1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích việc phát huy các vai trò của ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn 20172019

21 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 58,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích việc phát huy các vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 20172019 .MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦUChuơng 1. Cơ sở lý thuyết về NSNN1.Khái niệm và đặc điểm của NSNN 1.1.1 Khái niệm NSNN1.1.2 Đặc điểm của NSNN1.2 Vai trò của NSNN1.2.1. NSNN là công cụ huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước.1.2.2. NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội. 1.2.3. NSNN là công cụ kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế xã hội.Chương 2. Thực trạng phát huy vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2017 đến 2019.2.1. Thực trạng phát huy vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2017 đến 20192.2. Đánh giá việc phát huy vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2017 đến 2019.a) Thành côngb) Hạn chế và nguyên nhânChương 3. Một số đề xuất nhằm nâng cao vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 20202030KẾT LUẬN LỜI MỞ ĐẦU Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ về nhiều mặt như quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ xã hội. Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Nhà nước cần phải có nguồn lực tài chính – Ngân sách Nhà nước, đó chính là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn tại và hoạt động. Ngày nay kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí, vai trò của tài chính Nhà nước ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, xây dựng nền tài chính tự chủ vững mạnh là yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta, trong đó Ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia. Ngân sách Nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân cùng mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của hệ thống tài chính. Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đmả bảo cho các chi tiêu của Nhà nước, và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế, và đảm bảo thu nhập cho người dân. Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của Ngân sách Nhà nước, nhóm 04, lớp HC: 2022EFIN2811, Trường Đại học Thương mại đã nghiên cứu và thảo luận cùng phân tích về vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam hiện nay. Chuơng 1: Cơ sở lý thuyết về NSNN1.1 Khái niệm và đặc điểm của NSNN 1.1.1 Khái niệm NSNN Trong hệ thống tài chính, ngân sách Nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng của Nhà nước do hiến pháp quy định, nó còn là công cụ quan trọng của Nhà nước có tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội, muốn sử dụng tốt công cụ nây phải nhận thức được những lý luận cơ bản về ngân sách Nhà nước.Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ Ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN

NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

Đề tài : Phân tích việc phát huy các vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2017-2019

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Chuơng 1 Cơ sở lý thuyết về NSNN

1 Khái niệm và đặc điểm của NSNN

1.1.1 Khái niệm NSNN

1.1.2 Đặc điểm của NSNN

1.2 Vai trò của NSNN

1.2.1 NSNN là công cụ huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu

và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước.

1.2.2 NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội

1.2.3 NSNN là công cụ kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế - xã hội.

Chương 2 Thực trạng phát huy vai trò của NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của cuộc đấutranh giai cấp, Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để thựchiện các chức năng và nhiệm vụ về nhiều mặt như quản lý hành chính, chức năng kinh tế,chức năng trấn áp và các nhiệm vụ xã hội

Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Nhà nước cần phải có nguồn lực tàichính – Ngân sách Nhà nước, đó chính là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn tại và hoạt động Ngày nay kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí, vai trò của tài chính Nhà nước ngàycàng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, xây dựng nền tài chính tự chủvững mạnh là yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta,trong đó Ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia

Ngân sách Nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệchặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân cùng mối quan hệ khăng khít với tất

cả các khâu của hệ thống tài chính Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tàichính để đmả bảo cho các chi tiêu của Nhà nước, và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,đảm bảo cho sự ổn định, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế, và đảm bảo thu nhập chongười dân

Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của Ngân sách Nhà nước, nhóm 04, lớp HC:

2022EFIN2811, Trường Đại học Thương mại đã nghiên cứu và thảo luận cùng phân tích vềvai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam hiệnnay

Trang 4

Chuơng 1: Cơ sở lý thuyết về NSNN1.1 Khái niệm và đặc điểm của NSNN

Các nhà kinh tế Nga quan niệm : Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu,chibằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia

Ngoài ra:

🡪 Điều 1 Luật NSNN đã được Quốc Hội nước C.H.X.H.C.N Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ

9 thông qua ngày 20/03/1996 có ghi: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi củaNhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trongmột năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Dù được định nghĩa hay hiểu như nào thì ngân sách Nhà nước đều có những đặc điểmchung sau

Thứ nhất, ngân sách Nhà nước là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong

một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

Thứ hai, ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài

chính cơ bản của Nhà nước

Thứ ba, ngân sách Nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy

động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau

Từ các quan điểm trên, ta có thể xác định

- Là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị, phát sinh gắn liền với quátrình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ TT tập trung của NN khi NN tham gia phân phối cácnguồn TC quốc gia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN

Trang 5

Để làm rõ quan niệm về ngân sách Nhà nước cần thiết phải chỉ ra các đặc điểm và vịtrí của ngân sách Nhà nước.

