1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài liệu tham khảo nhận thức mới của đảng ta về chủ nghĩa xã hội hiện nay

71 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 384 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ thời cổ đại, khi xã hội phân chia giai cấp, áp bức bóc lột giai cấp con người đã phản ánh, phản kháng lại chế độ xã hội đó và mong ước về một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người được thể hiện dưới nhiều dạng thức trong các tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các nhà CNXH không tưởng đã ước mơ về một xã hội trong đó mọi người đều có đời sống ấm no, bình đẳng giữa người và người, xã hội được xây dựng trên nền tảng mọi tài sản đều là của chung. Các đại biểu không tưởng ở các mức độ khác nhau đã phác thảo nên mô hình chủ nghĩa xã hội. Song do lập trường giai cấp, điều kiện lịch sử lúc bấy giờ khiến cho mô hình đó mãi chỉ là những ước mơ, mong ước “thơ ca xã hội” mà thôi. Chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch ra được một lối thoát thật sự. Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ TBCN, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ TBCN và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo xã hội mới.

Trang 1

Chương 1

SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VỀ

MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Lý luận mô hình chủ nghĩa xã hội và thực tiễn xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trên thế giới

Ngay từ thời cổ đại, khi xã hội phân chia giai cấp, áp bức bóc lột giaicấp con người đã phản ánh, phản kháng lại chế độ xã hội đó và mong ước vềmột xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người được thể hiện dưới nhiềudạng thức trong các tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Các nhà CNXH không tưởng đã ước mơ về một xã hội trong đó mọingười đều có đời sống ấm no, bình đẳng giữa người và người, xã hội đượcxây dựng trên nền tảng mọi tài sản đều là của chung Các đại biểu khôngtưởng ở các mức độ khác nhau đã phác thảo nên mô hình chủ nghĩa xãhội Song do lập trường giai cấp, điều kiện lịch sử lúc bấy giờ khiến cho

mô hình đó mãi chỉ là những ước mơ, mong ước “thơ ca xã hội” mà thôi.Chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch ra được một lối thoát thật

sự Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độTBCN, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế

độ TBCN và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trở thànhngười sáng tạo xã hội mới

Mặc dù còn mang nặng yếu tố không tưởng, nhưng CNXH không tưởng vẫn

có ý nghĩa lịch sử nhất định, trở thành một trong ba nguồn gốc lý luận trực tiếpcủa chủ nghĩa Mác Bởi nó đã góp phần phát triển tư tưởng của nhân loại: phêphán gần đến bản chất của CNTB, đưa ra dự báo thiên tài về mô hình xã hội mớitrong tương lai, thức tỉnh động viên quần chúng đấu tranh

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình chủ nghĩa xã hội và tính tất yếu bổ sung, phát triển mô hình đó trong thực tiễn

Trang 2

Chỉ đến C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện hoàn cảnh mới, vớiphẩm chất trí tuệ tuyệt vời, biết kết hợp nghiên cứu lý luận với hoạt độngthực tiễn trong phong trào công nhân Với hai phát kiến vĩ đại – chủ nghĩaduy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã nâng CNXHkhông tưởng thành CNXH khoa học Đến đây, sứ mệnh lịch sử của giaicấp vô sản đã được phát hiện ra Con đường, lực lượng, phương thức xáclập xã hội mới đã được xác định Mô hình xã hội tương lai - CNXH, chủnghĩa cộng sản đã được phác họa trên những nét cơ bản Kế thừa nhữngluận điểm và tiên đoán đặc sắc của các nhà CNXH không tưởng, trải quamột quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, C.Mác và Ph.Ăngghen từngbước hình thành tư tưởng XHCN khoa học Tư tưởng đó được các Ôngtrình bày trong hàng loạt tác phẩm như: “Lời tựa cuốn Phê phán triết họcpháp quyền của Hê-ghen”; “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”; “Tình cảnhgiai cấp công nhân Anh?; “Nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” và sự ra

đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848 đã đánh dấu sự hình

thành những tư tưởng cơ bản của CNXH khoa học, trong đó có phác thảo

những nét cơ bản về mô hình CNXH C.Mác và Ph.Ăng-ghen phác họa

mô hình CNXH mà trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc

lột, có điều kiện để được phát triển toàn diện Mô hình đó dựa trên một sốnguyên lý căn bản sau: Sau khi giành được chính quyền, với bộ máy nhà

nước trong tay, giai cấp công nhân sẽ từng bước xóa bỏ chế độ tư hữu

-nguồn gốc của mọi áp bức bất công, xác lập chế độ công hữu “Nhữngngười cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một điểm duy nhấtnày là: xóa bỏ chế độ tư hữu” [6, tr.616] Mục đích của việc xóa bỏ chế độ

chiếm hữu đó cũng chính là để giải phóng lực lượng sản xuất, để tăng thật nhanh

số lượng những lực lượng sản xuất lên Và chỉ khi lực lượng sản xuất được giải

phóng thì mới tạo ra năng suất lao động cao, sản phẩm xã hội dồi dào Đó là conđường tất yếu để xây dựng xã hội mới Luận giải sự tha hóa của lao động củanhững người công nhân làm thuê dưới CNTB, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định

Trang 3

phải xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà ở đó mọi thành viên được tự do định đoạt số phận của mình, và chính sự tự do của mỗi cá nhân ấy là điều kiện

cho sự phát triển chung của cả xã hội Ở xã hội mới, vấn đề giải phóng con người

không chỉ dừng lại ở việc xóa bỏ áp bức, bóc lột, thiết lập những quan hệ tự do,công bằng giữa người với người, mang lại những cơ sở vật chất và tinh thần bảođảm cho cuộc sống con người Để đạt tới mục đích đó cần phải “Thực hành nghĩa

vụ lao động đối với tất cả mọi người, phát triển đồng đều và cân bằng giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, Kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn” [6, tr.628] Theo các Ông, bảo đảm phát triển đồng đều là một trong những

yếu tố quan trọng để có sự bình đẳng và công bằng cho mọi thành viên trong xã

hội Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác đã nhấn mạnh: các vấn đề xã hội được giải quyết một cách hài hòa, bình đẳng, nhằm mục tiêu phát triển tự do

của mỗi con người trong cộng đồng nhân loại Trong xã hội tương lai, mọi thành

viên phải có cơ hội như nhau trong giáo dục, học hành, giáo dục công cộng khôngmất tiền cho tất cả các trẻ em; kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất

Đối với các mối quan hệ trong gia đình, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu rõ, dưới CNXH các mối quan hệ gia đình phải được tạo lập trên

cơ sở bình đẳng, đó cũng là một đặc trưng của xã hội tương lai Trên phạm

vi quốc tế, để xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc cần phải

xóa bỏ nạn người bóc lột người để xóa bỏ nạn dân tộc này bóc lột dân tộckhác “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc khôngcòn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” [6,tr.624] Như vậy, từ tất cả các phương diện của mô hình xã hội tương lai

mà C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã dự đoán đều nhằm tới mục đích giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức bác lột, mang lại tự do cho con người, hướng tới những điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người

Tóm lại, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã phác thảo những nét cơ bản của môhình CNXH tương lai như sau:

Trang 4

Về kinh tế: Công hữu về tư liệu sản xuất; Phát triển lực lượng

sản xuất đại công nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao; Phân phốitheo lao động; Của cải dồi dào; Đời sống vật chất tinh thần củaquần chúng được nâng cao

Về chính trị- xã hội: Xác lập bộ máy nhà nước để quản lý mọi

quá trình kinh tế xã hội; Xóa mọi sự áp bức bóc lột giai cấp, mọingười bình đẳng, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc.; Mọi ngườiđều phải lao động; Con người có điều kiện phát triển toàn diện; Xóa

bỏ dần sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị; Quan tâm công tácgiáo dục, phát triển con người toàn diện

Đồng thời, trong di sản của C.Mác và Ph.Ăngghen ta cũng nhận thấy tưtưởng của người về việc phải tiếp tục bổ sung, phát triển CNXHKH nói chung,

về mô hình CNXH nói riêng Theo C.Mác, Ph.Ăngghen lý luận về mô hìnhCNXHKH không phải là cái gì đã xong xuôi, hoàn bị, không phải là kinh thánh

mà nó phải thường xuyên bổ sung, phát triển để theo kịp sự phát triển của cuộcsống Trong một lần viết lời tựa tái bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,Ph.Ăngghen đã viết nếu được phép viết lại thì có những bổ sung trong tuyênngôn nhất là phần các biện pháp, giải pháp cải tạo xã hội đã phải viết khác đi.Song vì tôn trọng tính lịch sử nên tác giả để nguyên Đó cũng là một chỉ dẫnquý - khẳng định rằng những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen chỉ mới làphác thảo bước đầu, đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung trong điều kiện lịch sử mới Trong điều kiện mới, CNTB chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Kế thừa vàphát triển những tư tưởng của C.Mác - Ăngghen, V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển

mô hình CNXH Lênin phác thảo mô hình CNXH, được thể hiện ở những điểm

sau: Một là, cơ sở vật chất của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí V.I.Lênin

đánh giá rất cao vai trò to lớn của nền đại công nghiệp cơ khí đối với CNXH, xem

điện khí hóa là cơ sở để xây dựng nền đại công nghiệp Hai là, CNXH tạo ra cách

tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới Khi thực hiện chính sách kinh tế mới tư

tưởng về sự kiểm kê, kiểm soát toàn dân không hề bị hạ thấp mà còn được đề cao

Trang 5

hơn Ba là, CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Cách thức phân

phối theo lao động là thích hợp nhất với CNXH, bởi vì nó được dựa trên chế độ

công hữu về tư liệu sản xuất Bốn là, CNXH xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Năm là, CNXH giải phóng con người

khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện

Sáu là, CNXH thực hiện sự bình đẳng xã hội Không chỉ phác thảo mô hình

CNXH, V.I.Lênin còn hiện thực hóa mô hình đó trên thực tế Người cùng ĐảngBônsêvích Nga thiết kế thực thi xây dựng CNXH trên một quốc gia - nước Nga

