1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ tiếng Việt (qua văn thơ của Hồ Chí Minh)

25 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 593,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu về Giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ tiếng Việt (qua văn thơ của Hồ Chí Minh): Phân tích đa dạng các thể loại thơ văn của Hồ Chí Minh. Đưa ra dẫn chứng cụ thể. Mỗi phần đều được ghi chú, giải thích rõ ràng, kèm theo phần tài liệu tham khảo.

Trang 1

3

MỤC LỤC

1 Giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ tiếng Việt (qua văn thơ của chủ tịch

Hồ Chí Minh) 4

1.1 Diện mạo của thành ngữ tiếng Việt qua văn thơ Hồ Chủ Tịch 4

1.2 Các phương thức sử dụng thành ngữ thường gặp 5

1.3 Sự sáng tạo trong cách sử dụng thành ngữ 9

1.4 Giá trị biểu hiện của thành ngữ 11

2 Thành ngữ từ góc nhìn của văn hóa học 13

2.1 Mấy ý tưởng chung về quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 13

2.2 Thành ngữ từ góc nhìn của văn hóa học 18

2.3 Lạm bàn về chuyện ăn, hay là văn hóa ẩm thực của người Việt qua thành ngữ tục ngữ 22

2.4 Tiểu kết 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 2

4

1 Giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ tiếng Việt (qua văn thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh)

1.1 Diện mạo của thành ngữ tiếng Việt qua văn thơ Hồ Chủ Tịch

Vốn thành ngữ là một biểu hiện có tính đặc trưng của tiếng nói dân tộc

Hồ Chủ Tịch đã khai thác và sử dụng một cách tài tình vốn thành ngữ của tiếng Việt Đó là một trong những nhân tố làm cho văn thơ của Người “ sinh

động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và nghiên cứu” ( Trường Chinh, Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà

Nội, tr.66)

Khảo sát cách dùng thành ngữ của Hồ Chủ tịch chúng ta có thể thấy được một số vấn đề chung về giá trị và nghệ thuật trong sử dụng thành ngữ tiếng Việt hiện đại, đồng đại cũng như những biểu hiện cụ thể của cái đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ riêng Người, cụ thể như sau:

Một là sự phong phú và đa dạng của thành ngữ trong văn thơ của Người phản ánh sự phong phú và đa dạng của vốn thành ngữ trong tiếng Việt

Hai là Người có chiều hướng dùng nhiều thành ngữ thuần Việt, giàu sức gợi tả, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta Những tác phẩm của Người thuộc phong cách chính luận, mang màu sắc trang trọng nhưng Người lại ưu tiên sử dụng các thành ngữ thuần Việt Các thành ngữ thuần Việt chiếm 80% trong tổng số 500 đơn vị thành ngữ mà Người đã dùng

Trang 3

c Ba là sử dụng một cách có chọn lọc những thành ngữ có tính chất khấu ngữ trong các bài châm biếm, đả kích

- ngồi chưa nóng đít ( ND, 7-2-1955);

- đi đời nhà ma (DTAH,…47);

- nói toạc móng heo ra: Đội hòa bình của Mỹ thực chất là đội mật thám trá hình (ND, 15-3-1961)

Chiều hướng dùng nhiều thành ngữ thuần Việt, giàu sức gợi tả, bắt nguồn

từ lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta là chiều hướng “Việt hóa văn lời”

(Trường Chinh, Tăng cường công tác báo chí của chúng ta, Hà Nội, 1963)

1.2 Các phương thức sử dụng thành ngữ thường gặp

Cách dùng thành ngữ của Hồ Chí Minh rất linh hoạt:

 Bình thường Người dùng từng thành ngữ một nhưng cũng không ít trường hợp Người liên kết hai hay nhiều thành ngữ lại trên cơ sở những quan hệ ngữ nghĩa với nhau

 Khi thì Người dựa vào quan hệ đồng nghĩa để nhấn mạnh một ý nghĩa nào đó

Trang 4

6

Ví dụ: những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường giang đại hải, dây cà ra dây muống (NLKG, 127)