1.1.2 Đặc điểm của NSNN

- Thứ nhất: việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với quyền lực

của Nhà nước và phuc vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nướctiến hành trên cơ sở luật định Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa Ngân sách Nhà nướcvới các khoản tài chính khác Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chingân sách Nhà nước mang tính chất cấp phát “ không hoàn trả trực tiếp” Do nhu cầu chi tiêucủa mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội Nhà nước đã sử dụng để quy định hệ thốngpháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mìnhcho Nhà nước với tư cách là một chủ thể Các hoạt động thu chi NSNN đều tiến hành theo

cơ sở nhất định đó là các luật thuế, cế độ thu chi…do Nhà nước ban hành, đồng thời các hoạtđộng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước.Ngân sách Nhà nước nó luôn luôn chứa đựng nhựng lợi ích về mặt kinh tế, chính trị, ngoạigiao, xã hội… Nhưng lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng phải được đặt lên hàngđầu và chi phối các lợi ích khác

- Thứ hai: ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt vơi Nhà nước chưa đụng những lợi ích chung

và công, hoạt động thu chi của ngân sách Nhà nước là thể hiện qua các mặt kinh tế - xã hộicủa Nhà nướcNgân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được chia ra làmnhiều quỹ nhỏ, mỗi một quỹ nhỏ có những tác dụng riêng rồi sau đó mới được chia dung chonhững mục đích

- Thứ ba: cũng như các quỹ tiền tệ khác ngân sách Nhà nước cũng có đặc điểm riêng của

một quỹ tiền tệ, nó là quỹ tiền tệ tập chung của Nhà nước được chia ra thành nhiều quỹ nhỏ.Mỗi quỹ có tác dụng riêng rồi sau đó mới được chia dung cho những mục đích

- Thứ tư: hoạt động thu cho ngân sách Nhà nước được thể hiện theo nguyên tắc không hoàn

trả lại trực tiêp đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rút ngắn khoản thời gian giữangười giàu và người nghèo nhằm công bằng cho xã hội ví dụ: xây dựng đường xá, an ninhquốc phòng…” người chịu thuế sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa này nhưng hoàn trả một cáchtrực tiếp Bên cạnh đó ngân sách còn chi cho các quỹ chính sách, trợ cấp thiên tai

Nhà nước huy động nguồn tài thông qua công cụ như thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, cáckhoản vay trong nước hoặc nước ngoài, viên trợ từ các nước tổ chức trên thế giới,…

Trang 6

1.2.2 NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.

- Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thịtrường Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau:

+ Thứ nhất, ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế

mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền

Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướngnhững hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạchđịnh, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tố ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định

và bền vững Thông qua công cụ là ngân sách Nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhànước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các nghành thenchốt, trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sáchcũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo chotính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn Bằng việc huy động nguồn tài chính thông thông qua các khoản thuế và chính sáchthuế sẽ đảm bảo vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn thuế, giảm thuế có tácdụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hútđược doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết; ngược lại, một chính sách thuế khắt khe

sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh.Độc quyền,trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sảnxuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Đây là một trong những dạng của thấtbại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh Mực dù trên thực

tế hầu như không thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độc quyền

và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độc quyềnkhông thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội Độc quyền được phân loạitheo nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độcquyền Độc quyền gây ra rất nhiều tổn thất phúc lợi cho xã hội vì vậy, việc cấp vốn hìnhthành các doanh nghiệp là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữcho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, một trong những nguyênnhân kìm hãm phát triển nền kinh tế

+ Thứ hai, ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường,

bình ổn giá cả và chống lạm phát

Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động không ngừng của giá cả có nguyên nhân từ

sự mất cân đối giữa cung và cầu Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêucủa ngân sách Nhà nước, Nhà nước có tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá

cả Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách Nhà nước để đối phó với với sựbiến động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả:

o Đối với thị trường hàng hoá: hoạt động điều tiết của Chính phủ được thực hiệnthông qua việc sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước ( bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hànghoá, vật tư chiến lược, ) được hình thành từ nguồn thu ngân sách

Trang 7

o Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động hoạt động điềutiết của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tài chính,tiền tệ, giá cả trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp như phát hành công trái, chitrả nợ, các biện pháp tiêu dùng của Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo Mặt khác, hoạt độngthu chi của ngân sách Nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát Lạm phát làcăn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung quan trọng trongquá trình điều chỉnh thị trường Lạm phát (trong kinh tế học) là sự tăng lên theo thời giancủa mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là

sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩađầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của mộtquốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm

vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gâytranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ sốlạmphát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả Lạmphát gây ra rất nhiều hiệu ứng tiêu cực cho đất nước nói chung và cho nền kinh tế nóichung.Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có rất nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực,như:lạm phát cho chi phí đẩy, lạm phát do cơ cấu đẩy, lạm phát do xuất nhập khẩu, lạm phát