Xô viết và sau này là Liên Xô Trong quá trình đó, người luôn nghiên cứu, bổsung, phát triển mô hình CNXH cho phù hợp với thực tế cuộc sống Thay đổi lớnnhất đó là chính sách kinh tế mới (NEP) Người đã chuyển mô hình kinh tế cộngsản thời chiến sang mô hình mới

Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát thực tế đất nước, Hồ ChíMinh đã từng bước tiếp cận, hình thành tư tưởng về CNXH ở Việt Nam:

Về bản chất của CNXH, ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, khi

đang sống và hoạt động ở nước Pháp, Hồ Chí Minh đã mong mỏi khi đất nướcgiành được độc lập thì chính phủ cách mạng của nhân dân sẽ: “vạch ra kế hoạchchi tiết về tổ chức sản xuất và tiêu thụ; bảo vệ và phát triển lành mạnh cho trẻ em;giáo dục và lao động đối với tráng niên; nghiêm khắc lên án bọn ăn bám; nghỉngơi cho người già… thủ tiêu mọi sự bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúckhông phải dành cho một số người mà cho tất cả mọi người” [38, tr.114]

Về mục tiêu của CNXH ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Một là, chế độ

mới là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, tất cả mọi quyền lực thuộc về

nhân dân; Hai là, nền kinh tế mới là một nền kinh tế công-nông nghiệp hiện

đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, với bốn hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước(tức sở hữu toàn dân); sở hữu tập thể, sở hữu của những người lao động riêng

lẻ (kinh tế cá thể) và sở hữu của các nhà tư bản, trong đó kinh tế quốc doanh

giữ vai trò chủ đạo Ba là, về văn hóa tư tưởng, coi trọng xây dựng một nền

Trang 6

đạo đức, nền văn hóa tư tưởng và lối sống mới Bốn là, xây dựng con người

mới XHCN

Như vậy, nghiên cứu mô hình CNXH của các nhà kinh điển, chúng tacòn nhận thấy ở các ông luôn bổ sung, phát triển về mô hình CNXH chophù hợp với sự phát triển của thực tiễn

Lý luận về CNXH của chủ nghĩa Mác - Lênin mang tính khoa học và cáchmạng, được xây dựng và kiểm nghiệm trên cơ sở thực tiễn Đó là một hệ thống

mở chứ không phải là cái gì đã xong xuôi, hoàn chỉnh mà cần phải tiếp tục bổsung, phát triển nó trong thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và quá trìnhxây dựng CNXH

Luận giải những vấn đề chung về mô hình CNXH, song chủ nghĩa Mác

-Lênin cũng thường xuyên chú ý đến những đặc điểm riêng của từng dân tộctrong việc vận dụng, xây dựng CNXH Ph.Ăngghen đã viết: Cái gọi là “xã hội

xã hội chủ nghĩa”, theo ý kiến tôi, không phải là cái gì đó nhất thành bất biến,

mà cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần phải được xem xét như một xã hộiđược thay đổi và cải tạo thường xuyên Sự khác biệt có tính chất quyết định của

nó so với chế độ hiện nay (chế độ tư bản chủ nghĩa), dĩ nhiên, là ở việc tổ chứcsản xuất trên cơ sở sở hữu chung trước hết của từng dân tộc đối với tất cả các

tư liệu sản xuất [10, tr 638] Ở đây, điều đáng lưu ý nhất là, khi phát triển quan

niệm về thời kỳ quá độ, Ph.Ăng-ghen đã nói đến tính tất yếu của phương thức quá độ "rút ngắn" đối với những nước đang ở giai đoạn phát triển tiền TBCN

hoặc chưa từng trải qua con đường phát triển TBCN

Trong điều kiện lịch sử mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917,V.I.Lênin cũng đã chỉ rõ: “Không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗidân tộc sẽ đưa những đặc điểm của dân tộc mình vào hình thức này hay hìnhthức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vôsản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặtkhác nhau của đời sống xã hội” [34, tr160] Đó là kiểu mẫu mà C.Mác vàPh.Ăngghen đã để lại cho chúng ta trong bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác

Trang 7

nói chung, về mô hình CNXH nói riêng Mặt khác, các ông triệt để đấu tranhvới bất cứ người nào coi thường sự tiến bộ của khoa học hiện thực, coi thườngnhững điều kiện lịch sử mới và những nhu cầu xã hội mới nảy sinh Trongnhững trường hợp cần thiết, khi xuất hiện hiện thực lịch sử mới, khi cuộc sốnghiện thực đặt ra những vấn đề mới, cần phải nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý

luận CNXH một cách khoa học

1.1.2 Thực tiễn xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội trên thế giới

* Thực tiễn xây dựng mô hình CNXH Liên Xô và các nước Đông Âu

Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga vĩ đại đã mở đầu thời kỳ quá độ từCNTB lên CNXH ở Liên Xô Lần đầu tiên trong lịch sử, nhà nước chuyênchính vô sản đã xuất hiện và được củng cố Kiên định thực hiện đường lốichung của Lênin về xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Liên Xô đã lãnh đạonhân dân Liên Xô xây dựng thành công một chế độ mới Lần đầu tiên trên thếgiới CNXH đã trở thành hiện thực ở Liên Xô

Sau 7 năm chiến tranh liên miên, nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nghiêmtrọng Khi cuộc nội chiến kết thúc, nền kinh tế nước Nga Xô viết sa sút cựcđộ: sản xuất công nông nghiệp giảm sút, lương thực, thực phẩm thiếu thốn,nạn đói, lạm phát xảy ra Tình hình chính trị không ổn định Các lực lượngphản cách mạng điên cuồng chống phá gây bạo loạn nhều nơi Chính sáchcộng sản thời chiến đã lạc hậu kìm hãm nền kinh tế, khiến nhân dân bất bình.Nước Nga Xô viết lâm vào khủng hoảng Tháng 3/1921 Đảng Bônsêvích

quyết định thực hiện chính sách kinh tế mới do Lê-nin đề xướng, với nội

dung: Trong nông nghiệp ban hành thuế nông nghiệp Trong công nghiệp:Nhà nước khôi phục công nghiệp nặng, tư nhân hóa những xí nghiệp dưới 20

công nhân Khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước Nga Thực chất đây là bước chuyển từ nền kinh tế do nhà nước độc quyền sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần do nhà nước kiểm soát Với sự thay đổi đó đã góp phần

thúc đẩy kinh tế quốc dân chuyển biến rõ rệt, giúp nhân dân Xô viết vượt quakhó khăn, hoàn thành khôi phục kinh tế Phân tích tình hình kinh tế trong thời

Trang 8

kỳ quá độ V.I Lênin đã khái quát chia ra 5 thành phần: Kinh tế XHCN (gồm

cả quốc doanh và tập thể), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân,kinh tế cá thể (nông dân và thợ thủ công), kinh tế tự nhiên có tính chất giatrưởng Tháng 12/1922 Đại hội Xô viết toàn Nga đã tuyên bố thành lập LiênBang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) Sau công cuộc khôi phụckinh tế Liên Xô vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Kinh tế bị bao vây, kỹthuật, thiết bị lệ thuộc nước ngoài vì vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô quyết địnhtiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên trên tất cả các lĩnh vực.Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc tập thể hóa với những hình thức ban đầucủa nó đã được tiến hành Trước đó, chính quyền Xô viết đã tước đoạt giaicấp địa chủ, tất cả ruộng đất và trang trại của chúng đã bị tịch thu và quốc hữuhóa Đồng thời nhà nước Xô viết cũng đã quốc hữu hóa toàn bộ ruộng đất, tàinguyên khoáng sản của đất nước Đối với những tư liệu sản xuất cơ bản củaCNTB thì việc quốc hữu hóa đã được tiến hành ngay từ năm 1917 cho đếncuối năm 1920 Nhưng đến những giai đoạn cơ bản của tập thể hóa phải đượcdiễn ra trên cơ sở công nghiệp hóa để cung cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho

nó Cho nên, Lênin chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa để tạo cơ sở vậtchất – kỹ thuật cho tập thể hóa Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Liên

Xô họp năm 1925 đã chủ trương tiến hành công nghiệp hóa đất nước, nhằmđưa Liên Xô trở thành một nước công nghiệp có những ngành công nghiệpchủ chốt Bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, có mục tiêu cụ thểcho từng kế hoạch dài hạn (1928 - 1932) và (1933 - 1937) Đến năm 1927,Đại hội lần thứ XV chủ trương thực hiện tập thể hóa nông nghiệp và đến năm

1930 Đại hội lần thứ XVI đẩy mạnh cuộc tiến công rộng lớn của chủ nghĩa xãhội trên khắp mặt trận Với sự nổ lực đó, năm 1937 sản lượng công nghiệpchiếm 77,4% tổng sản phẩm quốc dân; đưa 93% số nông hộ với 90% diện tíchđất canh tác vào nền nông nghiệp tập thể hóa Trên lĩnh vực văn hóa - giáodục- xã hội: đã thanh toán nạn mù chữ, phát triển mạng lưới giáo dục phổthông, phổ cập tiểu học trong cả nước, phổ cập trung học cơ sở thành phố Cơ

Trang 9

cấu giai cấp thay đổi, xã hội chỉ còn 2 giai cấp lao động là công nhân, nôngdân và trí thức xã hội Liên Xô đã từng bước xác lập quan hệ ngoại giao vớimột số nước láng giềng châu Á, Châu Âu, từng bước phá vỡ chính sách baovây cấm vận, cô lập kinh tế ngoại giao của các nước đế quốc; năm 1925: Liên

