Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS-TS Đặng Thị Thu Hương đã định hướng và tranh thủ thời gian, tận tình hướng dẫn, cung cấp những kiến thức khoa học cần thiết trong quá trì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUỐC HIỆP
TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Cà Mau – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUỐC HIỆP
TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN,
TỈNH CÀ MAU
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số : 8320101.01(UD)
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng
PGS-TS Đặng Thị Thu Hương PGS-TS Dương Xuân Sơn
Cà Mau – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính cá nhân tôi, với sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của PGS-TS Đặng Thị Thu Hương Các số liệu, thông tin sử dụng trong luận văn này là trung thực, là kết quả lao động nghiêm túc
và sự nỗ lực, quyết tâm của bản thân Cá nhân tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, thông tin trong đề tài luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội); Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông cùng các giảng viên thỉnh giảng lớp cao học báo chí Cà Mau khóa 2018-2020
đã tận tâm, nhiệt tình truyền đạt nhiều kiến thức; chia sẻ những kinh nghiệm quý báo cho tôi và tập thể lớp trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS-TS Đặng Thị Thu Hương đã định hướng và tranh thủ thời gian, tận tình hướng dẫn, cung cấp những kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn chuyên ngành báo chí học của cá nhân tôi, với đề tài “Truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện, tỉnh Cà Mau”
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND; lãnh đạo, phóng viên các đài truyền thanh huyện Thới Bình, Cái Nước, Phú Tân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng như cung cấp nhiều thông tin về hoạt động liên quan đến truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện, giúp tôi
có cơ sở thực tiễn thực hiện đề tài của mình
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài cuối khóa đảm bảo đúng tiến độ
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, song, trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn
sẽ không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế do năng lực cũng như thời gian nghiên cứu của bản thân còn hạn chế Chính vì vậy, sự đánh giá, góp ý công tâm, khách quan của hội đồng khoa học về đề tài “Truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện, tỉnh Cà Mau” là động lực để tôi phấn đấu hoàn thiện hơn trong những nghiên cứu tiếp theo cũng như áp dụng vào thực tiễn
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hiệp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do lựa chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 14
7 Bố cục luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG PHÁT THANH 16
1.1 Các khái niệm, thuật ngữ 16
1.1.1 Truyền thông 16
1.1.2 Truyền thông đại chúng 16
1.1.3 Phát thanh 17
1.1.4 Nghèo 20
1.1.5 Giảm nghèo bền vững 21
1.1.6 Chính sách 21
1.1.7 Truyền thông chính sách giảm nghèo 22
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo và vai trò của báo chí trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo 23
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo 23
1.2.2 Vai trò của báo chí trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo 24
1.2.3 Vai trò của đài truyền thanh cấp huyện trong truyền thông chính sách giảm nghèo 26
1.3 Truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện dưới góc nhìn của lý thuyết truyền thông 27
1.3.1 Mô hình truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện (theo sơ đồ Lasswell) 27
1.3.2 Lý thuyết “Thiết lập chương trình nghị sự” 28
1.3.3 Lý thuyết “ Sử dụng và hài lòng” 29
Trang 61.3.4 Lý thuyết “Thuyết phục” 29
1.4 Đặc điểm của truyền thông chính sách và tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông chính sách trên sóng phát thanh/truyền thanh 30
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN TRONG TỈNH CÀ MAU 34
2.1 Tần suất xuất hiện những thông điệp liên quan công tác giảm nghèo trên sóng Đài truyền thanh huyện 34
2.2 Những nội dung chính được thể hiện 35
2.2.1 Nội dung thông tin về chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo 36
2.2.2 Nội dung thông tin về chính sách hỗ trợ về nhà ở: 41
2.2.3 Nội dung thông tin về chính sách hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng 43
2.3 Những hình thức chuyển tải nội dung thông điệp 46
2.3.1 Tin 46
2.3.2 Bài 48
2.3.3 Chuyên mục, chuyên đề: 49
2.4 Quy trình sản xuất tác phẩm, chương trình truyền thanh giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện 51
