Bộ phiếu ôn tập - Bộ đề đọc hiểu môn Ngữ văn 12 ngữ liệu ngoài sách giáo khoa được biên soạn chi tiết, công phu, Ngữ liệu biên soạn bám sát sách giáo khoa. Từng phiếu đọc hiểu câu hỏi được thiết kế để rèn kĩ năng nhớ kiến thức văn bản, vận dụng làm các câu hỏi liên quan đến phần Văn, tiếng Việt và viết đoạn văn. Từng phiếu học tập (đề đọc hiểu) có đáp án chi tiết, cụ thể để Gv và HS tham khảo.
Trang 1BỘ ĐỀ ĐỌC HIỂU NGỮ VĂN LỚP 12
BỘ ĐỀ, ĐÁP ÁN ÔN THI PHẦN VĂN XUÔI THEO ĐỀ NĂM 2021
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – ĐỀ 1
chỉ chú mèo già chứng kiến mẹ buồn thôi
những cuộc con đi giữa nóng lạnh cuộc đời
mẹ buôn buốt ruột
con tung tẩy chữ
có chữ nào rơm rớm mẹ đâu?
khi thấy mẹ cô đơn
con cũng vào thì sấp bóng
vô định rợn người cát trắng
mẹ nằm hun hút giỏ hàng dương
giờ thấm nghĩa mồ côi
con đã non sáu chục
những buổi chiều ân hận
chân trời mười mải cát bay
(Chân trời mẹ, Tập thơ Cầm nhau mà đi, tr.55, Nxb Hội Nhà Văn, Văn Công
Hùng)
Thực hiện các yêu cầu:
1/ Đọan trích trong bài thơ Chân trời mẹ được viết theo thể thơ nào?
Trang 22 Tìm những chi tiết tương phản được dùng để khắc họa hình ảnh hai nhân vậttrữ tình trong đoạn thơ.
3/Anh/ chị hiểu thế nào về nghĩa của hai câu thơ "con mắc nợ mẹ không là chủ nợ /chỉ chủ mèo già chứng kiến mẹ buồn thôi"
4/ Đoạn thơ đem tới cho anh chị những cảm xúc, suy ngẫm gì về tình mẫu tử?
Phần II Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Từ nội dung ngữ liệu trong phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết đoạn văn
(khoảng 200 chu trình bày suy nghĩ về nguyên nhân quan niệm: tình yêu của
mẹ là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trên đời.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã miêu tả về cuộc
chiến giữa người lái đò và con sông Đà:
“ Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy cứ bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò (…) Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái…”
Hay đoạn khác, Nguyễn Tuân lại viết
“…Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.”
(Nguyễn Tuân – Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2013, tr189)
Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong hai lần miêu tả trên, từ
đó làm bật nổi “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của người lao động Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đang tìm kiếm.
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
ĐỌC HIỂU
Trang 31 Đoạn trích trong bài thơ Chân trời mẹ được viết theo thể thơ tự do
2/ Hai nhân vật trữ tình được khắc họa qua hai chi tiết tương phản trong các
câu thơ con mắc nợ mẹ không là chủ nợ
Mẹ buôn buốt ruột/con tung tẩy chữ
3 Hai câu thơ "con mắc mợ mẹ không là chủ nợ /chỉ chủ mèo giả chứng kiển
mẹ buồn thôi” cho thấy công lao và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành
cho con Với sự vô tâm của những người con luôn vay của cha mẹ, trả cho con cái, thì nước mắt luôn chỉ chảy xuôi – mẹ thường chỉ cho mà không bao
giờ nghĩ tới sự đền đáp, tuy nhiên, sự vô tâm tới vô tình của con cái chính là
bi kịch của mẹ, những bi kịch mẹ chịu đựng trong cô đơn, không được chia sẻ
4/ Từ những ý, tử của đoạn thơ, học sinh bày tỏ những xúc cảm, suy ngẫm chân thành của bản thân về tình mẫu tử Có thể hướng tới hai chiều: tình yêu thương mẹ dành cho con cái và tình cảm hiểu thảo, lòng biết ơn các con dành cho mẹ
LÀM VĂN
Câu 1:
a/ Mở đoạn: giới thiệu vấn đề nghị luận - nguyên nhân quan niệm tình yêu
của mẹ là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trên đời
b/ Thân đoạn:
+ Tình yêu của mẹ là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trên đời vì đó là tìnhyêu vô biên, vô hạn, vô điều kiện của người đã trao cho chúng ta sự sống quígiá trên cuộc đời này, là người luôn có thể hi sinh tất cả vì chúng ta, từ sứclực, tình yêu, tâm huyết cho đến sinh mạng của mình
+ Tình yêu của mẹ là tỉnh cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trên đời vì đó là tìnhyêu vô điều kiện, tình yêu ấy luôn tràn đầy, bất kể chúng ta xấu xí hay xinhđẹp, hiếu thuận hay bạc bẽo, giàu có hay nghèo khổ, khỏe mạnh hay ốm đau
- những điều thường chi phối mạnh mẽ tới tình cảm của bất kì ai đối với bạn,những điều sẽ làm thay đổi sự thủy chung của vợ chồng tình thân bằng hữuhay sự hiếu thảo, kính trọng của con cái đối với bạn
+ Tình yêu của mẹ là tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trên đời vì đó là tìnhyêu vô tư, thuần khiết, một chiều, nước mắt chảy xuôi, không đòi hỏi đếnđáp
Trang 4c/ Kết đoạn: Trước khi là “con người, chúng ta luôn là những người con" của
mẹ, nên hãy nhớ: "Mẹ ơi! Thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhàmình/ Dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ!” (Lời bàihát Mẹ tôi, Nhạc sĩ Trần Tiến)
Câu 2:
I Mở bài:
– Tác giả:
+ Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp
+ Ông có công lớn trong việc đưa thể tuỳ bút đến đỉnh cao nghệ thuật, làmphong phú ngôn ngữ văn học dân tộc và đem đến cho văn học dân tộc mộtphong cách độc đáo tài hoa
+ Trước năm 1945, Nguyễn Tuân là con người của “chủ nghĩa xê dịch” vớicái tôi riêng độc đáo Nhưng sau năm 1945, cái tôi riêng ấy đã hòa vào cái tachung
– Tác phẩm: Vẫn độc đáo, vẫn tài hoa, nên con người ấy đã để lại cho chúng
ta nhiều tác phẩm xuất sắc Trong đó phải kể đến tùy bút “Người lái đò Sông Đà”
– VĐCNL: Qua hình tượng người lái đò sông Đà được tác giả miêu tả rấtnhiều lần tróng tác phẩm, ta chợt phát hiện ra đó chính là “thứ vàng mười đãqua thử lửa” của người lao động Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đang tìm kiếm
II Thân bài:
1 Khái quát vấn đề:
Trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà”, đã rất nhiều lần Nguyễn Tuân miêu tả
về người lái đò trên dòng sông Đà Có khi ông hiện lên với nét đẹp dũng cảm,
kiên cường“ Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy cứ bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò (…) Nhưng ông đò
cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái…”
Có khi lại tài hoa và giàu kinh nghiệm: “…Vậy là phá xong cái trùng vi
Trang 5thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.”
