1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

8 các hiện tượng bất thường xảy ra trong vận hành MBA, nguyên nhân và biện pháp khắc phục lần 3

33 186 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 34,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên về phương diện ngườiquản lý vận hành trạm biến áp để hạn chế điều này cần thường xuyên kiểm trasự làm việc của chống sét van lắp đặt bảo vệ các phía máy biến áp, hệ thống tiếpđ

Trang 1

PHẦN 8: CÁC HƯ HỎNG THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

I Các hiện tượng bất thường xảy ra trong vận hành máy biến áp

II Tiếng kêu bất thường trong máy biến áp

III Nhiệt độ tăng cao cục bộ trên sứ, trên mạch từ máy biến áp

IV Các dạng hư hỏng ở cuộn dây máy biến áp

V Các dạng hư hỏng ở sứ máy biến áp

VI Các dạng hư hỏng ở bộ phận phân áp (Bộ đổi nấc điện áp)

VII Hư hỏng mạch từ

VIII Hư hỏng ở thùng dầu, nắp máy và các bộ phận phụ

IX Rò rỉ dầu

X Rơle ga, rơle dòng dầu, rơle so lệch, quá dòng… tác động sai

XI Dầu máy biến áp, bộ phận cách điện không đạt tiêu chuẩn thí

nghiệmXII Thay hạt silicagel (Hạt hút ẩm), thay dầu trong chén dầu của bộ

thởXIII Hư hỏng hệ thống làm mát

XIV Nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Trang 2

-I CÁC HIỆN TƯỢNG BẤT THƯỜNG XẢY RA TRONG VẬN HÀNH

MÁY BIẾN ÁP

Các máy biến áp lực là một mắt xích quan trọng trong các thành phần cấuthành của một hệ thống điện, các hư hỏng ở máy biến áp làm ảnh hưởng đếnviệc cung cấp điện năng đến các hộ tiêu thụ

Trên thế giới, các máy biến áp được biết làm việc rất tin cậy tuy nhiên ởnhiều nơi vẫn có tốc độ hư hỏng khá cao Việc phân tích các hư hỏng trong hệthống điện cho thấy một phần lớn các nguyên nhân chính thuộc về hư hỏng củacác máy biến áp lực

Các nguyên nhân này bao gồm:

 Các thao tác nhầm;

 Việc bảo dưỡng không thích hợp trong vận hành;

 Áp dụng thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật trong khi chế tạo,

 Thử nghiệm và nghiệm thu;

 Các vật tư đầu vào không đạt tiêu chuẩn;

 Môi trường làm việc không phù hợp;

 Các điều kiện vận hành không bình thường;

 Các quá điện áp, ngắn mạch trong hệ thống …

Cụ thể như sau :

 Khiếm khuyết ở khâu thiết kế

 Các vấn đề liên quan đến việc chế tạo

Trang 3

 Các khuyết tật về vật liệu.

 Các vấn đề về vận chuyển và bảo quản máy biến áp và các vật tư,phụ kiện

 Bảo dưỡng không đúng quy trình kỹ thuật

 Quá tải bất thường

 Sét đánh lan truyền vào máy biến áp

 Ngắn mạch bên ngoài máy biến áp

 Hệ thống làm mát hoạt động kém

 Các hư hỏng chưa biết nguyên nhân

Tuy nhiên, các hư hỏng ở các máy biến áp được phân loại như sau :

 Điểm yếu về tính năng kỹ thuật, thiết kế, chế tạo kém hiệu quả

 Lắp đặt; Vận hành; Bảo dưỡng kém hiệu quả, không đúng quytrình

 Các điều kiện vận hành bất lợi

 Do quá trình lão hoá

I.1 Các tình trạng vận hành bất lợi

Tuổi thọ của một máy biến áp thông thường phụ thuộc vào tuổi thọ củacách điện Trong quá trình vận hành bình thường của máy biến áp, quá trình lãohoá cũng nằm ở mức độ bình thường Tốc độ lão hoá có quan hệ với nhiệt độ,hàm lượng ẩm và khoảng thời gian của tình trạng mang tải Ở nhiệt độ lớn hơn140°C, các bọt khí được hình thành do sự phân huỷ của cách điện Các bọt khínày là mối nguy hiểm tiềm tàng trong khu vực lân cận vùng có ứng suất điện ápcao Điều này có thể khởi đầu hư hỏng về điện đưa đến việc phóng điện chọcthủng