2.4.1 Triển khai chủ đề 52
2.4.2 Phóng viên xác định đề tài, phương pháp tác nghiệp: 52
2.4.3 Phóng viên tác nghiệp 53
2.4.4 Biên tập chương trình và duyệt nội dung: 53
2.4.5 Thực hiện hậu kỳ 54
2.4.6 Lãnh đạo duyệt phát sóng 54
2.4.7 Phát sóng và ghi nhận ý kiến phản hồi 54
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN 57
Trang 73.1 Thành công trong truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng truyền
thanh cấp huyện 57
3.1.1 Sự quan tâm của công chúng về truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện 57
3.1.2 Mức độ tin tưởng, làm theo 61
3.1.3: Chất lượng tin, bài 65
3.2 Hạn chế trong truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện 68
3.2.1 Về chất lượng thông tin 68
3.2.2 Lượng thính giả truyền thanh huyện vẫn rất ít so với dân số 72
3.2.3 Sức hấp dẫn của thông tin còn thấp 74
3.3 Nguyên nhân thành công và hạn chế 77
3.3.1 Nguyên nhân thành công 77
3.3.2 Nguyên nhân hạn chế 78
Tiểu kết chương 3 80
Chương 4: GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN 82
4.1 Những vấn đề đặt ra trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện 82
4.2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện 85
4.2.1 Đổi mới nội dung và hình thức thông tin 86
4.2.2 Thay đổi tư duy lãnh đạo, cách thức tổ chức thông tin 94
4.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên 95
4.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động truyền thanh 96
4.2.5 Tận dụng truyền thông mạng xã hội 97
4.3 Khuyến nghị giải pháp đối với các cơ quan trong diện khảo sát 98
4.3.1: Đối với Đài truyền thanh huyện Thới Bình 98
Trang 84.3.2: Đối với Đài truyền thanh huyện Cái Nước 99
4.3.3: Đối với Đài truyền thanh huyện Phú Tân 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 111
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát nội dung thông điệp truyền thông về chính sách giảm
nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện trong năm 2019 34
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát nội dung thông điệp truyền thông về chính sách giảm nghèo trên sóng các đài truyền thanh huyện trong năm 2019 35
Biểu đồ 3.1: Tần suất nghe đài 58
Biểu đồ 3.2: Khảo sát phương tiện nghe đài 58
Biểu đồ 3.3: Mức độ tin tưởng về tính xác thực của thông tin 62
Biểu đồ 3.4 Tính hấp dẫn của thông tin 66
Biểu đồ 3.5: Mức độ tiếp nhận thông tin 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, được thực hiện xuyên suốt trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngay sau khi giành được chính quyền, một trong những công việc quan trọng đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm đó là công tác giảm nghèo Trong lời kêu gọi thi đua
ái Quốc vào tháng 6 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào, chiến sĩ
cả nước chung tay thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Người xem nghèo, đói
là một trong ba thứ giặc nguy hiểm, cùng với “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”
Lời kêu gọi ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị Cuộc đấu tranh chống đói nghèo trong thời kỳ mới không kém phần cam go, phức tạp và đặt ra nhiều thách thức mới Đây là nhiệm vụ đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải vào cuộc một cách tích cực Trong đó, báo chí có vai trò hết sức quan trọng
Các cơ quan báo chí, truyền thông đã bám sát các quan điểm, định hướng, chính sách để tuyên truyền làm thay đổi nhận thức cho người dân, giúp họ thấy được mục tiêu, ý nghĩa của chính sách; tránh thụ động, trông chờ hỗ trợ từ Nhà nước Báo chí cũng góp phần cụ thể hóa chủ trương, chính sách giảm nghèo vào điều kiện thực tế của địa phương một cách cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện Báo chí cũng có thế mạnh, điều kiện để thúc đẩy huy động nguồn lực trong cộng đồng, phổ biến các mô hình đã thành công để khuyến khích người dân có động lực, khích lệ tinh thần vượt khó; tuyên truyền nêu gương các hộ dân, cộng đồng có ý chí vươn lên, trở thành phong trào thi đua rộng rãi cùng nhau vươn lên thoát nghèo
Riêng đài truyền thanh cấp huyện là cầu nối giữa các cơ quan báo chí với người dân, là cơ quan có hoạt động báo chí gần dân nhất Đây là phương tiện gần gũi, tiếp xúc hàng ngày, đồng hành với người dân trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách; trong phát triển kinh tế xã hội và các phong trào cách mạng Đài truyền thanh cấp huyện có hệ thống “vệ tinh” là truyền thanh cơ sở cùng hệ thống loa công cộng phủ đều ở thôn xóm, khu dân cư; thực hiện chức năng, nhiệm vụ phổ biến chủ trương, chính sách, những điển hình tiêu biểu ở cơ sở; góp phần cổ vũ,