– Đó rõ ràng là “thứ vàng mười đã qua thử lửa ” của con người Tây Bắc màNguyễn Tuân đang tìm kiếm
2 Luận điểm 1:Nét đẹp trí dũng, kiên cường của ông lái đò
– Trước con thủy quái khổng lồ độc dữ ông lái vẫn bình tĩnh, tự tin: Sự dũng
– Dù bị sóng thác đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất và bị thương nhưng ông
lái vẫn “cố nén vết thương”: Sự gan góc, không dễ bị khuất phục
– “Vẫn kẹp chặt”: Tư thế chắc chắn, sừng sững của người chỉ huy
– Nét đẹp trí dũng của ông lái còn được thể hiện ở nhiều đoạn khác trong bài…
-> Ta thường thấy xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Tuân những người anh hùng thực sự – những hình mẫu đầy lí tưởng Trước 1945 là Huấn Cao tàihoa, thiên lương và hiên ngang bất khuất, sau năm 1945 lại là một người lái
đò cũng trí dũng, kiên cường không kém Qua đó ta cảm nhận được nét bút khỏe khoắn, tài năng đầy bản lĩnh của Nguyễn Tuân
3 Luận điểm 2: Nét đẹp tài hoa, giàu kinh nghiệm của ông lái đò
– Đổi chiến thuật: Sự tài tình, linh hoạt trong trận đánh, như một nghệ sĩ đang
– “Nắm chắc”, “thuộc”: Giàu kinh nghiệm, am hiểu rất rõ về đối thủ củamình…
– Nét đẹp tài hoa, giàu kinh nghiệm của ông lái còn được thể hiện ở nhiều
Trang 6sự đột phá trong tác phẩm Nguyễn Tuân – ông đã chấp nhận hòa cái tôi ngôngnghênh vào cái ta chung của thời đại.
4 Đánh giá tổng hợp
– Qua hai đoạn miêu tả người đọc cảm nhận được vẻ đẹp trí dũng, tài hoa,giàu bản lĩnh và kinh nghiệm của người lái đò sông Đà Đây chính là chấtvàng mười đã qua thử lửa của con người Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đang tìmkiếm
– Nguyễn Tuân đã vận dụng các động từ, tính từ và từ láy tượng hình mộtcách linh hoạt và tài tình tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp đến ngất ngâylòng
III Kết bài
- Khẳng định vẻ đẹp của hình tượng người lái đò
- Khẳng định tài năng của Nguyễn Tuân
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Trang 7nhiều bạn trẻ giờ đây đã chọn cách mạnh mẽ thể hiện bản thân mình, trải nghiệm cuộc sống bằng những chuyến đi xa, những cuộc gặp gỡ, kết giao thú
vị Có thể nói, đó chính là những người trẻ chọn việc không ngừng phấn đấu
và tiến về phía trước, và sẽ là những người thu vào trong tầm mắt phần rộng lớn và tươi đẹp nhất của thế giới này (…)
Vậy nên hãy luôn khát khao bám đuổi theo cái tôi mới mẻ và bứt phá; mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc sống để bước chân ra khỏi vùng an toàn của chính mình, bạn nhé ! Bởi cuộc đời chỉ thực sự trở nên hoàn hảo khi tầm nhìn của bạn rộng mở hơn
rong-lon-ban-se-nhanlai-dieu-gi 2120181211181847470.htm)
(http://ttvn.vn/nhip-song/mo-rong-doi-mat-truoc-cuoc-doi-Thực hiện những yêu cầu sau:
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích Câu 2 Theo tác giả, để thay vì cuộc sống thường nhật tẻ nhạt và nhàm chán, nhiều bạn trẻ giờ đây đã chọn cách sống như thế nào?
Câu 3 Nêu tác dụng của việc giải thích từ “Sekai” trong tiếng Nhật của văn
bản?
Câu 4 Anh/ chị có đồng tình với quan điểm “thế giới vĩnh viễn sẽ không bao
giờ thu nhỏ lại, vậy nên tầm nhìn của bạn cần phải to lớn hơn” được nêutrong văn bản hay không? Vì sao?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, Anh/chị hãy viết một đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày về ý nghĩa của việc “Mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc sống” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay
Câu 2 (5,0 điểm)
- Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vậu rừng tre nứa
nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã
Trang 8trắng xóa cả một chân giời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong
lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm
mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bên nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này Mặt sông rung tít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng
nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn
- Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một hương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngón búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền
sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đỏ Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi xương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên
“Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của
“một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững
lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang trôi những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên
(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một,
sđd, tr.186 - 188)
Trang 9Phân tích hình tượng sông Đà trong hai đoạn trích trên Từ đó, chỉ ra cái
nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân trong “Ngườ lái đò sông
2 Học sinh (HS) trả lời đủ các ý cơ bản sau:
- - Thay vì dính chặt lấy cuộc sống thường nhật tẻ nhạt và nhàmchán, nhiều bạn trẻ giờ đây đã chọn cách mạnh mẽ thể hiện bảnthân mình, trải nghiệm cuộc sống bằng những chuyến đi xa,những cuộc gặp gỡ, kết giao thú vị
- Có thể nói, đó chính là những người trẻ chọn việc khôngngừng phấn đấu và tiến về phía trước, và sẽ là những người thuvào trong tầm mắt phần rộng lớn và tươi đẹp nhất của thế giớinày (…)
4 Học sinh có thể trả lời: Đồng tình ý kiến, không đồng tình hoặc
đồng tình một phần nhưng lí giải hợp lí, thuyết phục Sau đây là
1.0
Trang 10gợi ý:
- Đồng tình vì: Quy luật của thế giới là luôn vận động và phát
triển không ngừng Vì thế, sứ mệnh của mỗi người là phải mở
rộng tầm nhìn về thế giới để tăng cường sự hiểu biết, tiếp thu tri
thức nhân loại, rèn luyện kĩ năng sống và làm giàu đời sống
1 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc – hiểu, hãy viết đoạn văn
khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về ý nghĩa của
việc“Mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc sống” đối
với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay
2.0
a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp,
tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn về ý nghĩa của
việc“Mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc sống” đối
với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay
0.25
c Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai
vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ ý nghĩa của
việc “Mạnh dạn chấp nhận những thử thách trong cuộc sống”.
