sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn 8 đề tài biện pháp giúp học sinh lớp 8 làm tốt kiểu bài văn nghị luận
Trang 1Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến huyện
1 Tôi ghi tên dưới đây:
Nơi công tác (hoặc
nơi thườngtrú)
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
(ghi rõ đốivới từngđồng tác giả,nếu có)
viên
Đại học
sư phạmNgữ văn
100%
2 Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
Một số biện pháp hướng dẫn học sinh kết hợp yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong bài văn nghị luận ở lớp 8.
3 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: - Trường
4 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
5 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Năm học
2019 - 2020
6 Mô tả bản chất của sáng kiến:
6.1 Tình trạng của giải pháp đã biết:
Trong chương trình Ngữ văn 8, phần văn nghị luận không chỉ thuần túyđòi hỏi học sinh phải nắm chắc các kiểu bài nghị luận chứng minh hay nghị luậngiải thích, nắm chắc các thao tác lập luận để giải thích hay chứng minh như ở
Trang 3cách diễn dịch và quy nạp Các luận cứ phải phục vụ cho luận điểm Lí lẽ phảithuyết phục người đọc quan trọng hơn là học sinh phải thực hiện được yêu cầumới được đặt ra trong học kì II này là: yêu cầu đưa các yếu tố tự sự, miêu tả,biểu cảm vào bài văn nghị luận sao cho không phá vỡ mạch lạc nghị luận củađoạn văn, bài văn.
Miêu tả, biểu cảm, tự sự vốn là những phương thức biểu đạt của cáckiểu văn bản khác mà các em đã được học, làm quen ở lớp dưới (lớp 6, 7) Vấn
đề ở chỗ là làm thế nào để dạy học sinh kết hợp, sử dụng một cách hiệu quả cácphương thức này trong văn nghị luận, làm cho bài viết của các em hay hơn, tácđộng mạnh mẽ vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của người đọc nhanh hơn làmột yêu cầu đặt ra cho các em, đòi hỏi các em phải đạt được khi làm kiểu bài này
Trong thực tế đời sống, tự sự, miêu tả, biểu cảm là những phương thứcbiểu đạt khác nhau, nhưng khi kết hợp các yếu tố này vào trong bài văn nghịluận sẽ làm cho bài văn nghị luận tăng hiệu quả diễn đạt lên nhiều lần Các yếu
tố này còn giúp cho việc trình bày luận điểm, luận cứ trong bài văn nghị luậnđược rõ ràng cụ thể, sinh động hấp dẫn hơn Và do đó bài văn có sức thuyếtphục mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, việc đưa yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vàobài văn nghị luận không thể tùy tiện, không phải vì yêu cầu đặt ra mà đòi hỏihọc sinh phải áp dụng bằng được mà căn bản nhất là giáo viên phải làm cáchnào để học sinh hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này trong bài văn nghịluận để từ đó các em có ý thức đưa vào bài viết của mình sao cho có hiệu quả.Mặt khác là khi đưa các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vào bài văn làm thếnào phải phù hợp với luận điểm, luận cứ, phải phục vụ cho việc làm rõ luậnđiểm, không phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài văn cũng là yêu cầu bức thiếttrong thực tế giảng dạy đặt ra cho giáo viên
Từ thực trạng giảng dạy của bản thân tôi những năm học trước khi dạykiểu bài này và khi tiến hành kiểm tra kết quả áp dụng phương pháp của mìnhvào thực tế giảng dạy tôi nhận thấy kết quả bài làm của học sinh không cao, các
kĩ năng thực hành chưa được nhuần nhuyễn, linh hoạt khiến cho bài văn có phầnkhô cứng, thiếu sinh động Đứng trước thực tế đó, là một giáo viên đứng lớphiện nay tôi nhận thấy đây là vấn đề đang đặt ra những thách thức không nhỏtrong việc thay đổi cách tổ chức dạy học sao cho đạt hiệu quả Vì vậy, tôi nghĩmình cần bắt tay ngay vào việc thay đổi cách tổ chức dạy học ở một số khâu lênlớp vừa phù hợp với mục tiêu vừa rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinhvừa giúp các em biết cách kết hợp các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vào bàivăn của mình một cách hợp lí, sáng tạo, đạt hiệu quả giao tiếp cao Việc làm này
sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học văn nghị luận hiện nay
Trang 4Trước đây, khi tiến hành dạy và rèn luyện kĩ năng cho học sinh làmdạng bài này tôi thường tiến hành như sau:
Bước 1: Giúp học sinh hiểu được khái niệm, vai trò của yếu tố miêu tả, biểu cảm và tự sự trong bài văn nghị luận.
