1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế biển kiên giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

229 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế phân tích tình hình phát triển kinh tế biển ở Chiết Giang, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cần tập trung để phát triển như: Nuôi dưỡng năng lực cạnh tranh cốt lõi của sự p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH BÌNH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN KIÊN GIANG

TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

NGUYỄN ĐÌNH BÌNH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN KIÊN GIANG

TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã chuyên ngành: 62.31.01.02

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Chí Hải

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn

Phản biện 3: TS Nguyễn Văn Sáng

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS Hoàng Thị Chỉnh

Phản biện độc lập 1: PGS.TS Nguyễn Duy Mậu

Phản biện độc lập 2: TS Lê Hùng

Tp Hồ Chí Minh năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được thu thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn chính thức hoặc từ tính toán của riêng tác giả Kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Đình Bình

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu kinh tế biển ở cấp độ quốc gia 5

1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể của kinh tế biển 10

nghiên cứu

18

Trang 5

2.1.2.2 Lý thuyết phát triển không cân đối hay các “cực tăng trưởng”

của A Hirschman, F Perrons và G Pestane de Bernis

32

2.1.2.3 Phát triển kinh tế theo “Vòng quay quốc tế có lợi” trong chuyển

dịch cơ cấu kinh tế ngành vùng duyên hải của Wang Jian

2.2.3.1 Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, phát

triển kinh tế biển là cơ sở để thúc đẩy phát triển kinh tế

47

2.2.3.2 Khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản 49

2.2.3.4 Đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền quốc gia 51

2.2.4.1 Tổng sản phẩm KT biển và đóng góp của nó vào nền kinh tế 53 2.2.4.2 Tạo việc làm và cơ cấu lao động đang làm việc trong kinh tế biển 54

Trang 6

2.2.4.3 Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu hàng xuất khẩu 55

2.2.4.5 Tính bền vững trong quá trình phát triển kinh tế biển – đảo 57 2.2.4.6 Hài hòa giữa phát triển kinh tế với an ninh chủ quyền biển - đảo

quốc gia

57

2.2.5.1 Nhóm nhân tố tạo tiền đề, điều kiện cho quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế biển

60

2.3.2 Quyết định của Thủ tướng chính phủ về phát triển kinh tế biển 69 2.3.3 Quyết định của UBND tỉnh Kiên Giang về phát triển kinh tế biển 71

2.4.2 Tác động của tiến trình hội nhập KT quốc tế đối với kinh tế biển 75

2.5 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển và bài học đối với Kiên Giang 77

2.5.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển kinh tế biển 78 2.5.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của Hải Phòng 79 2.5.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của tỉnh Đà Nẵng 80 2.5.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 81 2.5.3 Những bài học kinh nghiệm đối với Kiên Giang trong quá

trình phát triển kinh tế biển

82

Trang 7

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN KIÊN GIANG

TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.2.7.3 Liên kết quốc tế trong quá trình phát triển kinh tế biển 110

3.3.1 Nhóm nhân tố tạo tiền đề, điều kiện của quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế biển

111

3.4 Đánh giá chung về tình hình phát triển kinh tế biển Kiên

Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

119

Trang 8

tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

136

4.2.2.1 Định hướng phát triển kinh tế biển Kiên Giang thời gian tới 151

4.3 Giải pháp phát triển kinh tế biển ở Kiên Giang trong tiến

trình hội nhập kinh tế quốc tế

154

4.3.1.1 Thực hiện tốt công tác dự báo, xây dựng chiến lược khai thác

hiệu quả nguồn lợi biển

154

4.3.1.2 Khuyến khích thành phần kinh tế nhà nước phát triển 159

đại hóa kinh tế biển

160

4.3.2.2 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế biển - đảo 165

Trang 9

4.3.3.2 Phát triển khoa học công nghệ phục vụ kinh tế biển 171

4.3.5 Nhóm giải pháp phát triển các ngành kinh tế biển mũi nhọn 179

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHÁC CỦA TÁC

GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 Các chữ viết tắt tiếng Anh

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Cơ quan phát triển quốc tế Úc

giao

hành

Horse Power (tiếng Anh)

Mã lực của máy (tàu biển)

toàn của tàu tính bằng tấn

Commission for Asia and the Pacific

Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu

vực châu Á - Thái Bình Dương

Trang 11

FAO Food and Agriculture

Organization

Tổ chức nông lương thế giới

nghiệp tốt toàn cầu

vùng

vùng

Program

Chương trình Bảo vệ tổng hợp vùng ven biển

for Conservation of Nature

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên

Conventions and Event

Gặp gỡ, khen thưởng, hội nghị và

the Social Sciences

Phần mềm thống ke cho các ngành khoa học xã hội

Trang 12

TEU Twenty-foot equivalent units Đơn vị tiêu chuẩn 20 foot của

container

Bình Dương

Children's Emergency Fund

Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

dã trước những rủi ro

Environment and Development

Ủy ban môi trường thế giới và phát triển

2 Các chữ viết tắt tiếng Việt

Trang 13

KH-KT Khoa học kỹ thuật

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU

Biểu đồ 3.2 Giá trị sản suất ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang từ 1995 – 2016 89

Bảng 3.5 Đóng góp của ngành công nghiệp chế biến thủy sản giai đoạn

1995 – 2016

92

Bảng 3.7 Đóng góp của ngành du lịch biển Kiên Giang giai đoạn 1995 – 2016 94 Bảng 3.8 Tổng sản phẩm các ngành kinh tế hàng hải giai đoạn 1995 –

2016

97

Bảng 3.13 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển Kiên Giang 116 Bảng 3.14 Tỷ trọng kinh tế biển trong nền kinh tế giai đoạn 1995 – 2016 121

Bảng 3.15 Tỷ trọng lao động các ngành kinh tế biển tỉnh Kiên Giang giai

đoạn 1995 – 2016

122

Bảng 3.16 Giá trị và cơ cấu xuất khẩu các ngành kinh tế biển tỉnh Kiên

Giang giai đoạn 1995 – 2016

123

Bảng 3.18 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế biển Kiên Giang giai

đoạn 1995–2016

125

Biểu đồ 3.19 Thu nhập bình quân đầu người vùng ven biển, hải đảo và toàn

tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1995 – 2016

127

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương, thế kỷ con người hướng ra biển và làm giàu

từ biển Biển không chỉ cung cấp nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú, phục vụ cho các ngành công nghiệp, biển còn là huyết mạch của giao thương quốc tế Phát triển kinh tế biển không chỉ tạo nên những hiệu ứng thông qua việc thu hút đầu tư, tạo việc làm, thúc đẩy kinh tế phát triển, mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn về kinh tế biển Với bờ biển dài trên 3.260 km, vùng biển rộng trên một triệu km2, kinh tế biển đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong thời kỳ đổi mới, với những chính sách đúng đắn của Đảng, các ngành kinh tế biển Việt Nam đã không ngừng phát triển và góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Số liệu thống kê của Viện nghiên cứu biển – đảo Việt Nam (2016), kinh tế biển Việt Nam đóng góp 47 – 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 20 – 22% tổng GDP cả nước

Kiên Giang là một trong số 28 tỉnh, thành của cả nước có biển và các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển Với hơn 200 km bờ biển, ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.290 km2

và 143 hòn đảo lớn nhỏ, vùng biển, đảo và ven biển Kiên Giang là ngư trường khai thác, nuôi trồng thủy sản lớn cho ngư dân địa phương Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển đảo Việt Nam (2016), vùng biển Kiên Giang có trữ lượng cá, tôm khoảng 500.000 tấn, trong đó vùng ven bờ độ sâu

