Nền ngoại giao hiện đại do chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và phát triển đã trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam, góp phần to lớn vào việc kết hợp sức mạnh toàn dân tộc với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY
TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY
TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC và CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa Những kết luận khoa học trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 14
1.1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO 14
1.1.1 Khái niệm ngoại giao 14
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của ngoại giao 16
1.2 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 19
1.2.1 Điều kiện hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 19
1.2.2 Tiền đề hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 27
1.2.3 Nhân tố chủ quan trong việc hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 42
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 50
1.3.1 Thời kỳ quan sát, trải nghiệm, tích lũy tri thức và hình thành cơ bản tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh (1890 - 1930) 51
1.3.2 Thời kỳ phát triển, hoàn thiện và hiện thực hóa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong tiến trình cách mạng Việt Nam (1930 - 1969) 56
Kết luận chương 1 61
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 63
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 63
2.1.1 Mục tiêu và đường lối ngoại giao trong tư tưởng Hồ Chí Minh 63
2.1.2 Nguyên tắc và phương pháp ngoại giao trong tư tưởng Hồ Chí Minh 84
2.1.3 Sắp xếp và tổ chức lực lượng ngoại giao trong tư tưởng Hồ Chí Minh 100
2.2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH . 113
Trang 5giao Hồ Chí Minh 115 2.2.3 Tính nhân văn trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 117
Kết luận chương 2 121 Chương 3: SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 123 3.1 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 123
3.1.1.Vận dụng tư tưởng ngoại giao hồ chí minh trong quá trình xây dựng đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, bước đầu hội nhập quốc tế (1986 - 1995) 123 3.1.2.Vận dụng tư tưởng ngoại giao hồ chí minh trong quá trình phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (1996 - 2015)………126
3.2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 131
3.2.1 Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế 131 3.2.2 Thực hiện chủ động hội nhập quốc tế 134 3.2.3 Thực hiện kết hợp ngoại giao kinh tế với ngoại giao chính trị, ngoại giao văn hóa và ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân, đa dạng hóa các hình thức và chủ thể tham gia hoạt động ngoại giao… .137 3.2.4 Những thành tựu vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay ………139
Trang 6MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY………146
3.3.1 Bối cảnh quốc tế, tình hình trong nước tác động đến việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay………146
3.3.2 Những kinh nghiệm vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 156
Kết luận chương 3 163
KẾT LUẬN 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 180
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hết sức hào hùng và oanh liệt Trên thế giới, hiếm có dân tộc nào phải nhiều lần chống lại những kẻ thù xâm lược lớn mạnh nhất qua các thời đại như Việt Nam Sự thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống Tần, chống Nguyên Mông, chống thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ là những bằng chứng hùng hồn khẳng định dù phải đương đầu với những thế lực hung tàn và mạnh hơn gấp bội lần, nhưng dân tộc Việt Nam vẫn kiên cường chiến đấu và chiến thắng với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh Trải qua hơn hai mươi hai thế kỷ (tính từ cuộc kháng chiến chống Tần từ thế kỷ thứ III trước công nguyên đến thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975), nhân dân Việt Nam đã mất hơn quá nửa thời gian đấu tranh chống lại mọi kẻ thù xâm lược để bảo vệ non sông gấm vóc Để giữ vững được chủ quyền và độc lập dân tộc, chấn hưng và phát triển đất nước, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vận dụng sáng tạo nhiều hình thức đấu tranh trên mọi lĩnh vực Trong đó, đấu tranh ngoại giao luôn được chú trọng, ngoại giao được sử dụng như một vũ khí đặc biệt, cả trong thời chiến lẫn thời bình, cả trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm cũng như trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước Ngoại giao Việt Nam đã ghi nhiều dấu son chói lọi, trong đó, dấu son đẹp nhất, kết tinh đầy đủ nhất những giá trị truyền thống của dân tộc chính là nền ngoại giao trong thời đại Hồ Chí Minh Với vai trò đặc biệt, nền ngoại giao Việt Nam hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một mặt trận quan trọng, tích cực, chủ động Ngoại giao phối hợp chặt chẽ với các mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa… tạo thành sức mạnh tổng hợp để quân và dân cả nước viết nên những trang sử sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân tiến bộ trên thế giới
Trang 8Nền ngoại giao hiện đại do chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và phát triển đã trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam, góp phần to lớn vào việc kết hợp sức mạnh toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, là vũ khí quan trọng hàng đầu được sử dụng trong việc giữ vững nền dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam mới (năm 1945), là nhân tố tích cực thúc đẩy nhanh sự kết thúc thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954) và đế quốc Mỹ (1975), thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc, đưa
cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử với tầm vóc của một anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới, một nhà ngoại giao tài ba, tinh tế, hết sức khéo léo Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: “Bác Hồ là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, một nhà văn hóa của nhân loại Với các phẩm chất đó, Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà ngoại giao lớn của dân tộc”[31, tr.198] Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và cũng chính là người khai sinh và phát triển nền ngoại giao cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh xứng đáng là người thầy vĩ đại của ngành ngoại giao Việt Nam, là người dạy ngành ngoại giao Việt Nam hiện đại ngay từ buổi đầu tiên
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng và phức tạp Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang trở thành tất yếu, tạo ra những thời cơ thuận lợi mới nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ khó lường cho các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh phức tạp của thế giới, để Việt Nam phát triển và hội nhập thế giới một cách có hiệu quả cần phải tiến hành đổi mới toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đặc biệt là trên lĩnh vực ngoại giao Đổi mới để phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng
Trang 9trong thời kỳ mới, trong đó đổi mới và đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, lấy ngoại giao làm cầu nối giữa đất nước với thế giới, giữa dân tộc với thời đại, từng bước nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, để có cơ sở và nền tảng ngoại giao vững chắc cả về lý luận khoa học
và thực tiễn, chúng ta phải nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc tư tưởng
Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu tư tưởng ngoại giao của Người càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh không chỉ giúp chúng ta nâng cao nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn tư tưởng của Người, mà còn góp phần tìm hiểu, khai thác những cứ liệu khoa học để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định
chọn vấn đề: “Tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ
chuyên ngành triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ
hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, đồng thời là cơ sở lý luận định hướng cho việc hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng, nhà nước và nhân dân
ta Nhận thức sâu sắc giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nghiên cứu tư tưởng ngoại giao của Người Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học được công bố theo các hướng sau:
Một là, một số tác giả đã nghiên cứu, phân tích khái niệm tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh Về cơ bản, các tác giả cho rằng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của
Trang 10cách mạng Việt Nam; Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm
