Nghiên cứu sinh mong muốn, với việc chọn đề tài này để nghiên cứu sâu nhằm góp phần bổ sung, làm đầy đặn thêm những công trình đã nghiên cứu về yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Na
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -VĂN NỮ QUỲNH TRÂM
YẾU TỐ SÔNG NƯỚC TRONG VĂN HÓA MIỀN TÂY NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Tế
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ
sở đào tạo, họp tại
vào hồi ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư việnTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
- Thư viện Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Văn Nữ Quỳnh Trâm “Phim tài liệu truyền hình về sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ” Trang 62 số 372 tháng 6/2015 ISSN: 0866-8655 Văn Hóa Nghệ Thuật (Cơ quan của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch)
2 Văn Nữ Quỳnh Trâm “Văn hóa sông nước của cư dân đồng bằng sông Cửu Long” Trang 22 số 375 tháng 9/2015 ISSN: 0866-8655 Văn Hóa Nghệ Thuật (cơ quan của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch)
Trang 4Tây Nam Bộ là miền đất có điều kiện địa lý và tự nhiên đặc biệt Những cơn
lũ hàng năm mang về lượng phù sa lớn cùng nguồn thủy sản dồi dào; đem đến cho gần 20 triệu cư dân cuộc sống đặc sắc gắn liền với sông nước và đồng ruộng phì nhiêu Theo đó, một nền văn hóa đặc trưng thể hiện nổi bật ở nếp sống và lao động, ở tính cách và phong thái riêng Những đặc điểm và tính chất ấy không chỉ thể hiện trong sinh hoạt đời thường mà bộc lộ trong kho tàng văn chương, thơ ca, đờn ca tài tử
ở địa phương Nhờ đó có sức lôi cuốn đặc biệt với giới sáng tác và nghiên cứu của chuyên sâu
Phim tài liệu truyền hình là loại hình nghệ thuật – báo chí hiện đại có khả năng phản ánh trực tiếp, trung thực và lý thú các biểu hiện văn hóa của vùng đất đặc biệt này Đây là nhiệm vụ nghề nghiệp của các Đài truyền hình cùng đội ngũ tác giả làm phim tài liệu truyền hình nhằm phản ánh hiện thực đời sống đất nước cũng như tạo tư liệu để lưu trữ - phục vụ nghiên cứu lâu dài của quốc gia Từ nhiều năm qua, đã
có những công trình nghiên cứu hoặc có những phim tài liệu truyền hình đề cập, khai thác các khía cạnh nào đó của văn hóa Tây Nam Bộ, song chưa thực sự đạt hiệu quả mong muốn
Nghiên cứu sinh mong muốn, với việc chọn đề tài này để nghiên cứu sâu nhằm góp phần bổ sung, làm đầy đặn thêm những công trình đã nghiên cứu về yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Nam Bộ, đồng thời góp phần hoàn thiện hơn nghiệp vụ làm phim tài liệu truyền hình đối với loại đề tài này
Trang 53 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong khoảng thời gian 1950-1990, nhà văn Sơn Nam cho xuất bản một loạt các tác phẩm về Nam Bộ như Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959), Nói về miền Nam (1965), Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn (1970), Hương rừng
Cà Mau (1972), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973), Cá tính của miền Nam (1974), Bến Nghé xưa (1981), Đất Gia Định xưa (1984), Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1985) Những công trình này là tài liệu quý giá cho việc tìm hiểu vùng đất Nam Bộ Đặc biệt, những ghi chép, điều tra tại chỗ của Sơn Nam tạo nên bức tranh rất chân thực về đất, về người Nam Bộ Trong các tác phẩm trên, tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau đã mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc thẩm mỹ về sông nước phương Nam Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường trong Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) đã cung cấp một diện mạo
về nhiều mặt của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh việc miêu tả về văn hóa sông nước của người Việt, Những vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long (1991) có sự kết hợp tư liệu thành văn và tư liệu điền dã dân tộc học, nghiên cứu văn hóa Nam Bộ dưới góc độ văn hóa của các cộng đồng tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer, phân tích sâu các khía cạnh làm nên bản chất văn hóa tộc người từ đặc điểm
cư trú, quá trình tộc người, đời sống văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục, ăn uống, kế sinh nhai), tinh thần (văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng-tôn giáo)
Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ (1992) của Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh đã kế thừa những công trình sưu tập và biên khảo về văn hóa, lịch sử, triết lý, phong tục, ngôn ngữ, nghệ thuật Công trình đề cập đến tất