Xô đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 20 nước, năm 1933, Liên Xô đặt quan

hệ ngoại giao với Mỹ

Từ 1945 - 1950, Liên Xô hoàn thành kế hoạch 5 năm Khôi phục kinh tếtrong 4 năm 3 tháng ( hoàn thành trước thời hạn 9 tháng ): Công nghiệp: tổngsản lượng công nghiệp tăng 73% Nông nghiệp: một số ngành vượt mức trướcchiến tranh Đến nửa đầu những năm 1970, Liên Xô là cường quốc côngnghiệp đứng hàng thứ hai trên thế giới ( sau Mỹ ), chiếm khoảng 20% tổngsản lượng công nghiệp trên toàn thế giới Về khoa học kỹ thuật: năm1949,Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử; năm 1957, Liên Xô là nước đầutiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo; năm 1961, Liên Xô phóng tàu vũ trụPhương Đông đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng qu anh Trái Đất, mởđầu kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người Về xã hội: Liên Xô có nhữngthay đổi rõ rệt: Năm 1971, số lượng công nhân chiếm hơn 55% số người laođộng trong cả nước Nhân dân Liên Xô có trình độ học vấn cao với gần 3/4 số

dân đạt trình độ trung học và đại học Về chính trị và đối ngoại, Từ năm 1950

đến những năm 70, nhìn chung tình hình chính trị Liên Xô tương đối ổn định,Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết hoạt động tích cực, có hiệu quả, tạođược niềm tin trong nhân dân Đảm bảo được khối đoàn kết thống nhất giữa

Đảng, Nhà nước, nhân dân và các dân tộc Về đối ngoại: Liên Xô chủ trương

thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình và tích cực ủng hộ phong trào cáchmạng thế giới Liên Xô đã đấu tranh cho hòa bình, an ninh, kiên quyết chốngchính sách gây chiến xâm lược của công nhân đế quốc và các thế lực phảnđộng Liên Xô trở thành trụ cột của hệ thống XHCN, là chỗ dựa cho hòa bình

và phong trào cách mạng thế giới Với những thành tựu đó đã góp phần thúcđẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển làm đảo lộn hoàn toàn chiến

Trang 10

lược của Mỹ và các nước đồng minh Đồng thời thể hiện tính ưu việt củaCNXH trên mọi lĩnh vực.

Trong những năm 1944 - 1945, khi Hồng quân Liên Xô tiến hành truykích quân đội phát xít Đức qua vùng Đông Âu, nhân dân và khó khăn vũtrang các nước Đông Âu đã nổi dậy, phối hợp với Hồng quân tiêu diệt bọnphát xít, giành lấy chính quyền và thành lập các nước dân chủ nhân dân Tuy

đã thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân nhưng chính quyền ở các nướcĐông Âu vẫn là chính quyền liên hiệp bao gồm đại biểu các giai cấp, cácđảng phái chính trị trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Sự giúp

đỡ của Liên Xô và việc quân đội Liên Xô đóng quân trên lãnh thổ các nướcĐông Âu đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho thắng lợi của giai cấp vôsản Sau khi nắm được toàn bộ chính quyền, thiết lập các chuyên chính vôsản, Đảng và Nhà nước các nước Đông Âu đã đẩy mạnh việc thực hiện cáccải cách dân chủ : cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá những xí nghiệp lớn của

tư bản trong và ngoài nước, thực hiện rộng rãi các quyền tự do dân chủ, banhành chế độ làm việc, nghỉ ngơi, lương bổng Đến khoảng những năm 1948-

1949, các nước Đông Âu đều lần lượt hoàn thành cách mạng dân chủ nhândân và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những năm 1950-

1975, nhân dân các nước Đông Âu đã thực hiện 5 kế hoạch 5 năm nhằm xâydựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH Công cuộc xây dựng CNXH củanhân dân các nước Đông Âu đã diễn ra trong những điều kiện khó khăn, phứctạp: tuy đã là những nước tư bản nhưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của các nướcĐông Âu còn hết sức lạc hậu (trừ Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức); cácnước đế quốc tiến hành bao vây kinh tế và can thiệp, phá hoại về chính trị; ởtrong nước, các thế lực chống CNXH vẫn tồn tại và ra sức chống phá (tư sản,địa chủ, lực lượng tôn giáo…) Tuy thế, với sự hậu thuẫn của Liên Xô, côngcuộc xây dựng CNXH của nhân dân các nước Đông Âu đã giành được nhiềuthành tựu to lớn về mọi mặt, làm thay đổi bộ mặt của các nước Đông Âu quahơn hai thập nên, tất cả các âm mưu chống phá do bọn đế quốc và các thế lực

Trang 11

phản động trong nước gây ra đều lần lượt bị dập tắt Bên cạnh những thànhtựu đã đạt được, công cuộc xây dựng CNXH ở các nước Đông Âu đã phạmmột số thiếu sót và sai lầm, như rập khuôn một cách giáo điều theo mô hìnhxây dựng CNXH ở Liên Xô trong những hoàn cảnh và điều kiện đất nướckhác biệt so với Liên Xô (ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, tập thể hoánông nghiệp, nhà nước nắm đế quốc về kinh tế dẫn đến hình thành nhà nướcbao cấp về kinh tế…), thiếu dân chủ, thiếu công bằng xã hội và vi phạm phápchế XHCN v.v… Chính những thiếu sót và sai lầm này đã làm suy giảm bảnchất ưu việt của chế độ XHCN và dần làm mất đi lòng tin của nhân dân cácnước Đông Âu.

Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng chưa từng có bùng nổrồi nhiều cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, tiền tệ… tiếp diễn theosau đó, mở đầu cuộc khủng hoảng chung của toàn thế giới, đặt ra cho toàn thểnhân loại những vấn đề bức thiết phải giải quyết Chính trong bối cảnh lịch sử đó,những người lãnh đạo Đảng, nhà nước Liên Xô chủ quan cho rằng quan hệ sảnxuất XHCN không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới,

do đó chậm thích ứng, chậm sửa đổi Trong những điều kiện mới, mô hình và cơchế cũ của CNXH về kinh tế, chính trị, xã hội được hình thành trong những hoàncảnh lịch sử đặc biệt trước kia, vốn đã tồn tại những thiếu sót và sai lầm, nay càngtrở nên không còn phù hợp và cản trở sự phát triển về mọi mặt của xã hội Xô viết.Mặt khác, những hiện tượng thiếu dân chủ, thiếu công bằng xã hội, vi phạmnghiêm trọng pháp chế XHCN và những tệ nạn quan liêu, độc đoán dần dần hìnhthành cơ chế quan liêu độc đoán với những tầng lớp đặc quyền, đặc lợi đã gây nên

sự bất mãn của nhân dân, làm cho đất nước dần dần lâm vào tình trạng “trì trệ”,

“tiền khủng hoảng” Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ XHCN

ở Đông Âu và Liên Xô như: Đã xây dựng nên một mô hình về CNXH chưa đúngđắn, chưa phù hợp (không phù hợp với quy luật khách quan trên nhiều mặt pháttriển kinh tế - xã hội, chưa dân chủ, chưa công bằng và nhân đạo…); Chậm sửachữa, thay đổi trước những biến động lớn của tình hình thế giới, và khi đã sửa

Trang 12

chữa thay đổi thì lại rời bỏ những nguyên lý đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin;Những sai lầm và sự tha hoá về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng củamột số người lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong một số nước XHCN; Hoạt độngchống phá của các thế lực chống CNXH trong và ngoài nước (cuộc tấn công hoàbình mà họ thường gọi là cuộc “cách mạng nhung”)

* Thực tiễn xây dựng mô hình CNXH ở Trung Quốc, Cu Ba và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Ngày 1-10-1949 nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập Năm mươinăm qua, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, nhân dân Trung Quốc đã đoàn kết nhất trí,gian khổ phấn đấu, xây dựng Trung Quốc từ một nước nghèo nàn lạc hậu thànhmột nước XHCN bước đầu phồn vinh thịnh vượng Đặc biệt là trong hơn 30năm cải cách mở cửa, sự nghiệp xây dựng CNXH ở Trung Quốc đã bước vàothời kỳ phát triển mới Khắc phục những thiếu sót sai lầm trong quan niệm vềCNXH, về cách thức, bước đi lên CNXH Sau thời kỳ “cách mạng văn hóa”;

“đại nhảy vọt”, công cuộc đổi mới của Trung Quốc kể từ năm 1978 đã thực sựkhẳng định sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản TrungQuốc về cả kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Trung Quốc đã xây dựng CNXHmang màu sắc Trung Quốc đạt nhiều thành tựu to lớn, vị thế của Trung Quốctrên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Kể từ thời điểm của cuộc tấn công pháo đài Môncađa năm 1953 đến nay,nhất là từ sau thắng lợi 1-1-1959, cách mạng Cu-ba và chế độ CNXH trên Hònđảo Anh hùng luôn luôn là đối tượng xuyên tạc, chống phá của đế quốc Mỹ vàcác thế lực phản động khác Chúng đã dùng mọi thủ đoạn, biện pháp, cao nhất

là hành động đổ bộ xâm lược lên bãi biển Hy-rông tháng 4-1961 và tàn bạonhất là cuộc bao vây cấm vận kéo dài trên 45 năm qua, nhưng vẫn không khuấtphục được Cu-ba Lá cờ độc lập dân tộc và CNXH vẫn tung bay trên Bán cầuTây Những ưu việt CNXH ngày càng được khẳng định trong thực tiễn Lịch sửCu-ba trước năm 1959 là lịch sử của một nước thuộc địa dưới ách thống trị củathực dân Tây Ban Nha và của chế độ cộng hoà do đế quốc Mỹ thao túng Trong