về đường lối chiến lược và sách lược, bao gồm mục tiêu, đối tượng, lực lượng,
tổ chức và phương pháp đối với các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và nhà nước ta Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao” (Học viện quan hệ quốc tế, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1990); “Những bài giảng về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh” (Nguyễn Khánh Bật, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2000); “Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Đinh Xuân Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” (Học viện quan hệ quốc tế, Nxb Lao động,
Hà Nội, 2002)
Hai là, nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến nguồn
gốc và quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Các công trình như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại một số nội dung cơ bản” (Đỗ Đức Hinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007); “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” (Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” (Vũ Dương Huân, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000); “Danh nhân Hồ Chí Minh - Cuộc đời và những sự kiện” (Trần Đình Huỳnh, Nxb, Hà Nội, Hà Nội, 2001); “Chủ tịch Hồ Chí Minh trí tuệ của nền ngoại giao hiện đại” (Nguyễn Phúc Luân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); “Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại Việt Nam” (Nguyễn Dy Niên, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh, 2003); “Tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại” (Phạm Thành Dung, Nxb Tổng Hợp, Hồ Chí Minh, 2003)
Các công trình trên đã phân tích về nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; đã cung cấp những kiến thức cơ bản về quãng đời thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, về ảnh hưởng của chủ nghĩa yêu nước, tinh hoa văn hóa dân tộc, về những yếu tố thực tiễn được Hồ Chí Minh thẩm
Trang 11thấu khi ở phương Tây đóng vai trò quan trọng hình thành nên tư tưởng ngoại giao của Người Các tác giả phân tích tương đối toàn diện và có hệ thống quá trình hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh qua các thời kỳ cách mạng của Việt Nam, nêu bật những đóng góp của Người trong việc nhận xét, đánh giá tình hình trong và ngoài nước, vạch ra đường lối, chính sách, phương pháp đấu tranh ngoại giao
Ba là, các nhà nghiên cứu đã khai thác những nội dung cơ bản của tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ở nhiều khía cạnh như chiến lược, sách lược ngoại giao, mục tiêu ngoại giao, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Trong
đó có những tác phẩm tiêu biểu:
Tác phẩm “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” (Nguyễn Dy Niên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) là công trình hết sức công phu và có giá trị Tác giả đã trình bày khái quát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, khái quát một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng ngoại giao của Người Đặc biệt, tác giả đã phân tích khá sâu sắc về phẩm chất, phong cách, phương pháp, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh Trong tác phẩm này, tác giả cũng chỉ ra những vấn đề mang tính thực tiễn cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng, phục vụ cho việc triển khai thắng lợi đường lối quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh quốc tế biến đổi phức tạp khôn lường
Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - một số nội dung cơ bản” (Đỗ Đức Hinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007), trong tác phẩm, tác giả
đề cập đến những quan điểm cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm xuyên suốt; hòa bình hữu nghị và hợp tác phát triển là quan điểm nền tảng; độc lập tự chủ dựa vào sức mình là chính, coi trọng hòa bình đối thoại là quan điểm cơ sở Toàn bộ nội dung tác phẩm phản ánh một cách khái quát, có hệ thống những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại, qua đó khẳng định
Trang 12tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh phản ánh sự vận động đi lên của cách mạng Việt Nam là phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhân loại thời điểm cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX
Cuốn sách “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” (Trần Thị Minh Tuyết,
Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016) Đây là một công trình nghiên cứu công phu của tác giả Trần Thị Minh Tuyết Cuốn sách đã trình bày
về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; tổng hợp, đánh giá, phân tích những khía cạnh khác nhau được biểu hiện trong tư tưởng ngoại giao của Người Từ đó làm nổi bật giá trị nhân văn mà Người thể hiện và muốn truyền thụ lại cho nhiều thế hệ người Việt Nam trong hành trình vươn ra biển lớn
Bài viết “Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh” (Vũ Dương Huân, Tạp chí
nghiên cứu Quốc Tế, số 1, 2009) Trong bài viết, tác giả đã khẳng định phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là nét riêng đặc sắc của Người trong hoạt động ngoại giao, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh có liên quan chặt chẽ, là một bộ phận không tách rời tư tưởng của Người về ngoại giao, là sự định hình của phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Tác giả đã phân tích những nét đặc trưng trong phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với việc phát triển công tác ngoại giao của Việt Nam đó là: kiên định về chiến lược, linh hoạt, uyển chuyển về sách lược nhưng quyết đoán và chủ động
Bên cạnh những công trình nổi bật nêu trên, còn có những công trình, bài viết như: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế” (Lê Văn Yên, Nxb Lao Động, Hà Nội, 1999); “Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt Pháp thời kỳ 1945-1946” (Lê Kim Hải (chủ biên), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004); “Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1954 đến 1969” (Trần Minh Trưởng, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2005); “Ngoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bạo” (Nguyễn Phúc Luân, Nxb Công an Nhân dân, Hà
Trang 13Nội, 2003); “Chủ tịch Hồ Chí Minh - dấu ấn trí tuệ trên mặt trận đối ngoại” (Nguyễn Phúc Luân, Nxb Công an Nhân Dân, Hà Nội, 2005)
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được nghiên cứu sâu và bao quát trên tất cả các lĩnh vực, trong đó ý nghĩa của tư tưởng này đối với cách mạng Việt Nam, cũng như sự kế thừa, vận dụng sáng tạo linh hoạt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế cũng được các tác giả dày công nghiên cứu Tiêu biểu có các công trình, bài viết như: “Tìm hiểu giá trị tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới” (Nguyễn Phúc Luân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thời đại” (Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nxb Lao động, Hà Nội, 2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới” (Đinh Xuân Lý, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005); “Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới” (Nhiều tác giả, Nxb Tổng hợp, Hồ Chí Minh, 2005)
Tác phẩm “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế” (Ban nghiên cứu lịch sử ngoại giao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009), đã tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu, phân tích, luận giải một số quan điểm trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh như: độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế, đảm bảo lợi ích dân tộc trong
xử lý quan hệ với các nước lớn,… Cuốn sách gồm ba phần: Phần I: Những vấn
đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế; Phần II: Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; Phần III: Vận dụng phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Vấn đề hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, cũng như những nhiệm vụ, phương hướng phát triển của ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ hội nhập cũng được nhiều tác giả tập
trung nghiên cứu Hướng nghiên cứu này được thể hiện ở những công trình như:
Trang 14“Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới” (Nguyễn Dy Niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007);
“Quan hệ kinh tế - văn hóa Việt Nam - Trung Quốc hiện trạng và triển vọng” (Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); “Quan hệ Việt - Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 - 2000) (Lê Văn Quang, Nxb Đại học Quốc Gia, Hồ Chí Minh, 2005); “Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam” (Trình Mưu, Nông Thế Lực, Năng Hoàng Giáp đồng chủ biên, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005); “Ngoại giao hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975 - 2002)” (Vũ Dương Huân chủ biên, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002); “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000); “Trí tuệ và bản lĩnh Hồ Chí Minh” (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005); “Việt Nam trong thế kỷ XX” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002),…