cả các vấn đề văn hóa của Nam Bộ từ văn hóa vật chất (thói quen ăn uống, cách ăn mặc, nhà ở, phương tiện đi lại, các nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian) đến văn hóa tinh thần (phong tục tập quán trong các nghi lễ vòng đời người: sinh đẻ, cưới xin, tang ma, lễ giỗ, các dạng sinh hoạt diễn xướng dân gian (hò, lý, nói, hát), diễn xướng sân khấu dân gian) Có thể khẳng định, đây là công trình giàu tính tư liệu nhưng thế mạnh vẫn nghiêng về mô tả đời sống văn hóa của cư dân sông nước Tây Nam Bộ
Công trình Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (1993) của Phan Thị Yến Tuyết đề cập đến ba dạng thức được xem là cơ bản nhất của văn hóa vật chất: nhà ở, trang phục, ăn uống Tác giả chọn góc độ tiếp cận văn hóa tộc người (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) nên giúp chúng ta có thể thấy được điểm chung và riêng giữa các tộc người này trong quan hệ giao lưu văn hóa ở khu vực
Trang 6Kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước, Nguyễn Phương Thảo trong Văn hóa dân gian Nam Bộ - Những phác thảo (1997) khái quát những nét riêng của làng Việt Nam Bộ như: là làng mới, kéo dài trên diện rộng, thiếu chất kết dính chặt Đồng thời, khẳng định Nam Bộ cũng là nơi xuất hiện những tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo Tác giả lập luận rằng văn hóa dân gian Nam Bộ phản ánh môi trường tự nhiên với sự phong phú của hệ thống sông ngòi, kênh rạch, tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có vừa phong phú, khí hậu thuận lợi Sinh hoạt văn hóa tinh thần có các thể loại hò sông nước, truyện cổ hướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội, truyện cổ tích giải thích các địa danh
Những khía cạnh kinh tế của văn minh kênh rạch Nam Bộ (1999) của Lê Quốc Sử nghiên cứu văn hóa Nam Bộ trong mối quan hệ với địa-kinh tế Tác giả quan niệm văn hóa vật chất (kinh tế) là hạ tầng cơ sở, quyết định tư tưởng, ý thức (văn hóa tinh thần) là thượng tầng kiến trúc Ông sử dụng thuật ngữ “văn minh kênh rạch” diễn
tả yếu tố “nước” (tự nhiên và nhân tạo) là đặc trưng của vùng Nam Bộ không đâu có Vùng đất mới xa lạ nhiều gian khổ hiểm nguy của sông nước mênh mông khô hạn sáu tháng mà lũ lụt cũng kéo dài 6 tháng
Đồng quê Nam Bộ (2004) của Vương Liêm là ký ức của tác giả về quê ngoại
ở ấp Tập Rèn, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Tác giả chỉ dừng lại miêu tả quang cảnh đồng quê với những cánh đồng bát ngát cùng nếp sinh hoạt của cư dân Việt, Hoa, Khmer từ trang phục, ăn ở, lao động sản xuất; cảnh nhộn nhịp của mùa gặt “tới mùa lúa chín, lúa được chở về phơi đầy cả dải sân rộng trước mười ngôi nhà Lúc này, mọi người trong nhà đều tất bật với công việc phơi lúa, giê lúa và vô bồ liên tiếp nhiều ngày” Tác giả cũng đúc kết những kinh nghiệm dân gian như việc đoán biết nước lớn hay nước ròng (“chim bìm bịp kêu nước lớn”), kinh nghiệm bắt cá, lấy
tổ chim…
Sắc thái văn hóa sông nước vùng U Minh (2007) của Nguyễn Diệp Mai tập trung làm nổi bật những nét sinh hoạt thường ngày (ăn, ở, mặc, phương tiện đường thủy) cùng với sinh hoạt tâm linh (tục thờ Bà - Cậu, thờ thần sông Cái Lớn, Hà Bá, ma
da, thần sấu,…) của cư dân vùng sông nước U Minh (Kiên Giang)
Trong luận văn cao học Ghe xuồng trong đời sống văn hóa người Việt Tây Nam Bộ (2008), từ góc độ một loại hình văn hóa vật chất-ghe xuồng, Phan Thái Bình
đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các hoạt động khai thác, đánh bắt, nghề đóng ghe, những sinh hoạt hàng ngày, tục thờ, kiêng kỵ liên quan đến phương tiện giao thông thủy đặc trưng của miền Tây sông nước
Nghề cá Đồng Tháp Mười năm xưa (2010) là một chuyên khảo quý của Nguyễn Hữu Hiếu Lần đầu tiên nghề đánh cá nội đồng ở Nam Bộ được đề cập khá toàn diện về ngư cụ và hoạt động đánh bắt cá, cá trong một số nghề thủ công, ẩm thực với con cá, đời sống tâm linh của cư dân nghề cá, chính sách khai thác,
Trang 75Trong cuốn sách mới xuất bản Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (2013)
do Trần Ngọc Thêm (chủ biên), ở phần Dẫn nhập cũng đã nhận xét: Tây Nam Bộ là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển đặc biệt, con người đặc biệt, vai trò