Bước này có tác dụng giúp học sinh nhớ lại đặc trưng cơ bản của một sốthể loại văn đã học ở lớp 6,7 Đến năm lớp 8, đòi hỏi các em thêm kĩ năng: đưacác yếu tố đó vào bài văn nghị luận, để bài viết thuyết phục hơn, tác động mạnh
mẽ vào tư tưởng của người đọc
Thao tác thứ nhất: giúp học sinh hiểu được yếu tố miêu tả và vai trò của
nó trong bài văn nghị luận
Miêu tả là dùng ngôn ngữ hay một phương thức nghệ thuật diễn tả mộtcách chi tiết để người đọc hoặc người xem có thể hình dung và cảm nhận được
sự vật, hiện tượng đó như hiện ra ở ngay trước mắt Trong văn bản nghị luậnmiêu tả không đóng vai trò chính, nhưng có thể giúp cho quá trình lập luận được
rõ ràng hơn
Thao tác thứ hai: giúp học sinh hiểu được yếu tố biểu cảm và vai trò của
nó trong bài văn nghị luận
Biểu cảm là bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của bản thân trước mộthiện tượng hoặc sự vật nào đó, yếu tố biểu cảm có tác dụng làm cho bài văn bớtkhô khan và có chiều sâu cảm xúc
Thao tác thứ ba: giúp học sinh hiểu được yếu tố tự sự và vai trò của nó
trong bài văn nghị luận
Tự sự là phương thức chủ yếu để thông báo sự việc, tìm hiểu sự vật, đápứng yêu cầu nhận thức của người đọc và người nghe Trước đây hiểu một cáchnôm na là văn kể chuyện Hiểu theo cách này thì có thể coi tự sự là trình bày, kểlại một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đếnmột kết thúc, thể hiện một ý nghĩa
Yếu tố miêu tả, biểu cảm và tự sự là những yếu tố rất cần thiết trong vănbản nghị luận Tính hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố biểu cảm, miêu tả,
tự sự trong văn bản nghị luận được thể hiện qua sự hấp dẫn của những từ ngữ,
âm thanh, hình ảnh, màu sắc có giá trị gợi tả, gợi cảm cao với người đọc, ngườinghe Nhờ đó mà bài văn nghị luận được rõ ràng hơn, diễn tả sâu sắc hơn cáckhía cạnh khác nhau của thực tế được phản ánh
Ưu điểm:
Trang 5Giúp học sinh nắm chắc hơn đặc điểm và vai trò của các yếu tố miêu tả,biểu cảm, tự sự trong bài văn nghị luận.
Giúp học sinh hiểu được tại sao khi viết văn nghị luận người ta thường kếthọp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự trong bài văn nghị luận để từ đó học sinhrèn thêm kĩ năng viết của bản thân vào dạng bài này
Nhược điểm: Hạn chế thời gian phải nhắc lại kiến thức cũ
Bước 2: Rèn kĩ năng nhận diện yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự trong văn bản nghị luận.