Có thể theo hướng sau:
1 Giải thích: Thử thách là những yếu tố gây khó khăn, cản trở
đến việc thực hiện một công việc, một kế hoạch, một mục tiêu
nào đó, buộc con người ta phải vượt qua
2 Ý nghĩa: Khi “mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc
sống” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay
1.0
Trang 11- Tuổi trẻ là tuổi của ước mơ, khát vọng vươn cao, bay xa; được
giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội; Những khó khăn
của cuộc sống là môi trường để thử thách tuổi trẻ
- Mạnh dạn chấp nhận những thử thách của cuộc sống giúp tuổi
trẻ sẽ có bản lĩnh vững vàng; rèn được ý chí, nghị lực; có sức
mạnh tinh thần để từng bước dấn thân vào cuộc đời; làm chủ
cuộc đời của mình…
- Phê phán một bộ phận giới trẻ luôn sống thiếu bản lĩnh và nghị
lực: sợ khó, sợ khổ, trở thành người nhụt chí, dễ sa ngã trước
những cám dỗ của cuộc sống
3 Liên hệ với bản thân để rút ra bài học nhận thức và hành
động:
- Phải biết thử thách là điều tất yếu để chuẩn bị tinh thần tìm
mọi cách vượt qua
- Cá nhân tích cực học tập và rèn luyện, tham gia hoạt động trải
2 Cảm nhận vẻ đẹp sông Đà qua hai đoạn văn sau và qua đó
chỉ ra cái nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân
5.0
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận được vẻ đẹp
hình tượng dòng sông Đà qua hai đoạn văn đã cho, từ đó làm
bật nổi cái nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân
0.5
Trang 12c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt
các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng;
đảm bảo các yêu cầu sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút “Người lái đò sông Đà; nêu vấn đề cần nghị luận
+ Đến gần, sẽ thấy dòng sông Đà bày ra “cả một chân trời đá”
-mà mặt đá nào trông cũng nhăn nhúm, méo mó, hung tợn Bãi
đá ngầm được nhà văn miêu tả như một thạch trận dàn bày côngphu, khéo léo với ba trùng vây kiên cố Mỗi trùng vây được thầnsông, thần đá “thiết kế theo một sơ đồ riêng, giao phó cho nhiệm
vụ riêng Hàng tiền vệ có “trách nhiệm” lừa dụ con thuyền vàosâu thạch trận nên chỉ có hai tảng đá canh cửa “trông như là sơhở” Tuyến giữa sẽ đón đánh trực diện trong khi tuyến đầu
vòng lại “đánh khuýp quật vu hồi” Tuyến đá cuối cùng kiên cố nhất gồm “những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi” sẽ tiêu
diệt tất con thuyền cùng tất cả thuyền trưởng và thủy thủ nếu nólọt khỏi hai vòng vây trước
+ Nghệ thuật miêu tả: giọng văn sinh động, hấp dẫn; sử dụngnhiều động từ, tính từ cùng phép nhân hóa, liên tưởng so sánhđộc đáo
1,0
- Đoạn 2 khám phá vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông
Đà qua khung cảnh vừa êm đềm, tĩnh lặng, vừa hoang sơ, cổ kính, lại vừa tươi mới, đầy sức sống và niềm tin vào cuộc đời mới:
+ Khung cảnh nơi đây hoang sơ, tĩnh lặng, dường như chưa
từng đổi thay từ thuở khai thiên lập địa tới giờ: “Hình như từ
1,0
Trang 13đời Li đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi” Thưởng ngoạn vẻ đẹp sông Đà, lòng ông dậy lên cảm
giác liên tưởng về lịch sử, về tình cảm đối với cố nhân: nhắc tớiđời Lí, đời Trần,
+ Cái tĩnh hàm chứa sự bất ngờ bởi sự biến hóa liên tiếp: thuyềnthả trôi, con hươu thơ ngộ vểnh tai, áng cỏ sương, tiếng còisương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt Cảnh và vật đều ở trạng tháiđộng, tươi mới, trù phú, mang hơi thở vận động của cuộc sốngnhiều chiều
+ Trước vẻ đẹp hoang dại nhà văn mơ về tiếng còi tàu “Chao ôi,thèm đc giật mình…Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu Đó là tiếngcòi sương của mơ ước, k/vọng, của niềm tin vào tương lai cảitạo SĐ và say mê trước viễn cảnh tươi sáng của nhân dan cácdân tộc Tây Bắc
+ SĐ nguồn cảm hứng vô tận cho VC, NT xưa nay, đặc biệt quanhững vần thơ say đắm của Tản Đà – người con của núi Tảnsông Đà Với Nguyễn Tuân, SĐ như là 1 người tình nhân khôngquen biết – 1 người tình nhân vùa xinh đẹp, đằm thắm, vừa gợinhớ thương, vừa xa xôi, bí ẩn
+ Nhà văn đã trải lòng mình với dòng sông, hóa thân vào nó đểlắng nghe nhịp sống cuộc đời mới, để nhớ, để thương cho dòngsông, cho quê hương đất nước
+ Nghệ thuật miêu tả: câu văn mềm mại, giàu chất thơ, liêntưởng so sánh độc đáo,
- Nhận xét, đánh giá:
+ Hai đoạn văn miêu tả hai nét tính cách trái ngược ở hìnhtượng sông Đào hùng vĩ, hiểm trở, dữ dằn và thơ mộng, trữ tình.Hai nét tính cách này bổ sung cho nhau, tạo nên vẻ đẹp phongphú và độc đáo của hình tượng
+ Hình tượng sông Đà biểu trưng cho chất vàng mười của thiên
nhiên Tây Bắc – 1 hiện diện của cái Đẹp mà nhà văn khao khátkiếm tìm và thể hiện trong các sáng tác sau cách mạng Hìnhtượng sông Đà là phông nền để nhà văn khắc hoạ nổi bật vẻ đẹp
0,5
Trang 14trí dũng tuyệt vời, chất tài hoa nghệ sĩ của hình tượng ơng láiđị.
+ Từ hình tượng sơng Đà, người đọc cảm nhận được lịng yêunước, tinh thần dân tộc mang sắc thái riêng của Nguyễn Tuân
+ Nghệ thuật xây dựng hình tượng: Các thủ pháp đối lập, nhân
hố, so sánh; Những liên tưởng, tưởng tượng táo bạo, bất ngờ;
Hệ thống ngơn từ giàu cĩ, phong phú, thể hiện vốn sống, vốnkiến thức uyên bác của tác giả thuộc nhiều ngành khoa học,nhiều bộ mơn nghệ thuật khác: lịch sử, thơ ca, hội hoạ, quân sự,thể thao,…; Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịpđiệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữtình…
- Hình tượng sơng Đà thể hiện cái nhìn nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng Tám 1945:
+ Là nhà văn duy mĩ, suốt đời tơn thờ, phụng sự cái đẹp, vớiNguyễn Tuân cái đẹp phải đặc biệt gây ấn tượng mạnh Vì vậy,ơng thường miêu tả những cảnh đẹp tuyệt đích: hoặc phải thơmộng, trữ tình đến mức tuyệt mĩ, hoặc hồnh tráng đến dữ dội,
dữ dằn Sơng Đà hội tụ được cả hai vẻ đẹp ấy
+ Hình tượng dịng sơng Đà đã thể hiện những đổi thay tích cựctrong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trên chặngđường sáng tác sau Cách mạng Vẫn là cái nhìn độc đáo, tài hoa,uyên bác cĩ khả năng tiếp cận, khai thác mọi đối tượng từphương diện văn hĩa, thẩm mĩ nhưng giờ đây Nguyễn Tuânphát hiện cái đẹp ngay trong hiện thực đời thường trong sựthống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Cảnh sắc thiênnhiên đất nước được tái hiện với cảm hứng ngợi ca Qua cáinhìn ấy, Đà giang đã hĩa thành cơng trình mĩ thuật hồn hảo củatạo hĩa Ngịi bút giàu cảm hứng lãng mạn, niềm tin yêu mãnhliệt vào cuộc đời mới cũng mang lại sức sống đặc biệt cho hìnhtượng thiên nhiên và cuộc sống của miền Tây Bắc hùng vĩ, nênthơ
- Kết thúc vấn đề:
0.5
Trang 15+ Đánh giá khái quát vấn đề+ Có thể nêu suy nghĩ riêng của bản thân
Chị đặt hoa nhầm rồi
Mộ anh ấy ở bên tay trái Chỉ một vòng hoa chị mang từ quê lại
Trang 16Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi
- Chị hiểu ý em rồi Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó
Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ Viếng mộ anh có chị đến đây rồi.