Trang 13

suốt thời gian vài thế kỷ đó, dân chủ và quyền con người hiển nhiên chỉ lànhững điều nằm trong mơ ước Thay vào đó, là quyền của thực dân, đế quốc và

tư sản mại bản thẳng tay bóc lột, nô dịch các tầng lớp nhân dân Gần 7 triệudân lao động Cu-ba sống trong thân phận làm thuê, lệ thuộc; 20% dân số lànhững kẻ giàu nhất chiếm đoạt 58% tổng thu nhập và 20% khác là nhữngngười nghèo nhất chỉ được hưởng 2% tổng thu nhập quốc gia Cách mạng vàchế độ XHCN đem lại cho quần chúng lao động địa vị chủ nhân của một đấtnước mà chỉ trong vòng hơn 4 thập kỷ đã trở thành một trong những quốc giaphát triển về mặt xã hội, vượt cả một số nước tư bản phát triển trên nhiều chỉ sốphát triển con người Đảng và Chính phủ Cu-ba không những không xem nhẹchính sách xã hội, mà trái lại, đang triển khai hơn 150 chương trình xã hộinhằm củng cố các ưu việt xã hội chủ nghĩa, trong đó có công tác giáo dục, y tế,thể thao, văn hóa hoàn toàn miễn phí cho mọi người dân Đối với các đảngcộng sản cầm quyền hiện nay ở các nước XHCN, vấn đề vừa cơ bản, vừa cấpbách là phải lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội bảo vệ, duy trì ngày cànghiệu quả và tạo thêm ngày càng nhiều các giá trị XHCN trên mỗi bước tiếnkinh tế-xã hội, văn hoá, chính trị, đối ngoại… Thực tiễn chế độ dân chủ vàquyền con người của Cu-ba đem lại nhiều bài học có giá trị

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng đang vững bước trên con đường đilên chủ nghĩa xã hội Với đường lối, chính sách của Đảng nhân dân cáchmạng Lào thể hiện quan điểm nhất quán của nhân dân các bộ tộc Lào trongviệc quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Thực tế, trong nhữngnăm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế Lào ngày càng cao; sức mạnh hệ thốngchính trị từng bước được củng cố và tăng cường

1.1.3 Thực tiễn xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

Trước thời kỳ đổi mới, nhận thức về CNXH và xây dựng CNXH ở nước

ta chịu ảnh hưởng sâu sắc về nhiều mặt các quan điểm của Liên Xô và Trung

Quốc, rõ nét nhất là chịu ảnh hưởng của mô hình CNXH Xôviết.

Trang 14

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng và đi lênCNXH, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đường lốicách mạng XHCN đã bước đầu hình thành Miền Bắc tiến hành xây dựngCNXH từ một điểm xuất phát thấp, từ xã hội nông nghiệp truyền thống, từ chế

độ thực dân nửa phong kiến, nền kinh tế hết sức nghèo nàn lạc hậu lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sựgiúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không những làmtròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộcchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn giành được những thắng lợi to lớntrong công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đờisống nhân dân Miền Bắc từng bước phục hồi và phát triển lực lượng sản xuất,thiết lập quan hệ sản xuất XHCN, sản xuất công nghiệp từng bước được khôiphục và phát triển Trong 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957) và tiếp theo là kếhoạch 5 năm 1961-1965 với đường lối công nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuấtcông nghiệp mới được phục hồi và xây dựng Từ năm 1965 đến 1975, tuy miềnBắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhưng sảnxuất công nghiệp vẫn được duy trì và phát triển Giá trị tổng sản lượng côngnghiệp năm 1975 tăng gấp 16,6 lần năm 1955, bình quân tăng mỗi năm 14,7%.Hầu hết các sản phẩm công nghiệp tính bình quân đầu người năm 1975 đã đạtmức cao hơn nhiều so với năm 1955, trong đó: điện gấp 13,8 lần, than 4,8 lần, ximăng 25,2 lần, giấy 14,5 lần, vải 4,8 lần, đường 4 lần Năm 1975 miền Bắc đã

có 1.335 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, tăng 323 xí nghiệp so với năm

1960 Hoạt động thương mại được chú trọng Để hỗ trợ cho nông nghiệp vànông thôn khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và tàn dư của chế độphong kiến, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sách kinh tế, tàichính tích cực, trong đó nổi bật nhất là cải cách ruộng đất, thực hiện người cày

có ruộng, 810.000 ha đất nông nghiệp của địa chủ được tịch thu và chia chonông dân nghèo Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng11-1958) vạch chủ trương thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần

Trang 15

kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể.

Đi đôi với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa Hội nghị xác định phải ra sức xâydựng, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh Trong kế hoạch 3 năm lần thứhai, nhiệm vụ cải tạo XHCN trong nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọngnhất Phương hướng cải tạo XHCN trong nông nghiệp là đưa nông dân vào làm

ăn tập thể

Từ quý III năm 1958, một số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có vị trítrọng tâm, quan trọng nhất Phương hướng cải tạo XHCN trong nông nghiệpđược xây dựng thí điểm Năm 1959, phong trào phát triển khắp nơi và trởthành cao trào trong năm 1960 Đến cuối năm 1960, có 85,83% tổ đội sảnxuất tập thể Đại hội III của Đảng (năm 1960) đánh dấu một mốc lịch sử quan

trọng: vạch ra con đường tiến lên CNXH ở miền Bắc và con đường giải

phóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Đại hội đã xác định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ lên

CNXH ở miền Bắc: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống

phấn đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường

đoàn kết với các nước XHCN anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến

nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnhphúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranhthực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường sức mạnh khốiXHCN, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới…

Trong 5 năm 1961-1965, nhân dân miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng: Quan hệ sản xuất mới tiếp tục được củng cố, cơ sở vật chất đượctăng cường, bước đầu có sự tìm tòi cải tiến cung cách làm ăn qua các cuộcvận động “ba xây ba chống” và “cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹthuật”, giáo dục văn hóa, y tế phát triển mạnh mẽ Đến năm 1965, có 88,8%

số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; trong đó 71,7% số hộlên hợp tác xã bậc cao Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng giai cấp nông dântập thể đã hình thành và phát triển Tốc độ tăng bình quân về giá trị tổng sản

Trang 16

lượng nông nghiệp là 4,1% Công nghiệp miền Bắc thời kỳ này đã có bướcphát triển khá Từ những cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khaithác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ nay đã bắt đầu sản xuất một phần tư liệu sảnxuất và phần lớn những vật phẩm tiêu dùng của nhân dân Vai trò chủ đạo củacông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân bước đầu được phát huy

Giai đoạn 1965-1970, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, miền Bắc vẫnvững vàng vừa sản xuất vừa chiến đấu, vừa làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớnvới tiền tuyến lớn Công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển sản xuất đã thuđược kết quả Sản lượng lương thực năm 1970, toàn miền Bắc đạt 5.278.900tấn, tăng hơn năm 1969 hơn nửa triệu tấn

Như vậy, kể từ sau năm 1954 và đặc biệt từ sau Hội nghị các Đảng Cộng sản

và công nhân ở Matxcơva 1957 và 1960; Đảng ta dứt khoát khẳng định miền Bắcbước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH và mặc nhiên thừa nhận những quy luậtcủa cuộc cách mạng theo các mô hình các nước XHCN lúc đó: xây dựng Nhànước chuyên chính vô sản trên nền tảng kinh tế của chế độ công hữu dưới hai hìnhthức: toàn dân và tập thể; tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiến hành các cuộc cảibiến về văn hoá - tư tưởng nhằm thiết lập hình thái kinh tế - xã hội XHCN

Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cách mạng miền Namtừng bước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn Với cuộc Tổng tiếncông và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toànchiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất tổquốc Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thốngnhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước đilên CNXH Từ Đại hội III (9-1960) đến Đại hội IV (12-1976) của Đảng,những quan điểm cơ bản đó không thay đổi, về hình thức, bước đi để giảiquyết các nhiệm vụ kinh tế - chính trị của thời kỳ quá độ - Chủ trương tươngđối nhất quán của Đảng là phải tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi đểtiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH

Trang 17

Đại hội IV cũng xác định đường lối chung cách mạng XHCN ở nước ta.

Có thể coi đây là những phác thảo cơ bản về mô hình CNXH ở Việt Nam:

nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân laođộng, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất,cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cáchmạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN lànhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủtập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hóa mới,con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nànlạc hậu…; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thốngnhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dânthế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH Có thể nói, với công

thức chuyên chính vô sản - chế độ làm chủ tập thể XHCN và công nghiệp hoá XHCN, mà Đại hội IV đề ra những quan niệm về “chủ nghĩa xã hội - Nhà

nước” đã đạt đến nhận thức cao nhất vượt qua những điều kiện thực tiễn đấtnước Đến Đại hội IV của Đảng (năm 1976), với khí thế của người chiến

thắng, Đảng ta đã đề ra đường lối đẩy nhanh quá trình đi lên CNXH trên

phạm vi cả nước

Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976-1980 chưa tương xứng với sứclao động và vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còntrầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội; thịtrường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống của nhân dân lao độngcòn khó khăn Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điềuhành của Nhà nước giảm sút Ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ

2 (1981-1985), nhiều Nghị quyết và Quyết định quan trọng của Đảng và Chính

phủ được ban hành nhằm từng bước sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tư nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp Trước đó, từ

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh

tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắc tồn tại 3 thành phần kinh tế là quốcdoanh, tập thể và cá thể; miền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập

Trang 18

thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể Đó là bước khởi đầu thay đổi cơcấu các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tếthị trường Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đãđánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9/1985) và khẳng địnhchính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Vớinhững bước đi đổi mới từng phần theo những chủ trương, chính sách đúng đắncủa Đảng và Nhà nước, những sáng kiến, sự năng động, sáng tạo của nhân dâncủa các địa phương, cơ sở sản xuất kinh doanh, đã làm cho nền kinh tế Việt Namnhững năm 1981-1985 có bước phát triển khá Sản lượng lương thực bình quânmỗi năm đạt 17 triệu tấn, sản lượng công nghiệp tăng bình quân 9,5%/năm Thunhập quốc dân tăng bình quân hàng năm 6,4% Cơ sở vật chất của CNXH đượcxây dựng đáng kể với hàng trăm công trình tự động hóa và hàng nghìn công trìnhvừa và nhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí,dệt, giao thông Về năng lực sản xuất, đã tăng thêm 456.000 kW điện, 2,5 triệu tấnthan, 2,4 triệu tấn xi măng, 33 nghìn tấn sợi, 58 nghìn tấn giấy, thêm 309 nghìn hađược tưới nước, 186 nghìn ha được tiêu úng.