Đây là bước vô cùng quan trọng nếu học sinh không nhận diện được cácyếu tố này trong một văn bản nghị luận thì khó có thể thực hành viết đựơc mộtbài văn nghị luận có kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự thành côngđược Vì thế trước đây tôi tiến hành như sau:
Thao tác thứ nhất: Giúp học sinh nhận diện yếu tố biểu cảm trong bài văn
nghị luận
Tôi yêu cầu học sinh chú ý vào ngữ liệu đã cho (văn bản: Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến - Hồ Chí Minh) và yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ biểu lộ
tình cảm mãnh liệt của tác giả và những câu cảm thán trong văn bản đó
Học sinh tìm, phát hiện các yếu tố biểu cảm trình bày kết quả tôi yêu cầuhọc sinh nhận xét giá trị của các yếu tố đó trong bài văn Từ đó học sinh hiểuđược giá trị của yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận: làm cho bài viết có sứcthuyết phục hơn, tác động mạnh mẽ vào tình cảm của người đọc hơn nên họcsinh sẽ có ý thức sử dụng yếu tố này trong bài viết của mình
Thao tác thứ hai: Giúp học sinh nhận diện yếu tố miêu tả và tự sự trong
bài văn nghị luận
Để giúp học sinh rèn được kĩ năng này tôi cung cấp hai đoạn ngữ liệu
trong văn bản nghị luận “Thuế máu” của tác giả Nguyễn Ái Quốc một đoạn nghị
luận có sử dụng yếu tố tự sự, một đoạn nghị luận có sử dụng yếu tố miêu tả yêucầu học sinh tìm các yếu tố đó Sau khi học sinh tìm được các yếu tố, miêu tả, tự
sự trong ngữ liệu đã cho, tôi đặt câu hỏi để khắc sâu đơn vị kiến thức cho họcsinh bằng câu hỏi: Vì sao trong đoạn văn 1 có yếu tố tự sự nhưng không phải làvăn bản tự sự? Trong đoạn văn 2 có yếu tố miêu tả nhưng không gọi là văn bảnmiêu tả ? Học sinh sẽ nhận thấy rằng các yếu tố đó chỉ giúp cho việc trình bàyluận cứ được rõ ràng hơn chứ không nhằm mục đích kể lại câu chuyện hay miêu
tả làm bật đối tượng, để người đọc hình dung ra đối tượng đang được tả cụ thể,chi tiết hơn
Trang 6Ưu điểm:
Thao tác này giúp cho học sinh nhận diện và hiểu được các yếu tố: biểucảm, miêu tả, tự sự được vận dụng như thế nào trong bài văn nghị luận Từ đóhọc sinh sẽ học tập và vận dụng tốt hơn trong bài viết
Sau khi học sinh đã nắm được các đặc điểm cơ bản, tác dụng của các yếu
tố biểu cảm, tự sự, miêu tả trong bài văn nghị luận thì không thể bỏ qua thao tácrèn kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự vào bài văn nghị luận đượcbởi lẽ nhờ có thao tác này học sinh sẽ thực hành, áp dụng hiệu quả hơn Vì thếtôi thường làm như sau
Thao tác thứ nhất: Chọn luận điểm phù hợp để học sinh thực hành viết
đoạn văn
Thao tác thứ hai: Yêu cầu học sinh viết đoạn năn, bài văn có kết hợp các
yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả để rèn kĩ năng cho học sinh
Thao tác thứ ba: Học sinh đọc đoạn văn có kết hợp các yếu tố biểu cảm,
miêu tả, tự sự rồi giáo viên trực tiếp nhận xét để rút kinh nghiệm cho học sinh
Thao tác thứ tư: Học sinh sửa chữa, viết lại đoạn văn, bài văn cho nhuần
nhuyễn
Ưu điểm:
Rèn được kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh
Học sinh biết cách kết hợp các yếu tố đã học vào thực hành viết đoạn vănnghị luận theo yêu cầu
Trang 76.2 Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a) Mục đích của giải pháp:
Trong quá trình làm bài kiểm tra thường xuyên ở lớp cũng như làm bàikiểm tra định kì môn Ngữ văn ở lớp 8 trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy kĩnăng làm kiểu bài nghị luận có kết hợp các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm củahọc sinh còn rất nhiều hạn chế Bài làm của học sinh thường sơ sài, chungchung, lan man, chưa biết cách vận dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả vàobài viết một cách thích hợp Thực trạng ấy làm cho đội ngũ thầy cô giáo chúng
ta phải trăn trở, phải suy nghĩ, mà nguyên nhân chính là học sinh chưa có kĩnăng viết bài, không xác định đúng mức độ, liều lượng của các yếu tố khi đưavào bài nghị luận, dẫn đến khi thực hành cụ thể để áp dụng vào bài viết lại làmcho đoạn văn, bài văn của mình gượng gạo, hoặc phá vỡ mạch lạc nghị luận củabài viết Dẫn đến hiệu quả thuyết phục không cao, khả năng tác động vào tưtưởng, tình cảm của người đọc (người nghe) bị hạn chế Vì vậy, tôi thiết nghĩcần phải tìm ra cách dạy học sinh làm bài văn cho hiệu quả hơn, tìm cách hướngdẫn như thế nào để các em thực hành đạt hiệu quả, chất lượng bài viết tốt hơn
Do đó, tôi đã tiến hành thay đổi, cải tiến phương pháp tổ chức ở một số khâutrên lớp của mình nhằm rèn cho học sinh kĩ năng tự học và kĩ năng nhận diện;biết cách lập luận để trình bày luận điểm; biết cách vận dụng các yếu tố miêu tả,
tự sự, biểu cảm đúng vị trí, liều lượng để bài viết không bị chuyển thể loại
Đồng thời qua đây tôi cũng muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bécủa mình giúp các đồng nghiệp dạy văn của huyện nhà tìm ra giải pháp, hướng
đi thích hợp hơn khi dạy học sinh kiểu bài nghị luận ở lớp 8 có kết hợp các yếu
tố đó trong việc tác động vào nhận thức và tình cảm của người đọc rồi rèn kĩnăng đưa các yếu tố đó vào bài văn của chính mình
Điểm mới của biện pháp: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh rèn
được kĩ năng tự học và kĩ năng tự nhận diện các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sựtrong các ngữ liệu tương tự (phát triển năng lực tự học)
Trang 8Như trước đây, tôi thường giúp học sinh nhận diện các yếu tố biểu cảm,miêu tả, tự sự bằng việc ôn lại đơn vị kiến thức cũ Với những câu hỏi như nhắclại em hiểu các yếu tố đó như thế nào để giúp học sinh nhận diện được các yếu
tố đó Nhưng trong năm học này, tôi đã thay đổi cách làm như sau để giúp họcsinh nhận diện các yếu tố: biểu cảm, miêu tả, tự sự
Quy trình thực hiện:
Thao tác thứ nhất: Ở cuối mỗi tiết học có đơn vị kiến thức liên quan đến
bài sau, tôi đặc biệt chú trọng làm tốt khâu hướng dẫn học sinh học bài ở nhà, tôithường yêu cầu học sinh tự tìm lại đơn vị kiến thức đã học về kiểu bài: Biểucảm, miêu tả, tự sự đã học ở lớp 6,7 rồi ghi lại đầy đủ, chính xác đơn vị kiếnthức đó vào vở bài tập Yêu cầu học sinh nắm thật chắc đơn vị kiến thức đótrước khi tôi dạy bài học mới trên lớp Bằng cách đó tôi rèn cho học sinh nănglực tự học
Thao tác thứ hai: Tôi kết hợp tiến hành kiểm tra đơn vị kiến thức cũ cho
học sinh trong các hoạt động đầu giờ để nắm bắt xem học sinh đã chuẩn bị bài
và nắm chắc đơn vị kiến thức giáo viên yêu cầu chưa Bằng cách đó tôi tiết kiệmđược thời gian ôn lại đơn vị kiến thức trong bài mà vẫn kiểm tra được kiến thứccủa học sinh
Thao tác thứ ba: Tôi tập trung tổ chức cho học sinh thực hành để nhận
diện yếu tố biểu cảm, miêu tả, tự sự trong văn bản nghị luận bằng cách:
Trước tiên đối với kĩ năng: nhận diện yếu tố biểu cảm trong văn bản nghịluận, tôi tiến hành như sau:
Yêu cầu học sinh chú ý vào hai văn bản nghị luận Văn bản 1: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn (SGK trang 55, 56, 57, 58) Văn bản 2: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (SGK trang 95, 96) Tôi tổ chức
cho học sinh hoạt động theo nhóm Nhóm 1, 2 hoạt động với văn bản 1 Nhóm3,4 hoạt động với văn bản 2 Thời gian hoạt động nhóm 5 phút Yêu cầu cho cácnhóm hoạt động bằng mệnh lệnh: Hãy tìm những từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnhliệt của tác giả và những câu cảm thán trong hai văn bản trên
Học sinh thảo luận, trao đổi rồi trình bày kết quả trước lớp các nhóm cònlại nhận xét, bổ sung cho kết quả được hoàn thiện, giáo viên lắng nghe thốngnhất các ý kiến Như vậy tôi rèn được cho học sinh năng lực hợp tác, năng lựcgiải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực trình bày (kĩ năng nói) vừa tích hợp khaithác kiến thức Để khắc sâu đơn vị kiến thức cho học sinh tôi chú ý đặt thêm câuhỏi: Tại sao các em cho rằng đó là những từ ngữ biểu lộ tình cảm? Học sinh trao
Trang 9đổi đưa ra ý kiến Qua các ý kiến trao đổi học sinh sẽ nhận diện chắc chắn hơnđặc điểm của các yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.
Sau đó đối với kĩ năng: nhận diện yếu tố miêu tả, tự sự trong văn bản nghịluận, tôi tiến hành tương tự thao tác trên:
Tôi yêu cầu học sinh chú ý vào ngữ liệu (SGK trang 113, 114) Tổ chứccho học sinh hoạt động nhóm Nhóm 1,2 hoạt động với đoạn trích (a) Nhóm3,4 hoạt động với đoạn trích (b) Thời gian hoạt động nhóm 5 phút Yêu cầu chocác nhóm hoạt động: Hãy tìm yếu tố tự sự, miêu tả trong ngữ liệu đã cho
Học sinh thảo luận rồi trình bày kết quả trước lớp các nhóm nhận xét, bổsung cho kết quả được hoàn thiện, giáo viên lắng nghe thống nhất các ý kiến Đểkhắc sâu đơn vị kiến thức đó cho học sinh tôi chú ý đặt thêm câu hỏi: Vì saođoạn trích (a) có yếu tố tự sự nhưng không phải là văn bản tự sự, còn đoạn trích(b) có yếu tố miêu tả nhưng không phải là văn bản miêu tả? Học sinh tư duy,trao đổi đưa ra ý kiến: Hai đoạn văn trên có kể về một thủ đoạn bắt lính và cũng
có tả lại cảnh khổ sở của người bị bắt lính Nhưng 2 đoạn văn đó không phải là
đoạn văn tự sự hay đoạn văn miêu tả vì tự sự và miêu tả không phải là mục đích
chủ yếu nhất mà người viết nhằm đạt tới Tác giả viết 2 đoạn trích trên nhằm
mục đích vạch trần sự tàn bạo, giả dối của thực dân trong cái gọi là mộ lính tình
nguyện để nhằm làm rõ phải trái, đúng sai, đó là những đoạn văn nghị luận mà
yếu tố tự sự, miêu tả cũng giống như biểu cảm chỉ là yếu tố phụ trợ trong 2 đoạntrích trên Qua các ý kiến trao đổi học sinh sẽ nhận diện chắc chắn hơn đặc điểmcủa các yếu tố miêu tả và tự sự trong văn bản nghị luận
Thao tác thứ tư, tôi tổ chức các hoạt động học cho học sinh hiểu được tác
dụng của yếu tố biểu cảm, miêu tả, tự sự trong bài văn nghị luận, chỉ khi các emthấy được các yếu tố biểu cảm, miêu tả, tự sự có tác dụng to lớn với bài văn nghịluận như thế nào thì các em mới có ý thức vận dụng, kết hợp các yếu tố đó trongbài văn của mình Để làm được điều đó tôi tiến hành cụ thể như sau:
Trước tiên, tôi giúp học sinh hiểu được tác dụng của yếu tố biểu cảm với
bài văn nghị luận bằng cách tôi lập một bảng đối chiếu lấy ngữ liệu từ hai văn
bản học sinh vừa được tìm hiểu: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và Hịch
tướng sĩ để làm ngữ liệu đối chứng như sau:
Thấy sứ giặc đi lại ngoài đường, sỉ
mắng triều đình, bắt nạt tể phụ
Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà
Trang 10bắt nạt tể phụ.
Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị
bắt
Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị
bắt, đau xót biết chừng nào!
Chúng ta sẵn sàng hi sinh tất cả, chứ
không thể mất nước, không thể làm
nô lệ
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ.
Chúng ta cần phải đứng lên Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Tiếp theo, tôi đặt câu hỏi nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ: Khi đọc xongcác câu ở cột 1 và cột 2 em có nhận xét gì?
Học sinh sẽ phát hiện thấy:
Đoạn 1: Không có các từ ngữ biểu cảm, không có các câu cảm Như vậyđoạn văn chỉ đúng mà chưa hay
Đoạn văn 2: Có nhiều từ ngữ biểu cảm, có nhiều câu cảm Như vậy đoạnvăn vừa đúng lại vừa hay
Như vậy, nếu thiếu yếu tố biểu cảm đoạn văn sẽ khô khan, khó có thể gâyxúc động, truyền cảm, hấp dẫn người nghe
Đó là cách tôi giúp học sinh tự đối chứng rồi rút ra kết luận làm kinhnghiệm cho bản thân trong quá trình thực hành để viết bài
Trong quá trình giảng dạy tôi cũng không quên lưu ý với học sinh rằng:xét về bản chất, văn nghị luận nói chung là dùng lí lẽ, lập luận để bàn bạc, giảiquyết, làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm thuyết phục người đọc, người nghenên thao tác nghị luận là một tập hợp lí lẽ và những lí lẽ này được hình thànhbởi các thao tác tư duy Mục đích của một văn bản nghị luận là dùng lí trí củangười viết để tác động vào tâm trí của người đọc, người nghe Tuy nhiên, nếuchỉ đơn thuần sử dụng yếu tố lí trí thì chắc chắn văn bản nghị luận chưa đủ sứcthuyết phục Trong mỗi con người, lí trí và tình cảm thường có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, bổ trợ cho nhau Đây là lí do vì sao trong văn nghị luận rất cần sửdụng yếu tố biểu cảm Chính những tác phẩm nghị luận nổi tiếng nhất lại lànhững tác phẩm có sử dụng yếu tố biểu cảm một cách phong phú, sinh động
như: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
của Hồ Chí Minh…
Trang 11Tiếp theo, tôi giúp học sinh hiểu được tác dụng của yếu tố miêu tả, tự sự
với bài văn nghị luận
Có thể thấy, nếu xét ở góc độ tư duy thì giữa nghị luận và tự sư, miêu tả
có một sự khác biệt lớn bởi vì nghị luận thuộc kiểu tư duy logic với sự tham giacủa lí trí, rất mạch lạc, rõ ràng, khúc chiết, còn tự sự và miêu tả thuộc kiểu tưduy hình tượng với sự kết hợp của khả năng quan sát và trí tưởng tượng phongphú của con người Trong thực tế khi tạo lập văn bản các phương thức này lại hỗtrợ nhau, phục vụ một cách đắc lực cho quá trình nghị luận để giúp học sinhhiểu được điều này tôi tiến hành cách sau: tôi cho học sinh quay trở lại hai đoạn
trích của văn bản Thuế máu Tôi yêu cầu học sinh thử lược bỏ các yếu tố tự sự,
miêu tả trong 2 đoạn văn rồi rút ra nhận xét Học sinh sẽ nhận thấy rằng: Nếu
lược bỏ các yếu tố miêu tả, tự sự thì đoạn văn sẽ rất khô khan mất hẳn đi vẻ sinhđộng thuyết phục Thứ hai là các yếu tố tự sự và miêu tả còn có tác dụng làm rõluận điểm Để học sinh nắm rõ điều này tôi cho học sinh nghiên cứu ví dụ mục 2(SGK trang 115) để học sinh thấy rằng: Hai đoạn truyện trong sách giáo khoađược viết ra để dùng làm luận cứ chứng tỏ rằng 2 truyện cổ của dân tộc miền núi
(Truyện Chàng Trăng của dân tộc Mơ-nông và truyện Nàng Han của dân tộc
Thái) có nhiều nét rất giống với truyện Thánh Gióng ở miền xuôi Tôi nhấn mạnh với học sinh rằng : Tác giả không kể, tả chi tiết hai câu chuyện bởi vì mục
đích chính là nghị luận, để chứng minh các nét giống với truyện Thánh Gióng.
