Con người luôn nhận thức thế giới khách quan và không ngừng cải tạo nó. Để thực hiện được điều này con người phải tích lũy được hiểu biết và kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của mình. Một trong những yếu tố cơ bản để có thể tích lũy được hiểu biết và kinh nghiệm là ghi nhớ. Có thể nói ghi nhớ luôn hiện diện trong cuộc sống và mọi hoạt động của con người. V.I. Lênin đã viết “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” 8, tr.362. Trẻ em ở tuổi mẫu giáo là lứa tuổi mà trí nhớ phát triển mạnh mẽ nhất. Nhờ có trí nhớ phát triển, tri giác trở nên đa dạng, bao hàm các hiện tượng trẻ đã gặp và làm quen trong quá khứ. Vốn kinh nghiệm cá nhân của trẻ ngày một tăng dần và phát triển, tri giác trở nên có ý thức, có mục đích, trong đó bao hàm các hành động có chủ định như quan sát, tìm tòi. Sự xuất hiện những biểu tượng hình ảnh bền vững giúp trẻ có thể ghi nhớ và tái hiện lại là cơ sở để trẻ học hỏi những kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết, góp phần hình thành phát triển nhân cách của trẻ. Trí nhớ có chủ định giúp trẻ lưu giữ được những hình ảnh, những tri thức, những kinh nghiệm để khám phá thế giới xung quanh, thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của trẻ. Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để trẻ phát triển các năng lực trí tuệ và các quá trình nhận thức lý thức. Trẻ em tuổi mẫu giáo, các quá trình tâm lý của trẻ phát triển nhanh chóng cả về tốc độ và nhịp độ, trong đó có sự phát triển của quá trình ghi nhớ có chủ định. Chính quá trình ghi nhớ có chủ định này đã ảnh hưởng tích cực tới các hoạt động của trẻ như: hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động.... của trẻ. Để đạt được kết quả tốt trong các hoạt động này thì trẻ phải cần có trí nhớ tốt. Mặt khác, trẻ mẫu giáo, tư duy trực quan chiếm ưu thế, trẻ nhận thức mọi sự vật, hiện tượng một cách trực quan thông qua con đường hoạt động nhận cảm, cầm nắm, trẻ muốn biết được diễn biến của sự vật, hiện tượng buộc trẻ phải ghi nhớ một cách có chủ định. Hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh của trẻ là tập hợp những chỉ tiêu thống kê, phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng của quá trình ghi nhớ, tái hiện của trẻ và mối liên hệ tổng thể với các hiện tượng tâm lý có liên quan. Hệ thống bài tập có thể được thay đổi, bổ sung về mặt số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu, mục tiêu GDĐT ở mỗi thời kì. Việc xây dựng và xác định các chỉ tiêu, tính toán số liệu trong hệ thống bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh của trẻ có tác dụng vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà. Mặt khác, góp phần nâng cao khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh một cách khoa học cho trẻ, từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hình của trẻ”
Trang 11.2 Quan niệm về xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá
khả năng ghi nhớ và tái hiện hình trong hoạt động tạo
1.3 Yêu cầu, nguyên tắc đánh giá khả năng ghi nhớ và tái
hiện hình trong hoạt động tạo hình của trẻ 16 Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG
HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GHI NHỚ VÀ TÁI HIỆN HÌNH ẢNH TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA TRẺ
2.2 Một số đề xuất xây dựng hệ thống các bài tập đánh
giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hình của trẻ
19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Con người luôn nhận thức thế giới khách quan và không ngừng cảitạo nó Để thực hiện được điều này con người phải tích lũy được hiểubiết và kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của mình.Một trong những yếu tố cơ bản để có thể tích lũy được hiểu biết và kinhnghiệm là ghi nhớ Có thể nói ghi nhớ luôn hiện diện trong cuộc sống và
mọi hoạt động của con người V.I Lênin đã viết “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” [8, tr.362].