Tuổi thọ mong đợi của máy biến áp sẽ suy giảm bớt khi các bảo vệ khôngđầy đủ trong khi vận hành ở các điều kiện bất thường như là:

- Theo dõi điện áp vận hành để điều áp đúng theo Quy định thao tác xử

lý sự cố hiện hành tránh quá áp (các nấc) máy biến áp

- Hạn chế dòng điện sét lan truyền vào máy biến áp Tuy nhiên vấn đề

Trang 4

sét của đường dây truyền tải và trạm biến áp Tuy nhiên về phương diện ngườiquản lý vận hành trạm biến áp để hạn chế điều này cần thường xuyên kiểm tra

sự làm việc của chống sét van lắp đặt bảo vệ các phía máy biến áp, hệ thống tiếpđịa tản dòng điện sét

I.2 Các thói quen bảo dưỡng không đúng

Ngoài những vấn đề trên, có một loạt các vấn đề cần khắc phục đã gặpphải ở hiện trường như sự nhiễm ẩm, sự ôxy hoá, nhiễm bẩn chất rắn, các bọtkhí… Bảo dưỡng ngăn ngừa được cho là biện pháp tốt nhất để cải thiện độ tincậy của máy biến áp

Tuy nhiên việc bảo dưỡng kém hoặc không đầy đủ trên các khu vực rỉdầu, chất lượng dầu, các phụ kiện tới hạn như là các bộ chuyển nấc, các sứ đầuvào, các thiết bị bảo vệ… sẽ gây ra bất ổn cho máy biến áp

Máy biến áp 500kV bị gãy sứ

Ngoài ra cũng có báo cáo cho thấy hư hỏng của các mối nối trong quátrình xảy ra ngắn mạch

Trang 5

Trong một vài trường hợp, các máy biến áp đã hỏng khi chỉ số phân cực(PI) của cách điện cuộn dây bị huỷ hoại giảm xuống giá trị 1,1 hoặc bé hơn mặcdầu hàm lượng ẩm trong dầu máy biến áp vẫn còn nằm trong giới hạn đến 35ppm và điện áp phóng đến 50kV

Sự giảm cấp của chỉ số phân cực (PI) trên nhiệt độ tới hạn theo phụ tảicần được qui định và kiểm tra

Trong một hoặc hai trường hợp, đã phát hiện ra điện trở nối đất của trạmbiến áo cao hơn qui định Điều này gây ra các điện áp cao tồn tại ở đầu trungtính của cuộn dây khi có ngắn mạch pha đất trên các xuất tuyến hoặc thanh cái.Việc này làm hỏng cách điện vòng ở đầu trung tính

Vì vậy cần thực hiện kiểm tra, bảo dưỡng theo hướng dẫn của nhà chế tạovới đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân viên trực tiếp đã được đào tạo hướngdẫn Đặc biệt là bảo dưỡng thay thế những chi tiết phức tạp và quan trọng như:

Bộ lọc dầu máy biến áp, thay dầu bộ OLTC hoặc bảo dưỡng bộ OLTC và cầnphải có vật tư thiết bị chuyên dụng đúng chủng loại…

II TIẾNG KÊU BẤT THƯỜNG TRONG MÁY BIẾN ÁP

Khi có tiếng kêu khác thường phát ra từ máy biến áp, cần xem xét đánhgiá định tính cường độ, tần suất phát ra tiếng kêu để đánh giá nhận định là tiếngkêu bình thường hoặc bất thường:

 Khi vận hành máy biến áp thường phát ra tiếng kêu o o đều đặn, đây

là trạng thái bình thường Nguyên nhân là do khi có điện áp đặt vào cuộndây sơ cấp thì trong cuộn dây sơ cấp sẽ có dòng điện kích từ đi qua

 Dòng điện kích từ tạo ra từ thông chính đi trong lõi thép, từ thông lạisinh ra lực điện từ F Do các lá thép dùng để chế tạo mạch từ có độdầy mỏng khác nhau và có cấu tạo không hoàn toàn giống nhau nên

Trang 6

véc tơ lực từ hoá xuất hiện trên các lá thép sẽ khác nhau, các lực từhoá này tác dụng với nhau tạo ra sự rung động của các lá thép.