20 – 50m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, ngọc trai, sò huyết, với trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi Ngoài ra tỉnh đã và đang thực hiện dự

án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn, sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng

Vùng biển, đảo và ven biển Kiên Giang không chỉ giàu có về nguồn lợi thủy sản mà còn có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch biển và kinh tế đảo, với các địa

Trang 16

danh nổi tiếng như Phú Quốc, Hà Tiên, Kiên Hải Biển, đảo Kiên Giang còn có vị trí rất quan trọng về kinh tế hàng hải và an ninh quốc phòng, là cửa ngõ kết nối Kiên Giang với đồng bằng sông Cửu Long và cộng đồng ASEAN

Nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực biển, ngày 08/5/2014 Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ban hành Kế hoạch số 45/KH-UBND về việc thực hiện Quyết định số 1570/QĐ/TTg ngày 06/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch là xây dựng vùng biển, ven biển, hải đảo Kiên Giang phát triển toàn diện, bền vững cả nông, lâm, ngư, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu, đến năm 2020 trở thành một tỉnh mạnh về biển, làm giàu từ biển, hình thành và phát triển một số ngành kinh tế biển có lợi thế như: Thủy hải sản, du lịch, vận tải biển, dịch vụ nghề

cá, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thủy sản với tốc độ phát triển nhanh và bền vững

Những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, Kế hoạch hành động thiết thực của chính quyền địa phương đã tạo ra một luồng sinh khí mới cho kinh tế biển Kiên Giang Số liệu từ Niên Giám thống kê Kiên Giang (2016) cho thấy, các ngành kinh tế thuần biển đóng góp hơn 49% tổng GDP, tạo ra hơn 18% lao động và đóng góp hơn 38% giá trị xuất khẩu của địa phương Tuy nhiên, sự phát triển các ngành kinh tế biển Kiên Giang vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của địa phương Trong tổng giá trị kinh tế biển của Kiên Giang, ngành khai thác thủy sản còn chiếm tỷ trọng lớn nhất, với hơn 73%, trong khi các ngành dịch vụ

chất lượng cao còn chiếm tỷ trọng thấp (dịch vụ cảng biển 3,4%, du lịch 4,8%)

Ngay cả những ngành được xem là có nhiều tiềm năng cũng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ do chủ yếu tập trung đánh bắt gần bờ, kỹ thuật đánh bắt thô sơ, hiệu quả kinh tế còn thấp Công tác thăm dò, quy hoạch chưa được quan tâm nhiều, khả năng ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu chưa hiệu quả, đặc biệt khoa học nghiên cứu

về biển chưa được đầu tư phát triển…Nhằm đánh giá đúng tiềm năng và thực trạng

phát triển kinh tế biển Kiên Giang, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Phát triển kinh

Trang 17

tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận án tiến sĩ

kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu luận án

Mục tiêu tổng quát của luận án là cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn phát triển kinh tế biển, từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Các mục tiêu cụ thể của luận án gồm:

Một là, hình thành khung lý thuyết về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển Hai là, làm rõ được bức tranh chung về phát triển kinh tế biển Kiên Giang

trong tiến trình hội nhập những năm qua

Ba là, đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế

biển Kiên Giang trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế biển đã hình thành được khung lý thuyết hay chưa? Khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển được cấu thành từ những bộ phận nào?

Câu hỏi 2: Tình hình phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong thời gian qua diễn tiến như thế nào?

Câu hỏi 3: Để phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cần những giải pháp đột phá gì?

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Kinh tế biển là một lĩnh vực rộng lớn, đề cập đến

nhiều hoạt động kinh tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển Vì vậy, phạm

vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế biển

ở một địa phương (Kiên Giang), với trọng tâm là các ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản; phát triển du lịch biển đảo; kinh tế hàng hải; kinh tế đảo; lấn biển

Trang 18

và phát triển thành phố biển; khoa học về biển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển

Thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển kinh

tế biển Kiên Giang từ năm 1995 đến năm 2016, trong đó các giải pháp tập trung đề xuất đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2035

5 Những đóng góp của luận án

Một là, đóng góp về lý luận:

Luận án đã xây dựng được một khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển ở một địa phương, bao gồm:

Khái niệm kinh tế biển và phát triển kinh tế biển;

Vai trò của phát triển kinh tế biển;

Các tiêu chí đo lường phát triển kinh tế biển;

Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế biển trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 4: Quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về kinh tế biển ở nước ngoài

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu kinh tế biển ở cấp độ quốc gia

Lee Kuan Yew (2000), đã cho chúng ta thấy một câu chuyện thần kỳ từ mô hình phát kinh tế biển của Singapore giai đoạn từ 1965 – 2000 Công trình nghiên cứu này đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của kinh tế hàng hải đối với quá trình phát triển của Singapore Tác giả đã chỉ rõ, một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công trong phát triển kinh tế hàng hải là hệ thống chính sách quản lý của nhà nước, đặc biệt là các chính sách quản lý tạo thuận lợi cho kinh tế hàng hải phát triển như chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong khai báo hải quan, chính sách quản lý tàu thuyền xuất nhập cảnh qua internet

và phát triển chính phủ điện tử

U.S Commission on Ocean Policy, chapter 1 (2004), phân tích một cách sâu sắc những vai trò của kinh tế biển và ven biển đối với nền kinh tế Mỹ Báo cáo đã khẳng định, mọi người Mỹ đều tác động và chịu ảnh hưởng từ biển Đại dương là nơi cung cấp không gian sống lớn nhất trên trái đất và là ngôi nhà của hàng triệu loài đã được biết đến và hàng triệu loài vẫn chưa được khám phá

Báo cáo này cũng đề cập đến một quan điểm khá mới trong quản lý kinh tế biển, đó là quản lý tổng hợp biển Họ cho rằng: Quản lý tổng hợp biển là một trong những cách thức quản lý đa ngành nghề kinh tế biển, nhằm thoả mãn nhu cầu cần phải điều hoà, cân bằng giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Quản lý tổng hợp biển ra đời nhằm khắc phục những bất cập do phương thức quản lý đơn ngành, riêng rẽ đã tồn tại từ lâu, đồng thời tạo cơ sở để cung cấp một hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh, đồng bộ giúp con người nhận thức đầy đủ hơn về kinh tế biển

Nazery Khalid, Armi Suzana Zamil, Farida Farid (2008), nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở các nước châu Á và những bài học cho quá trình phát triển kinh tế biển của Malaysia Các tác giả đã nêu bật vai trò và tầm quan

Trang 20

trọng của ngành khai thác tài nguyên biển, đặc biệt là khai thác dầu khí Một trong những vấn đề quan trọng mà công trình nghiên cứu chỉ ra là sự tác động của ngành này đối với vấn đề ô nhiễm môi trường Do đó, nhà nước phải có chính sách về quản lý khai thác nguồn tài nguyên biển để sao cho hoạt động khai thác vừa có hiệu quả lại không ảnh hưởng tới vấn đề ô nhiễm môi trường Các tác giả cũng khẳng định, các nước có biển và vùng ven biển muốn phát triển bền vững cần phải có chính sách phát triển, bảo tồn và bảo vệ khoáng sản khỏi việc khai thác quá mức và