do tiền tệ… trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước Do đó, bằng các biện phápđúng đắn, trong các quá trình thu chi của ngân sách Nhà nước như: thắt chặt và nâng caohiệu quả hiệu quả của các khoản chi tiêu của ngân sách Nhà nước, tăng thuế tiêu dung, giảmthuế đối với đầu tư, thắt chặt chi tiêu của ngân sách Nhà nước… Ngoài ra, để kiềm chế lạmphát, nhà nước có thể tăng cường các khoản vay trong dân góp phần làm giảm lượng tiềnmặt trong nền kinh tế; triệt để không phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụt ngân sách…., Nhànước có thể hạn chế và kiểm soát lạm phát

1.2.3 NSNN là công cụ kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế - xã hội.

Từ năm 1968 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang

cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với muạc tiêu xây dựng một xã hội thịnhvượng, công bằng và văn minh Nhưng nền kinh tế thị trường với những khuyết tật vốn cócủa nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo, bất công bằng xã hội… Do vậy, Nhànước phải sử dụng công cụ ngân sách Nhà nước để điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảng cách

về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội Việc điều tiết này được thực hiện thông qua hoạtđộng thu chi của ngân sách

Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế giảm thu và thuếtrực thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội,hướng dẫn tiêu dung hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động.Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới các hình thức chứng khoán cấp phát, trợcấp trong các chính sách về dân số kế hoách hóa gia đình về bảo trợ xã hội, việc làm… Nhànước hỗ trợ để nâng cao đời sống của từng lớp người nghèo trong xã hội

+ Thông thường NN không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của cải xã hội, do đó

để có nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước phải sử dụng NSNNlàm công cụ để tạo ra nguồn thu thất yếu Đây là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi

Trang 8

thời đại, mọi chế độ xã hội kể từ khi Nhà nước ra đời Vai trò này xuất phát từ sự cần thiếtkhách quan của sự ra đời và tồn tại Nhà nước , nó gắn chặt với các chi phí cuả Nhà nướctrong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của mình , nó quyết định đến sức mạnh củaNhà nước trong từng giai đoạn lịch sử Điều này đã được C.Mác khẳng định “ Sức mạnhchuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi Ngân sách và ngược lại.

+ Định hướng sản xuất kinh doanh, xác lập cơ cấu KT hợp lý của nền KT quốc dân

+ Điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, kiểm soát lạm phát

+ Điều tiết thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội

+ Là một phạm trù tài chính, NSNN cũng có chức năng giám đốc tài chính Vận dụng chứcnăng này , Nhà nước sử dụng NSNN làm công cụ để kiểm tra, giám sát quá trình hình thành,phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo những mục đích đã định Nội dung kiểm tra, giám sátkhông chỉ là việc chấp hành các quy định về nghĩa vụ của các chủ thể liên quan trong việcnộp thuế, phí lệ phí,… đối với NSNN mà còn là những nội dung kiểm tra, giám sát về việc

sử dụng các nguồn tài chính , tài sản Nhà nước theo mục tiêu đặt ra cũng như việc chấp hànhcác quy định pháp lí về NSNN Với đặc trưng của NSNN là gắn chặt với quyền lực của Nhànước, cho nên, việc kiểm tra giám sát của NSNN luôn dựa trên quyền lực Nhà nước và mangtính đơn phương theo phân cấp của hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước

Trang 9

Cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở Từ ngày 1/7/2017 sẽ thực hiện điều chỉnh mức

lương cơ sở từ 1,21 triệu đồng/tháng lên 1,3 triệu đồng/tháng

Theo đó, Thông tư nêu rõ, nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2017 của các địa phương bao

gồm: 50% tăng thu ngân sách địa phương năm 2016 thực hiện so với dự toán (không kể thu tiền

sử dụng đất) được Thủ tướng Chính phủ giao; 10% tiết kiệm chi thường xuyên (không kể tiềnlương, có tính chất lương) dự toán năm 2017 đã được cấp có thẩm quyền giao;

Một phần số thu được để lại theo chế độ năm 2017 phải trích để tạo nguồn cải cách tiền lương theo

quy định; nguồn thực hiện cải cách tiền lương từ năm 2016 trở về trước chưa sử dụng chuyểnsang

Ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ một phần tiền lương tăng thêm cho các địa phương ngân sách khó

khăn sau khi đã cân đối nguồn mà chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực hiện cải cách tiền lương theochế độ quy định