 Khi thì Người dựa vào quan hệ trái nghĩa để tạo nên thế đối lập trong câu văn

Ví dụ: trong cán bộ, có những đồng chí tốt miệng nói tay làm nhưng cũng

có một số đồng chí chỉ tay năm ngón không chịu làm (ND, 14/3/1967)

 Sự linh hoạt trong việc sử dụng thành ngữ của Bác thể hiện ở chỗ Người đã chọn các biến thể của thành ngữ trong văn thơ của mình rất thuần thục

Biến thể của thành ngữ là hình thức mà so với nguyên thể bao giờ cũng

có ít nhiều biến đổi trong phạm vi các yếu tố có tính chất thứ yếu (như biến đổi

về trật tự các thành tố trong một giới hạn nào đó, về phương tiện biểu hiện quan

hệ ngữ pháp, …) Nghĩa và kết cấu của biến thể so với nghĩa và kết cấu của nguyên thể về cơ bản là không đổi

Mỗi thành ngữ có thể có ít hoặc nhiều biến thể

Trong thơ văn của Bác có khá nhiều biến thể thành ngữ xuất hiện Trước hết, đó là những thành ngữ mà trật tự các thành tố được Người đảo lại bằng nhiều cách khác nhau:

 Khi thì Người đổi vị trí của hai vế trong thành ngữ

Ví dụ: “Vì vậỵ, nhân dân ta đã không ngừng đấu tranh để hòa bình nông

thôn đất nước, giải phóng miền Nam ra khỏi ách lửa bỏng dầu sôi.” (VĐLTD… 232); “trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, nhân dân miền Nam đã vùng lên đấu

tranh giành quyền sống” (NLKG, VI, 267);…

 Khi thì Người vừa chuyển vế, vừa đối vị trí các thành tố

Trang 5

7

Ví dụ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng Trước phải khó

nhọc cày bừa, chân bùn tay lấm làm cho lúa tốt thì mới có gạo ăn.” (TT, 679);

“Trước kia chân lấm tay bùn mà vẫn đói rách” (CQ, 14/8/1951);…

Như một quy luật, tất cả những biến thể đảo của thành ngữ (phần lớn là thuần Việt), đều bắt nguồn từ những thành ngữ được cấu tạo theo phương thức liên hợp (hay cũng gọi là đẳng lập) Chúng tôi không gặp một biến thể đảo ở

những thành ngữ được cấu tạo theo các phương thức khác, kiều như vơ đũa cả nắm, sét đánh ngang tai, …Phần lớn những thành ngữ đảo có tác dụng làm cho

âm điệu câu văn thêm hài hòa, uyển chuyển

- Có khi Hồ Chủ tịch đảo trật tự các thành tố trong thành ngữ để hiệp vần

Ví dụ:

Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông

Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên

- Trong số ít còn lại, thành ngữ được dảo là do những yêu cầu nhất định trong việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm

Ví dụ: Nay dời vào hậu phương, các đồng bào mỗi người phải làm một

việc, không nên ăn rồi ngồi không, (TT, 258 –ss, ăn không ngồi rồi)

Trang 6

8

- Cách khác mà Hồ Chủ tịch đã dùng để tạo ra các biến thể là xen vào thành ngữ những phụ tố Có khi đó là một yếu tố dùng làm phương tiện biểu hiện quan hệ ngữ pháp được xen vào thành ngữ để đảm bảo đủ số tiếng hoặc thêm vào một nét nghĩa nào đó trong thơ, kiểu như:

Dân bị hai tròng vào một cổ,

Ta liều trăm đắng với ngàn cay (thơ, 35)

- Có khi đó lại chỉ là một từ hạn định cho thành tố của thành ngữ làm cho nhịp và ý trở nên mới mẻ hơn

Ví dụ: “bọn thống trị giương hai mắt ếch” (ND, 1/2/1962; so sánh: giương mắt ếch)

