cấu trúc xương của khớp TDH

Hố hàm dưới là vùng xương mỏng, có dạng lõm tương ứng với dạng lồi của lồi cầu Giới hạn phía sau là khe đá - nhĩ, phía trước hố hàm dưới liên tục với lồi khớp

Lồi khớp là gờ xương có hướng chếch vào trong và ra sau Sườn sau của lồi khớp là một phần diện khớp ở sọ của khớp TDH Bề mặt sườn sau của lồi khớp cong lồi nên khớp TDH còn gọi là khớp lƣỡng lồi cầu (Hình 1.2)

Diện khớp của khớp TDH ở lồi cầu và xương thái dương được phủ bởi mô sụn sợi săn chắc Các diện khớp xương của khớp TDH không tiếp xúc nhau, được phân cách bởi đĩa khớp và khoang ổ khớp chia thành 2 buồng khớp trên và dưới

1.1.3 Đĩa khớp Đĩa khớp là khối mô sợi, có dạng bầu dục với độ dày khác nhau tương ứng với khoảng cách giữa 2 diện khớp lồi cầu xương hàm dưới và xương thái dương, mỏng nhất ở vùng trung tâm đĩa, nửa sau của đĩa dày hơn nửa trước, phần trong dày hơn phần ngoài Các mặt của đĩa khớp được phủ bởi mô hoạt dịch Mặt dưới có dạng lõm, mặt trên của đĩa hơi lồi ở phần sau và lõm ở phần trước, hình dạng mặt đĩa thay đổi phù hợp với hình thể của diện khớp ở sọ (Hình 1.2)

1.1.4 Bao khớp và dây chằng

Bao khớp hình phễu, rộng ở phía nền sọ và thuôn lại ở phía lồi cầu Nguyên ủy của bao khớp là chu vi của diện khớp ở sọ, bám tận vào gờ dưới lồi cầu Các thớ sợi của bao khớp nối với các sợi trên chu vi của đĩa khớp Bao khớp đƣợc tăng cường ở phía ngoài và phía trong bởi các bó sợi - dây chằng khớp TDH (Hình 1.3)

Hình 1.2: Thiết đồ đứng dọc và đứng ngang qua khớp TDH

“Trích theo nguồn: Hoàng Tử Hùng, 2005”[2]

Kỹ thuật hình ảnh khớp thái dương hàm

Hình ảnh chẩn đoán của khớp TDH xuất hiện khá sớm và đã phát triển liên tục từ khi tia X ra đời cho tới hiện nay Nhờ tiến bộ trong kỹ thuật hình ảnh, chúng ta có thể khảo sát chi tiết các thành phần mô xương và mô mềm của khớp TDH, từ đó nâng cao chất lượng chẩn đoán và đánh giá tình trạng khớp.

Cấu trúc xương của khớp TDH gồm lồi cầu xương hàm dưới, hõm khớp và lồi khớp xương thái dương Đánh giá cấu trúc xương khớp TDH chủ yếu dựa vào hình ảnh của các kỹ thuật X-quang kinh điển, cho phép quan sát chi tiết từng thành phần và mối quan hệ giữa chúng Đồng thời, nhiều chiều chiếu – chụp được thiết lập để nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của phức hợp giải phẫu khớp TDH, hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị.

Chiều thế xuyên sọ và xuyên hầu khảo sát mặt bên của khớp TDH tương ứng mặt ngoài và mặt trong của lồi cầu Nhằm tránh trùng chập các cấu trúc giải phẫu của khớp với nền sọ, cả hai chiều thế xuyên sọ và xuyên hầu đều có tƣ thế đầu nghiêng và xoay sang bên khớp cần chụp, do đó không thể mô tả chính xác về tương quan giữa các cấu trúc

Chiều thế xuyên hốc mắt khảo sát được mặt trước của lồi cầu, chiều thế Towns khảo sát vùng cổ lồi cầu đều yêu cầu người được chụp có tư thế miệng há để lồi cầu không chập vào lồi khớp

X quang toàn cảnh là bước phát triển của kỹ thuật chụp cắt lớp Hiện nay, X quang toàn cảnh đƣợc sử dụng phổ biến, đƣợc chỉ định cho các khảo sát ban đầu khi bệnh nhân có dấu chứng liên quan đến khớp Kỹ thuật này có một số hạn chế, nhƣ thể hiện không chính xác tương quan vị trí của khớp, trùng chập cấu trúc giải phẫu,

