1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Tình hình đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam

34 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 738,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. T Ổ NG QUAN V Ề HO ẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DN (4)
    • 1. Khái niệm (4)
    • 2. Các hình thức ĐTRNN của DN (5)
  • II. TÌNH HÌNH ĐTRNN CỦA CÁC DNVN GIAI ĐOẠ N 2015-2020 (7)
    • 1. Chính sách ĐTRNN của VN (7)
    • 2. Tình hình ĐTRNN của các DNVN giai đoạn 2015 -2020 (9)
    • 3. ĐTRNN của một số DN tiêu biểu (18)
  • III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DNVN (19)
    • 1. Những kết quả đạt được (19)
    • 2. Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản (21)
  • IV. GI ẢI PHÁP THÚC ĐẨ Y HO ẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DNVN (24)
    • 1. Cơ hội và thách thức ĐTRNN của các DNVN (24)
    • 2. Các giải pháp thúc đẩy ĐTRNN (27)
  • KẾT LUẬN (32)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

T Ổ NG QUAN V Ề HO ẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DN

Khái niệm

1.1 Khái niệm đầu tư Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó

Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, lao động và trí tuệ để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian dài, với mục tiêu mang lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

1.2 Đầu tư ra nước ngoài ĐTRNN là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ VN, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.

Tập đoàn Viettel đã đầu tư 1 triệu USD vào Campuchia, thực hiện chiến lược "hạ tầng đi trước, kinh doanh theo sau" để phát triển thị trường tại đây.

Chiến lược "lấy nông thôn vây thành thị" của Viettel đã được áp dụng thành công tại nhiều thị trường quốc tế Năm 2009, sau 3 năm hoạt động tại Campuchia, Viettel đã ra mắt dịch vụ di động mang tên Metfone Nhờ vào việc phủ sóng toàn bộ 25 tỉnh thành, Metfone đã đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng và chỉ sau 2 năm, đã chiếm lĩnh vị trí số 1 về thị phần.

Các hình thức ĐTRNN của DN

Các hình thức ĐTRNN ngày các phong phú, đa dạng Các DNVN có thể ĐTRNN thông qua 5 hình thức:

2.1 Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư:

Tổ chức kinh tế bao gồm các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH và công ty hợp danh Ngoài ra, còn có hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã, cùng với các tổ chức kinh tế khác được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài, trong đó có Tập đoàn Hoàng Quân với khoản đầu tư 40 triệu USD thông qua Công ty TNHH Đầu tư Giáo dục Hoàng Quân - Mỹ Dự án nhà ở xã hội HQC Tacoma, tọa lạc tại Tacoma Ave S, thành phố Tacoma, tiểu bang Washington, Mỹ, là dự án nhà ở cho thuê dài hạn đầu tiên của Việt Nam được triển khai trên đất Mỹ.

2.2 Thực hiện theo hợp đồng BCC (Business Cooperation Contract) ở nước ngoài

Hợp đồng BCC cho phép nhà đầu tư Việt Nam ký kết hợp tác kinh doanh với nhà đầu tư nước ngoài mà không cần thành lập tổ chức kinh tế tại nước tiếp nhận Đây là hình thức đầu tư tích hợp, khai thác tiềm năng và lợi thế của nhiều nhà đầu tư trong cùng một dự án Khi nhà đầu tư gặp khó khăn về vốn, kinh nghiệm quản lý hoặc nguồn nhân lực, họ có thể kêu gọi thêm nhà đầu tư khác tham gia, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro.

1 Báo tuổi trẻ: https://tuoitre.vn/dieu-it-biet-ve-khoan-dau-tu-1-trieu-usd-cua-viettel-o-campuchia-20190425145901397.htm

2 Báo đời sống và pháp luật: https://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/tap-doan-hoang-quan-chi-40-trieu-usd-dau-tu-nha-o- xa-hoi-tai-my-a209301.html

Đầu tư theo hình thức Hợp đồng BCC là lựa chọn tối ưu cho các nhà đầu tư nước ngoài khi thâm nhập vào thị trường mới, giúp họ nhanh chóng tiếp cận thông tin và hiểu biết về thị trường thông qua các đối tác trong nước Đồng thời, nhà đầu tư trong nước nhận được sự hỗ trợ về vốn và công nghệ hiện đại từ đối tác, góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển dự án Hình thức đầu tư này đặc biệt phù hợp với các dự án ngắn hạn và yêu cầu tiến độ thực hiện nhanh.

Việc không thành lập pháp nhân trong hình thức đầu tư BCC gây ra hạn chế, đặc biệt là trong việc thực hiện hợp đồng và giao dịch bên lề, khiến bên thứ ba cảm thấy không chắc chắn do thiếu một đại diện chính thức Pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm giữa các đối tác khi ký kết hợp đồng với bên thứ ba Hơn nữa, các nhà đầu tư cần thỏa thuận về việc lựa chọn con dấu của một trong hai bên để ký hợp đồng, và nếu xảy ra tranh chấp liên quan đến việc sử dụng con dấu, dự án đầu tư sẽ phải dừng lại chờ giải quyết.