Trang 12động viên, làm thay đổi nhận thức và hành động của người dân Trong đó, công tác giảm nghèo là một trong những chương trình trọng tâm, xuyên suốt
Hiện nay, công chúng có điều kiện chủ động tiếp cận những thông tin mình thích, mà đôi khi lãng quên những thông tin cần thiết trong cuộc sống, nhất là về chính sách Vai trò rất quan trọng của truyền thanh cấp huyện là bổ sung những thông tin đó, với phương thức “ép buộc” công chúng nghe thụ động qua hệ thống truyền thanh công cộng; nhằm đưa chính sách đi vào cuộc sống Truyền thanh huyện không thể chạy theo xu thế thông tin nhanh hay giật gân mà là phương tiện hữu hiệu cung cấp những thông tin thiết yếu liên quan đến đời sống hàng ngày của người dân
Đó là những chủ trương, chính sách có thể làm thay đổi đến cuộc sống của họ; những tiêu biểu trong cộng đồng, kỹ năng sản xuất, biện pháp làm ăn, kỹ năng ứng xử với thiên nhiên, chống biến đổi khí hậu, thời tiết, nông vụ, sức khỏe v.v
Song, công tác truyền thông về chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện vẫn còn nhiều yếu kém, chất lượng thông tin chưa cao Thông tin
về chủ trương còn khô cứng, nguyên văn bản mà chưa cụ thể hóa thành những tình huống sát hợp, khó nhớ và khó tiếp thu Thông tin về giảm nghèo thường nêu nhiều những con số đạt được, những giải pháp của cấp ủy, của chính quyền, đoàn thể chung chung; nêu việc “chúng ta” làm mà thiếu tiếng nói từ cơ sở Thông tin thiếu hơi thở cuộc sống, ít liên quan đến người dân, nhất là về kỹ năng, biện pháp… cho người dân Theo đó, những hạn chế, tiêu cực khi chính sách giảm nghèo đi vào cuộc sống cũng ít được khai thác Vì vậy, mức độ tin cậy của một bộ phận người dân đối với đài truyền thanh cấp huyện chưa cao Tiếng nói của truyền thanh cấp huyện chưa có tầm ảnh hưởng mạnh Sự quan tâm của công chúng chưa nhiều Hiệu quả truyền thông chính sách nói chung, chính sách giảm nghèo nói riêng chưa đạt như mong muốn
Chính vì vậy, đề tài “Truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng Đài
truyền thanh cấp huyện, tỉnh Cà Mau”; mục đích chính là tìm ra những điểm
mạnh, yếu của truyền thanh cấp huyện trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo đã qua Từ đó, đề xuất những giải pháp, nhằm góp phần nâng cao chất lượng
Trang 13hoạt động này trong thời gian tới Qua đó, phát huy sức mạnh của truyền thanh cấp huyện trong việc đưa chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống; góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân, nhất là hoạt động giảm nghèo; thể hiện tốt vai trò là tiếng nói của đảng bộ, chính quyền và là bạn đồng hành của người dân
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thứ nhất, các tài liệu về vai trò của báo chí, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng, nguyên tắc hoạt động và hiệu quả của báo chí, ví dụ “Cơ sở lý luận báo chí” (Tạ Ngọc Tấn chủ biên, 1999), “Truyền thông đại chúng” (Tạ Ngọc Tấn, 2001), “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” (Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, 2004),
“Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội” (2008), “Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa xã hội” (2005), “Tác động của những phương tiện truyền thông mới đối với đời sống văn hóa của cư dân đô thị ở Việt Nam” (2006), bộ sách 9 tập “Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do khoa Báo chí và Truyền thông (ĐH KHXH và NV) xuất bản,…
Tác giả Lưu Văn An (2008) đã đánh giá những giá trị, hạn chế của truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển và ý nghĩa đối với phát triển truyền thông đại chúng Việt Nam Tác giả Nguyễn Văn Dững (2011) tìm hiểu mối quan hệ giữa báo chí và dư luận xã hội, phân tích bản chất của dư luận xã hội, đặc điểm của báo chí hiện đại, mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội, cơ chế tác động của báo chí và dư luận xã hội và vai trò của nhà báo trong quan hệ với dư luận xã hội
Từ đó cho thấy truyền thông đại chúng, nhất là báo chí có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển xã hội ngày nay Truyền thông đại chúng tác động vào ý thức xã hội để hình thành và củng cố một hệ thống tư tưởng chính trị lãnh đạo đối với xã hội, nó có nhiệm vụ liên kết các thành viên trong xã hội thành một khối đoàn kết, một chỉnh thể trên cơ sở lập trường, thái độ chính trị chung Truyền thông đại chúng còn thực hiện chức năng giám sát và quản lý xã hội, theo dõi, phát hiện,
Trang 14phản ánh kịp thời những vấn đề, mâu thuẫn mới nảy sinh, góp phần ổn định chính trị, xã hội