Nội dung chủ yếu mà các công trình trên đề cập là tình hình thế giới và tình hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc điểm mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới, những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam, cũng như những định hướng hoạt động cho ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Các tác giả cũng nêu lên những bài học kinh nghiệm về ngoại giao trên cơ sở
kế thừa và vận dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; khẳng định nguyên tắc nhất quán của ngoại giao Việt Nam như kiên trì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống chiến tranh xâm lược, thúc đẩy hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa các quốc gia; nêu bật những thành tựu ngoại giao trong thời kỳ mới như: tích cực, chủ động phá thế bị bao vây, cấm vận về kinh tế, chính trị, giải quyết
“vấn đề Campuchia”, bình thường hóa quan hệ Việt -Trung, bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, đẩy mạnh hội nhập quốc tế…
Tác phẩm “Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới” (Phạm Như Chanh, Phạm Văn Linh, Phạm Xuân Thâu (đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia,
Trang 15Hà Nội, 2005) Tác phẩm đã đề cập nhiều nội dung quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, tổ chức trong khu vực và trên thế giới với phương châm “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” Tác phẩm đề cập đến vai trò của ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền, giữ vững hòa bình, ổn định, cùng phát triển; đề cập đến quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng; với những nước lớn về tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh; với các nước đang phát triển và các tổ chức phi chính phủ đã ủng hộ Việt Nam trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và trong thời kỳ đổi mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội
Tác phẩm “Quá trình hội nhập khu vực châu Á - Thái Bình Dương theo đường lối đổi mới của Đảng” (Đinh Xuân Lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) Nội dung tác phẩm làm rõ sự đúng đắn trong quá trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng bước đưa Việt Nam hội nhập thành công vào khu vực Qua đó, tác phẩm cũng nêu bật được những thành tựu và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trên con đường hội nhập
Tác phẩm “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020” (Phạm Bình Minh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010) Đây là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài “Xu thế phát triển của cục diện thế giới đến năm 2020 và định hướng chiến lược đối ngoại của Việt Nam (KX.04.03/06-16) do tác giả Phạm Bình Minh làm chủ nhiệm Nội dung tác phẩm tập trung trình bày những vấn đề quan trọng như: lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam; trường phái ngoại giao Việt Nam, về độc lập, tự chủ hội nhập quốc tế, về lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại Việt Nam… Trong cuốn sách, nhóm tác giả cũng đã đưa ra một số đánh giá và kiến nghị khi nhìn lại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là hình ảnh, vị thế của Việt Nam sau mười lăm năm là thành viên của ASEAN, đề ra một số biện
Trang 16pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn song phương và đa phương
Bài viết “Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và đoàn kết quốc
tế” (Vũ Dương Ninh, Tạp chí Cộng sản, số 3, 2010) Bài viết đã đề cập đến
những vấn đề cơ bản trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay ở Việt Nam dưới ánh sáng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như: hội nhập và đoàn kết quốc
tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là Độc lập - Thống nhất - Chủ nghĩa xã hội; kiên định nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; hội nhập và đoàn kết quốc tế nhằm tiến tới việc xây dựng sự hợp tác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi; hội nhập và đoàn kết quốc
tế để “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn”; hội nhập và đoàn kết quốc tế phải dựa vào lực lượng nhân dân cũng như những lực lượng tiến bộ trên thế giới
Tháng 12 năm 2004, Vụ chính sách đối ngoại - Bộ ngoại giao hoàn thành
đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ “Tổng kết chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước ta qua 20 năm đổi mới” (Trần Đức Mậu chủ nhiệm) Đề tài tập hợp các báo cáo tổng kết của các Vụ thuộc Bộ ngoại giao
về chính sách và quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các đối tác chủ yếu Đề tài
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc định hướng phát triển cho ngoại giao Việt Nam thời kỳ mới
Nhìn chung, các công trình, bài viết đã tập trung nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ở những mảng chính như: Trình bày khái quát nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; khẳng định phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; nêu bật phương pháp, phương châm, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh; tái hiện sinh động cách ứng xử tinh tế, khéo léo của Hồ Chí Minh trong ngoại giao
Có thể nói, với những công trình đó, việc nghiên cứu tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh đã đạt được những thành công lớn, gợi mở nhiều hướng tiếp
Trang 17cận mới; trở thành những tài liệu quý phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và phát triển tư tưởng của Người trong tình hình thực tiễn ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, phần lớn các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động ngoại giao, hoạt động quốc tế mang tính thực tiễn của Người, hay chỉ tập trung nghiên cứu một mảng, một khía cạnh nhất định trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Do đó, ở góc độ triết học, tác giả luận án mong muốn góp phần làm rõ, sâu sắc thêm những nội dung của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đặc điểm cơ bản của tư tưởng đó, và làm rõ sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế đầy sôi động, chứa đựng nhiều biến đổi bất ngờ và phức tạp như hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Luận án phân tích và làm rõ: nội dung, đặc điểm cơ
bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ của luận án:
Thứ nhất, phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và thế giới cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những tiền đề ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; Khái quát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản và những đặc điểm nổi bật của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Thứ ba, phân tích sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu:
Nội dung, đặc điểm cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 18Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Cơ sở, quá trình hình thành, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh;
mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc; đặc điểm cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án: Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan, phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan
điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về ngoại giao
Phương pháp nghiên cứu của luận án:
Để thực hiện việc nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như: khái quát hóa, phương pháp văn bản học, phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, logic – lịch sử, so sánh - đối chiếu, lý luận kết hợp với thực tiễn…
Trong đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu về nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cũng như tìm hiểu về các sự kiện, hoạt động ngoại giao mà Hồ Chí Minh đã tiến hành Phương pháp logic tìm ra mối liên hệ, đặc điểm cũng như khía cạnh triết học của những nội dung trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, tác giả còn chú trọng đến phương pháp văn bản học để tìm hiểu, đọc các tác phẩm và bài viết của Hồ Chí Minh
Cách tiếp cận của luận án là cách tiếp cận khoa học liên ngành, trong đó, triết học, sử học là cơ bản
6 Cái mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, với việc nghiên cứu các nguồn tư liệu về quá trình hoạt động
Trang 19cách mạng nói chung và hoạt động ngoại giao nói riêng của Hồ Chí Minh, luận
án làm rõ đặc điểm tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Thứ hai, luận án khái quát tình hình Việt Nam và thế giới trong giai đoạn hiện nay; Làm rõ quá trình vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học của luận án: Luận án góp phần nâng cao nhận thức toàn