Tất cả những biến đổi diễn ra trong thành ngữ được đề cập trên không những không làm suy suyển cơ sở của thành ngữ mà hầu như bao giờ cũng đem vào thành ngữ những nét mới về nghĩa hoặc phục vụ những nhiệm vụ tu từ nhất định

Đọc thơ của Hồ chủ tịch, nhiều khi chúng ta không thấy có thành ngữ hiện trên bề mặt văn bản nhưng lại thấy nó ẩn sâu trong hàm ý của những câu đó Đó

là cách dùng thành ngữ dưới dạng không thành ngữ chúng ta thường gặp hai hình thái chính:

- Hình thái thứ nhất là thành ngữ ẩn sau một từ vốn là thành tố của nó

Ví dụ: “trước hết là cần phải tranh cãi lối viết rau muống…” (CV,6) Trong câu này, rau muống được dùng theo lối ẩn dụ Cái ẩn dụ ở đây là thành ngữ dây

cà ra dây muống

- Hình thái thứ hai là thành ngữ ẩn sâu cả câu hay chuỗi câu

Ví dụ: Thế địch như lửa, thế ta như nước Nước nhất định thắng lửa (TT

274)

Trang 7

9

Thành ngữ ẩn sau câu trên: như nước với lửa

Như vậy, dưới bất kì hình thức nào, về thực chất, phương thức dùng thành ngữ dưới dạng không thành ngữ là dùng cái thần của thành ngữ chứ không phải dùng cấu trúc của nó

1.3 Sự sáng tạo trong cách sử dụng thành ngữ

Những tổ hợp có tính thành ngữ: là những tổ hợp từ có sự chuyển nghĩa hoặc biểu tượng hóa toàn khối này sinh ra trong lời nói

Xét về nguồn gốc và cấu tạo những tổ hợp có tính thành ngữ trong văn thơ của Hồ Chủ tịch gồm 2 loại:

a Loại bắt nguồn từ những thành ngữ vốn có

b Loại được tạo ra từ các tổ hợp từ tự do

Tuy nhiên loại thứ nhất chiếm tỉ lệ cao hơn

Cấu tạo so với thành ngữ vốn có

a Loại bắt nguồn từ những thành ngữ vốn có

- Thay thế một vài thành tố

Ví dụ:

Nhờ chính sách hợp tác hóa của Đảng và chính phủ, xã chúng tôi đã thay

da đổi thịt, đời sống được cải thiện không ngừng

=> Cải tạo là một cuộc đổi người cũ thành người mới , một cuộc thay da đổi óc, một cuộc đấu tranh gay go và lâu dài

Thay da đổi thịt => thay da đổi óc

- Có nghĩa khác

Trang 8

Thượng cẳng chân hạ cẳng tay => thượng đấm tay hạ đấm chân

b Loại được tạo ra từ các tổ hợp từ tự do: làm cho nó chuyển nghĩa hoặc

có nghĩa biểu trưng

- Thành ngữ được lắp ráp theo khuôn mẫu

Ví dụ: Công nông là tay không chân rồi nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới (giống câu: miệng nói tay làm)

Trang 9

1.4 Giá trị biểu hiện của thành ngữ

Tất cả những cách dùng thành ngữ thực chất là sự vận dụng thành ngữ nhằm tổ chức lời nói và thực hiện chức năng biểu hiện thông báo của ngôn từ Dưới ngòi bút của chủ tịch Hồ Chí Minh, thành ngữ đã trở thành một phương tiện có hiệu lực trong việc tạo nên âm điệu, nhạc tính của câu văn Nhịp văn của Hồ Chí Minh lúc khoan lúc nhặt là tuy thuộc vào yêu cầu diễn đtạ tư tưởng, ở các câu mà trong đó có thành ngữ được đồng chức với các tổ hợp khác thì tổ hợp ấy thường được tạo theo khuôn của thành ngữ  thành ngữ là cái chi phối nhịp cho câu văn