 Dòng điện từ hoá còn tạo ra từ thông tản khép mạch qua dầu và vỏmáy biến áp, từ thông tản sinh ra lực điện từ tác động vào các lá thépngoài cùng của trụ lõi thép cũng gây nên sự rung động của lá thép

 Tiếng o o đều đặn nhưng to hơn, rõ hơn:

 Trong lưới điện có trung tính không nối đất khi có một pha chạm đấtđiện áp có thể tăng lên đến 3Upha Điện áp càng cao thì mức độ rungcủa các lá thép càng mạnh hơn

 Khi có quá tải đột biến, từ thông tản tăng làm cho các lá thép bênngoài cùng trụ lõi thép rung mạnh hơn, lúc đó kim đồng hồ ampe méttăng vụt lên báo dòng điện phụ tải đột biến

 Bu lông ép lõi thép bị lỏng cũng là nguyên nhân gây ra tiếng kêu o o

to, rõ hơn nhưng lúc này ampe mét không báo dòng điện tăng

 Khi điểm nối đất lõi thép máy biến áp bị đứt cũng gây ra phóng điệntại điểm tiếp xúc do xuất hiện điện dung cảm ứng trong môi trườngđiện áp cao, điện trường mạnh

 Có tiếng kêu lách cách của hiện tượng phóng điện tại cuộn dây máy biến áp,tại các điểm tiếp xúc bộ phân nấc Dầu biến áp bị sôi nhẹ và sinh khí Hệthống rơ le của máy biến áp có độ nhạy và độ chọn lọc cao, khi xảy ra phóngđiện trong nội bộ máy biến áp hoặc trong bộ điều chỉnh điện áp thì rơ le ga,

rơ le so lệch, rơ le dòng dầu sẽ khởi động nhanh (không thời gian) đi cắtđiện các phía máy biến áp

III NHIỆT ĐỘ TĂNG CAO CỤC BỘ TRÊN SỨ, TRÊN MẠCH TỪ

MÁY BIẾN ÁP

* Hư hỏng của các sứ đầu vào:

Sứ cao áp máy biến áp 1- Đầu cốt 2- Bộ giãn nở 3- Phần trên sứ 4 Đồng hồ đo áp lực.

5- Van 6- Đầu đo tg của sứ 7- Phần dưới của sứ ngâm trong dầu

 Do các đặc điểm chế tạo, các thanh dẫn ( hoặc dây dẫn dòng) được ghép nốivới các đầu ra của cuộn dây Tại các điểm nối này đã xuất hiện sự tiếp xúckhông tốt, tăng nhiệt đột ngột làm sôi dầu và hỏng sứ

Trang 7

IV. CÁC DẠNG HƯ HỎNG Ở CUỘN DÂY MÁY BIẾN ÁP

Các rãnh đối lưu dầu trong cuộn dây được thiết kế hơi hẹp Làm giảm tốc

độ đối lưu dầu dẫn đến sự làm mát không phù hợp và làm quá nhiệt, hỏng cáchđiện Từ đặc tính này, các rãnh dầu phải thích hợp đảm bảo làm mát hiệu quả

Sự hoán vị các vòng dây không phù hợp Làm tăng thêm tổn hao và phátnóng thêm Điều chỉnh từ thiết kế để việc hoán vị sao cho toàn bộ các thanh dẫnphải có trở kháng bằng nhau

Khoảng cách giữa cách pha không đủ Có thể gây ra ngắn mạch do viphạm khoảng cách Điều chỉnh, tạo ra khoảng cách vừa đủ tuỳ theo cấp điện áp

Vòng kẹp được thiết kế không phù hợp Có thể hỏng trong tình trạng ngắnmạch Độ dày của vòng kẹp phải được thiết kế sao cho chịu được các lực điệnđộng khi ngắn mạch

Việc buộc các dây dẫn định vị không đảm bảo Có thể hỏng trong tìnhtrạng ngắn mạch Cần phải có kết cấu vững chắc, gia cố thêm để buộc các dâydẫn

Trang 8

Cuộn dây bị lỏng và định cỡ không đúng Gây ra ngắn mạch giữa cácvòng dây hoặc giữa các bối dây với nhau Cần thay đổi cỡ dây thích hợp nhằmgiữ cho cuộn dây nằm dưới tình trạng kẹp chắc chắn.