(Viếng chồng,Trần Ninh Hồ,
www.thica.net /ngày 02/01/2009)
Thực hiện các yêu cầu sau :
Câu 1 Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 3 Hãy chỉ ra phép điệp và hiệu quả của phép điệp trong bài thơ
Câu 4 Theo anh/chị câu trả lời của người vợ đã thể hiện điều gì ?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy Còn một trùng vây thứ ba nữa Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này
Trang 17lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được.
(Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.189-190)
Cảm nhận của anh /chị về vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong đoạn tríchtrên Từ đó, nhận xét quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn NguyễnTuân
3 - Phép điệp: điệp từ “anh”, “chị”, “viếng”, “mộ”
- Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp: nhấn mạnh nỗi đau, sự
mất mát to lớn do hậu quả chiến tranh gây ra
1,0
4 Câu trả lời của người vợ đã hóa giải tình huống éo le khi
người phụ nữ đặt nhầm vị trí vòng hoa lên mộ không phải của
chồng mình Thế nhưng, chị đã không sửa và xin đặt hoa ở đó
bởi mộ anh đã có chị viếng thăm Qua đó, thể hiện cách ứng
xử đẹp và làm tỏa sáng phẩm chất cao thượng của con người
1,0
Trang 18a Đảm bảo về hình thức đoạn văn (khoảng 200 chữ), có
câu mở đoạn, các câu triển khai, câu kết đoạn.
0,25
b Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình nghĩa của con
người trong cuộc sống
0,25
c Triển khai vấn đề nghị luận Thí sinh chọn các thao tác lập
lận phù hợp để triển khai theo nhiều cách
Giám khảo có thể tham khảo gợi ý sau:
Trình bày suy nghĩ về vấn đề tình nghĩa của con người trong
cuộc sống:
- Là phẩm chất quý giá và cũng là nhân tố tích cực quan trọng
để tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con
người
- Tình nghĩa luôn gắn với sự quan tâm, sẻ chia Để sống có
tình, mỗi người cần biết quan tâm và sẻ chia với người khác
một cách chân thành Khi sống có tình, con người cũng sẽ trở
nên đáng quý đáng trọng hơn bởi chính cái tình là cơ sở nâng
cao phẩm giá của con người
- “Tình” khiến ta gắn bó với nhau hơn song sự gắn bó này ít
nhiều mang tính chất cảm tính và màu sắc cá nhân “Nghĩa”
khi đi liền với “tình” mới tạo nên sự gắn bó sâu sắc, đẹp đẽ và
hơi ấm mà nó tạo nên mới có sức lan tỏa rộng và sâu
- Phạm vi tồn tại của tình nghĩa: không nên chỉ giới hạn trong
quan hệ cá nhân, giữa những người thân, những người có quan
hệ gần gũi máu thịt mà cần mở rộng ra với tất cả mọi người
- Cần vun đắp tình nghĩa để nó nảy nở trong mọi mối quan hệ
con người vì đó là cách tốt nhất để cuộc sống này bớt chông
chênh khi chúng ta dù cố gắng cũng không sao tránh hết được
mọi bất trắc, biến động của đời sống
- Bên cạnh đó, cần lên án những con người sống thờ ơ, vô
cảm, thiếu tình yêu thương và sự quan tâm sẻ chia đến mọi
người
1,0
Trang 19d Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tác
a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: - Mở bài: giới
thiệu được vấn đề; Thân bài: triển khai được vấn đề (nhiều
đoạn), Kết bài: khái quát được vấn đề.
0,25
b Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng ông lái đò
trong đoạn trích và quan niệm nghệ thuật về con người của nhà
văn Nguyễn Tuân
0,5
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng
tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn
chứng, đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm
“Người lái đò sông Đà” và vấn đề nghị luận
* Cảm nhận hình tượng ông lái đò
- Vẻ đẹp trí dũng của ông lái đò:
+ Để làm nổi bật vẻ đẹp trí dũng của ông lái đò, nhà văn đã
sáng tạo một đoạn văn tràn đầy không khí trận mạc, đã tưởng
tượng ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa người lái đò với “bầy thủy
quái” sông Đà Sông Đà dữ dội, hiểm độc với trùng trùng, lớp
lớp dàn trận bủa vây, có sự hợp sức của nhiều thế lực: sóng,
nước, đá…
+ Trên con thuyền vượt thác, ông đò như đang cưỡi hổ, phải
cưỡi cho đến cùng - một cuộc chiến sinh tử đòi hỏi sự dũng
3,5
0,5
1,0
Trang 20cảm, kiên gan, bến chí.
+ Ông đò là một viên tướng dũng cảm tả xung hữu đột tỉnh táo
nhanh nhẹn, quyết đoán chỉ huy và điều khiển con thuyền qua
nhiều vòng, nhiều cửa rất hiệu quả “Nắm chặt được cái bờm
sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy
luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh…”
+ Để chiến thắng bọn thủy quá trên sông ông đò đã ghi nhớ
từng chi tiết và lựa chọn chiến thuật phù hợp: “Ông đò vẫn
nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa
thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” có khi
“Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó”.
- Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của ông lái đò
+ Ông lái đò được khắc họa như một người nghệ sĩ – nghệ sĩ
chèo ghềnh vượt thác, sự tài hoa thể hiện trong từng động tác
thuần thục của ông lái
+ Khi đạt tới trình độ nhuần nhuyễn điêu luyện, mỗi động tác
của ông lái đò như một đường cọ trên bức tranh thiên nhiên
sông nước: “lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”
+ Những chi tiết: ông đò “lái miết một đường chéo về cửa đá
ấy”; con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi
nước vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được” đã cho thấy
“tay lái ra hoa” của ông lái đò,…
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ, tạo
tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất, sử
dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình…
- Đánh giá: Nguyễn Tuân xây dựng ông lái đò với vẻ đẹp trí
dũng và tài hoa Trí dũng để có thể chế ngự được dòng sông
hung bạo, tài hoa để xứng với dòng sông trữ tình Vẻ đẹp của
người lái đò là vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và
1.0
0,5
Trang 21sức mạnh Đây chính là chất vàng mười đã qua thử lửa của con
người Tây Bắc nói riêng và người lao động Việt Nam nói
chung
* Nhận xét quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Nguyễn Tuân: vẻ đẹp của con người không chỉ ở phương diện
trí dũng mà còn ở vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ
-Tài hoa nghệ sĩ đâu chỉ có ở lĩnh vực nghệ thuật mà có ngay
trong cuộc sống lao động đời thường khi con người đạt đến
trình độ điêu luyện, thuần thục
- Con người, bất kể địa vị hay nghề nghiệp gì, nếu hết lòng và
thành thạo, điêu luyện với công việc của mình thì bao giờ cũng
đáng trọng Đồng thời qua cảnh tượng vượt thác của ông đò,
Nguyễn Tuân muốn nói với chúng ta một điều giản dị nhưng
sâu sắc: Chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có ở nơi chiến trường mà
có ngay trong cuộc sống hàng ngày nơi mà chúng ta phải vật
lộn với miếng cơm manh áo
0,5
d Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả,
ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt
Trang 22PHẦN I- ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Xin cảm ơn những khu rừng thiên Tán lá rợp cho ta trầm tĩnh lại Chông tẩm thuốc sau nhà, đá mài dao dưới suối Con đường mòn nung đỏ dưới ngàn cây
Một cọng rau gợi nhớ về xuôi
Củ chuối chát ghi mối thù canh cánh Đêm bên suối sao trời rơi óng ánh Nhắc ta hoài biển đang vỡ dưới kia Con đường tấy lên như một lời thề Đất gọi ta, làng gọi ta, nóng bỏng Vịn vào cây ven đường nhẵn bóng Ngỡ như đồng đội đỡ ta lên…”
(Trích Sức bền của đất- Hữu Thỉnh, NXB Tác phẩm
mới, 1977)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2 Trong đoạn trích trên, tác giả cảm ơn những khu rừng vì điều
gì?
Câu 3 Nêu và phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng
trong các câu thơ sau:
Con đường tấy lên như một lời thề
Đất gọi ta, làng gọi ta, nóng bỏng
Câu 4 Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm, thái độ của tác giả được thể
hiện trong đoạn trích
PHẦN II- LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Theo những điều được gợi lên từ nội dung văn bản
phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày nhận thứccủa anh/ chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc
Trang 23Câu 2 (5,0 điểm)
"…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước
vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò Mặt sông trong tích tắc loà sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông
đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như
là cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền
xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này,đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra
để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy "
(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập 1,
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp hình tượng người lái đò trong đoạn trích
trên Từ đó, nhận xét cách nhìn mới về người lao động của nhà văn NguyễnTuân
-HẾT -HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT
NĂM HỌC 2020- 2021
Trang 24Môn thi : Ngữ văn Đáp án Điể
m
Câu 2 Trong đoạn trích trên, tác giả cảm ơn những khu rừng vì : Tán lá rợp
cho ta trầm tĩnh lại/ Chông tẩm thuốc sau nhà, đá mài dao dưới suối/
Con đường mòn nung đỏ dưới hàng cây.
0,5
Câu 3 -Biện pháp tu từ: so sánh/ lặp cấu trúc
- Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời thơ; nhấn mạnh lời
thề thiêng liêng với Tổ quốc của những người lính trong cuộc chiến tranh
vệ quốc vĩ đại
1,0
Câu 4 HS trả lời theo gợi ý sau:
- Đất nước, dằng dặc trong lịch sử là những cuộc binh đao và vì thế, thời
điểm nào những thế hệ ưu tú nhất cũng phải đương đầu, những dòng máu
tươi nhất cũng sẵn sàng dâng hiến để đòi lại điều đã mất, bảo vệ điều bị
đe dọa, tước đoạt
- Trong hoàn cảnh ấy, những người lính đã đi theo tiếng “Đất gọi ta, làng
gọi ta, nóng bỏng”, tự nguyện hiến dâng phần đời đẹp nhất của mình cho
Tổ quốc thân yêu Nhà thơ không giấu nổi niềm cảm phục, tự hào về lý
tưởng cao cả của cả một thế hệ…
1,0
II PHẦN LÀM VĂN:
Câu 1 a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn:
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, tổng - phân -hợp,
quy nạp, móc xích, song hành…
0.25
Trang 25b Xác định đúng vấn đề nghị luận: nhận thức của anh/ chị về trách
nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc
0.25
c Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh chọn lựa các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị
luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ được quan điểm
- Thế hệ trẻ, với đặc điểm trẻ trung, cởi mở của mình, luôn là nét tươi
sáng, tích cực của bức tranh cuộc sống
- Nói tới thế hệ trẻ là nói tới những hành trình đầy niềm hưng phấn, với
tinh thần trách nhiệm rất cao
- Thế hệ trẻ cần dấn bước vào đời với quyết tâm lớn, với những hành
động quyết liệt, vì mục đích đưa đất nước bước lên tầm cao mới, khẳng
định được tư thế tồn tại đường hoàng của mình trước thế giới, nhân loại
- Thế hệ trẻ phải biết không ngừng khám phá, sáng tạo, “đi con đường
người trước đã đi/ bằng rất nhiều lối mới”
Lưu ý: Đây chỉ là một đoạn văn ngắn, không đòi hỏi quá khắt khe về bố
Câu 2 Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò trong đoạn trích
a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết
bài Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài
khái quát được vấn đề
0,25
b Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp hình tượng người lái đò
qua đoạn trích, nhận xét cách nhìn mới của Nguyễn Tuân về người
lao động
0,5
Trang 26c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt
các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa dẫn chứng và phân tích; đảm
bảo các yêu cầu sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
* Vẻ đẹp hình tượng người lái đò qua đoạn trích:
- Vẻ đẹp hình tượng người lái đò được bộc lộ thông qua cuộc chiến với
thạch trận đá Sông Đà Cuộc chiến này diễn ra qua 3 hiệp đấu, đoạn trích
là hiệp thứ 1, 2
- Sông Đà trong đoạn trích:
+ Là một đối thủ kiên cường, nham hiểm, lắm mưu nhiều kế: đánh đến
miếng đòn hiểm độc nhất, đánh hồi lùng, đòn tỉa, đòn âm Không chấp
nhận thua cuộc, ở trùng vi thứ hai này, sông Đà bố trí của sinh ngược với
trùng vi trước, quyết tiêu diệt người lái đò “cửa sinh lại bố trí lệch qua
phía bờ hữu ngạn” Thạch trận vì thế càng hiểm trở hơn, khó vượt qua
hơn
+ Ở đoạn sông này, sông Đà được liên tưởng như một con thú dữ “dòng
thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”, hùng hổ tấn công,
quyết tâm tiêu diệt con mồi Đá trên sông Đà, dưới ngòi bút biến hóa
thần tình của Nguyễn Tuân, đã trở thành đội quân liều lĩnh, hung
hãn “xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”.
- Ông lái đò:
+ Cố nén vết thương, hai chân kẹp chặt cuống lái…-> kiên cường, dũng
cảm
+ Hiểu và nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá nên thay đổi
luôn chiến thuật, táo bạo, nhanh nhẹn cưỡi lên tác sông Đà "như là cưỡi
hổ";
+ Động tác điêu luyện, chuẩn xác "ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy
luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường
chéo về phía cửa đá ấy"
+ Ông nhớ mặt "bọn thủy quân cửa ải nước", đứa thì ông "tránh mà rảo
bơi chèo", đứa thì ông "đè sấn lên" bỏ lại sau lưng tất cả các cửa tử.
