1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhận thức mới trong việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước (1986) đến nay

25 108 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 203 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì đây là quy luật cơ bản, xuyên suốt, chi phối quá trình phát triển của xã hội loài người.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộcphải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuấtcũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Nhưvậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cáchkhách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc phải thiết lập cácmối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, kháchquan của sự vận động xã hội và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì đây là quyluật cơ bản, xuyên suốt, chi phối quá trình phát triển của xã hội loài người

Ở Việt Nam, quan hệ sản xuất luôn là đề tài thu hút được sự quan tâm củagiới nghiên cứu lý luận và các nhà hoạt động thực tiễn Trước đổi mới, cácnghiên cứu chủ yếu tập trung luận giải cho tính tất yếu của việc quốc hữu hóa,tập thể hóa các tư liệu sản xuất cơ bản và coi đây là điều kiện để phát triển lựclượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế có kế hoạch Kể từ Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), với chủ trương đổi mới toàn diện đấtnước, các nghiên cứu về quan hệ sản xuất đã bám sát tiến trình xây dựngquan hệ sản xuất mới tiến bộ phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cập đến sự biến đổi của toàn bộ quan

hệ sản xuất hoặc của từng phương diện trong quan hệ sản xuất ở Việt Nam Tuynhiên, những khái quát triết học về thực trạng biến đổi quan hệ sản xuất ở ViệtNam từ năm 1986 đến nay, gồm cả những vấn đề đặt ra từ thực trạng biến đổi

đó, vẫn còn nhiều nội dung chưa được làm sáng tỏ

Quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xãhội và đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng mục tiêu, nhiệm vụ xâydựng các quan hệ sản xuất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trongthời gian dài chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, xây dựng các quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vượt trước quá xa trình độ phát triển của lực lượngsản xuất còn lạc hậu, thấp kém

Trong những năm đổi mới, chúng ta đã có sự nhận thức lại, vận dụngđúng đắn, sáng tạo quy luật: “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lựclượng sản xuất”, điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ của lựclượng sản xuất, bằng cách phát triển đa dạng các loại hình quan hệ sản xuất,trong đó có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, từ đó tạo ra bước ngoặt căn bảncủa kinh tế-xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn cònyếu kém, bất cập, quan hệ sản xuất còn có mặt chưa phù hợp, hạn chế trong việcgiải phóng lực lượng sản xuất Do đó, cần tiếp tục, điều chỉnh quan hệ sản xuấtcho phù hợp với lực lượng sản xuất để giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩysản xuất phát triển

Hiện nay, có nhiều nhân tố tác động đến quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa ở nước ta, cùng với xu thế toàn cầu hóa, hợp tác hóa, khu vực hóa đangdiễn ra mạnh mẽ Chính vì vậy, việc nghiên cứu điều chỉnh quan hệ sản xuất xã

Trang 2

hội chủ nghĩa để thúc đẩy sản xuất phát triển làm cho nước ta hòa nhập với xuthế của thời đại là hết sức cần thiết Trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta, còn tồn tại nhiều loại quan hệ sản xuất khác nhau như: quan hệ sản xuấttiền tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất xãhội chủ nghĩa… trong đó, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta luônđược xác định đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Cùng với quátrình đổi mới đất nước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng không ngừngđược đổi mới, hoàn thiện Đảng khẳng định xây dựng, hoàn thiện quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Việc xây dựng quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ ở nước ta rất cần thiết songcũng rất khó khăn, phức tạp, vì đây là con đường đi chưa có tiền lệ, vừa phải xâydựng, vừa phải tìm tòi thử nghiệm

Do đó, qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, phải điều chỉnh quan hệ sản xuất

để thúc đẩy sản xuất phát triển và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Muốnthực hiện được điều này cần phải nghiên cứu sự 2 biến đổi của quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa từ khi được hình thành đến nay, nhất là thời kỳ đổi mới Chính

vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Những nhận thức mới trong việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước (1986) đến nay” để nghiên cứu

2 Mục tiêu của nghiên cứu:

Trên cở sở phân tích lý luận và thực trạng những nhận thức mới trongviệc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ khi đổi mới đếnnay, tiểu luận góp phần đưa ra một số phương pháp, giải pháp chủ yếu nhằmphát huy những thay đổi, những nhận thức mới hạn chết những thay đổi, nhậnthức hạn chế trong việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