Vấn đề đặt ra là, vì sao bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chỉ ítlâu sau Đại hội IV của Đảng thì nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, đờisống nhân dân ngày một khó khăn và từ cuối những năm 1970 nước ta lâmvào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, lạm phát phi mã, đạt hơn 776% Nhìn một cách tổng quát, thời kỳ trước đổi mới, nhận thức của

Đảng ta về mục tiêu, bản chất của CNXH và sự nghiệp xây dựng CNXH

ở nước ta là đúng đắn - giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giảiphóng con người Điều này phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh

Tóm lại, cho đến lúc này, mô hình CNXH ở nước ta là:

Về kinh tế: công hữu tư liệu sản xuất dưới hai hình thức chủ yếu: Sở hữu nhà

nước và sở hữu tập thể Sử dụng cơ chế quản lý kinh tế tập trung kế hoạch là cao

độ Nhà nước toàn năng quan tâm mọi mặt đời sống “ tương cà mắm muối” củadân Chưa chấp nhận kinh tế thị trường

Trang 19

Về chính trị: thực hiện xây dựng mô hình nhà nước kiểu Xô viết Nhà nước

“ôm” quản lý mọi mặt hoạt động xã hội Mối quan hệ: Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân làm chủ được xác lập nhưng chưa rõ ràng rành mạch Dân chủchưa được phát huy cao độ

Về văn hóa: Nhà nước bao cấp bảo đảm mọi mặt hoạt động văn hóa, giáo

dục, khoa học, công nghệ

Về xã hội: Nhà nước quan tâm và bao cấp mọi mong muốn, đáp ứng mọi nhu

cầu thiết yếu của dân, phân phối cào bằng Điều đó làm cho sự thụ động của dântăng lên Mô hình này tỏ ra có hiệu quả trong công cuộc chống Mỹ cứu nước,song kéo dài lại thể hiện sự bất cập Thực tế đời sống vật chất tinh thần của dânkhó khăn đã cho thấy sự không phù hợp của mô hình CNXH ở nước ta

Cùng với những nhận thức đúng đắn đó, những nhược điểm và hạn chế cũngbộc lộ không ít, kèm theo đó là những khuyết điểm trong chỉ đạo, điều hành, quản

lý, đặc biệt là quản lý kinh tế Có thể hình dung những yếu kém và hạn chế dưới

những điểm sau: Một là, quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH ở nước ta còn

nhiều biểu hiện của nhận thức giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật

khách quan; Hai là, trong quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH ở nước ta

thời kỳ trước đổi mới chưa đặt đúng vị trí, vai trò của dân chủ với tư cách là một

động lực quan trọng hàng đầu và là mục tiêu của CNXH; Ba là, quá trình xây

dựng CNXH đã không đánh giá đầy đủ vai trò của khoa học - kỹ thuật - côngnghệ, đặc biệt không thấy hết vai trò của lý luận, của khoa học xã hội - nhân văn

đối với việc tăng cường tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng; Bốn là, quá trình xây

dựng CNXH ở nước ta trước đổi mới nằm trong tình trạng khép kín, đơn tuyến,

chỉ trong hệ thống XHCN; Năm là, quá trình xây dựng CNXH ở nước ta trước đổi

mới chưa xác lập và thực hiện được hệ chính sách và giải pháp để phát huy nguồnlực con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ Đây cũng là cơ sở để Đảng ta dámnhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng khuyết điểm, sai lầm, tiếp tục đổi mớitoàn diện về CNXH

1.2 Những biến đổi mới của thời đại, yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 20

1.2.1 Những biến đổi mới của thời đại trong giai đoạn hiện nay

Lịch sử phát triển của thế giới đã chứng minh, sự thành đạt của một quốc giatuỳ thuộc vào việc lựa chọn con đường đi lên, kết hợp được sức mạnh của dân tộc

và sức mạnh của thời đại nhằm tranh thủ thời cơ, huy động tối đa các nguồn lựccho sự phát triển Để phát triển đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc, đặc biệt là đối vớinước ta, phải xác định được thời đại hiện nay thuộc về thời đại nào, với nhữngđặc điểm và những xu thế phát triển của nó, để lựa chọn hướng đi phù hợp, một

mô hình xây dựng đất nước phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

* Đặc điểm của thời đại trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, tính chất quá độ từ CNTB lên CNXH được biểu hiện trên nhiều bình diện, phức tạp, cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn ra gay gắt trên phạm vi thế giới Phân tích, đánh giá, nhận định về thời đại, Đảng ta khẳng định: thời

đại hiện nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toànthế giới mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Tínhchất quá độ của thế giới được biểu hiện trên nhiều diện, cả về lịch sử, cả

về kinh tế và quan hệ quốc tế Về lịch sử: đó là sự quá độ từ một hình thái

kinh tế - xã hội thấp hơn (chủ nghĩa tư bản) lên một hình thái kinh tế - xã

hội cao hơn (chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH) Về kinh tế:

dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại và quátrình toàn cầu hóa kinh tế, trên thế giới đang diễn ra sự chuyển tiếp từkinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, từng bước hình thành kinh tế

toàn cầu Về quan hệ quốc tế: đó là sự chuyển tiếp từ trật tự thế giới hai

cực đã tan vỡ sang trật tự thế giới đa cực đang trong quá trình hình thànhthông qua đấu tranh quyết liệt giữa các nước mà trước hết và chủ yếu làgiữa các nước lớn

Riêng về mô hình CNXH trong thời kỳ quá độ của xã hội loài người từCNTB lên CNXH, kể từ khi Liên Xô tan rã đến nay, có hai tình hình đáng chú ý:

Một là, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, các nước XHCN còn lại (Trung

Quốc, Việt Nam, Cu-ba, Triều Tiên và Lào) đã trụ vững và giành được nhiều

Trang 21

thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, tiếp tục sự nghiệp xây dựngCNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Đặc biệt, những thành tựu to lớn, cónghĩa lịch sử mà Trung Quốc và Việt Nam giành được trong đổi mới đã khẳngđịnh sức sống và khả năng tự đổi mới để phát triển của CNXH, khẳng định conđường sử dụng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế để đẩy nhanh pháttriển kinh tế-xã hội, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của xã hội XHCN.

Hai là, từ năm 1998 đến nay, xuất hiện trào lưu cánh Tả ở Mỹ La

tinh Các lực lượng cánh Tả đã cầm quyền ở 10 nước: Vê-nê-xu-ê-la (từ1998); Chi-lê (từ năm 2000); Bra-xin (từ năm 2002); Ác-hen-ti-na (từnăm 2003); Pa-na-ma (từ năm 2004); Bô-li-vi-a (từ năm 2005); Ê-cu-a-đo(từ năm 2006); Ni-ca-ra-goa (từ 2007) và Goa-tê-ma-la (từ 2007) Ở mức

độ này hay mức độ khác, các chính phủ cánh tả, tiến bộ ở các nước nàyđều tiến hành các cuộc cải cách mang tính dân tộc, dân chủ, nhằm củng cốđộc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, mở rộng dân sinh, dân chủ…; thểhiện khuynh hướng độc lập hơn với Mỹ Bốn nước Vê-nê-xu-ê-la, Bô-li-vi-a, Ê-cu-a-đo và Ni-ca-na-goa lựa chọn con đường phát triển theo hướngxây dựng “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI” Thực tiễn cho thấy CNXH đang

là một lý tưởng có sức cuốn hút đông đảo quần chúng lao động ở các nước

Mỹ La tinh tích cực tham gia vào tiến trình cải cách, tiến tới xây dựngmột xã hội mới Rõ ràng, thực tiễn xây dựng mô hình CNXH trên thế giớirất đa dạng, phong phú với những hình thức, bước đi rất khác nhau đòi hỏiphải có sự tổng kết, nghiên cứu sâu sắc

Có thể nói, sự quá độ, chuyển tiếp trên nhiều bình diện của thế giớilàm nổi lên sự đan xen của nhiều mâu thuẫn, sự xuất hiện nhiều vấn đềmới, sự biến động, không ổn định của quan hệ quốc tế, sự tồn tại nhiềulực lượng khác nhau phấn đấu cho những triển vọng phát triển khác nhaucủa thế giới, hình thành nên các tập hợp lực lượng vừa đấu tranh vừa hợpvới nhau, v.v

Trang 22

Nhìn lại tình hình thế giới có thể thấy, sự vận động của các mâu thuẫntrong giai đoạn hiện nay của thời đại là rất phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn

và lợi ích đan xen nhau, không thể nhìn nhận một cách máy móc, đơngiản Các mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp hiện nay không mất đi mà nódiễn ra dưới những hình thái đấu tranh mới, tức là vừa hợp tác, vừa đấutranh trong cùng tồn tại hòa bình Trên cơ sở đó, làm cho thế giới tronggiai đoạn hiện nay mang những đặc điểm rất đa dạng, phức tạp

Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản vẫn diễn ra quyếtliệt trên thế giới CNXH vẫn là đối trọng chính của CNTB Do vậy, các nướcTBCN tìm mọi cách xoá bỏ CNXH cả trên lý luận và trên thực tế Giai cấp tư sảntìm nhiều biện pháp để chia rẽ, phá hoại phong trào công nhân, bằng cách dànhđặc quyền đặc lợi cho đội ngũ công nhân có trình độ cao: “công nhân cổ cồn,công nhân áo trắng” Nguy cơ chiến tranh thế giới đã bị đẩy lùi, nhưng xung độtsắc tộc, tôn giáo xảy ra gay go, quyết liệt và diễn biến phức tạp trên thế giới Chạyđua vũ trang, hoạt động can thiệp, chủ nghĩa khủng bố đang gây ra hậu quả rất lớnlàm tổn thất về người và của cho nhiều dân tộc Ngoài ra, còn xuất hiện nhữngmâu thuẫn toàn cầu như giữa phát triển và môi trường, bùng nổ dân số và thếgiới hạn hẹp, phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội, v.v Đây quả là mộttrong những nghịch lý của thế giới trong giai đoạn quá độ đi đến hình thànhnhững mối quan hệ quốc tế mới Nghịch lý đó cũng là những biểu hiện mớicủa đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong giai đoạn hiện nay của thời đạingày càng gay go, quyết liệt và phức tạp