3,5
0.50.250.5
0.75
Trang 27- Đây là hiệp đấu không cân sức, chiến thắng đã thuộc về người lái đò.
Đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm
vượt qua những thử thách khốc liệt Bên cạnh đó còn là chiến thắng của
tài trí con người, của sự hiểu biết và kinh nghiệm của những người đã
nhiều năm gắn bó với nghề sông nước
* Đánh giá:
- Cách nhìn mới về người lao động:
+ Theo Nguyễn Tuân, người nghệ sỹ không chỉ là người sáng tạo ra cái
đẹp mà là người biến công việc lao động của mình trở thành một nghệ
thuật…
+ Qua hình ảnh người lái đò, Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân
trọng, cảm phục những con người lao động bình thường, nhỏ bé nhưng
đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng Tổ quốc Đó chinh là
"Thứ vàng 10 đã qua thử lửa của tâm hồn con người lao động"
- Nghệ thuật:
+ Từ ngữ biến hoá phong phú; giàu nhịp điệu, âm thanh, giàu sức truyền
cảm, dồn nén nhiều động từ mạnh; những ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được
tác giả sáng tạo độc đáo
+ Nguyễn Tuân đã vận dụng kiến thức thể thao và kiến thức quân sự để
miêu tả cuộc chiến gay cấn, giằng co quyết liệt giữa sông Đà và ông
lái…-> tài hoa, uyên bác
0.5
0.5
0.5
d Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt 0.25
e Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu săc về vấn đề nghị luận; có cách diễn
Trang 28Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp
hơn Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm
chiều Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương
đau Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm
bùn.
Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng
lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa Việt Nam đất nắng chan hòa Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời
xanh Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thủy
chung.
(Trích Việt Nam quê hương ta, Nguyễn Đình Thi, Dẫn theo Trần Đăng Khoa, Chân dung và đối thoại, NXB Thanh
niên, 1999)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0.5 điểm)
Câu 2 Trong bốn dòng thơ đầu, tác giả đã chọn những hình ảnh nào để tái
hiện khung cảnh đất nước Việt Nam? (0.5 điểm)
Câu 3 Đoạn thơ đã thể hiện tình cảm gì của tác giả với quê hương, đất nước?
(1.0 điểm)
Câu 4 Đọc đoạn thơ, anh/ chị cảm nhận được những vẻ đẹp nào của nhân
dân, đất nước? (1.0 điểm)
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Dựa vào nội dung trong đoạn thơ ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vẻ đẹp của dân tộc Việt Nam
Câu 2 (5.0 điểm)
Trang 29Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông
Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra
đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.
Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt
há Dương Châu” Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người
cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền
sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu.
(Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2020,
tr.191-192)Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng con sông Đà ở đoạn trích trên Từ đó, nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích
Trang 30-Hết -HƯỚNG DẪN CHẤM THI, ĐÁP ÁN
Bài thi: NGỮ VĂN I/ Hướng dẫn chung:
1 Thầy cô giáo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm và Đáp án
- Thang điểm này để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh Do đặc trưng của
môn Ngữ văn, thầy cô giáo cần linh hoạt trong quá trình chấm, tránh đếm ýcho điểm, khuyến khích những bài viết sáng tạo
Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêucầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm (Câu 3, 4 phần Đọc hiểu, thísinh có thể diễn đạt khác với hướng dẫn chấm trong đáp án nhưng trả lời đúngnội dung yêu cầu thì vẫn được điểm tối đa.)
2 Việc chi tiết hóa điểm số của các câu trong Đáp án - Thang điểm phải
thống nhất đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi câu
3 Bài thi được chấm theo thang điểm 10; lấy đến 0,25; không làm tròn
1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ lục bát 0.5
2 Các hình ảnh: Mênh mông biển lúa; Cánh cò bay lả dập
dờn; Mây mờ che đỉnh Trường Sơn.
0.5
3 Tình cảm của tác giả: yêu thương, gắn bó, tự hào, kiêu hãnh, 1.0
Trang 31… về nhân dân, đất nước.
0.50.5
1 Viết đoạn văn về vẻ đẹp của dân tộc Việt Nam được thể hiện
trong 4 câu thơ…
c Triển khai vấn đề cần nghị luận
Tham khảo gợi ý sau:
- Trên hành trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nươc, dân
tộc Việt Nam đã phải luôn đương đầu với những thử thách nghiệt
ngã, đã phải nếm trải nhiều gian khổ, mất mát, hi sinh…
- Dân tộc Việt Nam đã vượt lên mọi gian nan, thử thách, mất
mát, đau thương, bằng sức mạnh của tinh thần bất khuất, sức sống
mãnh liệt và tâm hồn sáng trong, nhân ái, bao dung, tình nghĩa,
nhân hậu, thủy chung …
- Dân tộc Việt Nam mang vẻ đẹp hiền hậu, chất phác trong
cuộc sống đời thường
Trang 32Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận, có cách
diễn đạt mới mẻ
2 Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng con sông Đà ở đoạn trích (…)
Từ đó, nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích
5,0
1 Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận về một hình tượng trong
đoạn trích tuỳ bút ( có ý phụ)
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài Mở bài nêu được vấn
đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề
(0,25)
2 Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Vẻ đẹp hình tượng con sông Đà; chất thơ thể hiện trong đoạn
trích
(0,25)
3 Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự
cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp
chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng Cụ thể:
3.1.Mở bài: 0.25
- Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ chân chính suốt đời đi tìm cái
đẹp Ông có một vị trí quan trọng và đóng góp không nhỏ cho văn
học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới
trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học
dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam một phong
cách tài hoa, độc đáo.Điều đó được thể hiện qua tuỳ bút “Người lái
đò sông Đà”
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích ca ngợi vẻ đẹp thơ
mộng, trữ tình của sông Đà thể hiện chất thơ trong sáng tác của
Nguyễn Tuân
3.2.Thân bài: 3.50
a Khái quát về tác phẩm, đoạn trích:
- Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà
(1960) của nhà văn Nguyễn Tuân, gồm 15 bài tùy bút và một bài
thơ phác thảo đứng vào hàng kiệt tác của Văn học Việt Nam hiện
đại Tác phẩm mới đầu có tên là Sông Đà, sau đó khi in vào tập 2
(4.00)
Trang 33Tuyển tập Nguyễn Tuân thì tác giả đổi lại là Người lái đò Sông Đà.