Trẻ em ở tuổi mẫu giáo là lứa tuổi mà trí nhớ phát triển mạnh mẽnhất Nhờ có trí nhớ phát triển, tri giác trở nên đa dạng, bao hàm các hiệntượng trẻ đã gặp và làm quen trong quá khứ Vốn kinh nghiệm cá nhân củatrẻ ngày một tăng dần và phát triển, tri giác trở nên có ý thức, có mụcđích, trong đó bao hàm các hành động có chủ định như quan sát, tìm tòi
Sự xuất hiện những biểu tượng hình ảnh bền vững giúp trẻ có thể ghi nhớ
và tái hiện lại là cơ sở để trẻ học hỏi những kinh nghiệm, kỹ năng cầnthiết, góp phần hình thành phát triển nhân cách của trẻ Trí nhớ có chủ địnhgiúp trẻ lưu giữ được những hình ảnh, những tri thức, những kinh nghiệm để khámphá thế giới xung quanh, thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của trẻ Trí nhớ là điều kiệnkhông thể thiếu được để trẻ phát triển các năng lực trí tuệ và các quá trình nhận thức
lý thức Trẻ em tuổi mẫu giáo, các quá trình tâm lý của trẻ phát triển nhanh chóng
cả về tốc độ và nhịp độ, trong đó có sự phát triển của quá trình ghi nhớ có chủ định.Chính quá trình ghi nhớ có chủ định này đã ảnh hưởng tích cực tới các hoạt độngcủa trẻ như: hoạt động vui chơi, hoạt động học tập, hoạt động lao động của trẻ
Để đạt được kết quả tốt trong các hoạt động này thì trẻ phải cần có trí nhớ tốt Mặtkhác, trẻ mẫu giáo, tư duy trực quan chiếm ưu thế, trẻ nhận thức mọi sự vật, hiệntượng một cách trực quan thông qua con đường hoạt động nhận cảm, cầm nắm, trẻmuốn biết được diễn biến của sự vật, hiện tượng buộc trẻ phải ghi nhớ một cách cóchủ định
Trang 4Hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnhcủa trẻ là tập hợp những chỉ tiêu thống kê, phản ánh các mặt, các tính chấtquan trọng của quá trình ghi nhớ, tái hiện của trẻ và mối liên hệ tổng thểvới các hiện tượng tâm lý có liên quan Hệ thống bài tập có thể được thayđổi, bổ sung về mặt số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu, mục tiêuGD-ĐT ở mỗi thời kì.
Việc xây dựng và xác định các chỉ tiêu, tính toán số liệu trong hệthống bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh của trẻ có tácdụng vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà Mặt khác,góp phần nâng cao khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh một cách khoahọc cho trẻ, từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứ u đề tài:
“Xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hình của trẻ”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng hệthống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình trong hoạt độngtạo hình của trẻ, đề xuất những biện pháp tl - sp nhằm xây dựng hệ thống cácbài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình trong hoạt động tạo hình
của trẻ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về xây dựng hệ thống các bàitập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hìnhcủa trẻ
- Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng hệ thống các bài tập đánh giákhả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hình của trẻ
- Đưa ra một số đề xuất xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khảnăng ghi nhớ và tái hiện hình ảnh trong hoạt động tạo hình của trẻ
Trang 53 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình ảnhtrong hoạt động tạo hình của trẻ
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ở phạm vi trẻ em mẫu giáo có độ tuổi
từ 3-6 tuổi