và sự đóng góp cho sự phát triển của đất nước cũng rất đặc biệt Đặc biệt ở trong công trình này các tác giả dành một tiểu mục về tính sông nước (tr.647-671):” Ba chữ “tính sông nước” là kết tinh của toàn bộ nền văn minh sôngnước, văn minh kênh rạch Tây Nam Bộ Nó chứa đựng trong mình hệ giá trị chỉ ra trình độ phát triển của một vùng đất trong việc khai thác thế mạnh của sông nước, tận dụng sông nước và đối phó với sông nước trong suốt lịch sử tồn tại của mình
Nhìn chung, yếu tố đặc trưng sông nước trong văn hóa Nam Bộ (Tây Nam Bộ) đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ tiếp cận khác nhau tuy nhiên đặc trưng ấy được phản ánh như thế nào trong phim tài liệu truyền hình thì cho đến nay vẫn còn chưa được quan tâm của giới nghiên cứu văn hóa điện ảnh
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phim tài liệu truyền hình (dòng tài liệu
ký sự) tập trung vào chủ đề yếu tố sông nước trong văn hóa của người Việt (Kinh) ở miền Tây Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu các phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước miền Tây Nam
Bộ sản xuất sau năm 1975, tập trung chủ yếu sau năm 2005 đến năm 2017 kết hợp với khảo sát nghiên cứu thực địa các địa bàn phản ánh trong phim còn giữ lại nhiều yếu tố truyền thống, đặc trưng về con người văn hóa Tây Nam Bộ
+ Thời gian nghiên cứu
Các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần đặc trưng văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ được tìm hiểu qua các công trình nghiên cứu, tài liệu liên quan của các nhà nghiên cứu đi trước Trong phạm vi tài liệu thu thập được, chúng tôi tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ năm 1975 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nhận diện được bản chất nội dung phản ánh yếu tố sông nước của văn hóa miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn Diễn ngôn trong luận án này đó chính là các bộ phim tài liệu truyền hình Việt Nam bao gồm:
1 Mai Xuân Hòa đạo diễn (2005), Dư địa chí, Đài truyền hình Việt Nam
2 Nguyễn Hồ (chủ biên), Phạm Khắc đạo diễn (2002), Đất chín rồng, Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh TFS
Trang 86 Ký sự đôi bờ Vĩnh Tế (2010), Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long.
7 Rong ruổi đất phương Nam (2014), Đài truyền hình Việt Nam-VTV9
8 Miền Tây mùa nước nổi (2014), Đài truyền hình Việt Nam VTV9
9 Ký ức miền Tây (2012-2013-2014), Đài truyền hình Việt NamVTV Cần Thơ
10 Uống chung dòng nước (2007), Đài truyền hình Việt Nam hợp tác quốc
tế sản xuất
11 Mùa nước nổi (2013), Đài truyền hình Việt Nam VTV2
12 Tứ giác Long Xuyên (2014), Đài truyền hình Việt Nam- VTV CT
13 Cải lương-Hành trình nghệ thuật ( 2005) , Hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh TFS
Diễn ngôn được phân tích trong luận án này là lời bình, nội dung và hình ảnh được thể hiện trong các bộ phim tài liệu truyền hình khi đề cập đến chủ đề văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp sưu tầm và nghiên cứu thư tịch như sách báo, tạp chí, Internet để tham chiếu so sánh với “văn bản” phim tài liệu truyền hình về cùng chủ đề yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ Ngoài ra, để
có thể cảm thụ trực quan các yếu tố văn hóa sông nước đã được phản ánh qua phim truyền hình, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứi liên ngành giữa điện ảnh truyền hình và văn hóa học Tác giả còn đi thực tế tại các địa danh được các bộ phim nhắc tới như Long An, Cần Thơ và An Giang Việc kết hợp với phương pháp nghiên cứu thực địa giúp kiểm tra chéo, so sánh và cảm nhận với ghi lại các thông tin chính xác và trung thực
Để có thể đánh giá được thành tựu cũng như những tồn tại của phim tài liệu truyền hình hiện nay, chúng tôi có sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng công cụ google Với công cụ xây dựng mẫu điều tra cùng với xây dựng biểu mẫu kết quả
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học: Luận án bổ sung hướng nghiên cứu cũng như tài liệu tham khảo cho ngành Văn Hóa học cũng như ngành Truyền hình Yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ không phải là một chủ đề mới Chủ đề này đã được thể hiện qua nhiều khía cạnh như văn học, địa chí học, sinh thái học, văn hóa học, nghệ thuật học, mỹ học, điện ảnh… Ở mỗi lĩnh vực, chủ đề này được khắc họa theo những nét riêng Nghiên cứu của luận án là một nỗ lực góp phần hiểu về yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ qua phân tích diễn ngôn phim tài liệu truyền hình với cách