ô nhiễm môi trường biển

Karyn Morrissey, Cathal O’Donoghue (2011), phân tích kinh tế biển ở Ai-len

và những tác động của nó trong các khu vực kinh tế của đất nước Tác giả đã khẳng định rằng, Ai-len là quốc gia có nhiều tiềm năng về kinh tế biển, vùng biển Ai-len rộng 900.000 km2

chạy dài 1.448 km bờ biển Các tác giả đã tập trung phân tích kinh tế biển ở Ai-len trên các khía cạnh như xác định mức đóng góp của kinh tế biển đối với nền kinh tế (GVA), giải quyết việc làm và năng suất lao động của các ngành kinh tế biển Theo các tác giả, khu vực Tây Nam kinh tế biển đóng góp lớn nhất cho nền kinh tế, với 393 triệu USD, chiếm 26% GVA, tiếp theo là khu vực Dublin với mức đóng góp 373 triệu USD, chiếm 27% GVA Trung đông là khu vực

có tỷ lệ đóng góp của kinh tế biển thấp nhất với chỉ 8 triệu USD

Kinh tế biển cũng đóng góp vai trò rất lớn trong việc giải quyết việc làm cho

xã hội Khu vực Tây Nam đóng góp 4.096 FTE, tiếp đến là khu vực phía Tây với

3460 FTE, thấp nhất là khu vực miền Trung với 299 FTE Trong số tám vùng kinh

tế của Ai-len, lĩnh vực dịch vụ biển có tỷ lệ lao động lớn nhất, trong đó khu vực Trung Đông là cao nhất với 86%, kế đến là khu vực Dublin với 81% Năng suất lao động của kinh tế biển đạt 84,196 USD trên mỗi FTE, cao hơn năng suất lao động của nền kinh tế với chỉ 79,345 USD trên mỗi FTE Trong từng khu vực, phía Tây là 17,061 USD, Dublin 29,636 USD, Mid-East 34,118 USD, Mid-West 16,749 USD

và South East hơn 19,662 USD

Wei Ling Song, Guang Shun He, Alistair McIlgorm (2012), đã tập trung nghiên cứu tình hình phát triển của ngành thống kê kinh tế biển và những rào cản của nó đối với quá trình nghiên cứu kinh tế biển Các tác giả đã khẳng định, thống

Trang 21

kê kinh tế biển là nền tảng quan trọng để thực hiện các chiến lược phát triển và quản

lý Tuy nhiên, do những rào cản về lịch sử và truyền thống nên trong suốt một thời

kỳ dài, thống kê kinh tế biển vẫn chưa được quan tâm nhiều Trong mấy thập kỷ qua, mặc dù kinh tế biển Trung Quốc đã đạt được nhiều kết quả và được quốc tế công nhận nhưng các nhà nghiên cứu quốc tế vẫn rất khó tiếp cận nguồn số liệu thống kê Sự hạn chế này dẫn đến những khó khăn trong nghiên cứu và hệ quả là không có được cách nhìn toàn diện về kinh tế biển Trong tương lai, số liệu thống

kê kinh tế biển của Trung Quốc cần cải thiện bằng cách đạt được sự phát triển chiều sâu với độ chính xác cao hơn nhằm tạo ra dữ liệu tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu về quy hoạch và quản trị kinh tế biển

Karyn Morrissey, Cathal O’Donoghue (2012), nghiên cứu vai trò của kinh tế đối với nền kinh tế Ailen thông qua việc phân tích các yếu tố đầu vào, đầu ra Theo tác giả, những nghiên cứu về giá trị kinh tế biển ở cấp độ quốc gia và cấp độ từng khu vực ở Ai-len đã bị giới hạn trong lịch sử Tuy nhiên, trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của Chương trình Kinh tế biển Quốc gia Mỹ, những nghiên cứu gần đây

đã tập trung nhiều về giá trị kinh tế biển Ở cấp độ quốc gia, các nghiên cứu đã cho thấy kinh tế biển của Ai-len đóng góp 1,44 tỷ USD, tương đương 1% giá trị sản phẩm tăng thêm của nền kinh tế và tạo ra gần 17.000 việc làm cho đất nước Ở cấp

độ các vùng, đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế địa phương là lớn hơn Số liệu cho thấy, khu vực phía tây, kinh tế biển đóng góp 2,2% giá trị sản phẩm tăng thêm, khu vực biên giới và Tây nam đều có mức đóng góp cho nền kinh tế là 1,3% giá trị sản phẩm tăng thêm, đặc biệt năng suất của kinh tế biển là cao hơn các ngành khác trong nền kinh tế của cả khu vực

Xu-Zhao Jiang, Tie-Ying Liu, Chi-Wei Su (2014), đi sâu nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế biển Trung Quốc và những tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế vùng Công trình này đã khái quát tiến trình phát triển của chính sách kinh tế biển Trung Quốc qua các giai đoạn từ 1949, đặc biệt nhấn mạnh đến chính sách phát triển toàn diện kinh tế biển của Trung Quốc từ 1991 đến nay Các tác giả

đã chỉ ra sự đóng góp của kinh tế biển đối với nền kinh tế quốc gia, đồng thời khái quát tỷ lệ đóng góp trung bình của vốn đối với sự phát triển kinh tế biển từ 2000

Trang 22

đến 2011 ở các tỉnh: Thiên Tân (6,12%), Hà Bắc (7,29%), Liêu Ninh (6,16%), Thượng Hải (5,34%), Giang Tô (7,27%), Chiết Giang (5,92%), Phúc Kiến (5,96%), Sơn Đông (5,93%), Quảng Đông (5,47%) và Quảng Tây (6,07%)

Các tác giả coi khu kinh tế ven biển như là cực tăng trưởng tạo động lực cho

sự phát triển các ngành kinh tế nội địa Theo họ, vai trò của các khu kinh tế ven biển

như là “cửa sổ” để mở cửa ra bên ngoài thông qua thu hút FDI và đẩy mạnh xuất

khẩu, tạo ra cực tăng trưởng để lôi kéo các vùng khác trong cả nước phát triển Các tác giả đã chỉ ra chiến lược phát triển khu kinh tế ven biển thông qua một số bước như: (1) xây dựng các đặc khu kinh tế; (2) tăng cường mở cửa thành phố cảng ven biển; (3) xây dựng khu kinh tế tự do ven biển

Karyn Morrissey (2014), đã sử dụng các dữ liệu thứ cấp để đánh giá khuynh hướng chuyển biến của các ngành kinh tế biển ở Anh trong giai đoạn từ 2003 –

2011 Tác giả đã khẳng định, khi năng suất toàn cầu về tài nguyên trên đất liền đã đạt giới hạn về khai thác kinh tế và sinh thái, thì giá trị của biển trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế Các hoạt động của con người trong đại dương

và bờ biển trên toàn thế giới đang ở một quy mô chưa từng có và ngày càng mở rộng nhanh chóng Đại dương đã trở thành một tâm điểm cho các hoạt động mới bao gồm cả năng lượng gió và sóng, công nghệ sinh học biển, công nghệ hàng hải

và các hoạt động kinh doanh khác Áp lực của con người ngày càng tăng về nguồn tài nguyên biển, sự thất bại về chính sách biển và nhu cầu sử dụng tài nguyên bền vững là động lực cho việc quy hoạch không gian biển, đảo trong điều kiện mới Kawther I.A Al-Belushi, Selina M Stead, J Grant Burgess (2015), tập trung nghiên cứu những tiềm năng để phát triển công nghệ sinh học biển ở Oman thông qua các quy trình đổi mới mở Theo các tác giả, Oman có bờ biển dài với hệ sinh vật biển đa đạng và ngành công nghiệp nghề cá phát triển mạnh Nền kinh tế Oman chủ yếu dựa vào nguồn thu từ dầu mỏ và khí đốt, chiếm khoảng 86% thu nhập của chính phủ Tuy nhiên, các nguồn lực này đang có xu hướng cạn kiệt dần Do đó, vấn