để thúc đẩy phát triển quan hệ sản xuất

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận: Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

ở nước ta từ khi đổi mới đất nước đến nay

- Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để luật giải cácnội dung đặt ra, trong đó chủ trọng các biện pháp: lịch sử lo-gic, phân tích, tổnghợp, so sánh, quy nạp – diễn dịch… để triển khai mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra

4 Đối tượng nghiên cứu:

Tiểu luận nghiên cứu sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước (1986) đến nay

5 Kết cấu của tiểu luận:

Trang 3

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, tiêu luận gồm 3chương:

- Chương 1: Lý luận chung

- Chương 2: Thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩatrong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

- Chương 3: Một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát huy nhữngbiến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực củaq uan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Quan niệm về quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa 1.1.1 Khái niệm:

* Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta:

Là một loại hình quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở: công hữu về tư liệu sảnxuất chủ yếu, quan hệ tổ chức quản lý đó là nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, với sự đa dạng về hình thức phân phối: Phân phối theo lao động,theo vốn đóng góp và theo phúc lợi xã hội, trong đó phân phối theo lao động làhình thức cơ bản nhất

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện tập trung ở haithành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể

1.1.2 Kết cấu của quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệusản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sởhữu đối với tư liệu sản xuất Biểu hiện thành chế độ sở hữu trong hệ thống cácquan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đốivới các quan hệ xã hội khác

Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử

đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sảnxuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình màtrong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sảnxuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vàtrong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau Ngượclại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số ngườinên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan

hệ xã hội do vậy bất bình đẳng

Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữangười với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệthống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là cácquan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướngmỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làmbiến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội

Trang 5

Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhaucùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làmcho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nângcao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quảnlý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm laođộng cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động củatoàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu củasản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự pháttriển của xã hội

Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất

sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hìnhthái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai tròchi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng nhữngchung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế

xã hội mới

1.1.3 Tính chất của quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội này với xãhội khác Những quan hệ sản xuất tạo thành “bộ xương” của hình thái kinh tế xãhội, nó hợp thành cơ sở hạ tầng của xó hội Khi quan hệ sản xuất không còn phùhợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất thỡ tất yếu phải diễn ra một cuộccách mạng nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng quan hệ sản xuấtmới là quan hệ sản xuất đặc trưng cho xó hội mới Thực tế lịch sử cho thấy rõbất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế lànhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuậnlợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện Đó là tính lịch sử

tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế - xã hộitrong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình tháikinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa.Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chấtcủa sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt kháctrong mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị baogiờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biếnchúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sựtồn tại và phát triển của chế độ kinh tế - xã hội mới

Quan hệ sản xuất phải phự hợp với tớnh chất và trỡnh độ của lực lượngsản xuất Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiênmối quan hệ mang tính chất biện chứng Chính sự thống nhất và tác động giữaquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợpgiữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan trong quá trình sảnxuất Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộcphải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất

Trang 6

cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Nhưvậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cáchkhách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc phải thiết lập cácmối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, kháchquan của sự vận động xã hội

Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ýmuốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất củađời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và

là cơ sở của đời sống xã hội

1.2 Vai trò của quan hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới

ở Việt Nam.

1.2.1 Vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Thứ nhất, quan hệ sản xuất thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát

triển khi nó phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là một yêu cầu khách quan đốivới sự phát triển của lực lượng sản xuất; lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triểnđược khi có quan hệ sản xuất phù hợp, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp thìlực lượng sản xuất bị kìm hãm, nền sản xuất sẽ trì trệ

Thứ hai, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất khi nó không

phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Theo quan điểm của Đảng cộng sảnViệt Nam thì: không chỉ quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu mới kìm hãm tácđộng tiêu cực đến lực lượng sản xuất mà ngay cả quan hệ sản xuất vượt quá xa

so với trình độ của lực lượng sản xuất cũng kìm hãm tác động tiêu cực đến lựclượng sản xuất