Trang 97thực hiện trực tiếp thu hình và thu âm thanh đối với đối tượng phản ánh; nhờ đó đạt được độ chính xác cao và có sức thuyết phục lớn so với các phương thức phản ánh khác Tuy nhiên, sự phản ánh này cũng chịu sự chi phối của đạo diễn, biên tập trên mỗi đề tài phim tài liệu.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: từ việc nghiên cứu đề tài sử dụng phim tài liệu truyền hình phản ánh yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Nam Bộ nói riêng, luận án có
cơ sở đề xuất những kinh nghiệm nghề nghiệp thực tế cho các tác giả phim tài liệu truyền hình nói chung ở các đài truyền hình Trung ương cũng như địa phương; cung cấp phương án khảo cứu, phản ánh đối tượng một cách cụ thể và thực tế cho các nhà làm phim tài liệu truyền hình, cố gắng đem lại cho họ những kinh nghiệm hữu ích Từ những nhận xét và đề xuất cụ thể, luận án có thể hỗ trợ các nhà làm phim tài liệu truyền hình phát huy các thế mạnh đã có, khắc phục các hạn chế còn tồn tại Ngoài ra, nghiên cứu tác dụng, hiệu quả của phương thức sử dụng phim tài liệu truyền hình trong việc khảo sát, phản ánh bộ mặt văn hóa của một vùng miền riêng biệt ở nước ta
Từ thực tế sử dụng này, có thể rút ra những kết luận, kinh nghiệm cần thiết đối với nghiệp vụ tổ chức sản xuất phim tài liệu truyền hình chuyên đề nói chung nhằm hoàn thiện thêm lĩnh vực này Bên cạnh các công trình viết, từ đây có thể mở rộng, phát triển hình thức nghiên cứu một số đề tài khoa học xã hội bằng phim tài liệu truyền hình
Trong luận án này, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn luôn quyện chặt vào nhau Nhờ đó, luận án cung cấp một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏ những nét đặc trưng của văn hóa Tây Nam Bộ, lý giải nét độc đáo sông nước trong tính cách văn hóa của người và đất miền Tây Nam Bộ
7 Khung phân tích
Để phân tích được yếu tố văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ được thể hiện qua phim tài liệu truyền hình như thế nào, dựa trên hướng tiếp cận lý thuyết sinh thái văn hóa, tôi sẽ phân tích diễn ngôn thể hiện cụ thể của một số phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước Tây Nam Bộ Cụ thể, văn hóa được xem như một sự thích nghi với môi trường tự nhiên Từ góc nhìn sinh thái văn hóa chúng ta sẽ thấy yếu tố sông nước đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ đã quy định nên đặc trưng của những thích nghi này Để có cái nhìn hệ thống, tôi đã phân tích theo phân loại văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Ở lĩnh vực thích nghi văn hóa vật chất, tôi đã xem xét các biểu hiện về phương thức sản xuất, giao thông, trang phục, ẩm thực và hình thái cư trú Về thích nghi văn hóa tinh thần, tôi đã tập trung vào phương ngữ, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian Qua phân tích diễn ngôn, yếu tố văn hóa sông nước Tây Nam Bộ đã hiện lên rất sống động và chân thật
Để có cái nhìn về định hướng phát triển sắp tới của phim tài liệu truyền hình
về chủ đề văn hóa sông nước Tây Nam Bộ, tôi đã đánh giá các thành công và hạn chế của phim tài liệu truyền hình dựa trên các phân tích đã có về các thành tố vật chất và tinh thần của văn hóa sông nước
Trang 10Sinh Thái Văn hóa
Phim tài liệu Truyền hình Việt Nam
Văn hóa Sông
nước Tây Nam Bộ
Khuyến nghị Phát triển Phim Tài liệu Truyền hình
- Thành tựu
- Hạn chế
Văn hóa Tinh thần
- Phương ngữ
- Văn hóa nghệ thuật
- Tín ngưỡng dân gian
KHUNG PHÂN TÍCH
8 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn và tổng quan về vùng đất Tây Nam Bộ Trình bày những nét chung về vai trò của sông nước đối với cuộc sống của người Việt
ở Tây Nam Bộ trong cái nhìn thời gian, không gian và chủ thể Các tiêu chí để nhận biết, đánh giá sự tác động này đến việc hình thành lối sống văn hóa, tính cách Tây Nam Bộ Chương này cũng nói đến vai trò đóng góp của phim tài liệu trong việc lưu trữ, bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hóa bằng hình ảnh
Chương 2: Thành tố vật chất trong văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam Trình bày các luận điểm nhằm lý giải quá trình tác động của yếu tố sông nuớc đến cuộc sống vật chất người Việt, từ đó hình thành lối sống và tính cách văn hóa đặc trưng của người Tây Nam Bộ
Chương 3: Thành tố tinh thần trong văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam Trình bày các luận điểm nhằm lý giải quá trình tác động của yếu tố sông nước đến cuộc sống tinh thần người Việt, từ đó hình thành lối sống và tính cách văn hóa đặc trưng của người Tây Nam Bộ