Thứ hai, cách mạng khoa học và công nghệ đang đã và đang tạo ra những thay đổi to lớn trên thế giới Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công

nghệ đối với tình hình quốc tế rất to lớn, đưa đến sự phát triển vượt bậc của lựclượng sản xuất trên thế giới, làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế toàn cầu và dẫn đếnnhững thay đổi rộng lớn về chính trị - xã hội các nước Đặc biệt, cách mạng tinhọc đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá, liên kết khu vực và liên châulục, làm xuất hiện ngày càng nhiều thể chế đa phương Quá trình giao lưu và

Trang 23

thâm nhập kinh tế qua lại giữa các quốc gia ngày càng sôi động và chặt chẽ Tiềnvốn, công nghiệp, thông tin, hàng hoá… hầu như không còn bị cản trở bởi cácgianh giới quốc gia Không gian và thời gian dường như bị thu hẹp lại Sự tuỳthuộc lẫn nhau, trước hết là về kinh tế - thương mại, ngày càng trở nên sâu sắc điđôi với sự cạnh tranh gay gắt, khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các nướcngày càng lớn, nguy cơ tụt hậu, thậm chí bị bỏ rơi càng gay gắt Trong bối cảnh

đó, các nước đều thi hành chính sách mở cửa, gia tăng sự hội nhập vào khu vực

và thế giới; tiếp tục điều chỉnh chính sách để thích nghi với sự cạnh tranh toàncầu, đồng thời xử lý mâu thuẫn giữa quá trình toàn cầu hoá với lợi ích và chủquyền của mỗi quốc gia

Trào lưu hội nhập cuốn hút không chỉ các nước công nghiệp phát triển

mà cả những đang phát triển Đây là thách thức to lớn, nhất là với những nướcchậm phát triển, vì trong thời đại ngày nay không hội nhập được với khu vực

và thế giới sẽ dẫn đến bị tụt hậu và hệ quả tất yếu là bị loại ra ngoài cuộc chạyđua kinh tế toàn cầu với tất cả những hậu quả của nó; nhưng hội nhập thì sẽchịu sự cạnh tranh với những thách thức mới Vì lợi ích phát triển, các nướcnói chung đều phải chấp nhận sự cạnh tranh này, đều tăng cường giao lưu vàhội nhập, mặt khác cố gắng giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hoá dân tộc.Hiện nay, cả hai quá trình này đang diễn ra rất mạnh mẽ

Thứ ba, những vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự hợp tác giải quyết của các quốc gia Hiện nay, cộng đồng quốc tế đang đứng trước những vấn đề có tính

toàn cầu, đòi hỏi các quốc gia, các tổ chức quốc tế phải cùng nhau giải quyết,không phân biệt chế độ xã hội, biên giới như: khoảng cách chênh lệch giữacác nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng tăng; sự gia tăng dân số cùngvới các luồng dân di cư ồ ạt; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệttài nguyên; môi trường sinh thái bị huỷ hoại; khí hậu trái đất diễn biến ngàycàng xấu, thay đổi thất thường kèm theo những thiên tai khủng khiếp; cácbệnh dịch lớn, các tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế có chiều hướngphát triển Ngày nay, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, song hòa bình ở

Trang 24

nhiều khu vực vẫn bị đe dọa, thậm chí có xung đột diễn ra nghiêm trọng và cóchiều hướng ngày càng rối loạn Hiện tượng đáng chú ý nhất sau khi Trật tựhai cực tan rã là chủ nghĩa dân tộc nổi lên khắp nơi Hiện tượng chủ nghĩa dântộc “mới” phần lớn mang đặc điểm sự rạn nứt giữa dân tộc và quốc gia ngàycàng lớn, thách thức nghiêm trọng tính hợp pháp của chính quyền về nền tảngcủa chủ quyền nhà nước Sự phục hồi và gia tăng hoạt động của các tôn giáogắn kết với các phong trào chính trị - xã hội, phong trào dân tộc càng làmphức tạp thêm tình hình ở nhiều nước Xu hướng đòi thành lập quốc gia trên

cơ sở dân tộc, chủng tộc đơn nhất gia tăng Những người theo xu hướng nàysẵn sàng dùng mọi biện pháp, kể cả vũ lực, để thành lập cho được nhà nướcchủ quyền dân tộc Đặc biệt là Đạo Hồi, một trong ba tôn giáo lớn của thếgiới, có mặt trong 75 nước với khoảng 1 tỷ tín đồ Đạo Hồi đang hoạt độngsôi nổi trong lĩnh vực chính trị thế giới, nhất là chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan –

Nó giống như con sóng khổng lồ không chỉ làm rung động toàn bộ thế giớiHồi giáo, mà trên chừng mực nhất định, ảnh hưởng đến sự thay đổi và pháttriển của tình hình thế giới Trong đó, thế lực chủ nghĩa Hồi giáo cực đoanđặc biệt phát triển và lan rộng nhanh chóng Cũng chính từ những nhân tốnày, bước vào thế kỷ XXI, thế giới sẽ phải đối mặt với một mối nguy hiểmlớn, đe dọa đến an ninh thế giới - đó là chủ nghĩa khủng bố…

Những vấn đề toàn cầu nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau, khôngmột vấn đề nào có thể xem xét, giải quyết một cách riêng rẽ, đòi hỏi phải có

sự hợp tác, liên kết giữa các quốc gia cùng nhau giải quyết Mặt khác trongthế giới tuỳ thuộc lẫn nhau hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường, sự tăngtrưởng dân số quá mức, tình trạng nghèo đói, xung đột… ở nước này haynước kia đều tác động lớn đến nước khác Do vậy, trong việc giải quyết cácvấn đề xã hội toàn cầu, sự hợp tác quốc tế và khu vực đi đôi với các biện pháp

ở cấp quốc gia là rất cần thiết Và đương nhiên việc giải quyết các vấn đề bứcxúc này còn tuỳ thuộc vào nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội đang xâu xéthế giới ngày nay

Trang 25

Để giải quyết các vấn đề xã hội của mình, đòi hỏi Việt Nam phải tăngcường hợp tác có hiệu quả với các nước ở các cấp toàn cầu, khu vực, tiểu khuvực và song phương cũng như với các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc vàmột số tổ chức Phi chính phủ nước ngoài, v.v

Thứ tư, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang là khu vực phát triển năng động, khả năng phát triển với tốc độ cao, đồng thời cũng đang tiềm ẩn một số nhân tố có nguy cơ gây mất ổn định

Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đông dân nhất thế giới chiếm khoảng1/2 dân số toàn cầu, có tài nguyên phong phú, đa dạng Từ đầu thập kỷ 80 đếnnay, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang nổi lên như một khu vực phát triểnkinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt Đông Á tiếp tục phát triểnvới nhịp độ nhanh nhất thế giới Giá trị tổng sản phẩm của khu vực chiếm khoảngtrên 50% GDP của cả thế giới, kim ngạch xuất khẩu cũng chiếm khoảng 25% kimngạch toàn thế giới và đang đà tăng nhanh Sự phát triển năng động của các nềnkinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã thành động lực thúc đẩy sự tăngtrưởng của kinh tế thế giới Hiện nay, trong quan hệ quốc tế, các trung tâm kinh tếthế giới, các nước lớn đều hướng hoạt động kinh tế - chính trị vào châu Á - TháiBình Dương, coi đây là hướng quan trọng nhằm giành giật vị trí tối ưu trong mộtcục diện thế giới mới

Tình hình chính trị trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ sau chiếntranh lạnh đến nay tương đối ổn định Sau hàng thế kỷ gánh chịu sự đối đầu, cólúc trở thành xung đột quân sự, ở khu vực này đang xuất hiện khả năng có hoàbình, ổn định hơn, nhưng trong khu vực luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổnđịnh trong nội bộ mỗi nước và giữa các nước Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc,tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ… vốn bị che đậy dưới thời Chiến tranh lạnh naybộc lộ có nguy cơ bùng phát phức tạp và có lúc thành xung đột gay gắt Phần lớnnhững mâu thuẫn, tranh chấp này đều có căn nguyên lịch sử, nên việc giải quyếtkhông thể nhanh chóng và dễ dàng Bên cạnh đó, tình hình khu vực châu Á -

Trang 26

Thái Bình Dương cũng như thế giới đã và đang phải đối mặt với một mối nguyhiểm lớn, đe dọa đến an ninh khu vực và thế giới –-đó là chủ nghĩa khủng bố.Những đặc điểm nêu trên phản ánh tính chất quá độ với những mâuthuẫn đan xen, đồng thời phản ánh xu thế vận động đa dạng, phức tạp của thờiđại trong giai đoạn hiện nay

* Xu thế chủ yếu của thời đại hiện nay

Thứ nhất, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hoá và các tổ chức liên minh quốc tế

Đây được xem là một xu thế chủ đạo trong thế kỷ XXI Do có sự pháttriển của thương mại quốc tế, nền kinh tế của các nước trên thế giới quan

hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hóa của nền kinh tế tănglên Ngoại thương đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tếcủa các nước trên thế giới Những nước xuất khẩu nhiều nhất cũng lànhững nước phát triển nhất Cuộc cách mạng về viễn thông với máy tính,

vệ tinh, sợi quang học… thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới Hình thành một hệ thống liên lạc toàn cầu Tốc độ thôngtin toàn cầu tăng lên hàng triệu lần Không có hệ thống này, không thể có

sự ra đời của những công ty xuyên quốc gia và cuộc cách mạng tài chínhtrên thế giới

Tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới được tăng cường mạnh mẽ doquá trình quốc tế hóa của nền tài chính thế giới Việc chấm dứt tình trạng chiacắt thế giới thành hai hệ thống xã hội đối lập nhau càng thúc đẩy nền kinh tế

thế giới trở thành toàn cầu hóa

Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêucực đang bị các quốc gia phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chiphối Toàn cầu hoá buộc các quốc gia chủ động xác định lộ trình hội nhập vàomọi mặt đời sống, nhất là lĩnh vực kinh tế của thế giới Toàn cầu hoá làm cho thịtrường vốn, hàng hoá, dịch vụ… mở rộng mạnh mẽ, tính chất xã hội hoá củakinh tế thế giới ngày càng cao, sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các khu

Trang 27

vực cũng tăng lên Đồng thời, sự cạnh tranh cũng trở nên gay gắt chưa từngthấy.