Hình 1.3: Dây chằng và bao khớp

“Trích theo nguồn: Hoàng Tử Hùng, 2005”[2] độ phân giải kém, biến dạng hình ảnh và khó khảo sát vùng trung tâm và mặt ngoài của lồi cầu Máy toàn cảnh hiện đại có thiết lập chế độ ghi hình khớp TDH, tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng đây là công cụ tốt để phát hiện những bất thường trên xương của khớp TDH

Kỹ thuật cắt lớp tuyến tính giải quyết đƣợc nhƣợc điểm trùng chập cấu trúc giải phẫu ở các chiều thế chụp chiếu thường quy và toàn cảnh; tuy nhiên, cắt lớp chỉ có hình ảnh của một “lát cắt” Nhiều nghiên cứu chứng minh hình ảnh tuyến tính khớp TDH theo mặt phẳng đứng dọc và mặt phẳng ngang giúp chẩn đoán chính xác các thay đổi của xương so với hình ảnh X quang toàn cảnh

CT đã ứng dụng các thuật toán toán học để mã hóa tín hiệu thu đƣợc từ cảm biến và xử lý dữ liệu kỹ thuật số để tạo dựng hình ảnh của các vùng quan tâm Wegener và cộng sự là người đầu tiên khảo sát khớp TDH trên hình ảnh CT vào năm 1978 và kỹ thuật này là phương thức hình ảnh “được chọn” để khảo sát cấu trúc xương của khớp TDH trong thời gian khá dài

Gần đây, sự ra đời của CBCT – phương thức hình ảnh được chọn để thay thế

CT trong đánh giá cấu trúc mô xương của khớp với nhiều ưu điểm vượt trội, như chất lƣợng hình ảnh chi tiết và rõ nét; độ chính xác cao, đo đạc đƣợc; liều bức xạ thấp và tính phổ biến nhờ sự thuận tiện trong vận hành sử dụng

Hầu hết kỹ thuật hình ảnh X quang nói trên cung cấp đầy đủ thông tin về cấu trúc xương của khớp TDH nhưng ít thông tin về đĩa khớp và các thành phần liên quan đĩa khớp Mặc dù CT với các thuật toán về tái tạo hình ảnh mô mềm đã đƣợc nghiên cứu nhƣ một công cụ tiềm năng để đánh giá đĩa khớp, tuy nhiên độ đặc hiệu kém và do nhiều lý do, phương pháp này không còn được sử dụng nữa

Kỹ thuật chụp khớp TDH có sửa soạn/có thuốc cản quang là kỹ thuật ghi hình bằng X quang kết hợp sử dụng thuốc tương phản Thuốc tương phản được đưa vào buồng khớp trên và/hoặc vào buồng khớp dưới, khảo sát gián tiếp đĩa khớp trên màn hình huỳnh quang hoặc chụp hình X quang cắt lớp Do thủ thuật có tính xâm lấn, liều bức xạ cao và gây khó chịu cho bệnh nhân, kỹ thuật hình ảnh này không phổ biến và đã dần dần được thay thế bằng cộng hưởng từ

Không giống như các phương thức hình ảnh đã đề cập trước, MR không sử dụng bức xạ ion hóa Hình ảnh cộng hưởng từ có nhiều chi tiết, độ tương phản mô mềm tốt hơn tất cả các phương thức hình ảnh khác và được chọn là kỹ thuật hình ảnh của đĩa khớp Khảo sát hình ảnh khớp TDH ở hai tƣ thế - há và ngậm, sẽ xác định đƣợc vị trí, hình dạng và tính toàn vẹn của đĩa khớp, cho phép đánh giá tình trạng rối loạn nội khớp MRI có ít thông tin về cấu trúc xương của khớp, do đó CT và MRI thường được chọn là phương thức hình ảnh kết hợp để khảo sát khớp TDH