Bộ Tài chính đã chỉ đạo cơ quan Thuế, Hải quan tập trung tổ chức thực hiện tốt các luật thuế và

nhiệm vụ thu NSNN Chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cấp uỷ và chính quyền địaphương, động viên và tranh thủ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của cộng đồngdoanh nghiệp và nhân dân để làm tốt công tác chỉ đạo, điều hành thu NSNN ngay từ đầu năm.Bên cạnh đó, chú trọng khai thác nguồn thu; đẩy mạnh chống thất thu, chuyển giá, buôn lậu,gian lận thương mại, trốn thuế; quyết liệt xử lý nợ đọng thuế; tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra thuế; kiểm soát chặt chẽ mã số, xuất xứ hàng hóa, giá trị tính thuế hải quan

Trang 10

Ngành Tài chính cũng đã tiếp tục rà soát để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền

sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chính sách về tài chính, thuế, phí phù hợp với tình hình thực

tế và cam kết hội nhập quốc tế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác thuthuế, hải quan, rút ngắn thời gian và giảm chi phí cho người nộp thuế

Về chi NSNN, Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương tổ chức triển khai

dự toán chi NSNN năm 2017 tích cực, chủ động, tiết kiệm triệt để các khoản chi ngay từ khâuphân bổ dự toán và trong quá trình thực hiện Đồng thời, tiếp tục rà soát, trình cấp có thẩmquyền bổ sung, ban hành các chính sách, chế độ chi phù hợp với thực tiễn; tăng cường kiểm soátchi NSNN chặt chẽ, đúng chế độ; đẩy mạnh công tác thanh tra tài chính – ngân sách Qua đótừng bước tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN

Trong công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), Bộ Tài chính đã ban hành chương trình hành

động thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ; chương trình hành động triểnkhai thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 6/6/2017 theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùngdoanh nghiệp; triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến 946 thủ tục (trong đó: 264 dịch vụmức độ 1; 335 dịch vụ mức độ 2; 85 dịch vụ mức độ 3 và 246 dịch vụ mức độ 4) Đã rà soát 325TTHC (lĩnh vực thuế 102 thủ tục; lĩnh vực hải quan 16 thủ tục, lĩnh vực chứng khoán 45 thủtục, lĩnh vực tài chính khác 162 thủ tục); đơn giản hóa 38 TTHC và bãi bỏ 4 TTHC không cònphù hợp

2.1.2 Kết quả đạt được

Tính đến hết 31/12/2017, thu cân đối NSNN ước đạt 1.283,2 nghìn tỷ đồng, vượt 71 nghìn tỷ đồng,

vượt 5,9% so dự toán, tăng 43,7 nghìn tỷ đồng so báo cáo Quốc hội, đạt mức động viên 25,6%

so với GDP; trong đó, thuế phí đạt 21% GDP

Trong năm 2018 kinh tế vĩ mô trong nước ổn định, tăng trưởng dự kiến đạt mục tiêu kế hoạch ở

mức cao ; các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra; các chính sách ansinh xã hội và phúc lợi xã hội được quan tâm thực hiện tốt Các tổ chức quốc tế cũng đánh giátích cực về ổn định kinh tế vĩ mô và triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam , trong đó

WB dự báo kinh tế Việt Nam tăng 6,8%; tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch dự báo tăng 6,7%,đồng thời nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ mức tích cực (BB-) lên mức ổnđịnh (BB)

Năm 2019 Thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán mức cao nhất trong 5 năm Tính đến ngày

31/12/2019, thu NSNN ước đạt 1.539,4 nghìn tỷ đồng, vượt 9,1% so với dự toán (thu ngânsách Trung ương và ngân sách địa phương đều vượt dự toán), nhờ đó đảm bảo nguồn lực đểphát triển kinh tế, an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và có thêm nguồn để xử lý các nhu cầuquan trọng, cấp thiết phát sinh Công tác quản lý, điều hành chi NSNN bảo đảm chặt chẽ, tiếtkiệm Bội chi NSNN được giữ trong phạm vi Quốc hội quyết định

Việc kiểm soát bội chi cũng như việc thực hiện có hiệu quả Đến cuối năm 2019, nợ công chiếm

khoảng 55% GDP, tiếp tục xu hướng giảm mạnh từ mức 63,7% GDP năm 2016 Đồng thời, nợChính phủ cuối năm 2019 còn khoảng 48% GDP, giảm so với mức 52,7% GDP của năm 2016 Chính phủ công bố tháng 5/2019, Bộ Tài chính tiếp tục nằm trong top đầu khối 18 bộ, ngành có kết

quả cải cách hành chính mạnh mẽ Với kết quả này, Bộ Tài chính đã nâng bậc xếp hạng, từ vịtrí thứ ba lên vị trí thứ hai Đây cũng là kết quả đáng ghi nhận sau những nỗ lực triển khaiquyết liệt các nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị quyết số 02/NQ-CP của Bộ Tài chính, gópphần tác động tích cực đến việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranhquốc gia

Ngày đăng: 08/08/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w