diện và sâu sắc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; khẳng định giá trị khoa học và yêu cầu khách quan của việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; là cơ sở lý luận và kim chỉ
nam cho hoạt động đối ngoại của Đảng, nhà nước và nhân dân ta
Ý nghĩa thực tiễn của luận án: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo,
phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, hoặc nghiên cứu chuyên sâu chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói
riêng
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 20Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
1.1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO
1.1.1 Khái niệm ngoại giao
Thuật ngữ “ngoại giao” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp là “diploma” Ở Hy lạp cổ đại, người ta trao cho sứ giả đi đàm phán với quốc gia khác giấy chứng nhận, giấy ủy quyền Sứ giả sẽ trao giấy đó cho người phụ trách công tác đối ngoại của nước tiếp nhận Giấy ủy quyền này được gọi là “diploma” Từ đó, xuất hiện từ “diplomacy” nghĩa là ngoại giao Tuy nhiên, bản thân thuật ngữ “ngoại giao” sau này mới được sử dụng Vào lúc giao thời giữa thế kỷ XVI -XVII, ở các nước phương Tây, bên cạnh Quân vương, trong triều đình đã hình thành một cơ quan chuyên trách về đối ngoại Nhiệm vụ của cơ quan này là trao đổi công văn, giữ quan hệ giữa các quân vương, tiếp đón các vị sứ giả, các đoàn đại biểu nước ngoài “Ngoại giao” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh vào năm 1645
Mặc dù xuất hiện từ rất lâu, song khái niệm ngoại giao đến nay vẫn được
hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Nhà ngoại giao, nhà báo người Anh Harold
Nicolson viết: “Trong ngôn ngữ nói, từ ngoại giao được sử dụng để ám chỉ nhiều nội dung rất khác nhau Nó được hiểu là quan hệ đối ngoại Trong trường hợp khác lại ngụ ý là đàm phán.Từ đó cũng được sử dụng để nói đến nhiệm vụ, hoạt động của cơ quan ở nước ngoài của Bộ Ngoại giao Cuối cùng, từ đó có nghĩa là khả năng đặc biệt khôn khéo trong đàm phán quốc tế và với nghĩa xấu là xảo quyệt trong thương lượng” [54, tr.16] Ông cũng cho rằng: ngoại giao, đó là việc tiến hành những quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, đó là cách mà các đại sứ, công sứ… dùng để điều chỉnh và tiến hành những quan hệ này Đó là công tác hoặc là nghệ thuật của nhà ngoại giao
Nhà nghiên cứu luật quốc tế người Bỉ, A Rivie cho rằng, ngoại giao là một
Trang 21khoa học và nghệ thuật của cơ quan đại diện quốc gia và trong việc đàm phán Với nghĩa rộng thì từ ngoại giao chỉ tổng thể các cơ quan đại diện của quốc gia,
kể cả Bộ ngoại giao hoặc là tổng thể các đại diện chính trị của họ
Trong Giáo trình môn ngoại giao, tác giả Garden khẳng định, với nghĩa
rộng “ngoại giao là khoa học về quan hệ đối ngoại”, còn theo nghĩa hẹp “ngoại giao là nghệ thuật đàm phán chính thức” [54, tr.17]
Từ điển nổi tiếng của Pháp Le Nouveau Petit Robert định nghĩa: “Ngoại giao
là hoạt động chính trị liên quan đến các mối quan hệ giữa các quốc gia: đại diện quyền lợi của một chính phủ ở nước ngoài, quản lý công việc quốc tế, hướng dẫn và tiến hành đàm phán giữa các quốc gia” [54, tr.17]
Theo nhà ngoại giao E Stow, tác giả cuốn Ngoại giao thực hành, thì “ngoại
giao là sự áp dụng trí tuệ và lịch thiệp vào việc tiến hành những quan hệ chính thức giữa các chính phủ các nước độc lập và đôi khi cả giữa những nước ấy với các nước chư hầu của họ” [54, tr.14] Từ điển Oxford của Anh viết: “Ngoại giao là tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ… sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao” [138, tr.14]
Đại từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô cho rằng: “Ngoại giao là hoạt
động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại của quốc gia, cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài” [14, tr.359] Nhà nghiên cứu ngoại giao Liên Xô - V.A Dorin nhấn mạnh yếu tố quyền lợi quốc gia Ông cho rằng ngoại giao là hoạt động của các cơ quan đối ngoại và của các đại diện quốc gia do quyền lợi của các giai cấp thống trị quyết định và bảo vệ những quyền lợi và lợi ích quốc gia bằng phương pháp hòa bình
Ở Việt Nam, nhận thức về ngoại giao cũng có nhiều ý kiến khác nhau Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2001 viết: “Ngoại giao là sự giao thiệp với nước
Trang 22ngoài để bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung” [135, tr.683]
Trong Giáo trình một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại giao, Học viện
quan hệ quốc tế Việt Nam viết: “Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền, là công tác đối ngoại của nhà nước, bảo
vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thế giới, góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung bằng con đường đàm phán và các
hình thức hòa bình khác” [49, tr.19-20] Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng cho
rằng ngoại giao là ngành khoa học mang tính tổng hợp, là hoạt động chính thức của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nước mình Bên cạnh đó, từ điển này cũng nêu ra các loại hình ngoại giao khác nhau như: ngoại giao nhân dân, ngoại giao pháo hạm, ngoại giao đôla, ngoại giao bóng bàn, ngoại giao không chính thức, ngoại giao chính thức…
Tóm lại, có thể hiểu thuật ngữ ngoại giao như sau: Ngoại giao là hoạt động của nhà nước, các cơ quan chuyên trách và nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách đối ngoại quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia; là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại quốc gia, là tổng thể những biện pháp phi quân sự, những phương pháp, những thủ thuật được sử dụng có tính đến điều kiện cụ thể và đặc điểm của yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời ngoại giao là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn, hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thỏa hiệp và đưa ra những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng và củng cố quan hệ quốc tế
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của ngoại giao
Nhận thức về ngoại giao được xem xét ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, với nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của ngoại giao:
Trang 23Một là, ngoại giao là hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại, là
phương tiện quan trọng nhất, công cụ đặc thù trong quan hệ chính trị quốc tế Nó
là phương tiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản của chính sách đối ngoại, được thực hiện bằng biện pháp hòa bình, thương lượng, đàm phán giữa các bên có lợi ích liên quan Chính sách đối ngoại là nền tảng của hoạt động ngoại giao nhà nước, phản ánh các yếu tố về đường lối, chủ trương, sách lược chính trị quốc tế của nhà nước, còn hoạt động ngoại giao là những hoạt động có tính cụ thể hóa các chính sách của nhà nước, làm sống động chính sách đối ngoại Vì vậy, tiến hành hoạt động ngoại giao yêu cầu sự nhạy bén, tâm lý và biết vận dụng thời cơ
để thực hiện chính sách đối ngoại
Hai là, ngoại giao được tiến hành trên cơ sở vị thế, sức mạnh quốc gia, các
yếu tố trong nước và tình hình chính trị quốc tế Bất kỳ quốc gia, nhà nước nào cũng phải tiến hành hoạt động ngoại giao nhằm nâng cao vị thế quốc gia, bảo vệ độc lập chủ quyền và an ninh của đất nước Muốn đạt được những mục tiêu đó, hoạt động ngoại giao phải xuất phát từ chế độ kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia và diễn biến của tình hình thế giới Trong đó, các yếu tố về kinh tế, văn hóa, dân tộc, tôn giáo có tác động trực tiếp đến chính sách đối ngoại của quốc gia nói chung và hoạt động ngoại giao nói riêng Đồng thời yếu tố bên trong cũng góp phần quan trọng trong việc đánh giá, nhìn nhận khả năng của quốc gia có thể đáp ứng như thế nào, đến mức độ nào những nhu cầu quốc tế Thêm vào đó, đời sống chính trị quốc tế luôn vận động, diễn biến phức tạp, đòi hỏi các quốc gia phải hết sức nhạy bén, kịp thời nắm bắt để có thể tiến hành ngoại giao một cách thuận lợi nhất Cuối cùng, hoạt động ngoại giao là một quá trình trao đổi giữa các quốc gia, nếu không có thực lực trong nước thì khó tranh thủ được những thuận lợi hoặc hạn chế các thách thức từ bên ngoài
Ba là, ngoại giao có thể được tiến hành thông qua nhiều chủ thể khác nhau
Các cơ quan nhà nước, các đảng phái, tổ chức chính trị xã hội, các chính khách, các tầng lớp nhân dân đều tham gia hoạt động ngoại giao Trong đó, quan điểm và
Trang 24hoạt động ngoại giao của đảng cầm quyền có vai trò quyết định, các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại và hoạt động của cán bộ làm công tác ngoại