Có các gờ, mép sắc cạnh hoặc nhọn trên các vòng đệm và các bối dây.Làm hư hỏng, rách thủng cách điện bao bọc thanh dẫn Khi lắp đặt phải kiểm tracẩn thận Phải đảm bảo không để xảy ra tình trạng có gờ sắc cạnh nhờ vào cácthiết bị gia công tốt Tiến hành mài dũa hoặc gọt các mép sắc

Các điểm nối dây dẫn dòng điện bằng đồng thau kém chất lượng Làmphát nhiệt, gây già hóa và hỏng cách điện dây dẫn và làm cho cuộn dây hỏng,chạm chập hoặc phóng điện chọc thủng cách điện Khi hàn nối dây dẫn, tuân thủcác qui trình hàn đồng tốt Kiểm tra các mối hàn đạt tiêu chuẩn mới được lắp ráp(đo điện trở mối nối)

Các gờ sắc cạnh trong các thanh dẫn bằng đồng, làm rách cách điện, tạonên phóng điện cục bộ và làm hỏng cách điện thanh dẫn Do vậy, bề mặt phảiđược gia công hoàn thiện làm cho các bề mặt trơn tru, bằng phẳng, nhẵn bóng

Khi sử dụng dây đồng trần cho các mối nối Hình thành sự ôxy hoá, tạo rỉ

và bụi cặn bã Nên dùng lớp vỏ bằng emay hoặc giấy để bọc lên dây đồng trần

* Hư hỏng các sứ MBA:

 Các sứ cách điện được đặt ở mặt trên thùng dầu chính Các sứ cách điện đềudùng loại rỗng có thanh dẫn tròn (hoặc dây dẫn ) xuyên qua ruột sứ Sứ máybiến áp được chế tạo đặc biệt, được tăng cường cách điện bằng nhiều tán sứ, tán

sứ có độ rộng và chiều cao sứ lớn hơn mức bình thường

Trang 9

Rách roăng ghép nối, gây chảy dầu sứ

- Sứ đầu vào gồm có hai loại: Loại sứ kiểu tụ điện và kiểu không tụ điện.

- Loại sứ kiểu tụ điện: được dùng phổ biến trong máy biến áp 110kV,

220kV, 500kV là sứ có phần cách điện bên trong bằng giấy tẩm dầu Loại sứ

này được phân làm hai loại: Loại sứ áp lực và loại không áp lực

Loại sứ có áp lực là: dầu cách điện được nén áp lực vào bên trong sứ, trên

đỉnh sứ có lắp bộ dãn nở dầu mục đích để giảm áp lực dầu trong sứ khinhiệt độ tăng Mỗi quả sứ có một đồng hồ theo dõi áp lực của dầu, nếu áplực dầu tăng lên so với đường cong tới hạn AB là 0,5kgf/ cm2 thì phải cắtđiện MBA

Loại sứ không áp lực là: dầu nạp vào bên trong sứ không có áp lực, phía

trên cùng cũng có một khoang dãn nở dầu

- Loại sứ kiểu không tụ điện: là chỉ có cách điện bằng sứ và chất cách

điện lỏng

Trang 10

- Các sứ đầu vào kiểu tụ thường được vận chuyển đi với phần đỉnh đượclàm kín và có lớp vỏ sứ chống mưa Phần tụ phía dưới gởi đi được bao bằng cácbăng giấy phết sáp Ở một vài máy biến áp người ta đã phát hiện ra rằng cácbăng giấy dùng trong vận chuyển này đã không được tháo ra trong khi nhấc các

sứ lên máy biến áp

Qua một thời gian vận hành, lớp sáp chảy ra khi tiếp xúc với dầu nóng bêntrong thùng máy và băng giấy rơi ra gây phóng điện bên trong thùng máy Điềutốt nhất là đưa các sứ đầu vào chưa được lắp với phần bên dưới được làm kíntrong các thùng đã nạp dầu để tháo bỏ các băng giấy ngay tại trạm vào thời điểmlắp đặt nhằm tránh nhiễm ẩm

- Các hư hỏng do tăng nhiệt phát nóng tại các điểm ghép nối dẫn dònghoặc tại các dầu cốt cao áp làm hỏng sứ

Trang 11

- Tụt dầu sứ: Do bị hỏng các cơ cấu ép chặt làm kín sứ, có thể do gãy bulông ép chặt hoặc do ngoại lực tác động kéo uốn sứ làm hở roăng ghép gây chảydầu sứ ra ngoài hoặc chảy vào trong thùng dầu chính của máy biến áp.