- Vị trí, nội dung đoạn trích: thuộc phần đầu của tuỳ bút Saukhi nhà văn thể hiện vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà, ôngtiếp tục hướng đến vẻ đẹp trữ tình của con sông
b Cảm nhận nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp sông Đà trong đoạn trích:
*Về nội dung: Sông Đà có vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:
- Nguyễn Tuân đã quan sát sông Đà ở nhiều góc độ khác nhau
để có một cái nhìn toàn diện nhất Từ trên tàu bay nhìn xuống sông
Đà như “cái dây thừng ngoằn ngoèo” uốn quanh núi rừng Tây Bắc
Ở những quãng yên, dòng sông lại giống như một người thiếu nữkiều diễm “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tócchân tóc ấn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoagạo” Điệp ngữ “tuôn dài, tuôn dài” như mở ra trước mắt ngườiđọc sự vô tận của dòng sông Phép so sánh “như một áng tóc trữtình” tạo nên vẻ đẹp kiêu sa của Đà giang Nó như một kiệt tác củađất trời dành riêng cho vùng đất thiêng liêng này Hai chữ “ẩnhiện” càng làm tăng lên sự bí hiểm của dòng sông Ta như đi lạcgiữa chốn bồng lai vừa thực, vừa mộng Mái tóc trữ tình ấy, cònđược cài thêm hoa ban, hoa gạo đẹp mơ màng trong khói nươngmùa xuân Bằng con mắt rất tinh tế, Nguyễn Tuân đã phát hiệnđược những góc nhìn mà ở đó, dòng sông đã phô ra được tất cả vẻđẹp trẻ trung, mềm mại, thướt tha của mình Đoạn văn còn thể hiệntài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân : giữa haichữ “tuôn dài tuôn dài” thường sẽ có dấu phẩy, nhưng tác giả cốtình phá vỡ cấu trúc ngữ pháp để bản thân câu chữ cũng có khảnăng tạo hình và tô đậm ấn tượng về cái mênh mang, dàn trải, cáimềm mại, duyên dáng của dòng sông Ngoài ra trong câu văn nàycòn có thể nhận thấy tác giả sử dụng rất nhiều vần bằng tạo nên ấntượng về một dòng chảy nhẹ nhàng,êm đềm của dòng sông Đà ở
hạ nguồn.Câu văn này của Nguyễn Tuân xứng đáng được xếp vàonhững câu văn đẹp được coi là “tờ hoa” trong văn học Việt Nam
- Quan hệ giữa Nguyễn Tuân với dòng sông Đà không chỉ đơnthuần là quan hệ giữa nhà văn và đối tượng miêu tả mà còn là quan
Trang 34hệ giữa những người bạn tri âm tri kỉ Bởi vậy, tác giả không chỉdừng lại trên bề mặt để ghi lại chất thơ của dòng sông mà còn đisâu vào tâm hồn để nhận thấy chất trữ tình trong tính cách, trongquan hệ của dòng sông với con người.
+Tác giả dùng 1 từ ngữ rất thiêng liêng và ý nghĩa để gọi sông
Đà, đó chính là “cố nhân” Trong văn hóa của người Việt Nam thì
“cố nhân” dùng để chỉ những tình bạn thân thiết, gắn bó, nhữngtình bạn đã được tạo nên từ sự đồng điệu tri âm, đã được thử tháchbởi những thăng trầm của thời gian Hơn nữa từ “cố nhân” còn gợilên cảm xúc bâng khuâng, da diết của một nỗi nhớ đậm sâu
Khác hẳn với con thủy quái hung dữ luôn tìm cách đe dọa,tiêu diệt con người ở thượng nguồn, về đến hạ nguồn sông Đàbỗng trở nên dịu dàng và đằm thắm, trở thành đối tượng chia sẻmọi buồn vui với con người.Bởi vậy khi phải xa cách dòng sông,Nguyễn Tuân nhớ dòng sông như nhớ 1 người bạn thân thiết Vìtác giả dành cho dòng sông nỗi nhớ da diết, mãnh liệt nên khi đượcgặp lại con sông yêu thương, niềm vui đã vỡ òa và tràn ra trên bềmặt câu chữ của Nguyễn Tuân :
Trước hết, đó là câu văn: Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Ở đây, Nguyễn Tuân sử dụng
những câu văn ngắn, giữa các vế có sự trùng điệp về cấu trúc tạonên nhịp điệu nhanh, dồn dập, vừa gợi ra niềm vui háo hức say mê,vừa gợi ra những bước chân nhanh vội của tác giả để đến với dòngsông của mình Cụm từ “sông Đà” được điệp lại liên tiếp 3 lần ở 3
vế của câu văn gợi ra được trái tim nồng nhiệt, ấm nóng đang cốgắng mở rộng tất cả biên độ của mình để ghi lại những biểu hiện
dù là nhỏ bé, giản dị nhất của sông Đà như: bờ, bãi, chuồn chuồn,bươm bướm Các vế câu lại được khéo léo sắp xếp để vế sau dàihơn vế trước cho thấy sự tăng cấp, sự hối hả dồn dập trong niềmvui vỡ òa của tác giả, khiến cho câu văn không còn là câu mô tảbình thường mà đã trở thành những tiếng reo vui
Niềm vui của tác giả còn được diễn tả bằng những hình ảnh so
sánh độc đáo liên tiếp đặt cạnh nhau:“Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nổi lại chiêm bao đứt quãng” Có thể nói đây là 2 hình ảnh so sánh rất lạ.Cách so
Trang 35sánh giúp tác giả diễn tả chính xác niềm vui căng tràn, mãnh liệt
của mình Vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm gợi ra niềm
vui vì sự mong đợi đã được thỏa mãn vì sự thay đổi theo chiều
hướng lạc quan, tươi sáng Vui như nối lại chiêm bao đứt quãng lại
gợi ra được niềm vui hiếm hoi nhưng vô cùng mãnh liệt, vì thôngthường những giấc mơ khi đã đứt thì rất khó nối lại được Việc nốilại những giấc chiêm bao đứt quãng vừa là những trường hợp rất hihữu, vừa vô cùng quý giá
- Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn được Nguyễn Tuân thể hiệnqua việc miêu tả sắc nước Nhà văn không đưa ra nhận xét mộtcách hồ đồ, mà ông “đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trênsông Đà; đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống” sau đómới khẳng định: sắc nước sông Đà thay đổi theo mùa Mùa xuân,nước sông Đà “xanh ngọc bích” chứ không“xanh màu xanh canhhến như màu của sông Gâm, sông Lô “Xanh ngọc bích ” là xanhtrong, xanh sáng - một sắc màu gợi cảm giác trong lành, đó là sắcmàu của nước, của núi, của da trời cùng nhau hòa quyện Mùa thu,nước sông Đà “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượubữa” Câu văn so sánh khiến người đọc phải ngỡ ngàng trước sự đadạng của sắc nước sông Đà Nó không thay đổi dồn dập như màunước sông Hương “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím ” hay đỏ nặngmột màu phù sa như nước sông Hồng Chưa bao giờ, sông Đà cómàu đen như “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tâyvào rồi gọi bằng một cái tên láo lếu”
- Nguyễn Tuân đã gieo vào tâm trí người đọc những cảnh đẹp
ấn tượng đọc đôi bờ sông Không dữ dội như quãng bày thạch trậntrên sông, “cảnh ven sông lặng như tờ, từ đời Lý đời Trần đời Lê,quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi” Tác giả hướng đếnlịch sử những buổi đầu dựng nước và giữ nước để làm nổi bật vẻđẹp nguyên sơ của dòng sông Đúng như nhà văn đã so sánh “bờsông hoang dại như một bờ tiền sử ”, “hồn nhiên như một nỗi niềm
cổ tích tuổi thơ” Điểm thêm vào đó là “một nương ngô nhú lênmấy lá ngô non đầu mùa” cùng “một đàn hươu cúi đầu ngổn búp
cỏ gianh đẫm sương đêm” Thiên nhiên nơi đây như một bức họathủy mặc khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Lý Bạch “Yên hoa