1.2.3 Kỹ thuật hình ảnh khớp TDH

Theo Hội chẩn đoán hình ảnh Hàm Mặt Hoa Kỳ (AAOMR), khảo sát hình ảnh khớp TDH nhằm đánh giá tính toàn vẹn của cấu trúc; xác nhận mức độ của bệnh khớp TDH; khảo sát diễn tiến của bệnh và đánh giá hiệu quả việc điều trị

Trong điều trị, khi có sự chọn lựa giữa các phương pháp hình ảnh có giá trị điều trị bằng nhau, nên ưu tiên phương pháp có chi phí thấp nhất và liều bức xạ tối thiểu Tuyên bố của Hội chẩn đoán hình ảnh Hàm Mặt Hoa Kỳ nhấn mạnh nguyên tắc ALARA (as low as reasonably achievable) và đòi hỏi thực hành giảm thiểu phơi nhiễm bức xạ bằng cách xác định phối hợp thế chiếu phù hợp với vùng cần chụp, chọn thông số kỹ thuật tối ưu (hiệu điện thế, cường độ dòng điện và thời gian chiếu) và áp dụng biện pháp bảo vệ hiệu quả như áo chì, cổ áo chì, tấm chắn bằng chì và khoảng cách an toàn Tất cả nhằm thu thập thông tin cần thiết cho chẩn đoán và điều trị đồng thời hạn chế nhiễm bức xạ cho bệnh nhân.

Theo Okeson [73], có ba hạn chế cần lưu ý khi sử dụng hình ảnh 2 chiều (2D) của khớp TDH:

- Không thấy diện khớp: Diện khớp của lồi cầu, đĩa khớp và hõm khớp đƣợc tạo bởi mô liên kết dày Không có biểu hiện qua hình ảnh trên phim thông thường

Do vậy, bề mặt lồi cầu và hõm khớp thấy trên phim đó là xương, không thực sự là diện khớp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tƣợng nghiên cứu

Dân số mục tiêu: Hình ảnh khớp thái dương hàm của các cá thể tình nguyện có khớp TDH không triệu chứng

- Tuổi từ 18 trở lên, không phân biệt nam, nữ;

- Không có bệnh sử hay triệu chứng lâm sàng khớp TDH;

- Chƣa từng điều trị chỉnh hình răng mặt hay mài chỉnh khớp cắn;

- Không bất cân xứng hàm dưới;

- không có chấn thương vùng mặt hay vùng cằm

- Có tiền sử gãy xương hoặc có can thiệp PT vùng khớp TDH

- Cắn sai ở tƣ thế LMTĐ

- Hình ảnh CBCT không rõ do cử động lúc chụp Địa điểm nghiên cứu: Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh

Cỡ mẫu

Áp dụng công thức ƣớc lƣợng cỡ mẫu, trong đó:

Trong thiết kế thí nghiệm, xác suất sai lầm loại I được đặt bằng α = 0,05 và với kiểm định hai phía ta dùng Z(1-α/2) = 1,96 để xác định ngưỡng chấp nhận Độ lệch chuẩn σ của các giá trị trung bình tham chiếu được lấy từ các nghiên cứu của Ikeda (2009) và Ikeda (2011), cho phép mô tả biến động dữ liệu Sai số biên cần ước lượng được xác định là d = 0,1 mm nhằm đảm bảo độ chính xác mong muốn cho ước lượng và kết quả phân tích.

Trong nghiên cứu xác định giá trị trung bình của khoảng gian khớp ở người trưởng thành có khớp TDH không triệu chứng, cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 140 cá thể, như được trình bày trong Bảng 2.1.

Bảng 2 1: Cỡ mẫu nghiên cứu

Mặt phẳng khảo sát Kích thước khoảng gian khớp(mm) Cỡ mẫu Tác giả

Mặt phẳng ngang Trong (AMS): 2,1 ± 0,6 138,3

Phương tiện nghiên cứu

Dữ liệu CBCT, hình ảnh khớp TDH của cá thể tình nguyện tham gia nghiên cứu có khớp TDH không triệu chứng

Khớp TDH được chụp bằng máy CBCT Galileos của hãng Sirona (Đức), quang trường 15 x 15 cm cho phạm vi hình ảnh toàn diện khớp TDH, với điểm ảnh đẳng hướng kích thước 300 micron (0,3 mm) Thời gian chụp 14 giây, với hiệu điện thế 85 kV, cường độ dòng điện 5-7 mA và tần số 50 Hz, cho chất lượng hình ảnh cao và độ chi tiết phù hợp cho đánh giá cấu trúc xương và khớp.