- Gãy sứ : Do chất lượng vật liệu kém chất lượng hoặc do ngoại lực kéođầu sứ quá lớn

Giám sát hỏng hóc sứ đầu vào máy biến áp.

ĐIỆN ÁP DƯỚI TẢI VÀ KHÔNG TẢI)

VI.1 Hư hỏng các bộ điều áp dưới tải ( OLTC) , bộ điều áp không tải (LTC)

Trang 12

Các bộ chuyển nấc là nguyên nhân lớn thứ hai về mặt sự cố trong các máybiến áp sau khi ngắn mạch Các hư hỏng trong bộ chuyển nấc thuộc trong số cácloại sau đây :

 Cháy điện trở chuyển tiếp

 Cháy và hỏng các tiếp điểm lăn và tiếp điểm tĩnh

 Căn chỉnh sai kết cấu lắp ráp của bộ chuyển nấc

 Lỗi về thời gian của chu trình vận hành

 Gãy, đứt các bộ phận dẫn dòng điện

Trang 13

Bộ OLTC của máy biến áp 500kV bị dứt dây dẫn dòng gây sự cố

Hư hỏng trong bộ truyền động đổi nấc có nghĩa là các tiếp điểm hànhtrình hoạt động không đúng yêu cầu Một vài trục trặc phổ biến trong khoangchứa, bộ tiếp điểm dao lựa chọn của bộ điều áp dưới tải như trường hợp nhà chếtạo thực hiện không chu đáo việc chọn dòng định mức của bộ điều áp dưới tải

Các yếu tố về tính hiệu quả trong vận hành và khả năng quá tải của máybiến áp phải được tính đến khi chọn dòng định mức thiết kế Giá trị dòng địnhmức đã chọn phải nằm ở cấp độ cao hơn giá trị tính toán Người ta cho rằng nếu

Trang 14

các đặc tính kỹ thuật của người mua không đưa ra tuỳ chọn này đối với nhà chếtạo thì cần qui định về các giá trị dòng hoặc điện áp định mức

Chất lượng và giá trị định mức của các điện trở chuyển tiếp đã là mộtnguyên nhân gây hư hỏng trong bộ điều áp dưới tải Các hậu quả của việc cháylập lại của các điện trở chuyển tiếp là một hiện tượng có thể gọi là rất nghiêmtrọng đối với bộ điều áp dưới tải

Việc hở mạch hoặc cháy các tiếp điểm chuyển tiếp dẫn đến phóng điện

bề mặt tiếp điểm lựa chọn và cháy bên trong các tiếp điểm gây nổ tung màngphòng nổ trong các bộ chuyển nấc

Hư hỏng của tiếp điểm hành trình trong bộ điều khiển dùng để dừng hoạtđộng bộ điều áp dưới tải tại vị trí cuối cùng của bộ chuyển nấc đã gây ra hồquang khốc liệt, làm tăng áp suất và gây nổ khoang chứa của bộ điều áp dướitải

Ở các máy biến áp có bộ thở bị bịt kín (có thể do chưa mở van tại bộthở), các roăng dầu và vòng đệm chữ “O” bị khuyết tật đã dẫn đến việc tràn dầu

từ thùng dầu chính của máy biến áp sang khối tiếp điểm dập hồ quang và rò dầuqua bộ thở silicagen gây ra sự tụt mức dầu trong thùng dầu chính và gây nguyhiểm cho sự vận hành của máy biến áp

Việc nứt gãy, nứt vách ngăn giữa vỏ thùng chính và bộ điều áp dưới tảitrong khi hút chân không vào giai đoạn lắp đặt và sấy ban đầu cũng đã là một

nguyên nhân hư hỏng do sự mất cân bằng về áp lực,

Khuyết tật ở các phụ kiện, vật tư của bộ điều áp dưới tải cũng là nguyênnhân làm cho máy biến áp hư hỏng Các phụ kiện này nên được mua từ các nhà

Trang 15

cung cấp tin cậy, uy tín , đảm bảo chất lượng, đảm bảo tin cậy trong vận hànhcao.