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vàphương pháp tâm lý Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp
so sánh, kết hợp với khảo sát thực tế, tìm hiểu tài liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia
6 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GHI NHỚ VÀ TÁI HIỆN HÌNH ẢNH TRONG
HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA TRẺ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước
Đã từ lâu, vấn đề trí nhớ con người đã được các nhà triết học, tâm lý học, giáodục học nghiên cứu đề cập trong tư tưởng, quan điểm của mình
Triết gia Hi Lạp cổ đại Platon (437 - 347, TCN) quan niệm rằng trí nhớ là “dấuvết” hoạt động của “hồn thế giới” và dấu vết đó ở lại trong tâm hồn cá thể, nó chính
là một trong những khởi nguồn cho sự hình thành tâm hồn con người Arixtốt (384
-322, TCN) đã coi trí nhớ là công việc của não người Về vai trò của trí nhớ đối vớingười học, M.F Quitilianus (35 - 95) cho rằng: “Toàn bộ việc học đều tùy thuộc vàotrí nhớ, cho nên mọi công việc của chúng ta sẽ trở thành vô ích nếu những gì chúng tanghe được hoặc đọc được đều rơi rụng” [3, tr.77]
Bàn về con đường biện pháp phát triển trí nhớ cho học sinh cũng được nhiềunhà triết học, giáo dục học đề cập đến J Luisvives (1492 - 1540, Tây Ban Nha)khẳng định “trí nhớ cần được luyện tập từ khi còn trẻ” và trong cuốn “Đại cương vềtrí tuệ” ông viết: “Bạn đừng cho trí nhớ nghỉ ngơi…mỗi ngày nên giao cho trí nhớmột việc gì đó càng nhiều sự việc trí nhớ càng lưu giữ trung thành”[3, tr.78]
J.A Comenxki (1592 - 1670, Séc) trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩđại”(1657) đã chỉ rõ cách thức, biện pháp giúp ghi nhớ nội dung học tập: “Tất cảnhững nội dung học chủ yếu nên được thể hiện bằng các hình ảnh treo lên tườngxung quanh lớp, coi đó là phương tiện giúp người học trong quá trình ghi nhớ,người học muốn ghi nhớ tốt nội dung học tập phải kết hợp các giác quan nhưthính giác, thị giác, kết hợp giữa nói, viết, vẽ, học hỏi lẫn nhau” [3, tr.65]
Trang 7Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các tác phẩm của mình cónhiều luận điểm đóng vai trò là cơ sở lí luận, phương pháp luận nghiên cứu trí nhớcon người, trong đó trung tâm là các luận điểm coi tâm lý, ý thức con người là sảnphẩm của hoạt động, điều này có nghĩa rằng, trí nhớ cũng như các quá trình, chứcnăng tâm lý khác đều nảy sinh, vận động, phát triển trong hoạt động, bằng hoạtđộng và thông qua hoạt động.
C Mác chỉ rõ: “Sự phong phú thực sự về tinh thần của cá nhân là hoàn toànphụ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ hiện thực của họ” [13, tr.53].V.I Lênin đánh giá cao vai trò của trí nhớ trong sự hình thành nhân cách ngườicộng sản, theo tác giả, muốn ghi nhớ nhiều, hiểu biết tất cả những kho tàng tri thứcnhân loại tạo ra thì nhiệm vụ của thanh niên là phải học, nhưng học không phải nhồinhét vào trí nhớ những điều vô ích và không cần thiết, phương pháp học phải phùhợp với nền giáo dục của xã hội mới [8, tr.351-378]
Trong tâm lý học trí nhớ là vấn đề được đặc biệt quan tâm Nghiên cứutrong tâm lý học đại cương cho thấy có hai cách tiếp cận chủ yếu về trí nhớ Đó