Hơn nữa ít người biết cụ thể nội dung hai truyện (Truyện chàng Trăng và truyện nàng Han), nếu người viết không kết hợp các yếu tố: kể và tả người đọc
không thể hình dung được sự gần gũi giống nhau như thế nào và tất nhiên luận
điểm sẽ kém thuyết phục Nhưng đến truyện Thánh Gióng tác giả không kể tả
vì đây là câu chuyện quen thuộc với nhiều người, dường như ai cũng biết Nhưvậy yếu tố tự sự và miêu tả xuất hiện khi nội dung nghị luận cần được minh họabằng những dẫn chứng cụ thể, sinh động thì khi đó các yếu tố tự sự, miêu tảđược dùng làm luận cứ và để phục vụ cho việc làm rõ luận điểm Chính sự vậndụng các yếu tố này sẽ góp phần làm cho nội dung nghị luận trở nên sáng tỏ, rõràng, hấp dẫn, giúp người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận vấn đề Đây là mộttrong những yếu tố tạo nên sức thuyết phục cho bài văn nghị luận
Sau khi tiến hành các thao tác tôi tiến hành kiểm tra, đánh giá các kĩ năngcho học sinh để kiểm chứng kết quả áp dụng phương pháp bằng các bài tập nhậndiện và phân tích tác dụng của yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả trong đoạn văn cụthể giáo viên đưa ra:
Bài tập: Hãy chỉ ra các yếu tố biểu cảm, miêu tả, tự sự trong đoạn văn vàcho biết tác dụng của các yếu tố đó
Trang 12Tôi thu được kết quả sau:
Tổng số học
sinh kiểm tra
Số học sinh đạt mức khá, giỏi
Số học sinh đạt yêu cầu
Số học sinh chưa đạt yêu cầu
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
Ưu điểm của biện pháp mới:
Tiết kiệm được thời gian ôn lại kiến thức cũ Tăng thời gian thực hànhtrên lớp cho học sinh
Rèn được kĩ năng tự học ở nhà của học sinh trước khi đến lớp
Rèn được kĩ năng nhận diện cho học sinh trước những ngữ liệu tương tự.Học sinh có kĩ năng so sánh đối chiếu các ngữ liệu để hiểu sâu sắc cáckhía cạnh của một vấn đề
Rèn luyện các năng lực hợp tác, năng lực trình bày, năng lực tư duy chohọc sinh
Nhược điểm của biện pháp mới: (chưa phát hiện ra)
* Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh tạo lập đoạn văn nghị luận
Điểm mới của biện pháp:
So với trước đây thì giải pháp này có điểm nổi bật là giáo viên phải suy
nghĩ thiết kế từng dạng bài theo các mức độ tư duy từ thấp đến cao (Nhận biết,
Thông hiểu, Vận dụng thấp, Vận dụng cao) phù hợp với học sinh, giúp học sinh
hoàn thiện được các kĩ năng viết đoạn văn nghị luận Biết cách lập luận để trìnhbày luận điểm Biết cách tìm luận cứ để làm sáng tỏ cho luận điểm Triển khailuận điểm thành đoạn văn Sử dụng các phép lập luận chứng minh và giải thích
để hoàn thiện đoạn văn bằng cách đa dạng hóa và phong phú về kiểu bài Triểnkhai đoạn văn theo cách quy nạp và diễn dịch có kết hợp các yếu tố biểu cảm,miêu tả, tự sự (phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề và sángtạo)