2.3 Mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài Ở hình thức này nhà đầu tư có quyền tham gia quản lý và thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài

Hình thức góp vốncủa nhà đầu tư nước ngoài

 Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần

 Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh

 Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác

Hình thức mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài

 Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông

 Mua phần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn

 Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh

Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác là một hình thức đầu tư phổ biến Một ví dụ điển hình là thương vụ mua lại toàn bộ nhà máy Driftwood tại Mỹ của Vinamilk vào năm 2013 Sau 5 năm sở hữu, doanh thu của Vinamilk đã có sự tăng trưởng đáng kể.

3 Thời báo Tài chính: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2020-05-16/hieu-qua-tu-thuong-vu-m-a-cua- vinamilk-86839.aspx

Driftwood mang về cho Công ty cổ phần sữa VN (Vinamilk) 116,2 triệu USD trong năm

2.4 Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài

Nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia và rút vốn từ hình thức đầu tư này, với lợi nhuận phụ thuộc vào sự gia tăng giá trị cổ phiếu Tuy nhiên, họ không có quyền quản lý hoặc điều hành trong công ty.

2.5 Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư

Nhà đầu tư Việt Nam có thể lựa chọn nhiều hình thức đầu tư khác nhau tùy thuộc vào quy định pháp luật của từng quốc gia và thị trường Một trong những hình thức được khuyến khích là đầu tư theo mô hình PPP (Đối tác công tư) tại Lào Mô hình này dựa trên hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án, nhằm thực hiện, quản lý và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng cũng như cung cấp dịch vụ công.

TÌNH HÌNH ĐTRNN CỦA CÁC DNVN GIAI ĐOẠ N 2015-2020

Chính sách ĐTRNN của VN

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy và hỗ trợ hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) Đặc biệt, vào ngày 29/09/2015, Nghị định số 83/2015/NĐ-CP đã được ban hành để thay thế Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động ĐTRNN.

Vào ngày 9/8/2006, Chính phủ đã ban hành CP, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng hoạt động đầu tư và kinh doanh ở nước ngoài.

Nghị định số 83/2015/NĐ-CP quy định các điều kiện, thẩm quyền, quy trình và thủ tục quyết định đầu tư cho các dự án ĐTRNN sử dụng vốn nhà nước, tuân thủ theo Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước trong đầu tư sản xuất, kinh doanh.

DN và các quy định của pháp luật có liên quan

Nghị định quy định rằng năm loại dự án đầu tư sau đây cần có tài liệu xác nhận địa điểm thực hiện: 1- Dự án năng lượng; 2- Dự án nuôi, trồng, đánh bắt và chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy hải sản; 3- Dự án khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản; 4- Dự án xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến, chế tạo; 5- Dự án xây dựng và kinh doanh bất động sản, cơ sở hạ tầng.

Sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký ĐTRNN, nhà đầu tư phải gửi báo cáo bằng văn bản về hoạt động của dự án theo Khoản 3 Điều 72 của Luật Đầu tư Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan để theo dõi và hỗ trợ nhà đầu tư tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư, đồng thời bảo vệ quyền lợi của họ.

Nhà đầu tư nước ngoài có 6 lợi ích hợp pháp, bao gồm việc thông qua kênh ngoại giao để đề xuất và kiến nghị chính quyền địa phương hỗ trợ Điều này giúp tạo điều kiện và tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ở nước ngoài.

Sự thay đổi quan trọng trong quy trình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nước ngoài (ĐTRNN) là việc loại bỏ thủ tục thẩm tra đối với các dự án không thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có vốn đầu tư dưới 800 tỷ đồng Các dự án này chỉ cần nộp hồ sơ đăng ký ĐTRNN tới cơ quan quản lý mà không cần thẩm tra trước, giúp quy trình trở nên thông thoáng, đơn giản và minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc đăng ký ĐTRNN.

Trước đây, để thực hiện các dự án ĐTRNN, nhà đầu tư cần có vốn đầu tư trên 15 tỷ đồng và phải thực hiện thủ tục thẩm tra Tuy nhiên, nhiều quy định liên quan đến điều kiện, hồ sơ và quy trình cấp Giấy chứng nhận ĐTRNN chưa được hướng dẫn chi tiết, khiến nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc lập hồ sơ Điều này dẫn đến việc mất nhiều thời gian cho việc giải trình và bổ sung, kéo dài thủ tục xem xét và cấp Giấy chứng nhận ĐTRNN.

Theo Nghị định mới về ĐTRNN, các dự án trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình và viễn thông có vốn đầu tư dưới 400 tỷ đồng sẽ được miễn thủ tục thẩm tra.

Nghị định số 83/2015/NĐ-CP không chỉ tạo ra khung pháp lý rõ ràng và minh bạch để khuyến khích đầu tư của doanh nghiệp, mà còn tăng cường giám sát chặt chẽ các hoạt động đầu tư, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng vốn nhà nước hoặc các dự án quy mô lớn có sử dụng ngoại tệ.

Vào ngày 17/10/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT, có hiệu lực từ 01/12/2018, thay thế Thông tư 09/2015/TT-BKHĐT Thông tư 03 đã đơn giản hóa mẫu bản đề nghị cấp/điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký ĐTRNN bằng cách lược bỏ các nội dung giải trình không cần thiết và bổ sung kê khai về hình thức ĐTRNN Ngoài ra, các mẫu báo cáo tình hình thực hiện dự án hàng quý và năm cũng được cập nhật hướng dẫn về thời hạn gửi, thời gian lấy số liệu và nơi gửi.