là cách tiếp cận theo hướng “tự nhiên luận” với cơ sở phương pháp luận dựavào các quan điểm của chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình, quan điểm cơgiới luận về tâm lý, ý thức con người, đại biểu của hướng tiếp cận này phải nóiđến R Xêmon (1859 - 1918, Pháp) nghiên cứu trí nhớ ở góc độ sinh học và H.Ebbinghaus (1850 - 1909, Đức) coi trí nhớ là kết quả của sự liên tưởng Cách tiếpcận này bước đầu đặt cơ sở phương pháp luận duy vật cho nghiên cứu trí nhớ, songtrí nhớ ở đây được nghiên cứu như là một quá trình thụ động, các yếu tố bên ngoàiqui định toàn bộ sự hình thành và phát triển trí nhớ
Cách tiếp cận thứ hai là theo hướng xã hội lịch sử mà đại biểu là P Janet(1854 – 1947, Pháp) với công trình “Sự tiến hóa của trí nhớ và khái niệm thờigian” (1928) đã đặt nền móng cho hướng nghiên cứu mới về trí nhớ nói chung,ghi nhớ nói riêng, nhiều quan điểm của ông được các nhà tâm lý học Xô Viếttiếp tục phát triển
L.X Vưgốtxki (1896 - 1934) và A.R Luria (1902 - 1977) nghiên cứu các quátrình trí nhớ của con người ở cả bình diện phát triển chủng loại và phát triển cá thể,
Trang 8các tác giả nhấn mạnh vai trò của các công cụ - phương tiện trong quá trình ghi nhớcủa chủ thể A.N Lêonchev (1903 - 1979) nghiên cứu trí nhớ và sự phát triển của nótheo sự hình thành, phát triển của hoạt động Trong công trình “Sự phát triển trí nhớ”(1931) đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ và có tính quy luật giữa sự phát triển của hoạtđộng với sự phát triển của trí nhớ ở người Nghiên cứu trí nhớ bằng phương pháphoạt động A.N Lêonchev nhấn mạnh vai trò của chủ thể, vạch ra tiến trình phát triển
cá thể của trí nhớ từ ghi nhớ trực tiếp sang ghi nhớ gián tiếp, được thực hiện thôngqua các phương tiện hỗ trợ [6, tr.276]
P.I Dintrenco (1903-1969) và A.A Smiếcnov đi sâu nghiên cứu mối tươngquan giữa tâm lý và hoạt động trong sự hình thành, phát triển của các hình thức ghinhớ cụ thể; nghiên cứu sự phụ thuộc của hiệu quả ghi nhớ vào các yếu tố của hoạtđộng Các nghiên cứu của hai ông chỉ rõ “Ghi nhớ đã được nghiên cứu với tư cách
là một hoạt động tâm lý bên trong đặc biệt” [15, tr.30] Đồng thời, ghi nhớ được tiếpcận sâu hơn với tư cách là một hành động P.I Dintrenco với công trình “Ghi nhớkhông chủ định” (1969) đã đi sâu nghiên cứu hành động ghi nhớ không chủ định.A.A Smiếcnov với “Tâm lý học ghi nhớ” (1948) và “Tâm lý học về trí nhớ” (1966)
đã đi sâu nghiên cứu hành động ghi nhớ có chủ định
Tóm lại: Tuy cách tiếp cận cụ thể của từng nhóm tác giả có những điểm
khác nhau, song trí nhớ và quá trình ghi nhớ từng bước được nghiên cứu sâu
và toàn diện hơn về cấu trúc, cơ chế vận hành, quy luật phát triển, xác địnhcác yếu tố phụ thuộc, chỉ ra con đường, biện pháp phát triển nâng cao hiệuquả ghi nhớ Trong phân tích tính hiệu quả của ghi nhớ, các nhà tâm lý học
Xô viết thường sử dụng hai nhóm phương pháp cơ bản, đó là, phân tích hoạtđộng và sử dụng các thực nghiệm tâm lý học, đây là những cơ sở khoa họccho việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về trí nhớ, ghi nhớ và tái hiện hìnhảnh trong tâm lý học
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Là một bộ phận của Tâm lý học mác xít, tâm lý học Việt Nam đã có nhiềunghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề của khoa học tâm lý cũng như vận dụng lýgiải các vấn đề của thực tiễn xã hội dưới góc độ tâm lý học, đặc biệt Tâm lý học sư
Trang 9phạm Việt Nam đã góp phần phát triển khả năng học tập, nghiên cứu và ứng dụngtâm lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho trẻ em mẫu giáo ở các trường mầmnon hiện nay.