Bên cạnh mặt quốc tế hóa, toàn cầu hoá, nền kinh tế thế giới còn cóquá trình khu vực hóa Ngày nay hầu như ở khắp các lục địa, khu vực đều

có các tổ chức liên minh kinh tế với những quy mô lớn, nhỏ khác nhau.Hiện tượng nổi bật từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai là sự ra đời của các

tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngânhàng thế giới (WB), Tổ chức thương mại thế giới (WTO)… Sự hình thànhcác tổ chức quốc tế và khu vực, một mặt, làm cho lực lượng quốc tế mạnhlên; mặt khác, nó dẫn đến chủ quyền quốc gia dân tộc có xu hướng yếu đi,

đây có thể là xu hướng song hành trong thời gian tới

Toàn cầu hóa và khu vực hoá là hai xu hướng hỗ trợ, bổ sung cho nhau

và cùng nhằm mục tiêu thúc đẩy trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động.Liên kết kinh tế khu vực vừa củng cố quá trình toàn cầu hoá vừa giúp cácnước trong từng khu vực bảo vệ lợi ích của mình

Thứ hai, xu thế hòa dịu, hòa bình, ưu tiên phát triển kinh tế

Đứng trước yêu cầu bức xúc về phát triển kinh tế - xã hội và sự tác độngmạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá, tất cả các nước đều dành ưu tiên choviệc phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối vớiviệc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia; gia tăng khả năng cạnhtranh nhằm giành những điều kiện phát triển thuận lợi nhất, nên nước nàocũng cần có môi trương hoà bình, ổn định Mặt khác, từ những hậu quả cáccuộc chiến tranh trên thế giới, các quốc gia đều nhận thấy được tầm quantrọng của hoà bình, ổn định để phát triển Trong thực tế không một nước nào

có thể phát triển được trong hoàn cảnh có chiến tranh, do vậy, hoà bình, ổnđịnh đã trở thành nhu cầu bức xúc của các quốc gia dân tộc

Xu hướng ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn tất cả các nướctrên thế giới Cục diện thế giới cũ được hình thành do kết quả của chiếntranh thế giới đã tan vỡ trong hoà bình Cục diện thế giới mới và các tập

Trang 28

hợp lực lượng của nó sẽ được tạo dựng nên không phải do chiến tranh thếgiới mà trên cơ sở kinh tế - chính trị là chính, mặc dù đấu tranh về tưtưởng, quân sự, văn hoá…vẫn rất gay gắt Cuộc chạy đua toàn cầu về kinh

tế và khoa học kỹ thuật hiện nay trong bối cảnh các n ước đấu tranh và hợptác trong cùng tồn tại hoà bình Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quantrọng trong quan hệ quốc tế Nhu cầu tập trung sức lực phát triển kinh tế

đã là một động lực thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế hiện nay

Thứ ba, xu thế vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các nước và tập hợp lực lượng trên trường quốc tế

Hợp tác và đấu tranh cũng như tập hợp lực lượng trên trường quốc tếxoay quanh bốn chủ đề lớn là: Hòa bình; trật tự thế giới mới; phát triển bềnvững; độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, dân chủ, công bằng và tiến bộ xãhội Bốn chủ đề này đụng chạm đến lợi ích cơ bản của các quốc gia, dân tộc,các tầng lớp nhân dân rộng rãi trên thế giới; đồng thời, thể hiện sự vận độngđan xen của các mâu thuẫn, các vấn đề lớn của thời đại trong giai đoạn hiệnnay Bản thân chúng cũng không biệt lập với nhau mà đan xen vào nhau,làm cho tình hình hợp tác và đấu tranh trên trường quốc tế diễn biến rất phứctạp Hiện nay, trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển là một xu thế lớn,phản ánh nguyện vọng bức xúc của các quốc gia, dân tộc Xu thế này biềuhiện rất đa dạng, phức tạp, tuỳ từng đối tượng, tuỳ từng vấn đề và từng thờiđiểm mà mặt hợp tác hoặc đấu tranh sẽ nổi trội, và các nước đều cố tránhxung đột, nhất là đối đầu về quân sự Đặc biệt là các nước lớn, tuy cọ xátgay gắt với nhau về lợi ích đồng thời kiềm chế lẫn nhau, nhưng đều tìm cáchthoả hiệp để không làm phương hại quan hệ cả hai phía

Vì vậy, tuy thực chất đấu tranh rất quyết liệt nhưng biểu hiện của cácmối quan hệ quốc tế hiện nay nhìn chung ôn hoà hơn, linh hoạt hơn, và yếu tốnày là có lợi cho việc củng cố hoà bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển

Thứ tư, xu thế vươn lên, độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các nước độc lập dân tộc, đang phát triển Xu thế này được biểu hiện trước hết là

Trang 29

về kinh tế và giải quyết vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, khai thác mọitiềm năng tập trung cho phát triển Song thực lực của các n ước này cònnhiều khó khăn do lịch sử để lại, vì họ phải trải qua thời kỳ chủ nghĩathực dân nô dịch, bóc lột làm khánh kiệt các nguồn tiềm năng Hậu quả họgánh chịu quá nặng nề Để khắc phục hậu quả đó, tạo ra nguồn lực chophát triển không thể là một sớm một chiều Song ý thức vươn lên của cácnước này ngày càng rõ rệt Hiện tại họ đang phải đương đầu với chủ nghĩathực dân kiểu mới, cuộc đấu tranh diễn ra ở mọi hình thức, rất phong phú,

đa dạng để bảo vệ chủ quyền quốc gia, chống lại đói nghèo, bệnh tật, tụthậu về kinh tế, bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tàinguyên, v.v Đây là những vấn đề cùng đặt ra một lúc, hết sức cấp báchđòi hỏi phải tập trung giải quyết Trong khi đó, một số quốc gia đang pháttriển lại nổ ra các điểm nóng, do các phe phái tranh giành quyền lực và bịcác thế lực bên ngoài lôi kéo, can thiệp vào công việc nội bộ Nh ưng xuthế chung của các nước này là họ đang tham gia, tập hợp lực lượng trongnhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế như Phong trào Không liênkết, Liên hợp quốc, Quan hệ Bắc - Nam, Quan hệ Nam - Nam v.v trên c ơ

sở đó mà mở rộng, gây ảnh hưởng tìm vị trí của mình trên trường quốc tế.Thực tế cho thấy rằng, không có sự kiện lớn nào trên thế giới, các diễnđàn nào quan hệ tới lợi ích của mọi quốc gia dân tộc mà không có tiếngnói của các nước độc lập dân tộc, đang phát triển

Tóm lại, trong sự phát triển của thế giới đa dạng và phức tạp hiện nay, việc

nhận thức rõ về thời đại có ý nghĩa quan trọng tới việc xây dựng mô hình xâydựng CNXH, đường lối chiến lược, sách lược, chính sách quan hệ và phươngpháp giải quyết những vấn đề quốc tế trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước,các tổ chức trên thế giới, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại

để ổn định hợp tác và phát triển

1.2.2 Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 30

* Những thuận lợi mới, thời cơ mới:

Trong những năm tới, sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN của nước ta tiếp tục có những thuận lợi mới, thời cơ mới Đó là lợi thế sosánh để phát triển do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nội lực là hết sức quan trọng,nhất là những thành tựu của hơn hai mươi năm đổi mới đã tạo ra những cơ hộicho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cáchmạng khoa học và công nghệ trên thế giới

Trong những năm tới, đối ngoại của Việt Nam sẽ tiếp tục được mởrộng, đa dạng hơn, phong phú hơn trên tất cả các hướng, các đối tượngvới phạm vi và cấp độ khác nhau theo phương châm độc lập tự chủ, đaphương hóa, đa dạng hóa, hợp tác các bên đều có lợi trên cơ sở tôn trọngcác quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia – dân tộc là độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam có thể tận dụng và khaithác tốt các nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng và bảo vệ đất nước

An ninh, quốc phòng của Việt Nam trong những năm tới tiếp tục được củng

cố và phát triển phù hợp với yêu cầu của nền quốc phòng trong điều kiện toàn cầuhóa, hội nhập kinh tế thế giới Chúng ta có điều kiện để xây dựng và bảo vệ môitrường hòa bình, ổn định, phát triển của Việt Nam, đồng thời đóng góp vào việc giữgìn hòa bình, ổn định khu vực và trên thế giới

Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Namtrở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN, phát huy hơnnữa nội lực Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta cần tranh thủ nguồn lực bênngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả

và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cảithiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ xã hội vàcông bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế -

xã hội với tăng cường an ninh quốc phòng

Trang 31

* Những khó khăn, thách thức:

Bên cạnh những thuận lợi và thời cơ, sự nghiệp đổi mới của Việt NamXHCN cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăntrên con đường phát triển của đất nước Bốn nguy cơ mà Đại hội VII củaĐảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại Các nguy cơ đó diễn biễn phức tạp, đan xen vàtác động lẫn nhau, chúng ta không thể xem nhẹ nguy cơ nào