Trang 36tâm nguyệt há Dương Châu ” (Xuôi thuyền về Dương Châu giữa
tháng ba, mùa hoa khói) Đó là cái nắng Đường thi ấm áp và tràn
ngập sự sống của mùa xuân
- Khái quát: Như vậy, để làm rõ vẻ vẻ đẹp trữ tình của dòngsông Đà, Nguyễn Tuân đã miêu tả từ nhiều thời điểm: mùa xuân,mùa thu, từ nhiều góc độ: khi thì ngồi trên trực thăng để bao quáttoàn cảnh , khi thì xuôi thuyền dọc theo sông Đà thậm chí có khicòn dừng hẳn lại để chiêm ngưỡng và miêu tả một cách cặn kẽ, kĩcàng Việc làm đó của Nguyễn Tuân vừa cho thấy con sông Đàmang trong mình một vẻ đẹp đa chiều, phải soi ngắm từ nhiềuphương diện, góc độ mới có thể thấy hết cái thơ mộng trữ tình của
nó, vừa cho thấy tinh thần lao động nghiêm túc ở Nguyễn Tuân
- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giọng điệu mượt mà, sâu lắng
c Nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích
- Biểu hiện: chất thơ trong đoạn trích thể hiện:
+ Cảm nhận của tác giả về vẻ đẹp trữ tình của dòng sông: Sông
Đà như một người gái đẹp của núi rừng Tây Bắc với mái tóc dài,thật dài, mượt mà, tha thướt, gài buông lơi những bông hoa bantrắng ngần hay những bông gạo đỏ rực, thấp thoáng ẩn hiện giữanúi rừng mùa xuân mù sương khói
+ Vẻ tinh khôi, non tơ của nương ngô nhú lá non đầu mùa, củanhững vạt đồi cỏ gianh đang ra nõn búp; vẻ lặng tờ, tịnh khôngmột bóng người, hoang dại, hồn nhiên của đôi bờ biền bãi
+ Ở xúc cảm tinh tế của tác giả trước dòng sông thơ mộng, trữtình: cảm giác đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân sau chuỗi ngàychia biệt; cảm giác thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-
lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ Yên Bái
Trang 37-Lai Châu
+ Ở những so sánh, liên tưởng thú vị độc đáo của Nguyễn
Tuân: Sông Đà như một người con gái đẹp, như một cố nhân, nước
Sông Đà đổi màu liên tục qua mỗi mùa trong năm
- Ý nghĩa: Chất thơ trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân là một phần
trong nội dung phong cách tài hoa, uyên bác của ông Ông để lại
ấn tượng đặc biệt về một con sông đầy cá tính, mang tính cách của
con người với hai nét độc đáo, đối lập mà thống nhất: hung bạo và
trữ tình Qua đó, ta thấy nhà văn có công đi tìm cái đẹp - chất vàng
thiên nhiên Tây Bắc để ca ngợi Thiên nhiên là sản phẩm nghệ
thuật vô giá, là công trình mĩ thuật của tạo hoá đã ban tặng cho con
người Đó cũng chính là tình yêu Tổ quốc mà nhà văn cách mạng
Nguyễn Tuân đã gửi gắm qua trang tuỳ bút của mình
3.3.Kết bài: 0.25
- Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp trữ tình của sông
Đà trong đoạn trích;
- Bài học cuộc sống rút ra qua đoạn trích: tình yêu thiên
nhiên, quê hương, đất nước…
4 Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới
mẻ về vấn đề nghị luận
( 0,25)
5 Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
( 0,25)
Trang 38
-Hết -NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
ĐỀ SỐ 6
I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn
Dù đục dù trong, con sông vẫn chảy
Dù cao dù thấp, cây lúa vẫn xanh
Dù người phàm tục hay kẻ tu hành Vẫn phải sống từ những điều rất nhỏ
Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó
Sao ta không tròn ngay tự trong tâm Đất ấp ôm cho mọi hạt nảy mầm Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng
Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận ra ta
Ai trong đời cũng có thể tiến xa
Nếu có khả năng tự mình đứng dậy
Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy Không chỉ dành cho một riêng ai!
( Thơ tự sự, Nguyễn Quang Vũ, báo Hoa học trò, số 6, năm 1994)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 Chỉ ra 3 cặp từ trái nghĩa diễn tả sự tương phản, đối lập của cuộc sống
được tác giả sử dụng trong khổ thơ thứ nhất
Trang 39Câu 3 Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu thêm điều gì về vai trò của những thử thách trong cuộc sống đối với mỗi con người?
“Nếu tất cả đường đời đều trơn láng
Chắc gì ta đã nhận ra ta”
Câu 4 Anh/Chị có suy nghĩ gì về lời khuyên của tác giả : Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó/Sao ta không tròn ngay tự trong tâm?
II LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1( 2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một
đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thái độ sống tíchcực, chủ động của con người trong mọi hoàn cảnh
Câu 2 ( 5,0 điểm) Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã
miêu tả về cuộc chiến giữa người lái đò và con sông Đà:
“ Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước
vô sở bất chí ấy cứ bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò (…) Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái.Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.”
(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục
Việt Nam 2013, tr 189)
Phân tích vẻ đẹp của hình tượng người lái đò trong đoạn văn trên Từ
đó, nhận xét “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của người lao động miền Tây
Bắc mà Nguyễn Tuân đang tìm kiếm
- HẾT ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM
-Đáp án và thang điểm gồm có 03 trang
Trang 402 Ba cặp từ trái nghĩa diễn tả sự tương phản, đối lập của cuộc sống
được tác giả sử dụng trong khổ thơ thứ nhất: đục – trong; cao – thấp; phàm tục –tu hành.
0,5
3 Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu thêm điều gì về vai trò của
những thử thách trong cuộc sống đối với mỗi con người?
Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận ra ta
1.0
- "Đường đời trơn láng" tức là cuộc sống quá bằng phẳng, yên ổn,
không có trở ngại, khó khăn nên không cho con người cơ hội để trảinghiệm, khám phá bản thân
- Trong cuộc đời, mỗi con người ai cũng sẽ phải trải qua những khókhăn, gian khổ, thử thách Nhưng những thử thách có vai trò đối vớicuộc sống mỗi người:
+ Những thử thách là cơ hội để mỗi người thể hiện, tôi luyện ý chí,bản lĩnh để từ đó khẳng định mình
+ “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, khi đối diện với những thửthách mới hiểu rõ chính mình, thấy được những ưu điểm, nhượcđiểm từ đó để trưởng thành hơn, khôn lớn hơn
+ Vượt qua thử thách chúng ta sẽ đi đến thành công
- Xác định lời khuyên: Con người cần suy nghĩ thấu đáo, có cái nhìn
tích cực, lạc quan trước cuộc đời vốn ẩn chứa nhiều bấtngờ, nghịch lý, ngang trái
- Suy nghĩ về lời khuyên: Câu thơ là một lời nhắc nhở, nêu lên
phương châm sống tích cực cho mỗi người Từ đó tác