Một trong những lĩnh vực được báo chí quan tâm phản ánh là xóa đói giảm nghèo Đã qua, báo chí luôn đồng hành với các chương trình xóa đói, giảm nghèo quốc gia Việc tuyên truyền về giảm nghèo đã được thực hiện một cách đồng bộ, có trọng tâm, đa dạng về phương thức, phù hợp với từng nhóm đối tượng, vùng miền nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng khó khăn… Nhờ đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân, các cấp chính quyền, đoàn thể trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chương trình giảm nghèo, khơi dậy ý thức tự lực vươn lên thoát nghèo…Chính vì vậy, nhiều luận văn đã khai thác vai trò của báo chí liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo, cụ thể như: Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2013) của Trần Thị Thùy Linh về “Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên sóng truyền hình, Đài phát thanh – truyền hình Nghệ An” Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Đại học KHXH và NV Hà Nội của Lưu Thị Bích Ngọc về “Truyền thông về vấn đề xóa đói giảm nghèo trên Báo Bắc Kạn và Yên Bái”, đã đi sâu khảo sát, phân tích những mặt đạt được, chưa được và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực trong công tác truyền thông chính sách xóa đói, giảm nghèo trên 2 tờ báo nói trên
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về truyền thông chính sách
Đã có nhiều nghiên cứu, hội thảo, chương trình, đề án … liên quan đến vai trò của báo chí trong truyền thông về chính sách nói chung, và cụ thể riêng từng lĩnh vực, như: đất đai, biến đổi khí hậu, môi trường Từ năm 2016 đến nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu Nhân Dân, Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc tổ chức 3 cuộc hội thảo về truyền thông Chính sách, cụ thể: Hội thảo “ Truyền thông chính sách kinh nghiệm Việt Nam - Hàn Quốc” năm 2016; Hội thảo “ Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội” năm 2017 và Hội thảo “ Truyền thông chính sách và năng lực tiếp nhận của công chúng” năm 2018 Qua đó, nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí trong công tác truyền thông chính sách trong giai đoạn hiện nay
Trang 15PGS-TS Nguyễn Văn Dững với đề tài “Tìm kiếm mô hình tổ chức hoạt động truyền thông chính sách công ở Việt Nam” đã đi sâu phân tích vai trò của báo chí Việt Nam trong truyền thông chính sách là phổ biến tạo sự đồng thuận xã hội; đánh giá hiệu quả trong thực tiễn; phản biện, phản ánh những bất cập của chính sách…
Sách “Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội” do Học viện Báo chí
và tuyên truyền, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (đồng chủ biên - 2018) Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc tại Hội thảo khoa học quốc tế cùng tên, nhấn mạnh vai trò của truyền thông chính sách trong việc xây dựng đồng thuận xã hội và nêu lên một số mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách
Sách “Truyền thông chính sách - truyền tải thông tin và can thiệp hiệu quả tới các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS tại Việt Nam” do Trường đại học Y tế cộng đồng, văn phòng tư liệu dân số Mỹ (2009) Cuốn sách cung cấp lý luận về chính sách đồng thời xây dựng chiến lược truyền tải thông tin, truyền tải thông tin qua các phương tiện truyền thông, bản thông tin khuyến nghị chính sách, bài trình bày cá nhân
Sách “Chính sách công Những vấn đề cơ bản” (2014) của tác giả Nguyễn Hữu Hải đã cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về chính sách công, nhất
là chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; công tác phân tích, đánh giá chính sách công
Sách “Giám sát và đánh giá chính sách công” (2016) của tác giả Lê Văn Hòa
đã cung cấp cho độc giả những vấn đề cơ bản về chính sách công; về đánh giá tác động; đo lường kết quả thực hiện chính sách công; kết hợp các phương pháp đánh giá tác động và đánh giá tác động chương trình có nhiều can thiệp; tổ chức đánh giá tác động chính sách
Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu có liên quan đến đề tài với nội dung tuyên truyền, truyền thông chính sách như: Luận văn Thạc sĩ Quan hệ công chúng, Học viện Báo chí và tuyên truyền (2014) của Nguyễn Thu Hương về
“Bộ Y tế với hoạt động truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá”; Luận văn
Trang 16thạc sĩ về: “Vai trò của đài phát thanh cơ sở trong truyền thông về chính sách đất đai ở các huyện ngoại thành Hà Nội”, của Đặng Đình Sáng đã khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông chính sách đất đai trên hệ thống đài phát thanh cơ sở ở các huyện ngoại thành Hà Nội