Vấn đề trí nhớ và các quá trình của nó đã được các nhà tâm lý học như: PhạmMinh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Thạc,
Lê Văn Hồng, Nguyễn Xuân Hoài, Nguyễn Đình Gấm, Nguyễn Ngọc Phú, HoàngĐình Châu, Đinh Hùng Tuấn, Ngô Minh Tuấn, Nguyễn Văn Tuân… quan tâmnghiên cứu, làm rõ, đặc biệt về cơ sở lý luận
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực tiễn về ghi nhớ trên các đối tượng
cụ thể ở Việt Nam còn chưa nhiều, trong đó, phải kể đến công trình nghiên cứu thựcnghiệm trí nhớ của học sinh Việt Nam được tiến hành năm 1963 - 1964, trong thựcnghiệm có tìm hiểu quá trình ghi nhớ có chủ định của 120 học sinh cấp II Yên Hòa -
Từ Liêm - Hà Nội Qua 5 năm thực hiện, kết quả thu được “không khác gì chỉ số trínhớ đã công bố trong các tài liệu của các tác giả nước ngoài khác” [4, tr.147] Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn đề cao vai trò của tri thức trong kiến quốc
và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, trí nhớ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là
cơ sở, nền tảng của sự hiểu biết, là sự thâu thái tri thức để phát triển trí tuệ tài năng,trí nhớ trở thành phẩm chất, là điều kiện để phát triển nhân cách, Người yêu cầu:
“Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc của mình… nhữngngười huấn luyện lại càng phải ghi nhớ hơn ai hết, người huấn luyện nào tự cho mình
là biết đủ cả rồi thì người đó dốt nhất” [12, tr.46]
Tóm lại: các nhà tâm lý học Việt Nam đã đề cập đến vấn đề ghi nhớ, tái
hiện hình ảnh trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định vaitrò to lớn của trí nhớ trong cuộc sống và dạy học, bước đầu chỉ ra conđường, biện pháp rèn luyện, phát triển trí nhớ cho con người, đặc biệt là trẻ
em mẫu giáo từ 3 - 6 tuổi Tuy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
cụ thể vấn đề xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và táihiện hình trong hoạt động tạo hình của trẻ
1.2 Quan niệm về xây dựng hệ thống các bài tập đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện hình trong hoạt động tạo hình của trẻ
Trang 10Các nghiên cứu của M Knopt, F.E Weineirt, W Schreider (1988) với quanniệm xử lý thông tin thì lại cho rằng trí nhớ là kết quả của các quá trình xử lý thôngtin, mỗi quá trình diễn ra ở một phạm vi, nội dung nhất định Theo quan niệm nàythì nhân tố quyết định đến sự khác nhau về trí nhớ giữa các cá nhân và ngay cảtrong mỗi cá nhân là sự hiểu biết và các quá trình xử lý thông tin (mã hóa, lưu giữ,nhớ lại các dữ liệu).
Tâm lý học y học coi “trí nhớ là phản ánh những kinh nghiệm quá khứ baogồm ghi nhận, bảo tồn và về sau đó tái hiện và tái nhận cái trước kia đã tri giác, đãthể nghiệm, đã làm” [15, tr.62]
L.X Vưgôtxki cho rằng “Bản chất của trí nhớ ở con người chính là con ngườidùng các dấu hiệu để nhớ một cách tích cực” [6, tr.569]
Nguyễn Quang Uẩn trong sách Tâm lý học đại cương khái niệm “Trí nhớ là sựghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại ( tái hiện) những gì cá nhân thu được trong hoạtđộng sống của mình”[16, tr.112]
Trong nghiên cứu của mình, GS VS, Phạm Minh Hạc cho rằng:”Trí nhớ là mộtquá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng,bao gồm sự ghi nhớ, gìn giữ và tái tạo sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác,tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩa trước đây” [6, tr.30]
* Quá trình ghi nhớ
Trang 11Từ khái niệm trí nhớ như đã nêu trên, ta thấy rằng trí nhớ có ba quá trình cơbản là ghi nhớ, giữ lại và tái hiện Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôitập trung nghiên cứu quá trình ghi nhớ Khái niệm ghi nhớ cũng có nhiều quan niệmkhác nhau tùy thuộc vào các cách tiếp cận.