Hàng năm, cần bổ sung mẫu báo cáo tình hình hoạt động của dự án tại nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản điều 72 Luật Đầu tư 2014, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể Cần có hướng dẫn chi tiết về việc nộp tài liệu liên quan đến cam kết thu xếp ngoại tệ Ngoài ra, một số mẫu văn bản cũng cần được điều chỉnh ngôn ngữ để rõ ràng hơn, nhằm tránh gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.

Việc thay đổi và bổ sung các mẫu văn bản báo cáo là cần thiết để chuẩn hóa thủ tục pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) Điều này không chỉ tạo ra một môi trường thông thoáng mà còn giúp cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu lực trong việc quản lý các dự án ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Tình hình ĐTRNN của các DNVN giai đoạn 2015 -2020

2.1 Tổng số vốn đầu tư cho các dự án ĐTRNN và số dự án đăng kí mới 2015-2020

Theo Tổng cục Thống kê, tổng vốn đầu tư cho các dự án ĐTRNN đăng ký trong năm và vốn tăng thêm từ các dự án trước đây (đơn vị: triệu USD) cùng với số lượng dự án ĐTRNN đăng ký mới qua các năm được ghi nhận như sau:

Từ năm 2015 đến 2020, tổng số vốn và số lượng dự án đăng ký đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp đã có sự biến đổi rõ rệt hàng năm Những biến đổi này không chỉ phản ánh tình hình kinh tế trong nước và quốc tế mà còn thể hiện sự thay đổi trong chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

VN và các nước khác

Trong giai đoạn 2015-2016, tổng vốn đăng ký mới cho các dự án đầu tư nước ngoài (ĐTRNN) và vốn tăng thêm cho các dự án đã cấp giấy phép tăng mạnh Cụ thể, năm 2015 ghi nhận 118 dự án với tổng vốn đăng ký là 774,8 triệu USD, trong khi năm 2016, số vốn này đã đạt 970,7 triệu USD, tăng 195,9 triệu USD, tương đương 25,3% so với năm trước Số lượng dự án cũng tăng lên 139 dự án.

4 Tổng cục Thống kê, https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0418&theme=%C4%90%E1%BA%A7u%20t%C6%B0

Biểu đồ 1: Tổng vốn ĐTRNN và số dự án ĐTRNN đăng kí mới 2015 -2020

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tổng vốn đầu tư cho các dự án ĐTRNN và số dự án ĐTRNN đăng kí mới qua các năm

Tổng số vốn đăng kí và vốn thêm (đơn vị: triệu USD)

Số dự án đăng kí mới

8 án (tăng thêm 21 dự án) Nguyên nhân của mức trăng trưởng đột phá như vậy trong năm

Năm 2016 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) nhờ vào việc ban hành hàng loạt nghị định và thông tư hướng dẫn Cụ thể, Nghị định số 83/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã cung cấp các quy định chi tiết về chuyển vốn ĐTRNN, xác định địa điểm thực hiện dự án và chế độ báo cáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục ĐTRNN.

Nghị định số 135/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, cùng với Thông tư số 09/2015/BKHĐT-TT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cung cấp mẫu văn bản cho thủ tục đầu tư ra nước ngoài Ngoài ra, các thông tư hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn quy trình này.

Thông tư số 12/2016/TT-NHNN đã hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN), tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước mở rộng đầu tư và kinh doanh ở nước ngoài Nhờ vào việc ban hành các hướng dẫn cụ thể, năm 2016 chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng cả về vốn và số lượng dự án ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam.

Năm 2017, vốn đầu tư cho các hoạt động ĐTRNN giảm mạnh còn 350 triệu USD, giảm 620,6 triệu USD (64%) so với năm 2016, với tổng vốn đăng ký chỉ đạt 268,5 triệu USD, giảm 84% Số lượng dự án đăng ký mới cũng giảm nhẹ, chỉ còn 30 dự án, giảm 9 dự án so với năm trước Các DNVN chuyển hướng đầu tư từ các dự án lớn ra nước ngoài sang các dự án quy mô trung bình hoặc nhỏ, thường từ vài chục ngàn đến vài triệu USD Đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giảm, trong khi đầu tư từ DN phi nhà nước, cá nhân và DN FDI tăng, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ Thêm vào đó, các thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng trên toàn cầu như núi lửa, cháy rừng và động đất đã khiến các doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào các quốc gia bị ảnh hưởng.

Giai đoạn 2017-2020, tổng vốn cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) tăng nhẹ qua từng năm, chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực dầu khí, khoáng sản, thủy điện và nông nghiệp không tham gia vào ĐTRNN Các dự án chủ yếu có quy mô vốn trung bình và nhỏ, tập trung vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ, phù hợp với khả năng tài chính, năng lực quản lý và kinh nghiệm của doanh nghiệp Việt Nam.