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là thách thức về kinh tế Trong bối cảnh

của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, phát triển kinh tế nhanh và bền vững là một tháchthức lớn Nếu nước ta không tận dụng cơ hội hiện nay để đẩy mạnh công nghiệphoá và hiện đại hóa, phát triển nhanh, thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu thì cơ hội sẽ

bị bỏ lỡ Tuy nhiên, quá trình đó của nước ta được thực hiện trong điều kiện xuấtphát thấp về kinh tế, về cơ sở hạ tầng và trình độ quản lý của con người Do vậy,những khó khăn của việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa làkhông nhỏ Những thách thức về kinh tế sẽ tăng lên gấp bội, nếu như trong nhữngnăm tới nước ta từng bước hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Làm thế nào để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và doanhnghiệp trong nước trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài trong điều kiện toàn cầuhóa và mở cửa là một bài toán khó Để thích ứng với xu thế toàn cầu hóa, Đảng vàNhà nước ta phải tiến hành các điều chỉnh và cải cách cần thiết từ cơ cấu kinh tế,đầu tư đến các chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống luật lệ và thực hiện các chínhsách và luật lệ để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thông thoáng, thuận lợi choviệc thu hút đầu tư và các hoạt động kinh tế, đồng thời phù hợp với luật chơi chungcủa thế giới Đây là vấn đề khó khăn mà nước ta phải đối mặt Sai lầm trong bước

đi và phương thức tiến hành có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cảnhững đổ vỡ về kinh tế, xã hội Nguy cơ đó là thực tế, nó bị loại trừ hay không, điều

đó phụ thuộc vào sự thành công của công cuộc đổi mới và sự chuẩn bị các nguồnlực cho quá trình hội nhập

Cùng với thách thức về kinh tế, toàn cầu hóa đang đặt ra cho nước ta những

thách thức lớn về mặt chính trị - xã hội Nguy cơ chệch hướng XHCN phải được

Trang 32

đề phòng không những ở việc xây dựng và thông qua cương lĩnh, đường lối, chủtrương, nghị quyết, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn ở trong quá trìnhthực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội Nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như

sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ,đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhândân Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, sự phân hoá giàu nghèo,

tệ nạn xã hội và tội phạm… có nguy cơ ngày càng tăng là một thách thức khôngnhỏ trong quá trình phát triển của Việt Nam

Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa cũng đang tác động mạnh mẽ tới vấn đề

an ninh, quốc phòng của nước ta Nhiều vấn đề liên quan đến độc lập chủquyền, đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội đòi hỏi Đảng và Nhànước ta phải xử lý Tính độc lập của Việt Nam sẽ bị thách thức bởi sự gia tăngtùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Thẩm quyền và khả năng hành xử theo

ý chí của riêng quốc gia bị hạn chế Mặt khác, sự ổn định của hệ thống chínhtrị và các thiết chế xã hội sẽ luôn luôn chịu áp lực của những đòi hỏi mới đểphù hợp với quá trình tự do hóa thương mại và mở cửa Sự lợi dụng, can thiệpcủa thế lực bên ngoài vào nước ta luôn luôn là vấn đề có thể xảy ra Đặc biệt

là các thế lực phản động và thù địch không ngừng lợi dụng đầu tư hợp táckinh tế, “dân chủ”, “nhân quyền”… tìm mọi cách thực hiện thực hiện âmmưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân

ta do ĐCSVN lãnh đạo

Rõ ràng là, trong thời đại khoa học công nghệ và toàn cầu hóa kinh tế, vấn đề

an ninh thật sự của Việt Nam là phải đảm bảo kết hợp được sự cải thiện sức mạnhtổng hợp quốc gia với mở cửa ra bên ngoài Giữ vững an ninh quốc gia khôngtách rời vấn đề cùng tham gia và cùng hợp tác giữ vững an ninh khu vực và thếgiới, không thể không gắn liền những đặc điểm của thời kỳ mới

Có thể nói, những nguy cơ, thách thức trên mà Việt Nam đã và đang gặpphải trong quá trình đổi mới xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là rất

da dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực và đặt ra cho nước ta rất nhiều thử

Trang 33

thách đe dọa đến sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninhquốc gia Việc ngăn chặn và đầy lùi nguy cơ, thách thức đó phụ thuộc vào sựthành công của sự nghiệp đổi mới, vào năng lực kiểm soát và xử lý các vấn đềnảy sinh của Đảng và Nhà nước ta

Tóm lại, tình hình thế giới, khu vực, đất nước những năm qua có nhiều biến

đổi mới, phức tạp, tác động nhiều mặt cả thuận lợi và khó khăn, thách thức đếncông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Những thuận lợi, thời

cơ và những khó khăn, thách thức đó luôn tồn tại trong sự đan xen, thậm chí cóthể chuyển hóa nhau nếu như chúng ta có những tác động thích hợp Do đó, việcphân tích và giải quyết đúng đắn các vấn đề mới của tình hình thế giới, khu vực

và đất nước trên quan điểm biện chứng, lịch sử, cụ thể, định ra đường lối đổimới xây dựng mô hình CNXH, chính sách và tìm ra giải pháp, bước đi, cách làmthật sự khoa học, sáng tạo, phù hợp với những biến đổi mới của thời đại và điềukiện thực tế của Việt Nam, nhằm “tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tụcđổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn vàbền vững hơn” là yêu cầu khách của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta

Kết luận chương 1

Luận giải sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội tronglịch sử và sự vận động phát triển của phương thức sản xuất TBCN, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra sự tất yếu diệt vong của CNTB

và sự ra đời của chế độ CSCN mà giai đoạn thấp là CNXH Trên cơ sở vậnđộng của quy luật kinh tế và sự thắng lợi của cách mạng vô sản, các Ông đãphác thảo mô hình CNXH tương lai trên nền tảng của chế độ công hữu xã hội

về tư liệu sản xuất; sự bình đẳng về điều kiện phát triển của các thành viêntrong xã hội đó… Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, mô hình CNXH mà C.Mác

và Ph.Ăngghen phác thảo mới chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất trên cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội mà xã hội tương lai cần phải xây

Trang 34

dựng Mô hình đó đòi hỏi phải có sự bổ sung, phát triển và hoàn thiện tronghoàn cảnh lịch sử mới.

Trung thành với học thuyết Mác về CNXHKH, V.I.Lênin đã bảo vệ và pháttriển lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen về mô hình CNXH trong điều kiện lịch

sử mới Đồng thời chính Người trực tiếp lãnh đạo Đảng Bônsêvích và nhân dânNga biến CNXHKH từ một học thuyết trở thành hiện thực trên thế giới Thôngqua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, Lênin đã chỉ rõ tính đa dạng

về mô hình CNXH và con đường, cách thức, bước đi trong xây dựng CNXH củamỗi nước Do vậy, việc nhận thức đúng đắn mô hình CNXH và con đường đi lênCNXH ở mỗi nước khi Đảng Cộng sản giành được chính quyền là vấn đề trọngyếu quyết định đến toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đốingoại và an ninh - quốc phòng của đất nước Thực tiễn sự sụp đổ mô hìnhCNXH ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sau hơn 70 năm xây dựng đãchứng minh lời Di huấn của C.Mác, Ăngghen, Lênin về tính tất yếu phải bổsung, phát triển và hoàn thiện nhận thức về mô hình CNXH trong mỗi giai đoạnlịch sử cụ thể của thời đại, của mỗi nước khi xác định con đường lên CNXH

Kế thừa và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thểcủa cách mạng Việt Nam, trên cơ sở phân tích đúng đắn xu thế của thời đại vàtình hình đất nước, ngay từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã xác định đi lên CNXH là con đường tất yếu của cách mạng ViệtNam Trải qua mỗi thời kỳ cách mạng, mô hình CNXH ở Việt Nam được Đảng ta

bổ sung, phát triển ngày càng rõ nét hơn, đầy đủ hơn Tuy nhiên, trong quá trình tổchức thực hiện, Đảng ta đã mắc phải một số sai lầm khuyết điểm, đó là bệnh giáođiều, chủ quan duy ý chí không tôn trọng quy luật khách quan, không nhận thứcđúng đắn mô hình CNXH phù hợp với thực tế của Việt Nam và sự vận động, pháttriển nhanh chóng, phức tạp của thời đại hiện nay Tình hình đó đặt ra yêu cầukhách quan là phải đổi mới nhận thức về mô hình CNXH, xác định đúng đắn conđường, hình thức, bước đi trong sự nghiệp xây dựng xây dựng CNXH và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN

Ngày đăng: 08/08/2021, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bái (2006), “Về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 7, 4/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Xuân Bái
Năm: 2006
2. Nguyễn Đức Bình (1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện”, Tạp chí Cộng Sản , số:6, tr. 5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện”, "Tạpchí Cộng Sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1992
3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1843), “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen”, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H, 1995, tr.309-590 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phê phán triết học pháp quyềnHêghen”, "Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1844), “Gia đình thần thánh”, Toàn tập, tập 2, Nxb Sự thật, H, 1995, tr.19-793 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình thần thánh”, "Toàn tập
Nhà XB: NxbSự thật
5.C.Mác và Ph.Ăngghen (1845), “Luận cương về Phoi-ơ-Bắc”,Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H, 1995, tr.15-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phoi-ơ-Bắc”,"Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1848), “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 591-646 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”, "Toàntập
Nhà XB: Nxb CTQG
7. C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội. 1995, t 4, tr.616,624, 626, 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
8. Ph.Ăngghen (1878), “Chống Đuy rinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.15-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy rinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen, "Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
9. Ph.Ăngghen (1886), “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H, 2000, tr.455-826 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác và Ph.Ăngghen,"Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
11. Phạm Như Cương (1999), Đổi mới phong cách tư duy, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phong cách tư duy
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1999
12. Nguyễn Quang Du (1994), “Học tập Lênin, xây dựng phong cách làm việc thực sự khoa học”, Tạp chí Cộng sản, số:4, tr.19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Học tập Lênin, xây dựng phong cách làmviệc thực sự khoa học”
Tác giả: Nguyễn Quang Du
Năm: 1994
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1986
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII , Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
16. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
17. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Banchấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấphành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Banchấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1999
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Banchấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG H
Năm: 1999
21. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w