Đại từ điển tiếng Việt giải thích ghi nhớ là: “Nhớ mãi, không bao giờquên”.Từ điển tiếng Việt giải thích chi nhớ là: “chép hay đánh dấu cho khỏi quên”.[13, tr.428]
Ở góc độ sinh lý học lại quan niệm ghi nhớ là quá trình “cấu tạo lại vết ở trên
vỏ não”, là sự biến đổi vật lý trong cấu trúc của tế bào thần kinh, đây là sự biến đổiphức tạp các sợi thần kinh và các xináp nối liền các tế bào và các biến đổi hóa họctrong tế bào.[13, tr.62]
Quan điểm xử lý thông tin coi ghi nhớ như là quá trình “ghi lại” và “mã hóa”các thông tin cho các quá trình tiếp theo
Trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam, GS VS, Phạm Minh Hạcquan niệm “ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết “ấn tượng” của đối tượng mà tađang tri giác (tức là tài liệu phải ghi nhớ) trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trìnhhình thành mối liên hệ giữa tài liệu mới với tài liệu cũ đã có, cũng như mối liên hệgiữa các bộ phận của bản thân tài liệu mới với nhau”[5, tr.179-180] GS TS,Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Ghi nhớ là một quá trình trí nhớ đưa tài liệu nào đóvào ý thức, gắn tài liệu đó với nhữung kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá trìnhgìn giữ sau đó”.[16, tr.119]
Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mác Xít, các nhà Tâm lýhọc Việt Nam, chúng tôi thống nhất quan điểm rằng ghi nhớ là quá trình đầu tiên củatrí nhớ, là một hành động tích cực của chủ thể, có vai trò rất quan trọng giúp conngười tiếp thu, lĩnh hội tri thức, các kinh nghiệm sống và hoạt động Ghi nhớ khôngdừng lại ở việc ghi lại những tài liệu mới tri giác được mà còn liên kết các tài liệu đóvới nhau và với các tài liệu, kinh nghiệm linh hội được trước đó Ghi nhớ là một hànhđộng tâm lý, do vậy kết quả của ghi nhớ chính là kết quả của hành động tích cực củachủ thể với các tài liệu cần ghi nhớ Chất lượng, số lượng, hiệu quả của ghi nhớ bị quiđịnh trước hết ở nội dung, tính chất, đặc điểm tài liệu cũng như động cơ, mục đích,
Trang 12phương thức hành động của chủ thể Từ những phân tích trên, chúng tôi coi “Ghi nhớ
là một hành động tích cực của chủ thể nhằm ghi lại trong óc những hình ảnh sự vật, hiện tượng đã diễn ra trong cuộc sống và hoạt động của chủ thể, nhằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử, phát triển tâm lý, ý thức và nhân cách”.