9 số lượng dự án lại có xu hướng dao động mạnh, không có sự ổn định Từ năm 2017 đến năm

Năm 2019, số dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam tăng từ 130 lên 172 dự án, tương đương với mức tăng 32% so với năm 2017, tức là thêm 42 dự án Sự gia tăng này chủ yếu nhờ vào Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ban hành vào ngày 17/10/2018, đã hướng dẫn và chuẩn hóa thủ tục pháp lý cho ĐTNN, tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng và nâng cao hiệu lực quản lý của cơ quan nhà nước đối với các dự án nước ngoài Ngoài ra, các chính sách khuyến khích ĐTNN từ các quốc gia khác cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.

Quan hệ kinh tế và chính trị đặc biệt giữa Việt Nam và một số nền kinh tế như Lào, LB Nga, và Campuchia đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác đầu tư giữa các doanh nghiệp Tuy nhiên, đến năm 2020, số lượng dự án đầu tư đã giảm mạnh, chỉ còn 119 dự án, cho thấy sự suy giảm đáng kể trong hoạt động đầu tư.

Năm 2020, số lượng dự án giảm xuống còn 53, giảm khoảng 31% so với năm 2019, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 toàn cầu, làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh tế ở nhiều quốc gia.

Doanh nghiệp hạn chế việc thực hiện các hoạt động đầu tư mới nhằm giảm thiểu rủi ro, chủ yếu tập trung vào việc duy trì và đầu tư cho các dự án cũ Điều này đã dẫn đến một tình hình nhất định trong năm

Năm 2020, mặc dù số lượng dự án giảm, nhưng vốn đầu tư cho dự án đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) lại tăng trưởng Cụ thể, tổng vốn đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư mới đạt gần 318 triệu USD, tương đương 78,9% so với năm trước.

2019 và 33 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm 272 triệu USD, tăng gần 2,6 lần so với năm 2019

2.2 Tình hình ĐTRNN của DN phân theo ngành, lĩnh vực kinh tế

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 31/12/2019, ĐTRNN được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế với tổng số 5 dự án còn hiệu lực.

Tổng vốn đầu tư (Triệu USD) Số dự án

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 3.167,5 118

Bảng 1: ĐTRNN được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày

31/12/2019 - Nguồn: Tổng cục Thống kê

Các dự án ĐTRNN của Việt Nam phân bổ đồng đều trên ba lĩnh vực kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Đặc biệt, ngành công nghiệp thu hút một lượng vốn đầu tư đáng kể.

5 Tổng cục Thống kê, https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0415&theme=%C4%90%E1%BA%A7u%20t%C6%B0

ĐTRNN của một số DN tiêu biểu

Trong những năm gần đây, làn sóng đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) của các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nằm trong top những doanh nghiệp có vốn chuyển ra nước ngoài lớn nhất.

3.1 Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel)

Năm 2019, Viettel đã đầu tư 188,4 triệu USD vào các dự án viễn thông, trong đó dự án lớn nhất tại Myanmar đạt 161,6 triệu USD Tổng cộng, Viettel đã thực hiện 10 dự án tại Campuchia, Lào, Mozambique, Đông Timor, Cameroon, Burundi, Tanzania, Haiti, Myanmar, Peru và 3 dự án nghiên cứu phát triển tại Pháp, Mỹ, Nga với tổng vốn đầu tư lên tới 1,8 tỷ USD Đến nay, lợi nhuận và vốn đầu tư chuyển về nước đã đạt 803,2 triệu USD, trong đó năm 2019 là 113,3 triệu USD Đặc biệt, hai dự án tại Lào và Campuchia mang lại hiệu quả cao, với lợi nhuận chuyển về lần lượt là 168,3 triệu USD và 265,1 triệu USD Tại đây, thương hiệu viễn thông của Viettel là một trong những mạng di động lớn nhất, chiếm hơn 50% thị phần Các dự án viễn thông của Viettel tại châu Phi cũng đã hoạt động hiệu quả.

10 Thời báo Ngân hàng, https://thoibaonganhang.vn/se-don-dau-cac-xu-huong-moi-106722.html

I don't know!

12 Diễn đàn pháp luật, https://diendanphapluat.enternews.vn/cac-tap-doan-nha-nuoc-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-lai-lo-ra-sao- n7343.html?fbclid=IwAR0QCPTSmFXCFYckvrUbHauH8ylGWu3TYIK9L9RleJcYEfvfvXMwZDhNZa4

Viettel đã bắt đầu nhận dòng tiền chuyển về nước từ năm 17, nhưng tình hình chính trị không ổn định tại một số quốc gia châu Phi, như Cameroon và Tanzania, đã ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.

3.2 Tập đoàn Dầu khí VN (PVN)

Năm 2019, PVN đã đầu tư 38,9 triệu USD tại Malaysia và 33,2 triệu USD tại Angeri, với tổng cộng 27 dự án ở nước ngoài, tổng vốn đăng ký lên tới 7,1 tỉ USD Các dự án chủ yếu tập trung vào thăm dò và khai thác dầu khí, cùng một số lĩnh vực khoáng sản khác Tuy nhiên, trong số 27 dự án, chỉ có 11 dự án tiến triển đúng tiến độ, trong khi 6 dự án bị chậm và 13 dự án gặp khó khăn, còn 7 dự án không khả thi Tổng vốn mà PVN đã chuyển ra nước ngoài để thực hiện các dự án này khoảng 3,12 tỉ USD, chủ yếu trong giai đoạn 2008 - 2013, và lũy kế lợi nhuận cùng tiền chuyển về nước đến năm 2019 đạt 2 tỉ USD.