đề quan trọng hiện nay là cần phải tạo ra các hoạt động kinh tế năng động trên cơ sở các tiềm năng kinh tế biển để giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và

Trang 23

phát triển công nghệ sinh học biển là một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó

Các hệ sinh thái biển Oman được đặc trưng bởi trữ lượng lớn và đa dạng sinh học như rạn san hô, thủy sản Ngoài ra còn có nhiều loài độc đáo và đa dạng như vi tảo biển, tảo cát, bọt biển, san hô và các loài không xương sống và nhiều nguồn tài nguyên biển của Oman cho đến nay vẫn chưa được điều tra, nghiên cứu sâu về tiềm năng của chúng

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu kinh tế biển ở địa phương

YAN Xiaoqing (2012), đã phân tích vai trò của ngành công nghiệp biển nói riêng và kinh tế biển nói chung đối với sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Chiết Giang Tác giả đã khẳng định, thế kỷ XXI là kỷ nguyên của kinh tế biển Các nước phát triển đã xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp biển dựa trên không gian biển và các nguồn lực khoa học công nghệ

Theo YAN Xiaoqing, Chiết Giang bao gồm 260.000 km2 vùng biển và bờ biển dài hơn 6.486.000 km Tổng số đảo có dung lượng lớn hơn 500 mét vuông là 3.061 đảo, đây là tỉnh có chiều dài bờ biển và tài nguyên biển đứng đầu Trung Quốc Giá trị tăng trưởng của kinh tế biển Chiết Giang đạt hơn 20%, thậm chí trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2007 – 2009, sản lượng kinh tế biển của Chiết Giang vẫn đạt mức 880 tỷ nhân dân tệ, tăng 9% so với năm trước Năm 2010, giá trị tăng trưởng của kinh tế biển Chiết Giang đạt 350 tỷ nhân dân tệ, chiếm 10% tổng GDP của tỉnh, ước tính tổng giá trị sản xuất từ biển của tỉnh Chiết Giang sẽ đạt 720

tỷ nhân dân tệ vào năm 2015 Mặc dù có nhiều lợi thế về tiềm năng biển và cơ sở hạ tầng nhưng tỷ trọng kinh tế biển của Chiết Giang vẫn còn thấp so với một số tỉnh khác ở Trung Quốc

Từ thực tế phân tích tình hình phát triển kinh tế biển ở Chiết Giang, tác giả đã

đề xuất một số giải pháp cần tập trung để phát triển như: Nuôi dưỡng năng lực cạnh tranh cốt lõi của sự phát triển kinh tế biển mà trọng tâm là phát triển các cảng quốc

tế và công nghiệp năng lượng biển; Xây dựng hệ thống dịch vụ cảng và logistics; Đẩy mạnh sự phát triển ngành công nghiệp hàng hải mới Tác giả cũng khẳng định, Chiết Giang cần phải xây dựng chiến lược biển trên cơ sở trang thiết bị sản xuất tiên

Trang 24

tiến, cơ sở năng lượng sạch, cơ sở y học sinh vật biển, cơ sở nước sạch từ khử muối, phát triển thăm dò biển và các dịch vụ biển…từng bước hình thành các huyện kinh

tế ven biển và khu vực tích lũy kinh tế biển

Zhai Ren-Xiang, Li Wei (2013), đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh tổng thể về phát triển kinh tế biển Giang Tô Tác giả cho rằng, trong một thời gian ngắn Giang Tô đã đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế biển kể từ khi bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển năm 1996 Năm 2011, tính toán sơ bộ cho thấy tổng sản phẩm của kinh tế biển Giang Tô đạt 390 tỉ nhân dân tệ, tăng 20,0% so với năm 2010, chiếm tỷ trọng 8,56% tổng sản phẩm kinh tế biển Trung Quốc và 14,9% tổng sản phẩm của Giang Tô Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp khai thác hàng hải, ngành công nghiệp chế biến thủy sản và ngành công nghiệp dịch vụ hàng hải lần lượt chiếm 40,0%, 46,0% và 50,0% tổng sản phẩm công nghiệp hàng hải của tỉnh Số lượng người làm việc của các ngành liên quan đến biển trên địa bàn tỉnh Giang Tô đạt 1,86 triệu người, chiếm 5,55% tổng số lao động trong các ngành kinh tế biển của cả nước và 12,5% tổng số lao động của Giang Tô

Theo các tác giả, để phát triển kinh tế biển đúng với tiềm năng của mình, Giang

Tô cần đẩy nhanh sự phát triển ngành công nghiệp hàng hải, thúc đẩy việc xây dựng các vành đai kinh tế ven biển, tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu công nghiệp biển trên cơ

sở tích cực phát triển ngành công nghiệp hàng hải mới, mở rộng ngành công nghiệp hàng hải trong tương lai, củng cố ngành công nghiệp hàng hải truyền thống

1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể của kinh tế biển

Về cảng biển

Bong-min Jung (2011), phân tích tình hình phát triển kinh tế biển ở Hàn Quốc thông qua việc chứng minh những đóng góp của dịch vụ cảng biển Tác giả đã khẳng định, cảng là cửa ngõ quan trọng của thương mại quốc tế, là nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương trong quá trình toàn cầu hóa Sự tiến

bộ của vận tải và kỹ thuật truyền thông được kết nối với lý thuyết thị trường tự do

đã mang đến sự tăng trưởng chưa từng có của hàng hóa và dịch vụ Kết quả là nền kinh tế của các khu vực trên thế giới được kết nối vào trong nền kinh tế toàn cầu

Trang 25

Vận tải biển và công nghiệp cảng đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của các địa phương, quốc gia và toàn cầu Sự phát triển của hệ thống cảng

đã truyền thêm sức mạnh cho hoạt động kinh tế của địa phương trong quá trình công nghiệp hóa Cảng là cửa ngõ quan trọng cho thương mại nội địa và thương mại quốc tế, có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương và trong cả nước Công nghiệp cảng cũng tạo ra những tác động trực tiếp đến việc làm

và năng suất lao động

G.S Dwarakish, Akhil Muhammad Salim (2015), tập trung đánh giá vai trò của các cảng trong sự phát triển của một quốc gia Tác giả lập luận rằng, cảng là một trong những thành phần chính của ngành giao thông vận tải và là nhân tố quan trọng để mở rộng giao lưu với nền kinh tế thế giới Ngoài các dịch vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách, cảng còn thực hiện các dịch vụ khác có liên quan như hoa tiêu, lai dắt và hỗ trợ kéo, sửa chữa khẩn cấp, cầu tàu, bến neo, kho bãi lưu trữ và dịch vụ thủ tục hải quan

Cảng là một thành phần quan trọng của chuỗi logistics và do đó, hoạt động của chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến biến số kinh tế như năng lực cạnh tranh xuất khẩu và giá nhập khẩu, do đó ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Biện pháp phổ biến của các tác động kinh tế là việc làm, tiền lương, sản lượng hoặc doanh thu và thuế doanh thu trong nền kinh tế tăng lên