giao nhà nước đóng vai trò quan trọng Từ điển Bách khoa Việt Nam viết:“Trước
kia ngoại giao là công việc của các bộ trưởng ngoại giao, các đại sứ hoặc các đặc phái viên Trong những thập niên gần đây, các vị đứng đầu quốc gia, đứng đầu chính phủ cũng làm công việc ngoại giao thông qua những cuộc gặp thượng đỉnh, những chuyến thăm chính thức, làm việc và đàm phán cấp cao Ngoại giao còn được tiến hành trong các hội nghị và gặp gỡ ngoại giao; chuẩn bị và ký kết các điều ước quốc tế hoặc văn kiện ngoại giao khác gồm hai hay nhiều bên, tham gia hoạt động của các tổ chức quốc tế và các cơ quan tổ chức này” [135, tr.119]
Bốn là, trong hoạt động ngoại giao, yếu tố con người đóng vai trò quyết
định Ngoại giao là một hoạt động đa chức năng, mặc dù chủ thể tiến hành ngoại giao có thể là nguyên thủ quốc gia, chính khách, các nhà ngoại giao chuyên nghiệp hay người dân thì ngoài những phẩm chất riêng thuộc về cá nhân vẫn phải tuân thủ những tiêu chuẩn chung như có kỹ năng giao tiếp, đạo đức, lòng tự hào, ý thức bảo vệ chủ quyền, thể diện của quốc gia Đặc biệt sự thành bại của hoạt động ngoại giao phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp Theo
Hồ Chí Minh, người làm ngoại giao nhất thiết phải có “lập trường tư tưởng vững vàng; tinh thần trách nhiệm cao, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng; biết bảo vệ danh dự dân tộc; phải hiểu biết nhiều, văn hóa phải cao, hiểu biết tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, chính sách nước ta và nước sở tại, tình hình thế giới; phải cẩn thận, khôn khéo, khiêm tốn, thận trọng và biết cảnh giác, giữ gìn bí mật quốc gia; nắm vững tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ; không ngừng rèn luyện, không ngừng học tập nâng cao kiến thức, trình độ mọi mặt, đặc biệt là ngoại ngữ; phải có ý thức tổ chức kỷ luật cao…” [46, tr.13]
Năm là, ngoại giao mang tính giai cấp sâu sắc, phục vụ cho lợi ích giai cấp
Nội dung, đường lối, nguyên tắc, mục đích, nhiệm vụ của ngoại giao do chế độ
xã hội của quốc gia, lợi ích của giai cấp cầm quyền quyết định Chẳng hạn, đối
Trang 25với các nước tư bản phát triển, với mục tiêu bảo vệ và phát triển lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền, chính phủ các nước này tiến hành ngoại giao theo khuynh hướng tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và sẵn sàng can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí xâm lược các nước khác Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu đẩy mạnh hợp tác kinh tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, các nước này tiến hành hoạt động ngoại giao trên tinh thần hòa bình, hữu nghị, đoàn kết quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia Đối với các nước đang phát triển, do nhu cầu lớn về vốn và khoa học công nghệ,
họ tăng cường hợp tác với các nước công nghiệp phát triển, nhưng tìm mọi biện pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia, hạn chế sự phụ thuộc về chính trị
1.2 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
1.2.1 Điều kiện hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Thứ nhất, tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Giữa thế kỷ thứ XIX, ở phần lớn các nước Phương Tây, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và giữ vai trò thống trị trong nền kinh tế Ở các nước này, giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh, không ngừng tăng cường áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, gây ra mâu thuẫn đối kháng không thể dung hòa
giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa, việc hình thành các công ty cổ phần, sự ra đời của các tổ chức độc quyền… là những tiền đề và điều kiện thúc đẩy chủ nghĩa tư bản thế giới nhanh chóng chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chứng tỏ nhu cầu về thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, nhu cầu tìm kiếm nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ mạt
Trang 26luôn là những vấn đề đặt ra hàng đầu của các nước đế quốc Mặt khác, do thèm khát lợi nhuận siêu ngạch đã thúc đẩy tư bản độc quyền tăng cường bành trướng
ra nước ngoài bằng cách ra sức xâm chiếm thuộc địa Kết quả là “9 nước với tổng số dân 320.657.000 người và với diện tích 11.407.600 km vuông bóc lột các nước thuộc địa gồm hàng trăm dân tộc với số dân 560.193.000 người và với diện tích 55.637.000 km vuông Toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của các chính quốc, còn số dân của các chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa”[81, tr.299]
Tình cảnh người dân thuộc địa vô cùng bi đát Nhân dân thuộc địa bị tước hết những giá trị văn hóa, tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội,… Mạng sống của người dân thuộc địa “không đáng một trinh” [81, tr.113] Họ không ngừng đứng lên chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc Ngay từ đầu thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển mạnh
mẽ và liên tục, xu hướng đòi độc lập dân tộc, tự do, tự chủ thể hiện ngày một rõ nét Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới, trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân Điển hình là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ápganixtan, Inđônêxia, v.v… Bão táp cách mạng với “phương Đông thức tỉnh” là nét đặc sắc của tình hình thế giới trong giai đoạn này
Nổi bật là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn, cuộc cách mạng đã lật đổ chế độ quân chủ phong kiến mấy nghìn năm thống trị tại Trung Quốc, thiết lập nên nhà nước cộng hòa đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Đối với thế giới và khu vực, Cách mạng Tân Hợi với cơ sở lý luận là Chủ nghĩa Tam dân đã được V.I Lênin đánh giá như một trong những sự kiện làm “thức tỉnh Châu Á”, “một nhân tố tiến bộ lớn” đối với Châu Á và đối với loài người Đối với Việt Nam, Cách mạng Tân Hợi và Chủ nghĩa Tam dân có ảnh hưởng quan trọng đến các nhà yêu nước Việt Nam đầu thế
Trang 27kỷ XX, giúp họ nhận thức được sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa muốn đi đến thắng lợi không thể chiến đấu đơn độc mà phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng là thời kỳ mà các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển mạnh mẽ Cách mạng 1905 ở Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á là những minh chứng sống động cho thời kỳ chuyển biến hết sức phức tạp này Những mâu thuẫn lớn của thời đại ngày càng trở nên sâu sắc đã tích tụ lại tạo thành thời kỳ bão táp cách mạng những năm đầu thế kỷ XX Mở đầu thời kỳ này là thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Cuộc cách mạng vĩ đại mở ra cho nhân loại một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Sự kiện này cũng làm nảy sinh mâu thuẫn mới của thời đại - mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới
Thành công của cách mạng tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên khắp thế giới, đặc biệt là ở châu Á Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc
mê hàng thế kỷ nay Cách mạng tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [88, tr.562]
Ở Việt Nam, từ khi biết đến sự thắng lợi của cách mạng tháng Mười, đến nhà nước Xôviết, thì từ các chí sĩ yêu nước đến toàn thể nhân dân Việt Nam đã
có sự tỉnh ngộ và hướng về nước Nga, bắt đầu dần dần có sự chuyển biến về tư tưởng, đường lối và phương pháp đấu tranh chống thực dân, đế quốc
Mặt khác, trong thời kỳ này học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa cộng sản không còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu”, mà đã trở thành hiện thực khi cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi vang dội đưa nước Nga trở thành nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới Tiếp đó, năm 1919, Quốc tế III được thành lập đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản
Trang 28và công nhân quốc tế đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và những trào lưu phi mácxit; đã cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ các phong trào yêu nước và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam
Hơn ba mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn bể, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở Phương Tây, những sự kiện lịch sử quan trọng của thế giới đã tác động đến quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh, tạo cơ sở góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nói chung
và về ngoại giao nói riêng Chính “trong quá trình quan sát, phân tích các diễn biến của chính trị quốc tế và ngoại giao thế giới trong khoảng giữa hai cuộc chiến tranh thế giới nửa đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm ngoại giao quý báu” [5, tr.156]