3.3 Tập đoàn Cao su VN (VRG)

Hiện tại, có 23 dự án trồng cao su đang được đầu tư tại Lào và Campuchia, với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 1,31 tỉ USD Trong số đó, 8 dự án đã được triển khai, bao gồm 5 nhà máy chế biến cao su tại Campuchia và 3 nhà máy tại Lào Tuy nhiên, do giá mủ cao su giảm thấp, các dự án hiện đang gặp khó khăn trong việc cân đối thu chi hàng năm và chưa mang lại lợi nhuận đáng kể Tính đến nay, lợi nhuận lũy kế về nước chỉ đạt 4,357 triệu USD, trong khi lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư chỉ đạt 0,51 triệu USD.

3.4 Tổng cô ng ty Hàng không VN (Vietnam Airlines-VNA)

Hãng hàng không Cambodia Angkor Air (CCA) được thành lập với sự góp vốn 49% từ VNA, tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt 49 triệu USD Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của CCA không đạt hiệu quả như mong đợi Sau hơn 10 năm đầu tư, VNA đã lên kế hoạch thoái vốn tại CCA, nhưng quá trình này vẫn chưa hoàn tất Trong giai đoạn đầu, CCA từng ghi nhận doanh thu lên tới 676 triệu USD, với ba năm (2009 - 2012) có lãi sau thuế gần 30 triệu USD.

1 triệu USD Nhưng từ năm 2013 đến nay hãng thua lỗ Ủy ban Quản lí vốn cho biết đã báo cáo Thủ tướng việc thoái vốn tại dự án này.

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DNVN

Những kết quả đạt được

Sau hơn 30 năm phát triển, dù đối mặt với nhiều khó khăn, doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) vẫn nỗ lực khẳng định năng lực và xây dựng hình ảnh tích cực cho cộng đồng doanh nghiệp Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của DNVN ngày càng đa dạng về thị trường, ngành nghề và hình thức đầu tư, với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp Trong giai đoạn 5 năm từ 2015, sự phát triển này đã thể hiện rõ nét.

13 Diễn đàn pháp luật, https://diendanphapluat.enternews.vn/cac-tap-doan-nha-nuoc-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-lai-lo-ra-sao- n7343.html?fbclid=IwAR0QCPTSmFXCFYckvrUbHauH8ylGWu3TYIK9L9RleJcYEfvfvXMwZDhNZa4

Năm 2020, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện sự nỗ lực không ngừng của các doanh nghiệp nhằm mở rộng thị trường quốc tế.

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, giúp tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận Xu hướng này ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là ở các tập đoàn lớn, nhờ vào tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường toàn cầu.

Trong bối cảnh hiện nay, việc mở rộng thị trường trở nên vô cùng cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam Chuyển dòng vốn ra khỏi lãnh thổ quốc gia không chỉ tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp tấn công vào những thị trường mới mà còn giúp gia tăng quy mô và tiềm năng doanh thu Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc này, qua đó nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch & Đầu tư về tình hình đầu tư nước ngoài năm 2019 cho thấy, có 19 doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện dự án đầu tư tại nước ngoài, với tổng doanh thu đạt 7,18 tỷ USD Trong đó, lĩnh vực dầu khí chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1,38 tỷ USD, kinh doanh xăng dầu đạt 3,5 tỷ USD, viễn thông 1,7 tỷ USD, và lĩnh vực trồng và chế biến cao su đạt 131 triệu USD Lợi nhuận và tiền chuyển về nước trong năm 2019 đạt 313,5 triệu USD, với dự án khai thác dầu khí tại Nga của PVN dẫn đầu với hơn 170 triệu USD, tiếp theo là dự án viễn thông của Viettel tại Campuchia với 22,1 triệu USD và dự án của Petrolimex tại Singapore gần 10 triệu USD.

Tính đến cuối năm 2019, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đạt gần 21 tỷ USD, trong đó lợi nhuận chuyển về nước khoảng 3 tỷ USD và 363 triệu USD được giữ lại để tái đầu tư Các dự án đầu tư tại nước ngoài chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu, viễn thông, cũng như trồng và chế biến cao su.

Ngoài việc chuyển vốn về nước, các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) còn tạo ra một khối lượng tài sản đáng kể, bao gồm nhà máy và cơ sở sản xuất có giá trị lên tới hàng tỷ USD tại nước ngoài.

Thứ hai, hoạt động ĐTRNN giúp các DNVN mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Việc mở rộng ĐTRNN đã giúp thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được mở rộng đáng kể, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới Chẳng hạn, sau 15 năm hoạt động ĐTRNN, Viettel đã đạt được hơn 35 triệu thuê bao tại 11 thị trường quốc tế, trải dài trên ba châu lục Á, Phi và Mỹ, trở thành một trong ba mươi doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới về số lượng khách hàng.