Phương pháp thu thập dữ liệu

Gồm 2 bước: Thu thập thông tin cá nhân của cá thể tình nguyện tham gia nghiên cứu, khám lâm sàng và khảo sát khớp TDH qua hình ảnh CBCT

2.5.1 Thông tin cá nhân của cá thể tình nguyện tham gia nghiên cứu

- Họ tên, tuổi, giới, số điện thoại, phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu

Khám lâm sàng khớp TDH được thực hiện bởi một chuyên gia về cắn khớp học tại phân môn Cắn khớp học, bộ môn Nha khoa cơ sở, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP HCM, nhằm xác định những cá thể tham gia nghiên cứu có tình trạng khớp TDH không triệu chứng và đáp ứng các điều kiện nghiên cứu Quy trình khám theo quy trình khám thường quy được áp dụng để đánh giá điều kiện nghiên cứu của các đối tượng và đảm bảo tính khách quan của kết quả thu thập được.

- Sau khi đƣợc xác định có khớp TDH không triệu chứng qua khám khớp TDH, các đối tƣợng tình nguyện tham gia nghiên cứu đƣợc chụp CBCT

2.5.2 Khảo sát khớp TDH qua hình ảnh CBCT

- Kỹ thuật chụp khớp TDH

Tất cả các đối tƣợng tham gia nghiên cứu đều đƣợc một kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh của Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dƣợc TP HCM, chụp khớp TDH theo tiêu chuẩn nhƣ sau:

Để chụp khớp TDH bằng máy CBCT, người được chụp đứng thẳng với lưng vuông góc sàn nhà Tư thế đầu khi ghi hình được căn chỉnh sao cho mặt phẳng Frankfort trở thành mặt phẳng tham chiếu ngang theo hướng dẫn vận hành máy CBCT Giá tựa đầu được sử dụng để giữ cố định đầu trong suốt quá trình ghi hình, nhằm đảm bảo hình ảnh được thu nhận ổn định và chất lượng cao.

Mỗi cá thể đƣợc chụp hai tƣ thế: Tƣ thế lồng múi tối đa và ở tƣ thế há tối đa

- Hình ảnh và đo đạc

Hình ảnh đƣợc khảo sát trên màn hình Dell U2713HMt, độ phân giải màn hình 2560 x 1440 WQHD Tương phản và độ sáng của hình ảnh được điều chỉnh bằng công cụ xử lý hình ảnh trong phần mềm để đảm bảo hình ảnh tối ƣu

Phần mềm Galaxis XG của Sirona cho phép hiển thị đồng thời hình ảnh khớp TDH trên ba mặt phẳng tham chiếu định hướng Mặt phẳng dọc giữa là mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng ngang và đi qua hai điểm Basion và Nasion, tạo nền tảng cho phân tích chuẩn xác Trong khảo sát và đo đạc, các mặt phẳng tham chiếu được hiệu chỉnh theo trục lồi cầu hoặc theo điểm cao nhất của lồi cầu để tối ưu độ chính xác Việc kết hợp ba mặt phẳng này hỗ trợ đánh giá khớp TDH một cách trực quan và hiệu quả cho quy trình chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nha khoa.

Dữ liệu ở tƣ thế lồng múi tối đa

Ở tƣ thế lồng múi tối đa, đặc điểm hình thái của lồi cầu, lồi khớp, hõm khớp đƣợc khảo sát trên hình ảnh theo các mặt phẳng hiệu chỉnh (Hình 2.1):

(a) Mặt phẳng ngang: mặt phẳng song song mặt phẳng ngang tham chiếu và chứa trục ngang lồi cầu (kích thước lồi cầu lớn nhất theo chiều ngoài trong)

(b) Mặt phẳng đứng dọc: vuông góc mặt phẳng ngang và chứa trục dọc lồi cầu (kích thước lồi cầu lớn nhất theo chiều trước sau)