Thứ hai, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam bằng “những phát đại bác” bắn vào Đà Nẵng Triều đình Nguyễn đang trên đà suy tàn đã bất lực, không đương đầu nổi với thực dân Pháp Vua Tự Đức từng bước nhượng bộ, cuối cùng đầu hàng và dâng nước ta cho giặc Sự nhu nhược của triều Nguyễn khiến đất nước Việt Nam chìm trong đêm tối, nhân dân Việt Nam bị mất độc lập,
tự do ngay trên lãnh thổ của mình, phải chịu sự đô hộ của thực dân Pháp về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Các giao thiệp với bên ngoài của Việt Nam đều do phủ toàn quyền Pháp ở Đông Dương phụ trách Xã hội Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp rơi vào tình hình đen tối “không có lối ra” Nhân dân Việt Nam dưới sự nô dịch của thực dân Pháp không những mất đi quyền sống mà còn mất mọi quyền tự do, quyền làm người cơ bản Chế độ thực dân đã giam hãm người Việt Nam trong một khuôn khổ chật hẹp đến ngạt thở
“Toàn thể nhân dân đau khổ vì sự bóc lột…thuế má và tạp dịch tăng lên Ruộng đất nhiều làng bị bọn địa chủ và chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt Chính sách của Pháp gây ra nạn đói để làm cho nông dân bần cùng Giai cấp tư sản và giai cấp
Trang 29tiểu tư sản Việt Nam bị nghẹt thở vì sự áp bức nặng nề của tư bản thuộc địa” [123, tr.76]
Sang đầu thế kỷ XX, sau khi đã cơ bản hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch khai thác thuộc địa, nhằm bóc lột, vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam Dưới chế độ bóc lột và thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi
Về kinh tế, Pháp thi hành chính sách kinh tế thực dân, dùng thủ đoạn độc
quyền kinh tế, độc quyền kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, độc quyền khai thác các mỏ có trữ lượng khoáng sản lớn, độc quyền xuất nhập khẩu, độc quyền muối, rượu, thuốc phiện…Hồ Chí Minh viết: “Chính sách phản động nhất của đế quốc Pháp là độc quyền về kinh tế, độc quyền thương nghiệp, độc quyền cho vay và kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng lạc hậu Do chính sách độc quyền đó, 50% nông dân Việt Nam không có ruộng” [82, tr.348] Thực dân Pháp tìm mọi cách vơ vét cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sức người, sức của; áp dụng chế độ thuế khóa vô cùng nặng nề và hết sức phi lý, “thuế má không những nặng oằn lưng mà còn luôn luôn thay đổi” [82, tr.82]; duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa để bóc lột nhân dân Việt Nam Chính sách kinh tế của thực dân Pháp đã dẫn tới kết quả tất yếu là kinh tế Việt Nam phát triển một cách què quặt, trì trệ, đời sống nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa
Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách chính trị chuyên chế thông
qua bộ máy cai trị dựa trên bạo lực và câu kết với bọn địa chủ phong kiến, tay sai bán nước; cai trị trực tiếp bằng bộ máy công chức chuyên nghiệp người Pháp, thâu tóm mọi quyền hành Thông qua việc thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia nước Việt Nam thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ Mỗi kỳ
có một chế độ thống trị riêng, một viên quan người Pháp cai quản riêng Vua quan nhà Nguyễn chỉ là “tượng gỗ”, không có thực quyền Nhận định về chính sách “chia để trị”, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề
Trang 30thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế, mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm xẻ bảy Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người
ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại”, lập nên một “Liên bang” gọi
là Liên bang Đông Dương” [82, tr.125]
Với chính sách chuyên chế về chính trị của thực dân Pháp - một chính sách rất cực đoan và phi lý, người dân bản xứ có thể bị bắt bớ, giam giữ bất cứ lúc nào, họ không có quyền hội họp quá số 20 người, “không có quyền tự do báo chí
và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có… không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài…phải sống trong cảnh tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” [81, tr.35] Dưới chế độ thực dân, người Việt Nam bị bóp nghẹt trong sự bất lực và tủi nhục cùng cực
Về văn hóa - xã hội, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nô dịch, lập
nhà tù nhiều hơn trường học, đầu độc nhân dân ta bằng rượu, thuốc phiện, gây tâm
lý vong bản tự ti, phát triển mê tín dị đoan… nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp, phục hồi những mặt lạc hậu và phản động trong văn hóa phong kiến, ngăn chặn mọi ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra sự thâm độc của thực dân Pháp: “Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” [82, tr.108] Thực dân Pháp dung túng cho các tệ nạn xã hội: cờ bạc, mại dâm… Chúng còn gieo rắc tư tưởng sùng bái nước Pháp, coi nước Pháp là “mẫu quốc”, là nước đi khai hóa văn minh, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao để lôi cuốn nhân dân
ta, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên ru ngủ họ quên đi nỗi nhục mất nước Cùng với việc hạn chế và đi tới thủ tiêu Nho giáo, thực dân Pháp đào tạo những
Trang 31người “Tây học” để phục vụ bộ máy thống trị của chúng Xã hội Việt Nam bị trì trệ hàng bao thế kỷ tiếp tục bị đắm chìm trong vòng tối tăm, lạc hậu
Chính sách áp bức thống trị tàn bạo của thực dân Pháp cũng đã làm cho xã hội Việt Nam thay đổi rõ rệt, kết cấu giai cấp của xã hội thay đổi, bên cạnh những giai cấp đã tồn tại trước đó đã có sự phân hóa, dẫn đến việc xuất hiện một
số giai cấp, tầng lớp mới với những thái độ chính trị không đồng nhất
Ngay khi thực dân Pháp đặt chân lên mảnh đất Việt Nam, trái với thái độ hèn nhát, nhu nhược của nhà Nguyễn, nhân dân Việt Nam với tinh thần anh dũng và ý chí quật cường đã liên tiếp đứng lên chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập, tự do
Thời kỳ đầu sau khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, xuất hiện các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân Đồng thời đã xuất hiện phong trào canh tân của một số quan lại và sĩ phu thức thời Họ đưa ra nhiều đề nghị đổi mới về nội trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự và ngoại giao nhằm chấn hưng đất nước Tiêu biểu là đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… Tuy nhiên, mọi cải cách và tư duy đổi mới của những nhà cách tân không mang lại kết quả
Từ năm 1885- 1895, phong trào Cần Vương phát triển mạnh mẽ và rộng khắp Đỉnh cao của phong trào là cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng Cùng với phong trào Cần Vương còn có những cuộc đấu tranh mang tính chất tự vệ ở các địa phương, tiêu biểu và rộng lớn hơn cả là cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy
Dù phát triển rầm rộ và liên tục với lòng yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc, nhưng cuối cùng các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man
và phải gánh chịu những thất bại nặng nề Nguyên nhân thất bại chủ yếu của các phong trào này là do chưa có đường lối cứu nước đúng đắn và phù hợp
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cũng là thời gian mà các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản như “một luồng gió mới từ bên ngoài thổi vào nước ta” Cách
Trang 32mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, tư tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, tư tưởng dân tộc, dân quyền của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, đặc biệt là thành công của cuộc cải cách Minh trị ở Nhật Bản đã có tác động nhất định đến một số nhà yêu nước Việt Nam Trong số đó có người đã từ bỏ thái độ hoài cổ nên đã hướng ra bên ngoài để tìm con đường giải phóng dân tộc Chẳng hạn, Phan Bội Châu “xuất dương cầu viện”, mong muốn nhờ sự giúp đỡ của Nhật Bản để đánh Pháp Ông muốn “tìm trong tính năng động của các nước châu Á những điểm tựa cho một hành động chung mà từ đó có thể đưa tới độc lập của Việt Nam” [128, tr.155] Phan Chu Trinh chủ trương “đi tìm ở châu Âu những nguồn văn hóa và
kỹ thuật của công cuộc đổi mới” [128, tr.155] Tuy nhiên, cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đều thất bại do đều tư duy trên cơ sở dựa vào đế quốc bên ngoài
để giải phóng dân tộc, nên cách đi, hướng đi của họ đã không đem lại thành công Cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam lâm vào tình cảnh khó khăn và bế tắc Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối và càng trở nên khó khăn hơn vì phải chống cả hai kẻ thù đế quốc và phong kiến Lúc bấy giờ sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, cho mọi người dân yêu nước Việt Nam phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn để cứu nhân dân thoát khỏi ách thống trị của thực dân và tay sai, phong kiến
Trong bối cảnh lịch sử đầy rối ren và đen tối ấy, Hồ Chí Minh xuất hiện như một vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam Được sinh ra và lớn lên trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống yêu nước, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được sứ mệnh lịch sử trọng đại mà dân tộc phó thác Khác với các bậc tiền bối,
Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề xướng đường lối giải phóng dân tộc kiểu mới hoàn toàn đúng đắn và hợp lòng dân Hồ Chí Minh từng bước đặt cơ sở cho quan
hệ quốc tế của Việt Nam với nhân dân tiến bộ và các phong trào cộng sản trên thế giới, đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ khắng khít với cách mạng thế giới Người “đã xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử với những tư
Trang 33tưởng và ý kiến đúng” [52, tr.35] Chính vì vậy mà Người đã làm ra lịch sử và trở thành vĩ đại
Tóm lại, những chuyển biến sâu sắc của bối cảnh thế giới và tình hình chính trị xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đã có tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh trong việc nhận thức về mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam với các quốc gia, dân tộc khác trên thế giới Những nhận thức mới và đúng đắn đó đã góp phần quan trọng trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, về mối quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới
1.2.2 Tiền đề hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Thứ nhất là, truyền thống ngoại giao của dân tộc Việt Nam
Việt Nam là nước vừa có vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế vừa có vị trí địa - chính trị chiến lược đặc biệt ở Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương, là cửa ngõ đi vào Đông Nam Á nói riêng và Đông Á nói chung, phía Bắc giáp với Trung Quốc rộng lớn, phía Tây và Tây Nam giáp với Lào, Campuchia, phía Đông và Nam nhìn ra biển Thái Bình Dương Vị trí địa lý thuận lợi giúp nước ta dễ dàng giao thiệp với bên ngoài, sớm có điều kiện tiếp xúc với các nước láng giềng và các nước phương Tây
Tuy nhiên, những sự tiếp xúc cũng như những mối quan hệ của dân tộc ta với các dân tộc đó không phải lúc nào cũng yên bình, phẳng lặng Có những khoảng thời gian rất dài nước ta bị xâm lược, nền độc lập, chủ quyền rơi vào tay những thế lực hung bạo Trong hoàn cảnh như vậy, ngoại giao đã góp phần không nhỏ vào việc giành lại và bảo vệ quyền lợi quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đồng thời củng cố hòa bình và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Ngoại giao Việt Nam đã có quá trình hình thành, phát triển lâu dài và định hình được những nét đặc sắc riêng biệt
Trước hết là tinh thần hòa hiếu, nhân nghĩa, trọng hòa bình Đây là triết lý
và là bản chất của truyền thống ngoại giao dân tộc
Trang 34Trong ứng xử, người Việt Nam rất khéo léo vận dụng triết lý nhu đạo với phương châm “nước chảy đá mòn”, vừa cương lại vừa nhu, rất uyển chuyển, linh hoạt Trong quan hệ bang giao với các quốc gia khác, Việt Nam luôn bày tỏ sự hòa hiếu, tôn trọng lẫn nhau, luôn ứng xử khiêm nhường, nhã nhặn và mềm dẻo Ngay cả khi buộc phải tiến hành chiến tranh để đánh đuổi kẻ thù bạo ngược, ông cha ta cũng luôn tìm cách giải quyết cuộc xung đột bằng con đường hòa bình, thương lượng Đặt lợi ích của toàn dân tộc, hòa bình cho đất nước và cuộc sống của nhân dân lên trên hết Cho nên trong nhiều trường hợp, ngay cả khi cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân giành thắng lợi, các triều đại Việt Nam vẫn sẵn sàng dâng sớ cầu hòa, thậm chí còn chấp nhận tước phong của các triều đại phong kiến phương Bắc Có thể thấy điều này trong hành động của
Lý Thường Kiệt sau khi đánh bại quân Tống ở sông Như Nguyệt, ông đã chủ động cử sứ sang doanh trại giặc đề nghị hạ chiếu rút lui đại binh về nước thì ta
sẽ lập tức sang “tạ tội” và tu cống Cách đối ứng của Lý Thường Kiệt đã có tác dụng quan trọng trong việc tạo lập hòa hiếu giữa hai bên
Việc giữ cho đất nước tạm yên trong hai mươi lăm năm hòa hoãn của nhà Trần cũng thể hiện rõ tầm vóc và thiện chí hòa hảo của ngoại giao Đại Việt Sau
ba lần đại thắng quân Nguyên - Mông lừng lẫy, chúng ta hoàn toàn có thể đứng trên tư thế của người chiến thắng, nhưng nhà Trần vẫn chủ động cử sứ đi hòa giải và chịu cống lễ để giang sơn mãi mãi “vững âu vàng” Sự tài tình trong ứng
xử ngoại giao của nhà Trần đã góp phần làm tan rã hoàn toàn ý đồ xâm lược của nhà Nguyên, kết thúc chiến tranh và khôi phục hòa hiếu giữa hai nước
Tư tưởng hòa hiếu một lần nữa được nêu cao trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn Những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa luôn mong muốn “giữ hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” [43, tr.26], cho nên dù chiến thắng vẻ vang, Lê Lợi vẫn sai người sang cầu hòa viếng thăm, tặng vật phẩm để xây dựng quan hệ bang giao với nhà Minh
Đến thời Quang Trung - Nguyễn Huệ, dù quyết tâm “đánh cho sử tri nam
Trang 35quốc anh hùng chi hữu chủ” [63, tr.353] nhưng trước khi đánh giặc và cả sau khi
đã thắng giặc, Quang Trung đều tính ngay tới việc giao hòa với nhà Thanh để dẹp “nỗi hờn rửa nhục” của họ Ông nói cùng các quan văn võ và ba quân ở núi Tam Điệp: “Chỉ mười ngày nữa thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh Song lẽ ra
ta nghĩ nước Thanh lớn hơn nước ta mười lần Thanh bị thua rồi tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn Nếu cứ để binh lửa kéo dài, mãi không yên ổn, thật không phải là phúc cho dân, lòng ta sao nỡ? Nên chỉ sau khi chiến thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa chiến tranh” [98, tr.361] Đúc kết lịch sử bang giao của dân tộc, nhà sử học Phan Huy Chú khẳng định: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn, mà những khi ứng thù thì lại rất quan trọng, không thể xem thường” [45, tr.44]
Ngoại giao mềm dẻo, nhân nhượng nhưng có nguyên tắc là nét đặc sắc tiếp theo của truyền thống ngoại giao Việt Nam Sự mềm dẻo, uyển chuyển trong ngoại giao được thể hiện qua sách lược “trong xưng đế ngoài xưng vương”
Cụ thể, vào thế kỷ thứ X, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, trong thì xây dựng và củng cố chính quyền người Việt, nhưng bên ngoài chỉ tự nhận là “tiết độ sứ” - thay mặt nhà Đường cầm quyền ở Việt Nam
Đến triều đại của Ngô Quyền vẫn dùng niên hiệu của các hoàng đế Trung Hoa Thậm chí, Đinh Bộ Lĩnh khi lên ngôi Hoàng Đế mà vẫn chấp nhận sắc
phong Giao chỉ quận vương của nhà Tống để giữ yên thế nước Đinh Tiên
Hoàng cử con là Nam Việt Vương Đinh Liễn đi sứ sang Tống đặt mối bang giao
thành công Vua Tống phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao chỉ quận vương,
thừa nhận nền độc lập tự chủ của Đại Cồ Việt Lý Thường Kiệt sau khi đánh bại quân Tống ở sông Như Nguyệt, bề ngoài thì chấp nhận phạm vi quân Tống đã chiếm đóng tức là đất của nhà Tống nhưng bên trong lẳng lặng đánh úp quân Tống để thu hồi lại những đất đai đã bị chúng xâm chiếm
Có thể nói, sách lược “trong xưng đế, ngoài xưng vương” của ông cha không hề làm tổn hại các quyền lợi tối cao của dân tộc, mà còn tạo điều kiện
Trang 36thuận lợi cho nhân dân ta xây dựng lại đất nước, ổn định cuộc sống, tránh được nạn binh lửa liên miên, khôi phục quan hệ hòa hiếu giữa hai nước…“sách lược
nhu về ngoại giao của ta có tác dụng vớt vát phần nào thể diện của “thiên triều”,
ngăn chặn âm mưu phục thù và tiến tới đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược của địch” [50, tr.307]
Ngoại giao của nhà Trần là nghệ thuật ngoại giao khôn khéo, dù có những bước nhân nhượng tạm thời nhưng vẫn giữ nguyên nguyên tắc bất di bất dịch là giữ vững nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Quan hệ của nhà Trần với Nguyên - Mông đã tỏ rõ tầm vóc ngoại giao Đại Việt Về sách lược, nhà Trần vẫn luôn luôn tỏ ra tôn kính thiên triều, cử sứ bộ nộp cống đầy đủ, đều dặn, giữ lễ của nước nhỏ với nước lớn, thậm chí phải nhân nhượng Về nguyên tắc, nhà Trần kiên quyết giữ gìn nền độc lập, chủ quyền của dân tộc, nhân nhượng là để kéo dài thời gian hòa hoãn, có thời gian để đánh địch, hạn chế bước tiến của chúng
Các triều đại Việt Nam sau này vẫn tiếp thu tinh thần nhân nhượng có nguyên tắc của cha ông, dù tỏ vẻ có ý “thần phục” nhưng tuyệt đối không khuất phục, dù “bên ngoài giả thác hòa thân” nhưng “bên trong lò rèn chiến cụ” [52, tr.75] Tuy vẫn triều cống, nhận sắc phong nhưng nền độc lập, tự do thì không kẻ nào được xâm phạm đến Nguyên tắc này thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc của ngoại giao Đại Việt Trong ngoại giao, Việt Nam hết sức chú ý đến vấn đề thể diện của các nước lớn và luôn muốn giữ gìn sự hòa hiếu giữa các bên, nhưng khi
bị xâm lược thì chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu với tinh thần quật cường, bất khuất “Đối với những vấn đề thuộc về nguyên tắc, thái độ của ta là “cương” và đấu tranh ngoại giao rất kiên trì” [50, tr.306]
Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong ngoại giao với địch, ta cương quyết giữ vững nguyên tắc và cứng rắn cả trong hành động Kiên quyết đánh trả hành động xâm lược của địch trên mặt trận quân sự, trên lĩnh vực đấu tranh ngoại giao, ta cũng không ngừng tranh thủ thời cơ để tiến công mạnh quân thù Do đó, tinh thần chủ động tiến công cũng là một nét đặc sắc của truyền thống ngoại giao Việt Nam
Trang 37Trong đấu tranh chống kẻ thù, có khi phải tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng, nhưng về mặt ngoại giao, ta lại rất chủ động tiến công “Tiến công ngoại giao để giành ngọn cờ chính nghĩa, bóc trần các chiêu bài, luận điệu lừa bịp, mị dân của địch và che giấu những khó khăn, nhược điểm của ta, tạo ra một tình hình “hư hư thực thực” mà địch không tài nào đoán được” [50, tr.315] Tiến công ngoại giao còn làm cho địch chủ quan dẫn đến những sai lầm Khi thế lực của ta đã vững mạnh, tiến công ngoại giao nhằm làm suy sụp tinh thần chiến đấu
và đập tan ý chí xâm lược của địch Nhiều hoạt động ngoại giao của tổ tiên ta thể hiện tính chủ động và tiến công, nhất là khi địch bị thất bại trên chiến trường, ngoại giao chủ động đưa ra giải pháp để kết thúc chiến tranh và buộc kẻ thù phải chấp nhận Tinh thần đó bắt nguồn từ tinh thần bất khuất của dân tộc, từ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giữ nước và do có sức mạnh của thắng lợi quân
sự làm chỗ dựa Trên tinh thần đó, ngoại giao được sử dụng như một vũ khí sắc bén, đem lại thắng lợi to lớn cho dân tộc
Kế thừa truyền thống ngoại giao hòa hiếu của dân tộc, đặc biệt là cách ứng
xử tinh tế của ông cha trong quan hệ với các nước lớn, Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo là “phải nhìn cho rộng, phải suy cho kỹ” để biết người, biết mình, luôn làm chủ tình thế.Trong quan hệ với các nước lớn, Người luôn chủ trương tôn trọng và giữ thể diện cho nước lớn, đặc biệt là khi họ là nước bại trận Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo truyền thống hòa hiếu và nhân đạo của cha ông khi đánh thắng giặc ngoại xâm trong phương cách đối xử với quân Pháp thất trận Người căn dặn không nên sỉ nhục đối phương, vì như thế sẽ kích động tinh thần tự ái dân tộc Pháp Trong kháng chiến chống Mỹ, Người nêu chủ trương “trải thảm đỏ” hoặc “nhịp cầu vàng” để Mỹ rút quân về nước Người căn dặn phái đoàn ngoại giao của Việt Nam trước khi đàm phán tại Paris với Mỹ rằng: Mỹ là nước lớn, hiện đang đứng đầu thế giới tư bản Ta buộc Mỹ phải ngồi đàm phán, thương
Trang 38lượng với ta đã là một sự thất bại của Mỹ rồi Vì thế Bác yêu cầu là không được làm Mỹ mất mặt Phải tế nhị, khéo léo, lúc cương lúc nhu thì mới đạt kết quả Tóm lại, cội nguồn nhân nghĩa, hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, khoan dung của dân tộc là nền tảng vững chắc của ngoại giao Đại Việt vững vàng đương đầu với những thế lực ngoại xâm hung bạo Đó là nền ngoại giao chính nghĩa, nhân đạo, hòa bình Ngoại giao Việt Nam với những truyền thống cao đẹp đó trở thành một trong những tiền đề quan trọng trong việc hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đó là tư tưởng ngoại giao lấy hòa hiếu làm đầu, lấy nhân nghĩa thuyết phục làm chính
Thứ hai là, tinh hoa văn hóa ngoại giao Đông - Tây
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu, nghiên cứu và tiếp thu những mặt tích cực, tiến bộ của các luồng tư tưởng khác nhau trên thế giới Trí tuệ uyên bác của Người là sự kết tinh của những tinh hoa văn hóa nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây
Tinh hoa văn hóa ngoại giao của thế giới trước hết mà Hồ Chí Minh quan tâm khảo cứu thuộc về phương Đông, chủ yếu là văn hóa Trung Quốc Hồ Chí Minh rất am tường những tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử, binh pháp Tôn Tử,
tư tưởng “tam dân” của Tôn Trung Sơn, tư tưởng của Lương Khải Siêu, của các nhà thơ văn Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ,…
Được sinh ra trong gia đình Nho học, ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được học và chịu ảnh hưởng của Nho giáo Người nghiên cứu và vận dụng nhuần nhuyễn những điển tích, thành ngữ của Nho học Về phương diện ngoại giao, cụ thể là trong bang giao với các nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu sáng tạo và vận dụng thành công những kinh nghiệm quý báu từ các nhà tư tưởng Trung Quốc như tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “tọa sơn quan hổ đấu”, “dùng kế Câu Tiễn”, “lấy nhu thắng cương”, sử dụng đúng đắn “thời” và “thế”, coi trọng “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”… Chẳng hạn, vào năm 1946, trước khi lên đường sang Pháp, Người nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến” khi cụ Huỳnh Thúc Kháng hỏi ở
Trang 39nhà phải làm thế nào Không chỉ đối với các nhà Nho mà khi nói chuyện với các cán bộ ngoại giao, Hồ Chí Minh cũng kể lại những cách đối đáp ứng phó tài tình của các nhà ngoại giao Trung quốc thời chiến với mục đích giáo dục cán bộ ngoại giao
Không chỉ am tường điển tích, điển cố trong Nho giáo, Hồ Chí Minh còn thấm nhuần nhân sinh quan của học thuyết này Đó là tư tưởng về lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm, thật thà, ngay thẳng, biết yêu thương con người, những tư tưởng
về tu dưỡng bản thân, về đức khiêm tốn, tính hòa nhã, những quan điểm về thế giới đại đồng, về cách đối nhân xử thế Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quân tâm đến việc tu dưỡng đạo đức Người luôn tâm niệm phải “chính tâm tu thân”, Bác nói tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính các cơ quan trung ương, tháng 6 năm 1953: “Mọi người đều biết rõ ai là bạn, ai là thù trên thế giới, trong nước và trong mình Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù trên thế giới, muốn đánh thắng thực dân và phong kiến, địa chủ là kẻ thù trong nước thì trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình Phải “chính tâm
tu thân”… Đó là một tiến bộ” [88, tr.142]
Xét ở góc độ ngoại giao, trong Luận Ngữ, Khổng Tử cũng đề cập đến phẩm chất của người làm ngoại giao là phải biết giữ thể diện của đất nước, phải biết cách ứng xử Khổng Tử nêu rõ: “Hành kỷ hữu sỉ, sứ ư tứ phương, bất nhục quân mạng, khả vị sĩ hỷ” [11, tr.208] và “sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối; Tuy đa, diệc hề di vi” [11, tr.200], (Khi đi sứ đến các nước trong bốn phương, đừng làm nhục cái mạng lệnh mà nhà vua giao phó cho mình; như vậy có thể gọi là kẻ sĩ đó”, và “được phái đi sứ đến các nước trong bốn phương, nhưng tự mình chẳng có tài ứng đối, người ấy dầu học nhiều, nhưng có biết dùng tài học của mình chăng) Tiếp thu những tư tưởng của Khổng Tử, Hồ Chí Minh cho rằng: “Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về thế giới đại đồng” [123, tr.26] Khi nói chuyện với các cán bộ ngoại giao năm 1964, Bác có nhắc lại
Trang 40chuyện đi sứ ngày xưa của nước ta: Sứ thần khi đi sứ ở các nước khác phải làm sao “bất nhục quân diện”, nghĩa là đi sứ không được làm gì nhục đến vua mình Nếu làm được như thế thì thưởng, nếu làm sai thì bị giáng chức hoặc mất đầu Người căn dặn các cán bộ ngoại giao phải: “Có tư cách đạo đức tốt; phải thận trọng, cảnh giác và biết giữ bí mật; phải tự lực cánh sinh; phải học tiếng nước ngoài” [46, tr.13-14]
Nhìn chung, những tư tưởng tích cực của Nho giáo đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của Hồ Chí Minh, trở thành một trong những yếu tố nhân cách không những gây được thiện cảm với nhân dân và các nhà lãnh đạo Trung Quốc
mà còn với cả những người lần đầu tiên gặp Bác
Binh pháp Tôn Tử cũng được Hồ Chí Minh nghiên cứu và vận dụng linh hoạt Người viết: “Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay” [108, tr.66] Người rút ra bài học dùng ngoại giao
để thắng địch: “chưa biết mưu mô của các nước, thì chưa thể ngoại giao” [108, tr.66]
Nghiên cứu tư tưởng Tôn Trung Sơn về dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc, Người nhận thấy trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn có những điểm phù hợp với xu thế thời đại và có thể vận dụng được vào hoàn cảnh
Việt Nam Người kế thừa chọn lọc những yếu tố tích cực trong tư tưởng đó, và
đã vượt lên so với Tôn Trung Sơn về tinh thần chủ nghĩa vô sản quốc tế, xem cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới
Trong ngoại giao, Người nhận thấy Cương lĩnh cách mạng của Tôn Trung
Sơn là một cương lĩnh cải cách, “bao gồm những nội dung hết sức tiến bộ: một là,
chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt; hai là, đoàn kết các dân tộc bị
áp bức ở các nước thuộc địa và giai cấp vô sản quốc tế; ba là đồng tình với cách mạng Nga” [125, tr.279] Đặc biệt những tư tưởng về “chính sách liên Nga, liên Cộng”, “phù trợ công nông” và phương pháp tìm kiếm bạn đồng minh cả trong và ngoài nước của Tôn Văn cũng được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng trong quá