Vào thứ ba, các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài đã tránh được các hàng rào bảo hộ thương mại của các quốc gia nhận đầu tư, từ đó nhanh chóng tiếp cận thị trường tiềm năng và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, các hàng rào bảo hộ thương mại đang dần được dỡ bỏ, tuy nhiên, các quốc gia lại xây dựng những rào cản thương mại phức tạp hơn như rào cản kỹ thuật và rào cản về môi trường.

Việc xuất khẩu hàng hóa vào các quốc gia ngày càng trở nên khó khăn do hàng rào bảo hộ Để vượt qua thách thức này, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trở thành giải pháp tối ưu cho các nhà đầu tư, giúp họ tiếp cận thị trường một cách trực tiếp và tận hưởng các điều kiện ưu đãi Một ví dụ điển hình là các doanh nghiệp như Tổng công ty Lương thực miền Nam và Công ty lương thực VN đã đầu tư vào Campuchia để trồng lúa và xây dựng nhà máy chế biến, nhằm xuất khẩu gạo sang EU Nhờ chính sách miễn thuế nhập khẩu cho nông sản từ Campuchia của EU, các công ty này có thể dễ dàng xuất khẩu gạo và nông sản từ thị trường Campuchia sang EU mà không phải chịu thuế, mở ra cơ hội tiếp cận thị trường khó tính này.

Thứ tư, một số DN Việt khi ĐTRNN đã tận dụng khả năng sản xuất của nước ngoài

Tận dụng sự khác biệt về điều kiện vĩ mô như kinh tế, công nghệ và nguồn cung lao động, các doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận Vinamilk là một ví dụ điển hình khi đầu tư vào nhà máy Miraka ở New Zealand, nơi có nguồn nguyên liệu sữa tươi chất lượng cao và ổn định Việc đặt nhà máy tại đây không chỉ giúp Vinamilk khai thác lợi ích từ ngành công nghiệp sữa phát triển mà còn đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào trước biến động giá thế giới Nhà máy Miraka có công suất 8 tấn/giờ, tương đương 32,000 tấn/năm, và có khả năng chế biến 210 triệu lít sữa nguyên liệu hàng năm.

Vinamilk đã hợp tác với Công ty Miraka tại New Zealand để có nguồn sữa tươi chất lượng cao từ nông trại ở Taupo, với khả năng mở rộng sản xuất lên tới 55.000 con bò Sản phẩm sữa này không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu ra thị trường toàn cầu.

Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản

Mặc dù môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có nhiều tiềm năng và đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp phải nhiều hạn chế khi tham gia đầu tư ra nước ngoài.

Một là, nhiều dự án đầu tư ĐTRNN của DNVN còn triển khai chậm, hiệu quả vốn đầu tư chưa cao hay thậm chí là thua lỗ

Vietnam Airlines đã gửi báo cáo lên Thủ tướng xin phép thoái vốn tại dự án thành lập Hãng hàng không Cambodia Angkor Air (CAA) tại Campuchia, với tổng vốn đầu tư đáng kể.

Trong giai đoạn từ 2009 đến 2018, tổng doanh thu của CAA đạt hơn 676 triệu USD, tuy nhiên, từ năm 2013, dự án này bắt đầu kinh doanh không hiệu quả, liên tục bị lỗ và hiệu quả đầu tư không đạt như mong đợi Đồng thời, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã chuyển khoảng 3,12 tỷ USD ra nước ngoài, nhưng lợi nhuận và tiền chuyển về nước vẫn chưa đạt được con số kỳ vọng.

2019 là gần 2 tỷ USD nhưng có hơn một nửa số dự án gặp khó khăn khi triển khai Cụ thể có

Trong tổng số 27 dự án ĐTRNN của PVN, có 6 dự án chậm tiến độ, 12 dự án gặp khó khăn và 7 dự án không thể triển khai Theo báo cáo về hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước năm 2018, tổng số lỗ phát sinh của các dự án báo lỗ lên tới 367 triệu USD, tăng 265% so với năm 2017 Dẫn đầu về số lỗ là các dự án của Viettel với 349 triệu USD, tiếp theo là Tập đoàn Cao su Việt Nam với 7,7 triệu USD.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) còn yếu so với các đối thủ quốc tế, ngoại trừ một số ít như Viettel và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hầu hết các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các nhà đầu tư từ Trung Quốc, Thái Lan, đặc biệt trong đấu thầu và liên doanh với đối tác tại nước tiếp nhận Nguyên nhân chủ yếu là do đa số doanh nghiệp có tiềm năng hạn chế, vốn ít, khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ và kinh nghiệm hoạt động quốc tế còn yếu, cùng với việc chưa xây dựng được thương hiệu mạnh.

Số lượng và quy mô dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển như Lào, Campuchia, Myanmar, cũng như những khu vực khó khăn về thông tin liên lạc và di chuyển như Châu Phi và Nam Mỹ Mặc dù có một số dự án tại các thị trường lớn và phát triển, nhưng chúng vẫn chưa đáng kể về số lượng và quy mô.