Chương 4: Văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam - Một số thành tựu và hạn chế Miêu tả và chứng minh vai trò tích cực của phim tài liệu truyền hình trong việc bảo tồn, phát huy, truyền bá các giá trị văn hóa sông nước Tây Nam Bộ và những hạn chế còn tồn tại
Phần Phụ lục: Bao gồm các phim tài liệu dưới dạng phim VCD, DVD, các tài liệu khảo sát điều tra và tài liệu tham chiếu so sánh
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Để làm cơ sở cho các nghiên cứu, luận án sẽ làm rõ các khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước,” và “phim tài liệu truyền hình”
1.1.1.1 Khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước”
Văn hóa là một khái niệm rộng đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và định nghĩa Có thể hiểu văn hóa chính là lối sống của một nhóm người hay một cộng đồng người Theo nghĩa đó, khi đề cập đến văn hóa sông nước, chúng tôi muốn nói đến lối sống được xây dựng trên hay được hình thành bởi yếu tố sông nước Theo đó, lối sống này bao gồm các phương thức sản xuất, giao thông, ẩm thực, trang phục, tôn giáo – tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… Hay có thể được hiểu qua yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân tại đây trong quá trình thích nghi với sinh thái sông nước Do để nhấn mạnh đến yếu tố sông nước qua sự thích nghi trực tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ nên chúng tôi dùng cụm từ “yếu tố sông nước trong văn hóa” Như vậy, hai khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước” có nội hàm như nhau
Tây Nam Bộ là một vùng sông nước mênh mông, kênh rạch chằng chịt với hơn 700 km bờ biển, khoảng 28.000km sông ngòi, hàng ngàn km kênh đào với hàng trăm cù lao, cùng chín cửa sông đưa nước ra biển tạo thuận lợi cho cuộc sống của người dân nơi đây Chính đặc điểm này mà từ lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi nơi đây là “xứ sở kênh rạch”, “văn minh kênh rạch”…Sơn Nam trong sách Đồng bằng sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt vườn đã viết: “Đường sông, đường biển là huyết mạch Ngoài sông Tiền, sông Hậu với nhiều nhánh nhóc ăn thông vào lung, bào, láng (đất thấp, tù đọng) nên kể thêm nhiều rạch (hoặc gọi là xẻo) bắt nguồn từ rừng U Minh Thượng hoặc U Minh Hạ chảy ra biển phía Tây
Xuyên suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc: văn hóa sông nước luôn gắn bó với người dân Việt Nam Văn hóa ứng xử của người Việt đối với sông nước là một phần không thể thiếu của Văn Hóa Việt Nam Vì vậy, sông nước chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm linh, văn hóa và lịch sử của
người dân miền Tây Nam Bộ Văn hóa sông nước có một vai trò hết sức thiêng liêng Đồng thời, nó cũng hết sức gần gũi, cần thiết, đi vào mọi ngõ ngách của đời sống sinh
hoạt, văn hóa của nhân dân Với những điều kiện địa lý đặc thù của vùng đất chằng chịt sông rạch, sông nước tác động mạnh mẽ đến vấn đề định cư và phân bố dân cư Nam Bộ Người dân Nam Bộ ban đầu ở trên các miệt giồng, các gò đất cao, về sau mở rộng địa bàn cư trú ở miệt vườn, miệt cù lao, miệt kênh…hoặc ở một dạng khác là sống theo tuyến (sông, kênh rạch, đường lộ) và tỏa đi Chính từ nền tảng văn minh sông nước đó đã hình thành nền văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
1.1.1.2 Khái niệm “Phim tài liệu truyền hình”, thể loại và các thành tố
Trang 1210Đến nay, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, chức năng phim tài liệu truyền hình Tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau của các tác giả sẽ có những quan niệm riêng về loại phim này Tuy còn tồn tại những quan niệm khác nhau, nhưng phần lớn vẫn tập trung vào hai khuynh hướng sau đây:
Thứ nhất, đề cao tính chân thực của phim tài liệu truyền hình, đây là khuynh
hướng được nhiều học giả và nhà chuyên môn ở Việt Nam và quốc tế theo đuổi
Thứ hai, đề cao tính nghệ thuật của phim tài liệu truyền trình lẫn tính báo chí
của nó Phim tài liệu truyền hình chuyển tải những sự kiện, hiện tượng nóng bỏng của cuộc sống thông qua những thủ pháp nghệ thuật Vì vậy, phim tài liệu truyền hình vừa thể hiện rõ nét tính chính luận và tính thời sự của báo chí, đồng thời vừa thể hiện ý đồ sắp đặt của tác giả theo hướng gia tăng tính sinh động, hấp dẫn của bộ phim
Từ điển bách khoa toàn thư Encartna (Mỹ) ở mục từ Documentaries cho
rằng: “Phim tài liệu truyền hình là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ
nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết” Phim tài liệu theo quan điểm này liên quan chặt chẽ với mọi mặt của