Việc ngắt nhịp trong lời nói có quan hệ mật thiết với âm điệu của nó, Trong tiếng Việt, một bộ phận quan trọng của thành ngữ ( thành ngữ đẳng lập, bốn âm tiết) được tổ chức theo nguyên tắc luật hài âm, mà tiêu biểu là nguyên tắc điệp với đối

Ví dụ: “Trong tám, chín năm kháng chiến quân đội ta đã ăn gió nằm sương/ xông pha bom đạn/ hy sinh xương máu/ vì nước vì dân” ( ND,19-11-1954) Việc tôn trọng tính hài hòa và tuân thủ theo nguyên tắc tổ chức âm điệu theo luật hài âm trong thành ngữ vào việc tổ chức các tổ hợp từ khác trong lời nói dẫn đến thơ văn của Người có tính gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, đậm đà bẳn sắc dân tộc

Trang 10

12

Vận dụng nguyên tác tổ chức âm điệu trong thành ngữ là những biểu hiện của luật hài âm Đây cũng là nguồn gốc nảy sính tính nhạc trong thơ văn của Người Nguyên tắc tổ chức lời nói theo luật hài âm kiểu như thành ngữ là nguyên tắc có tính chất chi phối

Do có những đặc điểm về hình thức như trên làm chó thành ngữ trong thơ văn của Người có giá trị thông báo đặc biệt do với những từ và tổ hợp từ bình thường Trong thơ của Người thành ngữ luôn đặt đúng chỗ, đúng lúc

- Người thường dùng thành ngữ để biểu đạt các được nhắn mạnh và đặt

nó tại một vị trí nổi bật trong câu

 Khi thì đưa lên đầu câu, trên nền của loại cấu trúc song song

Ví dụ: Đối với gan vàng dạ sắt của đồng bào, toàn thể quốc dân

không bao giờ quên, Tổ quốc không bao giờ quên, Chính phủ không bao giờ quên (TT,224)

 Khi thì đua vào cuối câu vì là trọng điềm của liệt kê tăng cấp:

Ví dụ: “… hàng nghị vị tướng sĩ ta đã lập những chiến công oanh liệt

vẻ vang, có thể nói là kinh trời động đất…” (VĐLTD, 72)

 Khi thì thành ngữ quyện vào cả mạch ý của câu văn và làm cơ sở cho phép ví

Ví dụ: “thiếu người giảng thì phải đi bắt phu, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như

chuồn chuồn đạp nước dạy không được chu đáo” ( TT, 330)

- Thành ngữ dùng làm phương tiện để biểu đạt một cách tế nhị chính xác những tư tưởng và tình cảm của mình

Ví dụ: “ Nay dời hậu phương, các đồng bào phải làm một việc, không nên

ăn rồi ngồi không” (TT, 258)

Trong câu này đã sử dụng phương thức đảo trật tự từ trong thành ngữ “ ăn không ngồi rồi” và khai thác nghĩa nước đôi của những từ đồng âm Hồ Chí

Trang 11

13

Minh đã làm cho âm điệu của thành ngữ hài hòa hơn và giảm bớt sự đánh giá thái độ phủ định vốn có trong thành ngữ Khiến cho cho lời khuyên răng của người chí tình, dí dỏm và dễ đi vào lòng người

- Khi vấp phải những cái khó khăn chung mà người nói người viết thường gặp là thiếu từ ngữ diễn đạt điều cần mình nói Hồ Chí Minh mạnh dạn

sử dụng những phương tiện vốn có như thành ngữ théo cách của riêng mình

Ví dụ: : “Khai hoa kết quả” là thành ngữ dùng để biểu cho sự thành đạt tốt đẹp của một quá trình nào đó nói chung Thì Hồ Chí Minh viết “ Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do,” ( TT,765) Thành ra trong câu này thành ngữ chỉ nói về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ mà thôi chứ không chủ ý nói về bất kỳ một quá trình nào khác