Hiện nay, các nước XHCN cũng đã có những thay đổi lớn về QHSX;chẳng hạn, sở hữu ngày càng đa dạng hơn, bình đẳng hơn, chủ thể sở hữu được

mở rộng; các nước đã sử dụng kinh tế thị trường trong quản lý nền kinh tế Cácnguyên tắc phân phối sản phẩm ngày càng đa dạng đã kích thích được vai tròcủa người lao động trong sản xuất, chế tạo sản phẩm… Nhờ có các điều chỉnh

về QHSX mà đã làm cho sản xuất ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngàycàng được nâng cao

Cương lĩnh (2011) của Đảng ta nhấn mạnh CNXH mà nhân dân ta xâydựng sẽ có “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” với lực lượng sản xuất hiện đại

Sự phù hợp của QHSX ở đây là phù hợp với trình độ phát triển của LLSX Biểuhiện của sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX được thể hiện

ở năng suất lao động xã hội tăng; đời sống của người lao động không ngừngđược nâng cao; điều kiện làm việc của người lao động được bảo đảm và thườngxuyên được cải thiện; công nghệ sản xuất, dây chuyền, thiết bị sản xuất, phươngtiện lao động thường xuyên được đổi mới, hiện đại hóa, v.v

Nếu QHSX chỉ phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì chưa đủ điềukiện để xác định tính chất của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng Do vậy,

Trang 7

điểm mới nổi bật so với những quan điểm trước đây về vấn đề này là Cương lĩnh(2011) nhấn mạnh và diễn đạt về QHSX phải “tiến bộ phù hợp” Tiến bộ củaQHSX phải được thể hiện trước hết ở mục đích của nền sản xuất xã hội, mà đầutiên là vì người lao động, phục vụ người lao động chứ không phải vì mục tiêu lợinhuận tối đa Đây là điểm khác biệt căn bản của QHSX XHCN với QHSXTBCN

Tóm lại, vai trò của QHSX XHCN đối với LLSX được thể hiện là nó có thể phùhợp với LLSX hoặc không phù hợp với LLSX Điều này đòi hỏi con người phảiluôn luôn nhận thức được mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX để điều chỉnh chophù hợp nhằm thúc đẩy LLSX phát triển Quan hệ sản xuất XHCN ở nước tangoài vai trò thúc đẩy hoặc kìm hàm LLSX còn phải thể hiện được sự tiến bộcủa mình, đúng như Đảng ta đã khẳng định: “có quan hệ sản xuất tiến bộ, phùhợp với trình độ của lực lượng sản xuất”

1.2.2 Vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với việc củng cố, hoàn thiện kiến trúc thượng tầng và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với việc củng cố, hoàn thiện kiếntrúc thượng tầng và định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổimới có vai trò quan trọng, củng cố hoàn thiện kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam

Cơ sở kinh tế trong thời kỳ quá độ được Đảng, Nhà nước xác định trong thời kỳđổi mới đó là: phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta có nhiều loại hình quan hệsản xuất, nhiều thành phần kinh tế, trong đó Đảng xác định quan hệ sản xuất xãhội chủ nghĩa phải dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Đây là cơ sở

để củng cố và hoàn thiện kiến trúc thượng tầng ở nước ta Vai trò của quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa đối với quá trình phát triển theo định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta luônkhẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời coi việc bảo đảm vàphát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước là một trong những nội dung cơbản để giữ vững định hướng chủ nghĩa xã hội trong nền kinh tế thị trường củanước ta

Có thể nói, QHSX XHCN có vai trò quan trọng, nó tạo ra cơ sở nền tảngcho việc củng cố hoàn thiện kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam và giữ vững địnhhướng XHCN Đại hội XII vừa qua cũng chỉ rõ, một trong những mối quan hệlớn cần được quan tâm và giải quyết tốt trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta:

“Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

1.3 Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

1.3.1 Lực lượng sản xuất

Trong lịch sử nhân loại, quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa nói riêng luôn luôn vận động, biến đổi cùng với sự phát triển

Trang 8

của xã hội, với sự thay đổi của phương thức sản xuất Sự biến đổi của quan hệsản xuất do nhiều yếu tố tác động trước hết là lực lượng sản xuất

Khuynh hướng của sản xuất vật chất là không ngừng vận động, biến đổi,phát triển Sự biến đổi và phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi

và phát triển của lực lượng sản xuất Sự vận động, phát triển của lực lượng sảnxuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất phù hợp với nó Cùng với sựphát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cùng vận động, phát triểntheo cho phù hợp Sự phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ của lựclượng sản xuất là một tất yếu khách quan nó do trình độ của lực lượng sản xuấtquy định Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đảng ta cũng đã