(c) Mặt phẳng đứng ngang: vuông góc mặt phẳng ngang và chứa trục ngang lồi cầu

Hình 2.1: Hình ảnh khớp trên 3 mặt phẳng

2.6.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của lồi cầu

Trên mặt phẳng đứng ngang, hình dạng lồi cầu đƣợc phân thành 5 dạng: bầu dục, phẳng, tam giác, tròn và dạng khác theo Yale và cộng sự (1963) [115]

Hình 2.2: Hình dạng lồi cầu

- Chiều rộng lồi cầu: Kích thước lồi cầu theo chiều ngoài trong, là khoảng cách lớn nhất giữa cực ngoài và cực trong của lồi cầu trên mặt phẳng ngang

- Chiều dài lồi cầu: Kích thước lớn nhất của lồi cầu theo chiều trước sau (vuông góc với chiều rộng trên cùng mặt phẳng ngang), khoảng cách từ điểm sau nhất đến điểm trước nhất của lồi cầu (Hình 2.3)

Hình 2.3: Kích thước lồi cầu

A Kích thước dọc , B Kích thước ngang

2.6.1.3 Góc giữa trục dài lồi cầu với mặt phẳng dọc giữa

Khảo sát trên mặt phẳng ngang, xác định số đo góc giữa trục dài lồi cầu bên phải và bên trái với mặt phẳng dọc giữa (Hình 2.4)

Hình 2.4: Góc giữa trục dài lồi cầu với mặt phẳng dọc giữa

2.6.1.4 Khoảng cách giữa tâm lồi cầu với mặt phẳng dọc giữa

Trên mặt phẳng ngang, đo hai khoảng cách giữa tâm lồi cầu bên (P), bên (T) với mặt phẳng dọc giữa (Hình 2.5)

Hình 2.5: Khoảng cách tâm lồi cầu với mặt phẳng dọc giữa

2.6.1.5 So sánh vị trí lồi cầu theo chiều trước sau trên mặt phẳng ngang Theo mặt phẳng ngang, so sánh điểm chiếu của hai tâm lồi cầu bên (P) và (T) trên mặt phẳng dọc giữa, điểm chiếu của tâm lồi cầu (P) đƣợc xem là gốc (điểm 0), xác định vị trí điểm chiếu của lồi cầu (T) theo điểm 0 Điểm chiếu tâm lồi cầu (T) ở trước điểm 0 được xem là dương và ở sau điểm 0 được xem là âm (Hình 2.6)

Hình 2.6: So sánh vị trí trước sau giữa hai lồi cầu trên mặt phẳng ngang

2.6.1.6 So sánh chiều trên dưới của 2 lồi cầu trên mặt phẳng đứng ngang Theo mặt phẳng đứng ngang, điểm chiếu của lồi cầu (P) lên mặt phẳng dọc giữa đƣợc xem là điểm 0 và vị trí của lồi cầu (T) đƣợc xác định theo điểm này Nếu đỉnh lồi cầu (T) ở dưới điểm 0 được xem là dương và trên điểm 0 là âm (Hình 2.7)

Hình 2.7: So sánh vị trí trên dưới của hai lồi cầu theo mặt phẳng đứng ngang

2.6.2.1 Trên mặt phẳng đứng dọc

Kích thước khoảng gian khớp được xác định trên hình lát cắt có vị trí lồi cầu nằm cao nhất trong hõm khớp trên mặt phẳng đứng dọc theo phương pháp của Ikeda (2009) [47]

Vẽ đường thẳng ngang (THL) đi qua điểm cao nhất của hõm khớp song song với mặt phẳng sàn nhà Từ điểm cao nhất của lồi cầu (SC) kẻ đường vuông góc cắt đường thẳng ngang tại SS, Khoảng cách SS-SC là kích thước khoảng gian khớp trên Từ SS kẻ hai tiếp tuyến lồi cầu tại tiếp điểm AC ở phía trước và tiếp điểm PC ở phía sau Đường vuông góc với tiếp tuyến SS-AC vẽ từ AC cắt đường cong hõm khớp ở phía trước tại AS Tương tự, tại PC vẽ đường vuông góc với tiếp tuyến SS-

PC cắt đường cong hõm khớp ở phía sau tại PS Khoảng cách AS-AC là kích thước khoảng gian khớp trước, khoảng cách PS-PC là kích thước khoảng gian khớp sau (Hình 2.8)

Hình 2.8: Khoảng gian khớp trên mặt phẳng đứng dọc

2.6.2.2 Trên mặt phẳng đứng ngang

Tương tự, trên mặt phẳng đứng và ngang để đo kích thước khoảng gian khớp ở lát cắt có lồi cầu nằm cao nhất trong hõm khớp theo Ikeda (2011) [46] Khoảng gian khớp được xác định như sau.