Các tác giả cũng đã khái quát tác động của một số cảng đối với nền kinh tế ở một số nước như: cảng Wisconsin mỗi năm có hơn 30 triệu tấn hàng hóa thương mại và trên 2,4 tỷ USD giá trị đi qua, tạo ra 9.550 việc làm Cảng Latvian xử lý trung bình 60 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, chiếm khoảng 13% GDP của Latvia và tổng doanh thu từ hàng hoá quá cảnh chiếm khoảng 4,4% GDP và bằng 27,7% tổng khối lượng xuất khẩu dịch vụ (theo Rijkure và Sare 2013) Cảng ở Anh năm 2011 tạo ra 117.200 việc làm, chiếm 0,4% tổng số việc làm Năm 2013, khu vực cảng đóng góp giá trị gia tăng cho GDP của Anh là 7,9 tỷ bảng, tương đương với 0,5% sản lượng kinh tế Anh

Có cùng cách tiếp cận với G.S Dwarakish, Geetha Kuntoji and Subba Rao (2015), đã phân tích sâu vào vai trò của hệ thống các cảng nhỏ đối với nền kinh tế ở

Trang 26

các nước đang phát triển Tác giả khẳng định, Ấn Độ là quốc gia lớn thứ hai châu

Á, có đường bờ biển dài khoảng 7.500km, gồm 13 cảng chính và gần 200 cảng nhỏ Cảng giúp quốc gia giải quyết được vấn đề tắc nghẽn của lưu lượng hàng hóa ở các hình thức vận tải khác như đường bộ, đường sắt và hàng không Sự phát triển của các cảng nhỏ sẽ hỗ trợ trong việc giảm bớt gánh nặng cho các cảng lớn và giúp cải thiện nền kinh tế của đất nước Ưu điểm của giao thông đường thủy thông qua cảng nói chung và cảng nhỏ nói riêng là cho phép vận tải hàng hóa số lượng lớn, an toàn khá cao, chi phí duy trì và xây dựng các tuyến đường là rất thấp, hầu hết trong số chúng được thực hiện tự nhiên

Theo tác giả, các cảng lớn ở Ấn Độ hiện nay đang rơi vào tình trạng quá tải do yêu cầu của sự thay đổi công nghệ và cách thức tổ chức quản lý theo hướng hiện đại, cũng như chi phí duy trì, phát triển là khá lớn Cách tốt nhất để đáp ứng nhu cầu phát triển và loại bỏ tắc nghẽn tại các cảng lớn là phát triển các cảng nhỏ Thông qua các cảng nhỏ, hàng hóa có thể được chuyển đến cảng chính cho xuất khẩu, giúp cải thiện các vấn đề chủ yếu của nền kinh tế

Về du lịch biển

Duan Biggs, Christina C Hicks, Joshua E Cinner and C Michael Hall (2015), khẳng định vai trò của kinh tế biển thông qua việc chứng minh những vai trò to lớn của ngành du lịch biển trước những thách thức của biến đổi toàn cầu Thông qua việc phân tích khả năng phục hồi của các doanh nghiệp trước tình hình khủng hoảng kinh tế ở Thái Lan và Australia Tác giả đã khẳng định, du lịch biển đóng một vai trò kinh tế - xã hội rất quan trọng và cung cấp một động lực cho việc bảo tồn ở nhiều khu vực ven biển Tuy nhiên, sự thay đổi một cách nhanh chóng về kinh tế, chính trị, xã hội trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến du lịch biển ở các địa phương Vì vậy, nắm vững các điều kiện, khả năng của ngành du lịch biển để đối phó và thích ứng với những biến đổi là tối quan trọng

Thái Lan là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu của Đông Nam Á Du khách quốc tế đến Thái Lan đã tăng từ 14,15 triệu lượt vào năm 2009 lên 26,57 triệu lượt trong năm 2013, trong đó phần lớn là du lịch biển Du lịch biển mang lại nguồn

Trang 27

thu ngoại tệ lớn cho phát triển kinh tế Năm 2009 doanh thu từ du khách quốc tế của Thái Lan đạt 20,6 tỷ USD, đóng góp 6,0% GDP

Đối với Úc, du lịch biển còn đóng một vai trò khá khiêm tốn trong nền kinh

tế, tuy nhiên vai trò này đang từng bước được nâng lên trong những năm gần đây Năm 2007, số lượt khách quốc tế đến Úc đạt 5,6 triệu khách và con số này đã tăng lên 6,5 triệu khách vào năm 2012, mang lại doanh thu 29,1 tỷ USD, đóng góp khoảng 2,5% GDP của cả nước Cũng như Thái Lan, du lịch biển của Úc cũng bị ảnh hưởng khá lớn từ thiên tai và các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Về công nghiệp đóng tàu

Liping Jiang, Erik Bastiansen, Siri P Strandenes (2013), tiếp cận kinh tế biển

từ việc phân tích năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp đóng tàu ở Trung Quốc Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã trở thành đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh trong việc xây dựng các tàu chở hàng rời Nắm trong tay lợi thế về chi phí, công nghiệp đóng tàu của Trung Quốc nổi lên và phát triển khá nhanh Khi ngành công nghiệp đóng tàu trên toàn thế giới bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, ngành công nghiệp đóng tàu của Trung Quốc đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể của chính phủ để vượt qua những trở ngại xảy ra sau

đó Trong năm 2009, Trung Quốc đã vượt qua Hàn Quốc để trở thành quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới về lượng đơn đặt hàng mới và tàu hàng container Các nhà phân tích đã chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh của ngành đóng tàu được thể hiện trên nhiều phương diện như: chi phí đóng tàu, giá trị hợp đồng, giá cả thị trường mới và nhu cầu đóng mới tàu, trong đó chi phí đóng tàu được coi là quan trọng nhất đối với việc đảm bảo đơn đặt hàng đóng mới và xác định vị thế cạnh tranh của ngành đóng tàu Trung Quốc Có thể khẳng định rằng lợi thế cạnh tranh của ngành đóng tàu Trung Quốc là do lợi thế chi phí về lao động và vật liệu Ngoài ra sự quan tâm của chính phủ về việc hỗ trợ các khoản tín dụng, thủ tục xuất khẩu, tỷ giá hối đoái cũng làm cho Trung Quốc có nhiều lợi thế hơn trong sự so sánh với Nhật Bản

và Hàn Quốc trong quá trình cạnh tranh các đơn đặt hàng đóng tàu trên thế giới

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về kinh tế biển ở trong nước

Trang 28

Tạ Quang Ngọc (2007), phân tích quá trình phát triển kinh tế biển Việt Nam gắn liền với các chủ trương, chính sách của Đảng qua các thời kỳ trong quá trình đổi mới đất nước Tác giả khẳng định: khai thác các lợi thế của biển để phát triển kinh tế - xã hội là một chủ trương nhất quán của Đảng Xuất phát từ những tiềm năng lợi thế của vùng biển và ven biển Việt Nam, từ thập niên 90, Đảng ta đã đề ra chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế biển nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển vào năm 2020 Các chủ trương chính sách đó được tiếp tục củng

cố, phát triển qua các giai đoạn, đồng thời từng bước nâng lên ở những tầm cao mới nhằm mục tiêu biến Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển Chu Đức Dũng (2011), đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về quản lý và phát triển kinh tế biển Tác giả đã nêu lên một số quan điểm khá mới về kinh tế biển như: Quản lý tổng hợp biển, phát triển trung tâm kinh tế biển, phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ chặt chẽ với biến đổi khí hậu, môi trường và phát triển bền vững Tác giả nghiên cứu sâu sắc kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của một số nước Đông Á, điển hình là Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, từ đó rút ra một số vấn đề chung có tính quy luật và có những gợi ý chính sách cụ thể đối với phát triển kinh tế biển của Việt Nam