2.2 Những nguyên nhân cơ bản

Các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVN) khi tham gia Đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) không chỉ xuất phát từ bản thân doanh nghiệp mà còn bị ảnh hưởng bởi các chính sách, pháp luật của Việt Nam đối với ĐTRNN, cùng với rủi ro từ sự biến động tỷ giá.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVN) hiện đang đối mặt với nhiều điểm yếu, bao gồm hạn chế về nguồn vốn, khả năng dự báo thị trường và năng lực quản lý Những yếu tố này, cùng với kinh nghiệm hạn chế trong đầu tư ra nước ngoài, đã làm giảm khả năng cạnh tranh của DNVN so với các đối thủ quốc tế như Thái Lan và Trung Quốc Hệ quả là hiệu quả đầu tư thấp và tiến độ triển khai dự án chậm.

14 Vietnam.net, https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/dau-tu-ra-nuoc-ngoai-lai-it-lo-mat-von-nhieu-658106.html

15 Tapchitaichinh, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/hoat-dong-dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-thuc-trang- va-khuyen-nghi-318291.html

Năng lực tài chính yếu kém là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều dự án không thể tồn tại lâu dài Đầu tư vào dự án đòi hỏi chi phí cao, bao gồm cả lương nhân viên và các khoản chi phí phát sinh như thuê luật sư và kiểm toán Thêm vào đó, lợi nhuận từ đầu tư thường không xuất hiện ngay mà cần thời gian từ 5-10 năm để dự án có thể sinh lời, và nếu không có nền tảng tài chính vững chắc, doanh nghiệp có nguy cơ phải ngừng hoạt động Ngay cả khi có đủ vốn, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm quản lý và không hiểu rõ về pháp luật, phong tục tập quán và văn hóa địa phương, dẫn đến hiệu quả đầu tư không đạt như kỳ vọng Do đó, việc nghiên cứu kỹ thị trường trước khi đầu tư là rất quan trọng.

Nhà đầu tư tại Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước trong việc thu hồi đất, tuy nhiên khi đầu tư vào Campuchia, chế độ sở hữu đất đai lại khác biệt, gây ra nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, các DNVN cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc liên kết

DN Việt Nam (DNVN) đang gặp khó khăn trong việc đầu tư ra nước ngoài do thiếu sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau, điều này trái ngược với các quốc gia khác có văn hóa hợp tác tốt hơn Nhiều DNVN thực hiện đầu tư một cách tự phát, dẫn đến phức tạp trong các tranh chấp Sự cạnh tranh giữa các DNVN không chỉ làm giảm sức mạnh và tiếng nói của họ tại thị trường nước ngoài mà còn gây khó khăn cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư Đặc biệt, tại Lào và Trung Quốc, DNVN cần có giấy giới thiệu từ các cơ quan quản lý nhà nước để thực hiện đầu tư.

Thứ hai, phía nhà nước, pháp luật VN:

Chính sách của nước ta còn hạn chế Hệ thống chính sách về thúc đẩy ĐTRNN của

Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện hệ thống quy định về đầu tư, hiện chỉ đưa ra yêu cầu cho nhà đầu tư khi nhận dự án mà chưa có nhiều chính sách ưu đãi cụ thể dành cho họ.

Trong quản lý triển khai dự án và theo dõi hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, thẩm quyền quản lý vẫn chưa được xác định rõ Quy trình phê duyệt dự án gặp nhiều bất cập, với nhiều doanh nghiệp phản ánh về thời gian chờ đợi hoàn tất thủ tục và phê duyệt quá lâu Các doanh nghiệp muốn đầu tư phải dành nhiều thời gian để hoàn thiện thủ tục xin giấy phép, trong khi các doanh nghiệp địa phương khi muốn đầu tư ra nước ngoài cũng phải mất thời gian đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

16 Tapchitaichinh, https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/hoat-dong-dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-thuc-trang- va-khuyen-nghi-318291.html

22 tư để xin phép văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài Các chính sách giúp

DN tiếp cận, hỗ trợ vốn vay còn chưa thông thoáng, dễ dàng cho DN

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, và Bộ Ngoại giao là ba đơn vị chính cung cấp thông tin về thị trường nước ngoài cho nhà đầu tư, nhưng doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin này Việc thu thập thông tin về môi trường đầu tư ở nước ngoài chưa được coi trọng, và công tác xúc tiến đầu tư ra nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức Môi trường kinh doanh quốc tế đang biến động nhanh chóng, tạo ra rào cản cho dòng vốn đầu tư, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục cập nhật thông tin và có đối sách hợp lý Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin và nghiên cứu thị trường còn hạn chế, khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc điều chỉnh chính sách cạnh tranh Hiện tại, chưa có cơ quan nào được giao nhiệm vụ thông tin về môi trường đầu tư và cơ hội đầu tư ở nước ngoài Kinh nghiệm từ một số nước cho thấy Chính phủ nên thành lập cơ quan hỗ trợ xúc tiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, như JETRO của Nhật Bản hay KOTRA của Hàn Quốc, để giúp doanh nghiệp trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư Trong khi đó, tại Việt Nam, công tác xúc tiến đầu tư ra nước ngoài vẫn chưa được chú trọng, chủ yếu tập trung vào việc thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước.