Nghiên cứu cách dùng thành ngữ qua văn thơ của chủ tich Hồ Chí Minh là xem xét cái chung qua cái riêng, đồng thời cũng tìm hiểu cái riêng trên nền tảng cái chung Dĩ nhiên về mặt ngôn ngữ học, muốn chứng minh được rằng: Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách rất Việt Nam Rất riêng đấy mà rất chung đấy ( Tố Hữu, Thơ là tiếng nói đồng ý đồng tính, tiếng nói đồng chí, Văn nghệ, số

48, 5 – 1961, tr 55)

2 Thành ngữ từ góc nhìn của văn hóa học

2.1 Mấy ý tưởng chung về quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa Tuy nhiên,

có một cách hiểu chung và phổ biến lâu nay về văn hóa và cũng được quyển

sách này tán đồng đó là: “Văn hóa là tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy được từ xưa đến nay” Ngoài ra, Chủ

tịch Hồ Chí Minh trong Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, tr.31 cũng

đã giải thích một cách rất cụ thể, giản dị về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra

Trang 12

14

ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Trong lời giải

nghĩa này cần lưu ý:

- Một là: Hai bộ phận cấu thành nên văn hóa là tinh thần (văn hóa phi vật thể) và vật chất (văn hóa vật thể)

- Hai là: Chúng ta thấy ngôn ngữ (và chữ viết) được Người kể đến trước tiên và xếp ở hàng đầu Đó là tổng hòa của những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, văn hóa gắn bó trực tiếp với hoạt động tư duy của người người Vì

tư duy của con người bằng cách này hay cách khác tương tác với ngôn ngữ, cho nên có một vấn đề đặt ra là tính chất của mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ với

tư duy, rộng hơn là nhận thức và cả với văn hóa Điều này có tính nguyên tắc và

là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác

Bên cạnh đó, tư duy diễn ra nhờ vô số ngôn ngữ khác nhau về cấu trúc ngữ pháp, về tổng hòa các ý nghĩa được ghi nhận trong vốn từ và các hình thức ngữ pháp Nó được dùng làm cơ sở cho những lý thuyết mà theo những lý thuyết này thì ngôn ngữ là nhân tố quyết định trong quan hệ đối với tư duy, đối với hoạt động nhận thức của tư duy và văn hóa Trong ngôn ngữ học, quan điểm này được phái Humboldt phát triển thành hai nhánh: Mỹ và Âu châu Luận giải của Humboldt về mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và tư duy được thể hiện ở

Trang 13

tư duy ngay cả trong điều kiện thiết lập của con người”

Trong cái thể thống nhất không tách rời do ngôn ngữ và tư duy tạo thành thì vai trò quyết định thuộc về ngôn ngữ

3 Từ luận đề cho rằng ngôn ngữ có tác động quyết định đối với tư duy sẽ dẫn đến kết luận rằng ngôn ngữ cũng quyết định tính chất của hoạt động nhận thức của tư duy con người, quyết định những kết quả của nó, tức là thế giới khách quan Tuy nhiên, quan điểm của Humboldt về vấn đề này tỏ ra có sự dao

động và mâu thuẫn “nhưng trong cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ, tính chất của sự cảm thụ các sự vật một cách chủ quan đã tìm thấy những biểu hiện của mình (…) Mỗi một ngôn ngữ miêu tả cái vòng quanh dân tốc mà nó sử dụng, cái vòng

mà những giới hạn của nó chỉ có thể vượt qua được trong những trường hợp nếu anh muốn bước vào một cái vòng khác”

Những luận điểm trong quan niệm của Humboldt về ngôn ngữ như có một nhân tố quyết định tính chất của tư duy của con người, của hoạt động nhận thức

và thế giới quan của nó đã được hai xu hướng của phải Humboldt trẻ phát triển

a Xu hướng ở Mỹ do F Boas, Sapir và Whorf B L là đại biểu

b Xu hướng ở Châu Âu do Weisgerber L., G Ipsen, P Gartman là đại biểu

Các nhà nghiên cứu trong xu hướng a nghiên cứu các cứ liệu của các ngôn

ngữ Indian ở Mỹ Trong đó có giả thuyết được gọi là giả thuyết Sapir- Whorf

Ngày đăng: 08/08/2021, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w