Trần Đình Thiên (2011), cho rằng đã đến lúc cần có những đột phá mới trong

tư duy và chiến lược quản lý để phát triển kinh tế biển Để định hình tư duy mới về

kinh tế biển, theo ông, có hai điểm cần lưu ý Thứ nhất, việc định hình chiến lược

quản lý để phát triển kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba

phương diện Một là, khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Hai là, khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Ba là, phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển Thứ hai, cùng với cách tiếp cận chuỗi (hệ thống tổng thể),

cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam

Trang 29

Ngô Lực Tải (2012), đã khẳng định phát triển kinh tế biển là động lực thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam là quốc gia

có tiềm năng kinh tế biển rất lớn và đa dạng Tuy nhiên, quy mô phát triển kinh tế biển của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé Đặc biệt là khi so sánh với một số nước trong khu vực thì giá trị hoạt động kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và chỉ 1% của Nhật Bản

Theo tác giả, để thực hiện được mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh

về biển, trên cơ sở phát triển tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành nghề biển, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển

và ven biển đóng góp khoảng 53% – 55% tổng GDP của cả nước thì Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển hệ thống Logistics trong vận tải biển, đồng bộ hóa kết cấu hạ tầng cảng biển Việt Nam cần xây dựng chiến lược du lịch biển trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu Song song với các quá trình trên, Việt Nam cần đẩy mạnh chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành hàng hải Trong điều kiện biến đổi khí hậu, Việt Nam cần có chiến lược phát triển các ngành khoa học công nghệ biển, đi đôi với việc nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư ven biển để chủ động đối phó với tình hình biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp hiện nay

Lại Lâm Anh (2014), đã nghiên cứu các mô hình phát triển kinh tế biển thành công ở Trung Quốc, Malaysia, Singapore Thông qua việc đánh giá các mô hình của các nước bạn, tác giả đã đề xuất những gợi ý về chính sách cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế biển Tác giả đã phân tích một số quan điểm khác nhau về kinh tế biển, vai trò của kinh tế biển, quản lý kinh tế biển, các quan điểm và cách tiếp cận về phát triển kinh tế biển Trên cơ sở phân tích những vấn đề chung về kinh

tế biển, tác giả đã phân tích thực trạng phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore trên các lĩnh vực như kinh tế hàng hải, khai thác dầu mỏ và khoáng sản; khai thác hải sản, du lịch biển đảo và phát triển khu kinh tế ven biển Tác giả đã tập trung phân tích những thành quả đạt được và những hạn chế mà kinh

tế biển các nước phải đối mặt như ô nhiễm môi trường; cạn kiệt tài nguyên; quá phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chưa phát huy được nội lực

Trang 30

nền kinh tế của đất nước; sự phát triển kinh tế biển còn phụ thuộc quá nhiều vào khai thác tài nguyên biển mà chưa có giải pháp dài hạn cho sự phát triển bền vững kinh tế biển và chưa chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển

Tác giả đã dành một thời lượng đáng kể để phân tích tình hình phát triển kinh

tế biển Việt Nam trên các lĩnh vực như: phát triển hệ thống cảng biển, phát triển ngành đóng tàu, khai thác khoáng sản, phát triển du lịch và phát triển các khu kinh

tế ven biển Trên cơ sở phân tích này, tác giả đã đề xuất một số gợi ý chính sách về phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới

Võ Nguyên Giáp (2014), lại có một cách tiếp cận khá mới về khoa học biển và

kinh tế miền biển Trong bài phát biểu tại Hội nghị về biển 1977, tác giả đã khẳng

định xu thế hướng ra biển và quan tâm nhiều đến kinh tế biển của các quốc gia Đại dương có tổng trọng động vật gấp 6 lần và tổng trọng thực vật gấp 100 lần so với đất liền Đại dương cũng là nơi giàu có về khoáng sản Tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của khoa học biển đối với sự phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng Lần đầu tiên, tác giả đã đề cập đến một khái niệm khá mới ở Việt Nam là kinh tế miền biển Theo tác giả, kinh tế miền biển phải có nghề cá, nông nghiệp, công nghiệp miền biển, hàng hải, cảng biển, thương nghiệp nội địa và ngoại thương…có kinh tế biển trung ương và kinh tế biển địa phương Phát triển kinh tế miền biển là phải quan tâm đến đời sống của nhân dân miền biển

Vũ Thị Kim Thanh (2014), đánh giá một cách khá chi tiết tiềm năng của tài nguyên biển Việt Nam Theo tác giả, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên biển rất lớn và đa dạng Vùng biển Việt Nam rộng, phong phú các loại hình thủy vực, là môi trường sống phù hợp của nhiều loài động vật với trữ lượng lớn Bên cạnh động vật, biển Việt Nam còn giàu về tài nguyên thực vật như rong biển, rừng ngập mặn Biển Việt Nam cũng phong phú về tài nguyên khoáng sản như dầu khí, cát thủy tinh, khí cháy và sa khoáng Titan…Tài nguyên du lịch biển là một ưu thế đặc biệt của kinh tế biển Việt Nam Các bãi biển Việt Nam phân bố trải đều từ Bắc vào Nam với hàng nghìn km, hấp dẫn du khách bởi cảnh đẹp và sự thanh bình Việt Nam còn có hệ thống các đảo và quần đảo với hệ sinh thái đặc trưng, gắn liền với

Trang 31

các khu di tích lịch sử là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch sinh thái, phục

vụ tốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trên cơ sở phân tích những tiềm năng của tài nguyên biển Việt Nam, tác giả

đã khái quát tình hình phát triển kinh tế biển Việt Nam trên các mặt như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, khai thác khoáng sản biển, ngành hàng hải, công nghiệp đóng tàu, du lịch biển, nghề làm muối và kinh tế đảo, thông tin liên lạc, khoa học, giáo dục phục vụ kinh tế biển

Châu Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hiền (2014), tiếp cận kinh tế biển thông

qua việc đánh giá tình hình phát triển du lịch biển - đảo bền vững ở một địa phương

Tác giả khẳng định, du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Năm 2000, vịnh Bái Tử Long đón 276.130 lượt khách, đến năm 2013 Vịnh đón 622.350 lượt khách du lịch, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 14,52% Doanh thu du lịch năm 2007, đạt 107,83 tỷ đồng, đến năm 2013 đạt 466,15 tỷ đồng gấp 4,3 lần so với năm 2007 Hàng năm du lịch vịnh Bái Tử Long tạo ra giá trị mới với mức tăng trưởng bình quân 27,93% và đóng góp bình quân vào GDP của huyện đảo Vân Đồn tới 18,2%

Du lịch biển đảo cũng thu hút 86,7% lao động của địa phương và tạo ra thu nhập bình quân đầu người 47,4 triệu đồng/năm Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức do tình trạng ô nhiễm môi trường, sự suy thoái về văn hóa, nguy cơ mất ổn định về an ninh trật tự trên địa bàn, tình trạng lao động trong ngành du lịch biển, đảo chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ khá cao, các hoạt động dịch vụ chưa thực sự đa dạng, … Để khắc phục những nguy cơ này, tác giả đã đề xuất các giải pháp có tính định hướng cho sự phát triển bền vững du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long như tăng cường đầu

tư cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch biển đảo; phát triển các dịch vụ du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho

ngành du lịch biển đảo

Trương Minh Tuấn (2015), đã có cách tiếp cận mới khi phân tích kinh tế biển Việt Nam trong sự so sánh với kinh tế biển của một số quốc gia, từ đó rút ra những nhận định, đánh giá có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với mục tiêu phát triển