ý thức được sự thiếu hụt của chúng ta khi xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là lựclượng sản xuất hiện đại Từ đó, Đảng có nhiều chủ trương chính sách nhằm thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển như đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàngđầu… Với quan điểm “đi tắt đón đầu” chúng ta đã ứng dụng các thành tựu mớicủa cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất như: công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…Chính điều này, làm cho lực lượng sảnxuất ở nước ta được phát triển mạnh mẽ, trình độ của lực lượng sản xuất đượcnâng lên không ngừng.Theo quy luật của sản xuất vật chất, thì lực lượng sảnxuất quyết định sự biến đổi của quan hệ sản xuất, do vậy, khi mà lực lượng sảnxuất đã phát triển mạnh mẽ thì đòi hỏi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cũngphải được điều chỉnh theo để bảo đảm sự phù phợp với trình độ mới của lựclượng sản xuất ở Việt nam hiện nay

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Đối với nước ta toàncầu hóa tác động tới quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả ba mặt: sở hữu, tổchức quản lý và phân phối sản phẩm Về mặt sở hữu tư liệu sản xuất quá trìnhtoàn cầu hóa đã thu hút được nguồn vốn không nhỏ vào nước ta bao gồm cả vốnODA và FDI, hàng tỷ đôla vốn đầu tư của nước ngoài vào nước ta đã hình thànhnên sự thay đổi về sở hữu làm cho hình thức sở hữu hỗn hợp ngày càng tăng.Vốn đầu tư nước ngoài có thể liên kết với các doanh nghiệp nhà nước trên một

số lĩnh vực như: dầu khí, điện lực, ngân hàng, sản xuất điện tử, dệt may… từ đóhình thành nên thành phần kinh tế tư bản nhà nước Khi tham gia vào toàn cầuhóa cạnh tranh ngày càng gay gắt với sự làm ăn kém hiệu quả của các doanhnghiệp nhà 12 nước buộc chúng ta phải cổ phần hóa, thoái vốn để tái cơ cấu lạidoanh nghiệp nhà nước, từ đó làm cho nguồn vốn sở hữu của nhà nước được thuhẹp lại và việc sử dụng có hiệu quả hơn Về mặt tổ chức quản lý khi tham giavào toàn cầu hóa với sự liên kết, liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài ta cóthể học tập được kinh nghiệm tổ chức, quản lý của các nước tiên tiến Mặt khác,

do phải cạnh tranh với các công ty xuyên quốc gia có tiềm lực lớn, chúng ta phảithay đổi về quản lý, hình thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước đểtạo ra tiềm lực đủ sức cho cạnh tranh Do vậy, mô hình tổ chức, quản lý củaquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được thay đổi cho phù hợp với thực tiễn

Về mặt phân phối sản phẩm cũng bị ảnh hưởng, bởi vì khi vốn đầu tư nướcngoài vào nước ta để cạnh tranh, thu hút người lao động, nhân tài họ thường trả

Trang 9

lương cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, buộc các doanh nghiệpnhà nước phải tăng lương cho người lao động và làm cho đời sống của người laođộng được nâng lên so với trước đậy Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nướcngoài luôn tính đến hiệu quả kinh tế vì vậy, họ trả công theo lao động rất đúng

và thực chất, qua đó các doanh nghiệp nhà nước của chúng ta cũng học tập vềphân phối theo lao động tốt hơn nhằm kích thích tính tích cực, sáng tạo củangười lao động

1.3.2 Kiến trúc thượng tầng

Kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của quan hệsản xuất, mà trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Đặc biệt trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thìQHSX XHCN chịu sự tác động to lớn đối với vai trò định hướng của Đảng vàquá trình quản lý của Nhà nước