Ngoài ra, có một sơ suất do khi tháo, lắp không đúng kỹ thuật, gây ra vachạm mạnh hoặc bị chèn ép không đúng cách làm gây hư hỏng bộ chuyển nấc

VI.2 Hư hỏng bộ lọc và thay màng lọc của hệ thống lọc dầu OLTC:

Bộ OLTC trong quá trình làm việc chuyển nấc có tải nặng nề, làm suygiảm chất lượng dầu cách điện Việc lắp bộ lọc dầu OLTC là cần thiết để nângcao chất lượng và tuổi thọ làm việc

Tuy nhiên, việc kiểm tra không đầy đủ chất lượng dầu và bộ lọc dẫn đếnlàm tắc bộ lọc do dầu có nhiều cặn, gây ra quá tải cho động cơ bơm dầu và làmhỏng động cơ bơm dầu

Do vậy, trong công tác kiểm tra định kỳ phải tiến hành kiểm tra bộ OLTC

và bộ lọc dầu đúng quy trình và các hạng mục

VI.2.1 Kiểm tra dầu và thay thế màng lọc trong quá trình vận hành:

Trong quá trình làm việc của bộ lọc dầu OLTC, lấy mẫu dầu (xem hướngdẫn cách lấy mẫu dầu) theo chu trình khuyến cáo của nhà chế tạo, phân tích mẫudầu, cần phải thay thế màng lọc của bộ lọc dầu trong các trường hợp sau:

- Áp suất làm việc của bơm dầu lớn hơn 3,5 bar (ở nhiệt độ dầu 200C);

- Hàm lượng nước trong dầu sau khi bơm đã làm việc được 24 giờ vẫnkhông nhỏ hơn 20ppm;

- Dầu mới nạp vào bộ OLTC phải có hàm lượng nước không lớn hơn10ppm theo tiêu chuẩn

- Điện áp đánh thủng của dầu sau khi bơm đã làm việc được 24 giờ nhỏhơn 40kV/2,5mm (theo tiêu chuẩn DIN VDE 0370-1)

Khi thay thế màng lọc, phải dùng loại màng lọc thích hợp với gioăngđệm

Khi màng lọc được lắp lần đầu, phải bảo đảm rằng màng lọc là loại không

có gioăng đệm (sử dụng miếng gioăng đệm phía trong bộ lọc dầu), những lầnthay màng lọc tiếp theo sử dụng gioăng đệm của màng lọc mới;

Bảo quản màng lọc trong điều kiện môi trường không bình thường sẽkhông còn khả năng sử dụng

Không được tháo màng lọc khỏi vỏ bảo quản, chỉ tháo ra ngay trước khi

sử dụng

VI.2.2 Thay thế màng lọc giấy:

Việc thay thế màng lọc giấy được trình bày dưới đây:

- Khóa van chặn trên đường ống dẫn dầu đến và đường ống dẫn dầu trở vềcủa bộ lọc dầu;

Trang 16

- Tháo lỏng mặt bích trên đường ống trở về;

- Tháo lỏng 6 bulong M10 và 2 tai vặn (hình tròn) M10 và tháo nắp đậyphía trên bộ lọc dầu OLTC ra (lưu ý có gioăng tại vị trí này);

- Xả khoảng 02 lít dầu từ bộ lọc dầu ra qua đường van xả;

- Dùng tay kéo từ từ màng lọc cũ ra ngoài;

- Lấy màng lọc mới ra khỏi túi bảo quản và nhanh chóng đưa vào trong bộlọc dầu để thay thế Phải lưu ý rằng màng lọc sẽ tự động được đẩy vào giữa bởilực khi đóng nắp đậy;

- Đậy kín nắp bằng gioăng (6 bulong M10 và 2 tai vặn (hình tròn) M10,lực xiết lớn nhất là 30 Nm);

- Lắp lại mặt bích của đường ống trở về;

- Mở lại các van chặn trên đường ống cấp dầu và đường ống trở về;

- Mở ốc xả khí (bleeder screw) trong bộ lọc tại vị trí trên đường ống trở về(xem hình);

- Mở ốc xả khí (bleeder screw) tại vị trí trên đường ống cấp (tại điểm nốicủa đường ống hút dầu với bộ OLTC) (xem hình);

- Cho bộ lọc dầu chạy để kiểm tra; xả khí lần nữa sau khi chạy kiểm tra;

Ngày đăng: 08/08/2021, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w