Trang 32

bền vững kinh tế biển Việt Nam Tác giả khẳng định, đến nay cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích lên đến 662.249

ha, thu hút khoảng 700 dự án trong và ngoài nước, với tổng số vốn gần 330.000 tỷ đồng và 33 tỷ USD Tuy nhiên, khi so sánh với các nước, quy mô kinh tế biển Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, kinh tế thuần biển Việt Nam hiện mới chỉ đạt hơn 10 tỷ USD, trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1.300 tỷ USD; trong đó, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD

1.1.3 Những vấn đề thống nhất và những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 1.1.3.1 Những vấn đề đã thống nhất

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã đề cập nhiều đến khái niệm kinh tế

biển Các khái niệm có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau, phạm vi rộng, hẹp khác nhau nhưng đều có nội hàm tương đồng nhau Nhìn chung khái niệm kinh tế biển được rút ra từ các công trình nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế biển ở các quốc gia, các vùng trong một quốc gia Các khái niệm này đều cho rằng kinh tế biển là tổng thể các hoạt động kinh tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến biển Những ngành liên quan trực tiếp đến kinh tế biển như khai thác, nuôi trồng thuỷ sản; khai thác tài nguyên khoáng sản biển như dầu mỏ, khí đốt; dịch vụ cảng biển, vận tải biển, du lịch biển và những ngành sử dụng các nguồn lực từ kinh

tế biển hoặc phục vụ cho kinh tế biển như công nghiệp chế biến, đóng tàu, khoa học công nghệ biển, dịch vụ biển…

Thứ hai, hầu hết các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đều khẳng

định vai trò to lớn của kinh tế biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế biển đóng góp vào nền kinh tế của quốc gia cũng như nền kinh tế địa phương trên nhiều phương diện như đóng góp vào tổng GRDP, tạo việc làm, mở cửa hội nhập và góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia

Thứ ba, các công trình đều chỉ ra được một thực tế rằng, mặc dù vai trò của

kinh tế biển là rất lớn nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về số liệu thống kê kinh tế biển Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như các nước chưa hình thành một hệ thống dữ liệu riêng về kinh tế biển Thực tế này đã làm cho nhận thức về vị trí, vai

Trang 33

trò của kinh tế biển chưa thực sự sâu sắc, công tác nghiên cứu của các học giả cũng gặp không ít khó khăn

1.1.3.2 Những khoảng trống liên quan đến đề tài

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước chủ

yếu tập trung nghiên cứu kinh tế biển trên phương diện hoạt động thực tiễn mà chưa xây dựng được một khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển nói chung và ở một địa phương nói riêng Vì vậy, nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu các lý thuyết để xây dựng được một khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển ở một địa phương, làm cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu về các ngành, lĩnh vực cụ thể của kinh tế biển

Thứ hai, dù có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế biển ở trong nước,

nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế biển Kiên Giang Vì vậy, việc xác định được mô hình phát triển kinh tế biển ở một địa phương có nhiều tiềm năng như Kiên Giang là khoảng trống lớn cần sớm được nghiên cứu và hoàn thiện Nhiệm vụ của luận án là phác họa được bức tranh về kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, làm cơ sở cho các hoạch định chính sách về kinh tế biển ở một địa phương trong thời gian tới

Thứ ba, các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước chưa có sự thống

nhất trong việc xác định các ngành, phân ngành trong kinh tế biển Một số tác giả đã

đề cập đến 9 ngành, một số khác lại đề cập đến 11 ngành, thậm chí có những tác giả chia kinh tế biển thành 18 phân ngành khác nhau Vì vậy, việc thống nhất trong phân định các ngành kinh tế biển là khoảng trống lớn cần được hoàn thiện, góp phần hình thành khung lý thuyết về kinh tế biển

Thứ tư, trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động,

những tranh chấp trên biển ngày càng diễn biến phức tạp là những vấn đề lớn cần tiếp tục được nghiên cứu sâu Việc đảm bảo lợi ích quốc gia trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và các giải pháp chuyển đổi các mô hình kinh tế biển phù hợp với yêu cầu biến đổi khí hậu hiện nay cũng là những khoảng trống lớn cần nhiều học giả nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện

1.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 34

1.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

1.2.1.1 Phương pháp luận biện chứng duy vật

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), phương pháp luận là học thuyết (lý luận) về phương pháp; nó vạch ra cách thức xây dựng và nghệ thuật vận dụng phương pháp; phương pháp luận cũng là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn

Do đối tượng nghiên cứu của luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật là phương pháp tiếp cận chính trong quá trình phân tích, đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển Kiên Giang Phương pháp luận biện chứng duy vật bao gồm một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xác định phạm vi, khả năng áp dụng các yêu cầu, phương pháp một cách hợp lý và có hiệu quả như: nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển và nguyên tắc lịch sử cụ thể khi phân tích tình hình phát triển kinh tế biển

Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong nghiên cứu luận án này, tác giả đã đặt kinh tế biển Kiên Giang trong sự vận động phát triển không ngừng qua các giai đoạn Đồng thời xem xét sự phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong mối quan hệ chặt chẽ với tổng thể nền kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, an ninh quốc phòng cũng như mối quan hệ nội tại giữa các ngành, các lĩnh vực trong kinh tế biển với nhau Các mối quan hệ trong từng phân ngành, từng lĩnh vực trong kinh tế biển, đến lượt nó lại tạo nên những hiệu ứng thúc đẩy các ngành khác phát triển và cải thiện đời sống nhân dân Sự phân tích này có ý nghĩa to lớn trong việc xác định vị trí, vai trò của kinh tế biển đối với toàn bộ nền kinh tế của tỉnh và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đây là căn cứ quan trọng để tác giả có hướng đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang thời gian tới một cách có hiệu quả

1.2.1.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Kinh tế chính trị là khoa học nghiên cứu về quan hệ sản xuất trong mối quan

hệ giữa lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Phân tích các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội không giống như nghiên cứu các ngành cụ thể của khoa học tự nhiên, người nghiên cứu không thể sử dụng kính hiển vi, lại càng không thể sử dụng các

Trang 35

biện pháp thử như trong thí nghiệm hóa học, mà người nghiên cứu cần sử dụng năng lực tư duy trừu tượng trong vận dụng trí não đối với đối tượng nghiên cứu

Trừu tượng hóa khoa học là phương pháp gạt bỏ khỏi quá trình nghiên cứu các hiện tượng đơn giản, ngẫu nhiên, những quan hệ không bản chất, để tập trung vào những yếu tố và quan hệ bản chất hơn của các sự vật và hiện tượng, hình thành các phạm trù, quy luật, từ đó vạch rõ mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng Phương pháp này được sử dụng để nâng từ nhận thức kinh nghiệm lên thành nhận thức khoa học, từ trực quan sinh động lên tư duy trừu tượng

Phát triển kinh tế biển là một chủ đề rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế, chịu tác động bởi nhiều nhân tố và được đo lường trên nhiều tiêu chí, qua nhiều giai đoạn lịch sử Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, tác giả không thể nghiên cứu tất cả các vấn đề, các khía cạnh của đề tài để rút ra kết luận mà luận án chỉ tập trung nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong giai đoạn từ 1995 đến 2016, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này, tác giả đã rút ra được các nhận xét, đánh giá chung về vị trí, vai trò, những thành tựu, hạn chế của kinh tế biển Kiên Giang từ việc phân tích các ngành, các lĩnh vực kinh tế biển riêng lẻ Thông qua việc phân tích, tác giả có thể rút ra những kết luận chung nhất về những đặc trưng riêng có của kinh tế biển Kiên Giang trong sự tác động qua lại với nền kinh tế, quốc phòng an ninh và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả này là bằng chứng khách quan để đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong điều kiện mới