Đường lối chính trị của Đảng ta là kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh để xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta Trong Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm2011), khi xác định đặc trưng kinh tế của CNXH mà nhân dân ta xây dựng nêurõ: “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệsản xuất tiến bộ phù hợp” Trong đặc trưng kinh tế này đã bao hàm cả yếu tốLLSX và QHSX Đường lối chính trị này là nhân tố chủ quan đóng vai trò quantrọng trong việc xác định mục tiêu kinh tế của CNXH mà nhân dân ta xây dựng.Trên cơ sở đó, tác động, ảnh hưởng đến việc nhận thức và giải quyết đúng đắnmối quan hệ giữa phát triển LLSX hiện đại và xây dựng, hoàn thiện từng bướcQHSX XHCN ở nước ta Đường lối chính trị của Đảng ta đặc biệt ảnh hưởngtrực tiếp đến việc xây dựng, hoàn thiện QHSX XHCN ở nước ta Điều này đượcthể hiện, đường lối chính trị của Đảng ta có vai trò rất lớn trong việc hạn chếnhững tiêu cực của cơ chế thị trường, động viên sự sáng tạo, lòng nhiệt tình vàtinh thần trách nhiệm của người lao động Chính đường lối chính trị này sẽ quyđịnh mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội cũng như định hướng phát triểnQHSX

1.3.3 Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Nhân tố quốc tế góp phần tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triểncủa quan hệ sản xuất ở các quốc gia Nhân tố này bao gồm sự ảnh hưởng tácđộng lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong quá trình phát triểncủa lịch sử thế giới, quan hệ giữa lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc là quan hệgiữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa chỉnh thể và bộ phận Chỉ trên cơ sở phântích, lý giải, so sánh chúng ta mới có thể lý giải được sự khác biệt trong quátrình phát triển của quan hệ sản xuất ở các quốc gia, dân tộc

Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất với sự cải tiếnkhông ngừng của công cụ lao động, của trình độ tay nghề của người lao động và

sự bùng nổ của cách mạng khoa học, công nghệ đã làm cho các nước trên thếgiới ngày càng xích lại gần nhau hơn, quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa ngày

Trang 10

càng được tăng cường giữa các quốc gia, dân tộc Sự tăng cường hợp tác, liênkết giữa các nước trên thế giới đã hình thành phong trào toàn cầu hóa Toàn cầuhóa tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội của các nước từ trao đổi hànghóa, thương mại đến văn hóa, xã hội… trong đó nổi bật nhất là quan hệ sản xuất(quan hệ kinh tế) giữa các nước

Do đó, quá trình vận động biến đổi của QHSX XHCN ở nước ta còn phụthuộc vào nhân tố quốc tế nhất là quá trình toàn cầu hóa Đặc điểm nổi trội củanhân tố quốc tế là quá trình toàn cầu hóa mà mở đầu từ toàn cầu hóa về kinh tế.Toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển LLSX cũng như QHSX toàn thế giới, ảnhhưởng tới sự phân công lao động trên toàn thế giới Toàn cầu hóa tạo ra những

cơ hội thuận lợi cho chúng ta phát triển LLSX hiện đại trong một thời gian ngắn.Chẳng hạn, toàn cầu hóa cho ta cơ hội hợp tác quốc tế cũng như học hỏi kinhnghiệm về đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển LLSX hiện đại; kế thừa đượcthành tựu khoa học, công nghệ của các nước phát triển; học hỏi được kinhnghiệm quản lý sản xuất; toàn cầu hóa tác động đến sự gia tăng nguồn vốn đầu

tư vào Việt Nam

1.3.4 Các quan hệ sản xuất khác

Ở nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều loạiquan hệ sản xuất khác nhau, nó do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta quyđịnh Do bản chất khác nhau của các quan hệ sản xuất, chúng vừa thống nhất,vừa mâu thuẫn, xung đột với nhau Điều đó tác động đến cả hình thái kinh tế -

xã hội trong thời kỳ quá độ

Các quan hệ sản xuất ở nước ta vừa thống nhất, vừa đối lập, tác động qualại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển tạo ra một cơ sở hạ tầng của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, dưới sự dẫn dắt, hỗ trợ của quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan hệ sản xuất

có một vai trò tác động kép trong một hình thái kinh tế -xã hội, một mặt nó cóvai trò thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, mặt khác,quan hệ sản xuất cũng là cơ sở, nền tảng để hình thành nên một kiến trúc thượngtầng tương ứng

Đối với nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn tồn tạinhiều loại hình quan hệ sản xuất khác nhau thì quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển, tạo ra cơ sở nền tảng cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước vàdẫn dắt các loại hình quan hệ sản xuất khác đi lên chủ nghĩa xã hội