đời sống xã hội, từ lịch sử, văn hóa, chính trị cho tới thế giới tự nhiên
Trong giáo trình Nghệ thuật điện ảnh, David Bordwell và Kristin Thompson,
thuộc Trường Đại học Wisconsin, định nghĩa: “Phim tài liệu là một tác phẩm chứa
đựng trong nội dung của nó những thông tin chân thực về thế giới bên ngoài” Định
nghĩa này cũng nhấn mạnh vào tính chân thực của phim tài liệu truyền hình như Từ điển bách khoa toàn thư Encarta Tính chân thực được hai tác giả coi như đặc tính quan trọng nhất, quy định những đặc tính khác của phim tài liệu
Theo quan điểm của Andrew Britton - nhà nghiên cứu phê bình về điện ảnh –
ông cho rằng: trước hết, một bộ phim tài liệu có giá trị phải phản ánh được những góc
cạnh khác nhau của sự thực, một sự thực không đơn giản như chúng ta nhìn thấy mà
là một sự thực được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng Quan niệm
này của Andrew Britton đã thoát khỏi được tính tự nhiên chủ nghĩa mà nhiều nhà làm phim tài liệu phương Tây mắc phải Sự thực trong phim tài liệu phải được đặt trong bối cảnh đã sinh ra nó, nằm trong mối quan hệ biện chứng với những sự kiện, hiện tượng khác
Các thể loại phim tài liệu truyền hình
Phim tài liệu truyền hình với nguyên tắc hàng đầu là loại bỏ sự hư cấu, chất liệu của nó là những hình ảnh quay người thực, việc thực
Phim tài liệu truyền hình có thể chia làm ba nhóm: phim tài liệu chân dung, phim tài liệu ký sự ( phóng sự), phim tài liệu thời sự chính luận và nhằm vào ba đối tượng là: con người, sự kiện, vấn đề Cả ba nhóm thể loại này thường có sự giao thoa, hòa nhập và hỗ trợ lẫn nhau
Phim tài liệu chân dung
Đối tượng thể hiện chính là nhân vật có thực với đầy đủ số phận, tính cách trong cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, với con người, với bản thân mình Trong phim tài liệu chân dung, tác giả phải tôn trọng các sự kiện trong thời gian, không gian lịch sử, nhưng có quyền giới thiệu những nhân vật có thực ấy theo
Trang 1311cách nhìn và cách hiểu của riêng mình; việc hư cấu các chi tiết hoặc sự kiện của nhân vật, đôi khi có sự khác biệt thậm chí ngược hẳn lại với quan niệm đương thời.
Phim phóng sự tài liệu hay còn gọi là phim tài liệu ký sự
Phim phóng sự (ký sự) tài liệu hướng ống kính vào những đối tượng khác nhau và bố cục theo những cách thức khác nhau để làm nổi bật con người, sự kiện hay một vấn đề xã hội mang tính thời sự nhất Qua lời bình, tác giả dẫn giải, phân tích, đánh giá, bình luận theo quan điểm, cảm nghĩ của riêng mình
Hiện trong luận án nghiên cứu sinh tập trung khá nhiều phim tài liệu ký sự do chất liệu hiện có tại các đài truyền hình địa phương hay Trung ương Theo xu thế thời đại, sự tách biệt này không còn rõ ràng nữa mà gần như được pha trộn, tổng hợp nhằm đáp ứng được thị hiếu người xem, tăng sự thu hút, rating cao và dòng ký sự tài liệu về miền Tây Nam Bộ đang chiếm ưu thế và chiếm cảm tình khán giả vì sự gần gủi, chân thực và luôn có chất thơ trong đó
Phim tài liệu thời sự chính luận
Phim tài liệu thời sự chính luận thường phản ảnh một bối cảnh xã hội – kinh tế- văn hóa – chính trị nhất định ở thời điểm sự kiện xảy ra có dấn ấn và gây sự chú ý tác động nhất định đối với bối cảnh lịch sử xã hội đó hay công chúng nghe nhìn có thể sản xuất định kỳ hay đột xuất
Các yếu tố trong kịch bản phim tài liệu truyền hình
Lời bình
Lời bình thường được viết sau khi phim đã dựng xong và nhiều khi cũng do người khác viết chứ không phải tác giả kịch bản hay đạo diễn, nhưng ngay trong kịch bản cũng phải tính đến điều này
Đối thoại ( phỏng vấn)
Lời của các nhân vật (phát biểu, trả lời phỏng vấn, trao đổi với nhau…) và câu hỏi của tác giả trong những trường hợp cần thiết, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng không gì thay thế được vì tính xác thực, trực tiếp của nó
Phụ đề
Giới thiệu nhân vật, bối cảnh, không gian, thời gian, nguồn gốc, xuất xứ…của tư liệu trong các trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo tính chân thực, tránh sự hiểu lầm, suy diễn…
Thuyết sinh thái văn hóa gắn liền với tên tuổi của Julian Steward (1902-1972) nằm trong trào lưu tiến hóa đa tuyến như một hướng phát triển tách ra khỏi ảnh hưởng của quan điểm đặc thù luận lịch sử vốn chiếm ưu thế trong nhân học Mỹ vào nửa đầu thế kỷ XX
Trang 1412Theo Ngô Thị Phương Lan (2016), sự quan tâm của Steward đến yếu tố môi trường là chịu ảnh hưởng của các tiền bối trước đó như Clark Wissler (1870-1947) và