GI ẢI PHÁP THÚC ĐẨ Y HO ẠT ĐỘNG ĐTRNN CỦ A DNVN

Ngày đăng: 08/08/2021, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Thư (24/02/2020), Loại bỏ những rào cản đối hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, Tạp chí tài chính. Truy xuất từ:https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/loai-bo-nhung-rao-can-doi-hoat-dong-dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-319247.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tài chính
2. Bạch Huệ (18/10/2020), Đầu tư 6 tỷ USD ra nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước lỗ 1 tỷ USD, Tạp chí điện tử VN Economy. Truy xuất từ:https://vneconomy.vn/dau-tu-6-ty-usd-ra-nuoc-ngoai-cac-doanh-nghiep-nha-nuoc-lo-1-ty-usd-20201017091316655.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí điện tử VN Economy
4. Khanh Đoàn (23/09/2020), Sẽ đón đầu các xu hướng mới, Thời báo Ngân hàng. Truy xuất từ:https://thoibaonganhang.vn/se-don-dau-cac-xu-huong-moi-106722.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo Ngân hàng
5. Lê Thị Diễm Quỳnh (09/10/2015), Nghị định về đầu tư ra nước ngoài, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Truy xuất từ:https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/603/3542/nghi-dinh-ve-dau-tu-ra-nuoc-ngoai.aspx?fbclid=IwAR1JSZmJ_XjhSSMSxT_qW9IWCTJdw1z2x8fqOOukuOtshNo9gMEyfE25E1A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Diễm Quỳnh (09/10/2015), Nghị định về đầu tư ra nước ngoài, "Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
8. Quang Huy (31/3/2016), Doanh nghiệp Việt sang Campuchia trồng lúa, Báo điệ n t ử Pháp Lu ậ t Thành ph ố H ồ Chí Minh. Truy xuất từ:https://plo.vn/kinh-te/doanh-nghiep-viet-sang-campuchia-trong-lua-620568.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tửPháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh
9. Thông tư 03/2018/TT - BKHĐT hướng dẫn các mẫu văn bản thực hiện các thủ tục về đầu tư ra nước ngoài. Cổng thông tin quốc gia về đầu tư. Truy xuất từ:https://dautunuocngoai.gov.vn/fdi/tinbai/5400/Thong-tu-03-2018-TT-BKHDT-huong-dan-cac-mau-van-ban-thuc-hien-cac-thu-tuc-ve-dau-tu-ra-nuoc-ngoai?fbclid=IwAR16nt032kP-YJLLiZWUFH9YYi2GYviYTr3Qkgm861Hz9e9o62uoKZyjanU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổng thông tin quốc gia về đầu tư
10. ThS. Hoàng Hiếu Thảo (02/07/2018), Thực trạng hoạt động tham gia kinh doanh quốc tế của công ty Vinamilk, Tạp chí công thương. Truy xuất từ:http://amp.tapchicongthuong.vn/bai-viet/thuc-trang-hoat-dong-tham-gia-kinh-doanh-quoc-te-cua-cong-ty-vinamilk-28859.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí công thương
11. ThS.Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2/8/2019) , Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài và một số kiến nghị, Th ờ i báo Tài chính. Truy xuất từ:https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/dau-tu-cua-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-va-mot-so-khuyen-nghi-310741.html12. Tổng cục Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo Tài chính
15. Tú Uyên (25/08/2011), Nhà máy sữa Vinamilk ở New Zealand đi vào hoạt động, Báo Vietnamnet. Truy xuất từ:https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/nha-may-sua-vinamilk-o-new-zealand-di-vao-hoat-dong-36778.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Vietnamnet
16. V. ĐỨC, Việt Nam đã đầu tư hơn 700 triệu USD vào Châu Phi. Truy cập từ: https://doanhnhansaigon.vn/thoi-su-trong-nuoc/viet-nam-da-dau-tu-hon-700-trieu-usd-vao-chau-phi-1040606.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam đã đầu tư hơn 700 triệu USD vào Châu Phi
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư- Cục Đầu tư nước ngoài. 17/07/2020. Doanh nghiệp Việt đầu tư gần 21 tỷ USD ở nước ngoài. Truy xuất từ:https://fia.mpi.gov.vn/Detail/CatID/90c0e0c8-58ee-4737-bf70-5f08acea5ca8/NewsID/4a87461c-dfa2-4ffb-8887-b9133681270d/MenuID/5ef9e864-dd1c-48a5-b6b0-6bed77ece7dc Link
6. Nghị định quy định về đầu tư ra nước ngoài, Thư viện pháp luật, 7/6/2020 . Truy xuất từ :https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Nghi-dinh-quy-dinh-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-453878.aspx Link
7. Ngh ị định 83/2015 NĐ - CP quy đị nh v ề đầu tư ra nước ngoài, thư việ n pháp lu ậ t, 25/9/2015. Truy xuất từ :https://m.thuvienphapluat.vn/van-ban/dau-tu/nghi-dinh-83-2015-nd-cp-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-292147.aspx Link
17. Xuân Sơn, Duy Toàn, Lào tập trung chính sách thu hút đầu tư để phát triển kinh tế, Báo nhân dân, 5/11/2020. Truy xuất từ:https://nhandan.com.vn/tin-tuc-the-gioi/lao-tap-trung-chinh-sach-thu-hut-dau-tu-de-thuc-day-kinh-te-623344/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w