Thực tiễn thời đại ngày nay cho thấy, sự vận động, biến đổi của quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau,trước hết là, lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất luôn luôn vận động và biếnđổi nó đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi theo để bảo đảm sự phù hợp.Kiến trúc thượng tầng mà trực tiếp là sự lãnh đạo, định hướng của Đảng và sựquản lý của Nhà nước, có tác động mạnh mẽ tới sự vận động, biến đổi của quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta Các loại quan hệ sản xuất khác ở nước ta

Trang 11

chúng vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn tác động qua lại nhau tạo thành cơ sở hạtầng đặc trưng của thời kỳ quá độ ở nước ta, do đó cũng tác động đến sự biếnđổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Nhân tố toàn cầu hóa, hợp tác khu vực và quốc tế, nhân tố quốc tế cũnggóp phần tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa nó tạo

ra cả cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập ở Việt Nam Việc làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận trên đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, sự biến đổiquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT

XÃ HỘI CHỦ NGHĨATRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 2.1 Bối cảnh của quá trình nhận thức, cải tạo quan hệ sản xuất ở Việt Nam

Quá trình cải tạo, nhận thức quan hệ sản xuất ở nước ta cũng chính là quátrình cải tạo xã hội chủ nghĩa,là quá trình cải biến nhằm thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa theo những hình thức, quy

mô và bước đi thích hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất Cải tạo xã hội chủ nghĩa gắn trực tiếp với quỏ trình phát triển lực lượngsản xuất, tổ chức lại nền sản xuất xã hội để có năng suất lao động cao hơn Đốitượng của Cải tạo xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất bao gồm: kinh tế côngthương nghiệp tư bản tư doanh và kinh tế cá thể của những người sản xuất hànghóa nhỏ Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu xây dựngchủ nghĩa xã hội, Cải tạo xã hội chủ nghĩa được coi là một trong ba cuộc cáchmạng (cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kĩ thuật và cách mạng

tư tưởng văn hoá) Nhiệm vụ cải tạo được kết hợp chặt chẽ với xây dựng quan

hệ sản xuất mới, trong đó lấy xây dựng làm mục tiêu chủ yếu Cải tạo xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn bú với nhau, bao gồm cải tạo quan hệsản xuất (trờn cả ba mặt: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lí,quan hệ phân phối sản phẩm) và phát triển lực lượng sản xuất Cải tạo xã hộichủ nghĩa là sự nghiệp lâu dài, phải tiến hành từng bước trong suốt thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xó hội dựa trên cơ sở nguyên tắc: quan hệ sản xuất thích ứngvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Song trước đây, việc tiến hànhCải tạo xã hội chủ nghĩa đó thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí Từđầu thập kỉ 80, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, khuyết điểm trênđang được từng bước khắc phục có hiệu quả Tuy nhiên nền kinh tế nước ta vẫn

là nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển mang nặng tính tự cấp, tự túc Trang

bị kỹ thuật và kết cấu xã hội yếu kém, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cơ cấu kinh tếtập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề Nền kinh tế kém hiệuquả, năng suất lao động thấp, khủng hoảnh kinh tế kéo dài, các tệ nạn thamnhũng lan rộng Đảng cộng sản còn non, đội ngũ cán bộ còn yếu về năng lực,các thế lực đế quốc và phản động ráo riết thực hiện chiến lược diễn biến hoàbình, phá hoại và bao vây kinh tế Nếp sống văn hoá, đạo đức bị xói mòn, lòngtin vào Đảng và nhà nước bị giảm sút

Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả củanhiều năm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai lầm chủ quanduy ý chí, vi phạm các quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trongtiến hành công nghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh tế đặc biệt là không có

sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Chúng ta đã quên mấtđiều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bảnchủ nghĩa Chúng ta đã thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức

sở hữu toàn dân và tập thể Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫnlộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá Chúng ta đã ra sức vận động gầnnhư cưỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông

Ngày đăng: 07/08/2021, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Phạm Việt Dũng (2014), "Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàvai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Việt Dũng
Năm: 2014
6. Mai Lâm Sơn (2016), "Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước", Tạp chí Con số và sự kiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhànước
Tác giả: Mai Lâm Sơn
Năm: 2016
1. Ban Kinh tế Trung ương (2015), Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Ban Kinh tế Trung ương (2015), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Vũ Đình Bách (2001), Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Lê Xuân Tùng (2008), Quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1957), Cương lĩnh của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 48, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15.Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w