C Daryll Forde (1902-1973) vốn quan tâm đến sự tác động của môi trường đến văn hóa Clark Wissler qua tác phẩm Indians of the United States (1940) thao tác khái niệm vùng văn hóa (culture area) Mặc dù, Ông nhấn mạnh đến vai trò sáng tạo của văn hóa trong việc định hình các cách con người tương tác với môi trường vật chất và cho là có sự tương ứng giữa vùng văn hóa và vùng môi trường tự nhiên nhưng Ông vẫn cho là có một số yếu tố quyết định của tự nhiên đối với văn hóa Sinh thái văn hóa của Julian Steward tập trung vào sự thích nghi của các nền văn hóa riêng biệt với các môi trường cụ thể Như vậy, với hướng tiếp cận này, khái niệm thích nghi (adaptation)
là trung tâm của mối tương tác giữa con người và môi trường Thích nghi cho thấy tính chủ động của con người thông qua văn hóa để lựa chọn các khả năng mà môi trường cung cấp
Hướng tiếp cận lý thuyết này sẽ giúp lý giải tại sao con người ở những vùng đất khác nhau lại lựa chọn cách sống, cách ăn mặc hay phương tiện đi lại phù hợp với điều kiện sinh thái của họ Về mối quan hệ giữa thích nghi văn hóa với môi trường sông nước của cư dân Nam Bộ, Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Chính yếu tố nước
đã tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình”
Với đặc điểm là một vùng sông nước, vùng Tây Nam Bộ đã hình thành cho mình một lối sống rất riêng mang đậm tính thích nghi với đặc điểm sinh thái này Do vậy, với góc nhìn sinh thái văn hóa qua dữ liệu là các bộ phim tài liệu truyền hình, chúng tôi sẽ phân tích được các yếu tố thích nghi riêng biệt và đặc sắc này trên nhiều khía cạnh như vấn đề định cư, phân bố dân cư, phương thức sản xuất, văn hóa nghệ thuật …của Nam Bộ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về vùng đất Tây Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực Nam của Việt Nam, còn được gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ khu biệt hơn là miền Tây Nam Bộ (ngắn gọn theo cách gọi của người người Việt Nam là miền Tây) có 1 thành phố trực thuộc trung ương và 12 tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua thời gian; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo
bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù
sa phì nhiêu dọc theo ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên –
Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau
Đồng bằng này còn được hình thành từ dòng chảy sông Mê Công mang phù
sa bồi lắng Người dân Việt khi đến định cư đã có tập quán chọn các vị trí gần các vùng tập trung nước như hai bên bờ sông rạch, kênh mương, các vùng trũng chứa
Trang 1513nước hoặc vùng ven biển Nhờ nguồn nước dồi dào và trong lành, từ xưa đồng bằng sông Cửu Long được cả nước ví như vựa lúa, giỏ cá và rổ trái cây của đất nước.
Là vùng đất mới với lịch sử trên 300 năm, trong quá trình khai phá, vùng Tây Nam Bộ có những đặc thù về tự nhiên, lịch sử, xã hội Với cảnh trí thiên nhiên và môi trường sinh thái đa dạng, phức tạp, người dân Tây Nam Bộ đã lập nên những vùng quần cư, định cư với các tên gọi rất mộc mạc Đó là những “miệt giồng”, “miệt vườn”, “miệt cù lao”, “miệt kênh”, “miệt thứ”, “miệt trên”, “miệt dưới Mỗi “miệt” đều có những đặc điểm địa hình, kinh tế, dân cư riêng Hình thức cư trú của dân cư vùng lúa nổi cũng khá đặc biệt Họ tập trung ở ven sông, các trục lộ, trục kênh lớn, trên những nhà sàn Chuồng trâu bò cũng ở trên sàn cao Đồng ruộng xa nhà từ vài kilômét đến vài chục kilômét
Nghề trồng lúa nước gắn liền với lịch sử khai thác và phát triển đồng bằng sông Cửu Long Với một đồng bằng phẳng, có chế độ ngập lũ hàng năm lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên việc trồng lúa nước là hình thức sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên của khu vực này Đây được xem là vựa lúa lớn nhất nước với sản lượng lương thực hàng năm lên đến hàng triệu tấn, không những bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn cho xuất khẩu
Cùng với việc trồng lúa, cư dân Tây Nam Bộ ngay từ những ngày đầu khai khẩn vùng đất mới này đã biết lập vườn trồng cây ăn trái Vườn thường ở sát nơi cư trú, gần nhà Những vùng đất phù sa có nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu là địa bàn của các vườn tược, người ta gọi đó là miệt vườn hay văn minh miệt vườn
Ngoài những cây chính, người ta còn trồng xen một số loại cây khác hoặc trồng kiểu vườn tạp Một số nơi trong các nhà vườn, trên cao là dừa, rồi đến cây ăn trái, kết hợp với các thùng ong, trồng nấm, rau xanh, chuồng heo, dưới mương là tôm càng xanh, cá