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng, trong đó phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu

1.2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản để nghiên cứu, phát hiện ra từng

Trang 36

thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố, bộ phận

ấy Tổng hợp là phương pháp liên kết những mặt, những bộ phận, những mối quan

hệ từ kết quả phân tích thành một chỉnh thể, nhằm tạo ra một hệ thống tri thức mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu Như vậy, trên cơ sở phân tích từng bộ phận của đối tượng nghiên cứu, cần tổng tợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu được gọi là phương pháp phân tích và tổng hợp

Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp trong nghiên cứu phần tổng quan

lý thuyết, giúp tác giả nghiên cứu các công trình có liên quan đến tình hình phát triển kinh tế biển ở trong và ngoài nước, tổng hợp các kết quả của các công trình nghiên cứu đó, tìm ra khoảng trống của vấn đề để xây dựng khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển Phần thực trạng phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được tác giả phân tích thông qua các ngành cụ thể của kinh

tế biển trên các tiêu chí đo lường về mức độ đóng góp của tổng sản phẩm các ngành kinh tế biển, việc làm, xuất khẩu…và những nhân tố tác động đến quá trình phát triển của kinh tế biển…Qua đó tổng hợp và rút ra những kết luận về tình hình phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Phần quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang được tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích những thời cơ, thách thức đối với kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả phân tích này là cơ sở khoa học để tác giả đề xuất quan điểm, mục tiêu và các giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tương lai Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu xuyên suốt đề tài

Trang 37

Bằng phương pháp này, tác giả sẽ đi sâu phân tích các tài liệu lý thuyết đã được nghiên cứu về kinh tế biển qua các thời kỳ lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của kinh tế biển nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái nghiên cứu, từ đó xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu của đề tài Kết quả nghiên cứu của phương pháp là cơ sở để tác giả phát hiện ra những đóng góp có giá trị cũng như những khoảng trống của các công trình trước đó, từ đó giúp tác giả tìm

ra hướng đi, chỗ đứng của đề tài nghiên cứu Sử dụng phướng pháp này trong việc nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế biển Kiên Giang được tác giả tập trung phần tích những tác động của tình hình chính trị xã hội đối với phát triển kinh tế biển và sự tác động của nó đối với tình hình kinh tế xã hội của địa phương, đặc biệt

là những tác động to lớn đến quốc phòng an ninh, chủ quyền biển đảo quốc gia Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu xuyên suốt luận án

1.2.2.3 Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp nghiên cứu khoa học trong đó người nghiên cứu sử dụng trí tuệ của đội ngũ những người có trình độ cao, am hiểu sâu về lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm, để xin ý kiến đánh giá, nhận xét của họ về vấn đề nghiên cứu hoặc định hướng cho người nghiên cứu về cách xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế biển Đây là phương pháp đỡ tốn thời gian và sức lực nhất, tuy nhiên kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia

Để có những nhận xét xác đáng hơn về tình hình phát triển kinh tế biển Kiên Giang, tác giả sẽ sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm tranh thủ trí tuệ của đội ngũ những người có trình độ cao, am hiểu sâu về các lĩnh vực của kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhằm đánh giá các vấn đề như các nhân tố ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế biển Kiên Giang, tình hình phát triển của các ngành: vận tải biển, du lịch biển, phát triển kinh tế đảo và lấn biển Những ý kiến đánh giá, nhận xét của họ là một nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả có cách nhìn toàn diện hơn trong công tác dự báo và đề xuất các giải pháp Phương pháp này được áp dụng để nghiên cứu các nội dung trong chương 3 và chương 4

1.2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả

Trang 38

Phương pháp thống kê là một hệ thống các phương pháp dùng để thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích số liệu của hiện tượng kinh tế - xã hội, trình bày số liệu

và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm tìm hiểu bản chất và quy luật vốn có của chúng trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể, phục vụ cho quá trình phân tích, dự báo và ra quyết định

Sử dụng phương pháp thống kê phải trải qua ba giai đoạn: thu thập số liệu, tổng hợp số liệu và phân tích số liệu Phương pháp này được tác giả sử dụng để thu thập, tổng hợp được các số liệu về kinh tế biển Kiên Giang trên các mặt: sản lượng

và giá trị đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản qua các thời kỳ; số lượt khách và doanh thu ngành du lịch biển; số lượt khách, hàng hóa và doanh thu của ngành vận tải biển; vấn đề tạo việc làm từ kinh tế biển; thu nhập bình quân đầu người của dân

cư các vùng ven biển; kim ngạch xuất nhập khẩu của các ngành kinh tế biển và vốn đầu tư phát triển kinh tế biển đảo Kiên Giang qua 20 năm Kết quả nghiên cứu từ phương pháp này đã góp phần tạo ra một bức tranh về kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập, là căn cứ quan trọng để xác định những mặt đạt được cần phát huy, những mặt còn hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới

Phương pháp thống kê mô tả còn được tác giả sử dụng để đánh giá các nhân tố tác động đến phát triển kinh tế biển Kiên Giang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn giữa các nhân tố tác động Những kết quả thu được từ phương pháp nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để tác giả xác định quan điểm, mục tiêu và các giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên

Giang trong tương lai Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu chương 3,4 1.3 Nguồn dữ liệu và khung phân tích

1.3.1 Nguồn dữ liệu

Thứ nhất, nguồn dữ liệu thứ cấp

Luận án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang về tình hình phát triển kinh tế, các số liệu báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang và các Sở Ban ngành trong tỉnh về các ngành kinh tế biển từ năm 1995 đến năm 2016 Các số liệu thống kê được tác giả tổng hợp theo từng ngành, lĩnh vực của kinh tế biển để phân tích, đối chiếu so sánh qua các thời kỳ phát triển Các số liệu

Trang 39

về việc làm, xuất nhập khẩu từ các ngành kinh tế biển mang lại được tác giả phân tích để làm nổi bật những thành quả đạt được trong 20 năm phát triển kinh tế biển Kiên Giang

Thứ hai, nguồn dữ liệu sơ cấp

Bộ dữ liệu điều tra về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển Kiên Giang được tác giả xây dựng và điều tra từ các nhà quản lý, các chuyên gia về kinh

tế biển và các chủ doanh nghiệp hoạt động trong các ngành liên quan đến kinh tế biển như du lịch biển, vận tải biển, công nghiệp đóng tàu

1.3.2 Khung phân tích của luận án

Trang 40

Mục tiêu nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu

Cơ sở lý luận

về phát triển kinh tế biển

Thực trạng phát triển kinh tế biển Kiên Giang thời gian qua

Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế biển Kiên Giang

Các công trình nghiên cứu trong nước

Phương pháp luận nghiên cứu

Lý luận về phát triển kinh tế biển trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển Kiên Giang

Phân tích tình hình phát triển các

ngành kinh tế biển Kiên Giang

Đánh giá tình hình phát triển kinh tế biển Kiên Giang thời gian qua

Các lý thuyết nền tảng của phát

triển kinh tế biển

Những hạn chế và nguyên nhân

của hạn chế Những thành công và nguyên

nhân của thành công

Ngày đăng: 08/08/2021, 17:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w