Chiều rộng ngoài trong của lồi cầu đƣợc chia thành 6 phân đoạn bằng nhau

Từ điểm giữa của chiều rộng lồi cầu, vẽ đường vuông góc với mặt phẳng tham chiếu ngang; đường này cắt bề mặt lồi cầu tại điểm trung tâm trên mặt phẳng đứng ngang (CC) Tương tự, các đường vuông góc với mặt phẳng ngang tham chiếu vẽ từ

2 điểm nối phân đoạn thứ nhất với thứ hai bên trong và thứ nhất với thứ hai bên ngoài, giao điểm của 2 đường này với bề mặt lồi cầu lần lượt là điểm phía trong (CM) và điểm phía ngoài (CL) trên mặt phẳng đứng ngang (Hình 2.9)

Hình 2.9: Khoảng gian khớp trên mặt phẳng đứng ngang

Các khoảng gian khớp trên mặt phẳng đứng ngang đƣợc xác định là khoảng gian khớp ngoài (CLS), khoảng gian khớp trên (CCS) và khoảng gian khớp trong (CMS) lần lƣợt là khoảng cách ngắn nhất từ điểm CL, CC và CM đến hõm khớp

Trên mặt phẳng ngang, theo hướng của trục dài lồi cầu khoảng gian khớp đƣợc xác định qua các số đo (Hình 2.10):

Khoảng gian khớp ngoài (ALS): Khoảng cách từ thành ngoài hõm khớp đến cực ngoài lồi cầu (AL)

Khoảng gian khớp trong (AMS): Khoảng cách từ thành trong hõm khớp đến cực trong lồi cầu (AM)

Hình 2.10: Khoảng gian khớp trên mặt phẳng ngang

Khảo sát hõm khớp trên mặt phẳng đứng ngang, hõm khớp đƣợc phân loại theo hình dạng, gồm: dạng lõm, dạng phẳng và dạng tam giác (Hình 2.11)

Hình 2.11: Hình dạng hõm khớp a Dạng lõm; b Dạng phẳng; c Dạng tam giác

Khảo sát trên mặt phẳng đứng dọc, chiều rộng hõm khớp là khoảng cách từ điểm thấp nhất của lồi khớp đến điểm thấp nhất của khe nhĩ trai (Hình 2.12a)

Khảo sát trên mặt phẳng đứng dọc, chiều sâu hõm khớp theo Vitral (2011)

[108] là khoảng cách từ điểm cao nhất của hõm khớp đến mặt phẳng qua đỉnh lồi khớp và điểm thấp nhất của bờ dưới lỗ ống tai ngoài (Hình 2.12b)

Hình 2.12: Chiều rộng (A), Chiều cao hõm khớp (B)

2.6.3.4 Chiều dày trần hõm khớp

Quan sát hình ảnh các lát cắt trên mặt phẳng đứng dọc vùng trung tâm lồi cầu, chọn hình có xương của trần hõm khớp mỏng nhất và đo chiều dày trần hõm khớp này (Hình 2.13)

Hình 2.13: Chiều dày trần hõm khớp

Các đặc điểm lồi khớp đƣợc nghiên cứu là độ nghiêng, chiều cao lồi khớp và sự hiện diện hốc khí trong lồi khớp Độ nghiêng và chiều cao lồi khớp đo trên hình theo mặt phẳng đứng dọc tại trung điểm của trục ngoài – trong lớn nhất của lồi cầu

Hình 2.14: Điểm và mặt phẳng tham chiếu

Các điểm và mặt phẳng sử dụng trong nghiên cứu này nhƣ sau (Hình 2.14):

- Cu: điểm cao nhất của lồi cầu; - Po: điểm cao nhất của ống tai ngoài;

- R: điểm cao nhất của hõm khớp; - T: điểm thấp nhất của lồi khớp;

- Etr: Mặt phẳng qua các điểm T và R; - F: Frankfort ngang;