Hệ thống sông rạch chằng chịt, đồng bằng Tây Nam Bộ là môi trường lý tưởng cho việc chăn nuôi vịt Cá là nguồn sản vật phong phú, dồi dào ở Tây Nam Bộ, gần như chỗ nào có nước là có cá Ngoài sông Tiền, sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long còn có diện tích mặt nước kênh rạch, ao hồ, đồng ruộng mông mênh cho cá tôm sinh sống, phát triển Hàng năm, cá tôm từ Biển Hồ (Campuchia) theo mùa nước tràn
về đồng bằng sông Cửu Long; các bưng, bàu, đìa, ao, hồ, ruộng đều ngập trong lũ Các loài cá đen, cá trắng lên đồng ruộng sinh đẻ và tăng trưởng nhanh nhờ nguồn thức
ăn dồi dào
Song song với việc đánh bắt, để làm giàu nguồn lợi thủy sản, người dân đồng bằng sông Cửu Long đã biết nuôi trồng các loại thủy sản bằng những phương cách sáng tạo
Với hệ thống sông rạch chằng chịt, dọc ngang, giao thông chủ yếu bằng đường thuỷ, diện mạo văn hóa tinh thần gắn bó rất chặt chẽ với đời sống sông nước, biểu hiện cụ thể qua số từ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến nước ở vùng đất này rất phong phú, đa dạng Nó bao gồm những từ trong tiếng Việt phổ thông và những từ riêng trong phương ngữ Tây Nam Bộ
Trang 161.2.2 Quá trình phát triển truyền hình của Việt Nam
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phim tài liệu Việt Nam đã phát triển mạnh ở cả hai miền Nam – Bắc, phản ánh kịp thời thực tế chiến đấu, sản xuất ở chiến trường lớn cũng như ở hậu phương, góp phần vào thắng lợi năm 1975 Sau khi đất nước thống nhất, phim tài liệu chuyển dần sang hình thức phát sóng trên các đài truyền hình, phản ảnh những sự việc, sự kiện xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới
Từ 1954 đến 1983, phim tài liệu Việt Nam giành được 46 giải Bông sen vàng,
71 Bông sen bạc trong các liên hoan phim quốc gia, 15 Huy chương vàng, 7 Huy chương bạc trong các liên hoan phim quốc tế Trong đó có nhiều phim tài liệu truyền hình ý nghĩa, góp phần vào xây dựng hàng trăm phim tài liệu của điện ảnh Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, phim tài liệu truyền hình trở thành món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu được của đại chúng, đóng góp đắc lực vào sự nghiệp nâng cao dân trí và đấu tranh tư tưởng
1.2.3 Quá trình phát triển phim tài liệu truyền hình phản ánh văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
Phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ thực sự phát triển sau năm 1975 Bên cạnh mảng đề tài về cuộc sống và chiến đấu của nhân dân hai miền, mảng đề tài mới về cuộc sống cư dân Nam Bộ, đặc biệt là Tây Nam Bộ được quan tâm sản xuất
Khoảng 10 năm sau chiến tranh, 26 tên phim về sông nước Tây Nam Bộ ra đời trong bộn bề khó khăn về kỹ thuật và phương tiện Với chừng đó bộ phim, cũng
có thể hình dung về một vùng văn hóa với mênh mang sông nước, những con người bình dị hiền hòa đang xây dựng cuộc sống trên cả bình diện vật chất và tinh thần
Thành tựu của dòng phim này chưa nhiều lắm nhưng cũng là sự ghi nhận sự
đóng góp của những nhà làm phim tài liệu Đó là các giải thưởng Bông sen bạc “Hạt
thóc vàng” (1983), Bông sen vàng “Cây lúa Tháp Mười” (1987), Giải A Liên hoan
phim môi trường châu Á- Thái Bình Dương phim “Giọt mật” (1987)
Từ những năm đầu 1990, cuộc sống của người dân khởi sắc và về kinh tế có nhiều cơ chế thuận lợi hơn, tạo đà cho sự phát triển Trong thời kỳ này số lượng các phim truyền hình về đề tài sông nước không tăng lên, chỉ có 14 bộ phim Tuy vậy, giai đoạn này chứng kiến một sự thay đổi về kỹ thuật Về nội dung, đề tài và mục đích làm phim cũng thể hiện một sự thay đổi và đột phá Trong 14 bộ phim giai đoạn này, có 4
bộ phim phản ánh về đời sống vật chất của cư dân Tây Nam Bộ, 2 bộ phim phản ánh đời sống tinh thần, 6 bộ phim có nội dung đan xen (vừa phản ánh đời sống vật chất và đời sống tinh thần), có 2 bộ phim cảnh báo về việc con người đang tàn phá, hủy hoại môi trường thiên nhiên trong quá trình khai thác và chinh phục của mình
Từ năm 2000 đến nay, chủ yếu bắt đầu từ 2005, thống kê cho thấy có khoảng
11 bộ phim tài liệu ký sự truyền hình, chủ yếu do Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh (TFS) sản xuất và một số đài truyền hình địa phương Tây Nam Bộ như Đài truyền hình Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang và Đài truyền hình Trung ương (VTV) Hơn nữa, ở đây số lượng không còn là quan trọng nữa mà kỹ thuật làm phim, quay phim, nội dung, thời lượng, nhà sản xuất, tất cả đều có một sự đổi mới ngoạn mục