* Quá trình tái hiện
Tái hiện là quá trình làm xuất hiện trở lại những hình ảnh của sự vật, hiện
tượng đã được tri giác trước đây Tái hiện thường diễn ra dưới ba dạng: nhận lại,
nhớ lại và hồi tưởng Nhận lại là hình thức tái hiện khi sự tri giác đối tượng được lặp lại; Nhớ lại là hình thức tái hiện không diễn ra sự tri giác lại đối tượng; Hồi tưởng là hình thức tái hiện phải có sự cố gắng rất nhiều của trí tuệ
Quá trình tái hiện hình ảnh diễn ra sau khi ghi nhớ Đây là một hành động trítuệ phức tạp mà kết quả của nó phụ thuộc vào chỗ cá nhân ý thức rõ ràng, chính xácđến mức nào nội dung của nhiệm vụ tái hiện Trong hồi tưởng những ấn tượng trướcđây không được tái hiện máy móc, mà thường được sắp xếp khác đi, gắn với những
sự kiện mới
* Trẻ mẫu giáo
Từ buổi bắt đầu lịch sử loài người đã có một khái niệm về trẻ em, coi trẻ em làngười lớn thu nhỏ lại, nghĩa là trẻ em và người lớn chỉ khác nhau về lượng và giốngnhau về chất Đây là một quan điểm sai lầm, nói một cách chính xác thì trẻ em là trẻ
em, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em là một thực thể đang pháttriển, là một thực thể tự vận động theo quy luật của bản thân nó Người lớn là giaiđoạn sau của trẻ em, sự lớn lên của trẻ do quá trình phát triển bên trong của nó đểchuyển hoá sang một trình độ mới khác về chất để trở thành người lớn
Trẻ mẫu giáo là trẻ được tính từ 3 - 6 tuổi, trẻ mẫu giáo có thể nói là giaiđoạn đầu tiên của trẻ em Ngay từ khi sinh ra đứa trẻ đã được tiếp xúc với nền vănhoá, đó là văn hoá vật thể (vật dụng sinh hoạt, công cụ lao động môphỏng ) và văn hoá phi vật thể (ca dao, lời hát, dân ca) Trong khi tiếp xúc vớithế giói xung quanh, với nền văn hoá nhân loại, đứa trẻ dần lĩnh hội các kinhnghiệm xã hội, lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đầu tiên lĩnh hội và tiếp thu những
Trang 13kinh nghiệm đó Trẻ mẫu giáo khác các lứa tuổi khác ở chỗ hoạt động chủ đạo củatrẻ mẫu giáo không phải hoạt động học mà là hoạt động vui chơi Vậy nên trẻ mẫugiáo tiếp thu văn hoá và những kinh nghiệm xã hội qua hoạt động choi, trẻ mẫu giáokhông phải choi cho vui thôi mà trẻ choi còn để thoả mãn nhu cầu được hoạt độnggiống người lớn và để học hỏi những điều ngoài cuộc sống mới lạ đối với trẻ.
Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo
Mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em lứa tuổi “mầm non”, ởgiai đoạn này những cấu tạo tâm lý đặc trưng được hình thành trước đó tiếp tục pháttriển manh, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện để hoàn thành việc xâydựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người Sự xác đinh ý thức bản ngã
và tính chủ định trong hoạt động tâm lý Trẻ mẫu giáo lớn hiểu được mình là ai, làngười như thế nào, có phẩm chất ý thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõnhất trong sự tự đánh giá về bản thân Trước khi đánh giá bản thân trẻ đã học cáchđánh giá người khác và nghe người khác nói gì về mình Những sự đánh giá đó cònphụ thuộc nhiều vào tình cảm song trẻ mẫu giáo lớn đã có kỹ năng so sánh mình vớingồi khác, điều này giúp trẻ đánh giá tốt hơn
Trẻ mẫu giáo lớn còn phân biệt được giới tính của mình và của ngườikhác Không chỉ phân biệt được mà trẻ còn biết thể hiện thế nào cho phù hợpvới giới tính Đây là một bước tiến mới ở tuổi mẫu giáo lớn Ý thức bản ngã đợcxác định rõ giúp trẻ điều khiển hành vi của mình thật phù hợp với chuẩn mực Ýthức bản ngã được xác đinh rõ còn giúp trẻ thực hiện hành động một cách chủ động,chú tâm hơn Tuy vậy, ở tuổi mẫu giáo lớn các quá trình tâm lý không chủ định vẫnchiếm ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ: trẻ xếp tranh những con vật trong giờchơi vô tình sẽ nhớ hơn nếu có yêu cầu trẻ nhìn và ghi nhớ
Ở tuổi mẫu giáo lớn, trò chơi đóng vai chủ thể và một số trò chơi có luật, cómục đích đạt đến đỉnh cao Nhờ đó mà các hoạt động tâm lý bên trong được biếnđổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm lý có chủ định Nhờ đó làm cho cáchành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui chơi vàtrong cuộc sống Có thể coi sự phát triển mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõnhất của ý thức, giúp nhân cách của trẻ được khẳng định