- F1: đường song song với F, qua điểm R;

- F2: đường song song với F đi qua điểm T

KẾT QUẢ

Ngày đăng: 08/08/2021, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh, Đoàn Hồng Phƣợng (2009), "Tình trạng rối loạn thái dương hàm ở trẻ 12 tuổi (nghiên cứu tại trường PTCS Bàn Cờ, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 3 (1), tr. 38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng rối loạn thái dương hàm ở trẻ 12 tuổi (nghiên cứu tại trường PTCS Bàn Cờ, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Đoàn Hồng Phƣợng
Năm: 2009
2. Hoàng Tử Hùng (2005), "Cắn Khớp học", Nhà xuất bản Y học, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 63-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cắn Khớp học
Tác giả: Hoàng Tử Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
3. Dương Thu Hương, Trần Thị Nguyên Ny (2016), "Đường đi của lồi cầu trong mặt phẳng đứng dọc đối với từng loại khớp cắn theo phân loại của Angle”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 20 (2), tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường đi của lồi cầu trong mặt phẳng đứng dọc đối với từng loại khớp cắn theo phân loại của Angle
Tác giả: Dương Thu Hương, Trần Thị Nguyên Ny
Năm: 2016
4. Lương Thảo Nguyên, Trần Thị Nguyên Ny, Nguyễn Thị Kim Anh (2013), "Tình hình điều trị rối loạn thái dương hàm tại khoa Răng Hàm Mặt-Đại Học Y Dƣợc TP.HCM từ 2008 đến 2010”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 17 (2), tr. 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình điều trị rối loạn thái dương hàm tại khoa Răng Hàm Mặt-Đại Học Y Dƣợc TP.HCM từ 2008 đến 2010
Tác giả: Lương Thảo Nguyên, Trần Thị Nguyên Ny, Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2013
5. Võ Thị Lê Nguyên, Nguyễn Thị Kim Anh (2016), "Hình ảnh Cone-Beam CT khớp thái dương hàm của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm tại Khoa Răng Hàm Mặt - ĐH Y Dƣợc TPHCM”, Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 20 (2), tr. 82-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh Cone-Beam CT khớp thái dương hàm của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm tại Khoa Răng Hàm Mặt - ĐH Y Dƣợc TPHCM
Tác giả: Võ Thị Lê Nguyên, Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2016
6. Đoàn Hồng Phượng (2005), "Tình trạng rối loạn thái dương hàm ở người lớn (18 đến 54 tuổi) tại thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng rối loạn thái dương hàm ở người lớn (18 đến 54 tuổi) tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Hồng Phượng
Năm: 2005
7. Ahmad M., Hollender L., Anderson Q., Kartha K., Ohrbach R., et al. (2009), "Research diagnostic criteria for temporomandibular disorders (RDC/TMD):development of image analysis criteria and examiner reliability for image analysis”, Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology and Oral Radiology, 107 (6), pp. 844-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research diagnostic criteria for temporomandibular disorders (RDC/TMD): development of image analysis criteria and examiner reliability for image analysis
Tác giả: Ahmad M., Hollender L., Anderson Q., Kartha K., Ohrbach R., et al
Năm: 2009
8. Ahmed E.A. (2007), "Incidence of pneumatized articular eminence of temporal bone in patients with TMJ disorders.”, Egyptian Dental Association, 53, pp. 467-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incidence of pneumatized articular eminence of temporal bone in patients with TMJ disorders
Tác giả: Ahmed E.A
Năm: 2007
9. Akyalcin S., English J. D., Abramovitch K. M., Rong X. J. (2013), "Measurement of skin dose from cone-beam computed tomography imaging”, Head & Face Medicine, 9, pp. 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement of skin dose from cone-beam computed tomography imaging
Tác giả: Akyalcin S., English J. D., Abramovitch K. M., Rong X. J
Năm: 2013
10. Al-koshab M., Nambiar P., John J. (2015), "Assessment of condyle and glenoid fossa morphology using CBCT in South-East Asians”, The Public Library of Science One, 10 (3), pp. e0121682 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of condyle and glenoid fossa morphology using CBCT in South-East Asians
Tác giả: Al-koshab M., Nambiar P., John J
Năm: 2015
11. Al-Rawi N. H., Uthman A. T., Sodeify S. M. (2017), "Spatial analysis of mandibular condyles in patients with temporomandibular disorders and normal controls using cone beam computed tomography”, European Journal of Dentistry, 11 (1), pp. 99-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spatial analysis of mandibular condyles in patients with temporomandibular disorders and normal controls using cone beam computed tomography
Tác giả: Al-Rawi N. H., Uthman A. T., Sodeify S. M
Năm: 2017
12. Alhammadi M.S., Shafey A.S., Fayed M.S., Mostafa Y.A. (2014), "Temporomandibular joint measurements in normal occlusion: A three- dimensional cone beam computed tomography analysis”, Journal of the World Federation of Orthodontists, 3, pp. 155-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Temporomandibular joint measurements in normal occlusion: A three-dimensional cone beam computed tomography analysis
Tác giả: Alhammadi M.S., Shafey A.S., Fayed M.S., Mostafa Y.A
Năm: 2014
13. Alkhader M., Al-Sadhan R., Al-Shawaf R. (2012), "Cone-beam computed tomography findings of temporomandibular joints with osseous abnormalities”, Oral Radiology, 28, pp. 82-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cone-beam computed tomography findings of temporomandibular joints with osseous abnormalities
Tác giả: Alkhader M., Al-Sadhan R., Al-Shawaf R
Năm: 2012
16. Baba R., Ueda K., Okabe M. (2004), "Using a flat-panel detector in high resolution cone beam CT for dental imaging”, Dentomaxillofacial Radiology, 33 (5), pp. 285-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using a flat-panel detector in high resolution cone beam CT for dental imaging
Tác giả: Baba R., Ueda K., Okabe M
Năm: 2004
17. Bechara B., McMahan C. A., Moore W. S., Noujeim M., Geha H. (2012), "Contrast-to-noise ratio with different large volumes in a cone-beam computerized tomography machine: an in vitro study”, Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology and Oral Radiology, 114 (5), pp. 658-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contrast-to-noise ratio with different large volumes in a cone-beam computerized tomography machine: an in vitro study
Tác giả: Bechara B., McMahan C. A., Moore W. S., Noujeim M., Geha H
Năm: 2012
18. Burke G., Major P., Glover K., Prasad N. (1998), "Correlations between condylar characteristics and facial morphology in Class II preadolescent patients”, American Journal of Orthodontics and Dentofacial Orthopedics, 114 (3), pp. 328-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Correlations between condylar characteristics and facial morphology in Class II preadolescent patients
Tác giả: Burke G., Major P., Glover K., Prasad N
Năm: 1998
19. Çağlayan F., Sümbüllü M., Akgül H. (2014), "Associations between the articular eminence inclination and condylar bone changes, condylar movements, and condyle and fossa shapes”, Oral Radiology, 30 (1), pp. 84- 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Associations between the articular eminence inclination and condylar bone changes, condylar movements, and condyle and fossa shapes
Tác giả: Çağlayan F., Sümbüllü M., Akgül H
Năm: 2014
(2010), "Quantification of condylar resorption in temporomandibular joint osteoarthritis”, Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology and Oral Radiology, 110 (1), pp. 110-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantification of condylar resorption in temporomandibular joint osteoarthritis
21. Ciavarella D., Parziale V., Mastrovincenzo M., Palazzo A., Sabatucci A., et al. (2012), "Condylar position indicator and T-scan system II in clinical evaluation of temporomandibular intracapsular disease”, The Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery, 40 (5), pp. 449-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Condylar position indicator and T-scan system II in clinical evaluation of temporomandibular intracapsular disease
Tác giả: Ciavarella D., Parziale V., Mastrovincenzo M., Palazzo A., Sabatucci A., et al
Năm: 2012
22. Christiansen E.L., Chan T.T., Thompson J.R., Hasso A.N., Hinshaw D.B J.R., et al. (1987), "Computed tomography of the normal temporomandibular joint”, Scandinavian Journal of Dental Research, 95, pp. 499-509 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computed tomography of the normal temporomandibular joint
Tác giả: Christiansen E.L., Chan T.T., Thompson J.R., Hasso A.N., Hinshaw D.B J.R., et al
Năm: 1987

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w