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu tập trung khai thác vai trò của báo chí trong việc truyền thông những chính sách, như: báo chí với vấn đề bảo hiểm xã hội, báo chí với công tác bảo vệ trẻ em, báo chí với chính sách môi trường, chống biến đổi khí hậu.v.v Riêng về vai trò của đài truyền thanh cấp huyện, đặc biệt là trong truyền thông chính sách giảm nghèo ở Cà Mau thì đến nay chưa có một nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả tập trung tập hợp các nguồn tư liệu, tài liệu, các công trình đã công bố liên quan đến vai trò của báo chí trong truyền thông về chính sách, đặc biệt là các chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng, Nhà nước các cấp để xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
Đồng thời, tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng công tác truyền thông về chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện trong tỉnh Cà Mau thông qua các phương pháp nghiên cứu như: phân tích thông điệp truyền thông từ
hệ thống tin, bài; khảo sát, điều tra trong cán bộ, nhân dân đặc biệt là người nghèo; phỏng vấn lãnh đạo UBND huyện; lãnh đạo, phóng viên các đài truyền thanh cấp
Trang 17huyện…để có cách nhìn tổng quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu Từ việc phân tích, đánh giá chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân, sẽ đề xuất giải pháp, khuyến nghị
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Đài truyền thanh cấp huyện trong hoạt động truyền thông về chính sách giảm nghèo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên hệ thống 3 đài truyền thanh huyện trong tỉnh Cà Mau là: Phú Tân, Cái Nước và Thới Bình Bao gồm các tin, bài đã phát trong thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: tập hợp, hệ thống hóa các nguồn tư liệu, sách giáo trình, sách chuyên khảo, các bài báo khoa học, các tài liệu của các cơ quan chức năng,… về vai trò, nhiệm vụ của báo chí, nhất là trong thông tin, truyền thông về chính sách giảm nghèo
Phương pháp phân tích thông điệp: nghiên cứu trực tiếp các thông điệp truyền thông liên quan lĩnh vực giảm nghèo thông qua hệ thống tin, bài đã được phát sóng trên 3 đài truyền thanh cấp huyện trong tỉnh Tin, bài được chọn từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019, nhằm đánh giá chất lượng thông tin trên đài truyền thanh huyện trong tỉnh Cà Mau cả về nội dung và hình thức thể hiện Từ đó, có cách nhìn tổng quan và toàn diện, đánh giá ưu, nhược điểm và đề xuất giải pháp phù hợp
Phương pháp điều tra xã hội học: thực hiện 150 phiếu để lấy ý kiến của công chúng của các đài được khảo sát Từ đó, tổng hợp, đánh giá để có cách nhìn toàn diện hơn về hiệu quả truyền thông nói chung, chính sách giảm nghèo nói riêng của truyền thanh cấp huyện đối với đời sống của người dân; sự quan tâm của công
Trang 18chúng đối với truyền thanh cấp huyện, mức độ tin cậy, khả năng làm theo…từ đó, đưa ra hướng điều chỉnh, đổi mới nội dung, hình thức thông tin, nhất là về chính sách giảm nghèo
Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn lãnh đạo huyện; lãnh đạo, phóng viên, đài truyền thanh cấp huyện … về truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện Chú trọng công tác định hướng, chỉ đạo nội dung, khả năng tiếp nhận,…Từ đó, tổng hợp, đánh giá một cách toàn diện về nội dung nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với đề tài này, hy vọng sẽ cung cấp những giá trị tham khảo thực tiễn thông qua những nghiên cứu về nội dung thông điệp truyền thông trên sóng đài truyền thanh cấp huyện, dữ liệu khảo sát về hoạt động truyền thông chính sách giảm nghèo của đài truyền thanh một số huyện trong tỉnh Cà Mau Qua đó, giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cấp ủy, chính quyền, các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo đài truyền thanh huyện và người dân hiểu sâu sắc hơn về chính sách, công tác truyền thông chính sách giảm nghèo Từ đó, có chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp trong việc thông tin, truyền thông; nhằm động viên, khuyến khích, làm thay đổi nhận thức, hành động của người dân trong thực hiện chính sách giảm nghèo; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong công tác giảm nghèo
Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn hy vọng sẽ có tác động tích cực đến các cơ quan báo chí và các đài truyền thanh cấp huyện trong truyền thông về chính sách giảm nghèo Từ đó, giúp điều chỉnh, lựa
Trang 19chọn nội dung, hình thức truyền tải thông tin hợp lý để nâng cao hiệu quả truyền thông về giảm nghèo… Luận văn cũng sẽ góp phần đề xuất giải pháp nâng cao kỹ năng làm báo cho những người làm báo ở cấp huyện, nhất là về đổi mới tư duy, cách thức thông tin theo hướng phục vụ công chúng, cụ thể là về giảm nghèo
Khảo sát thực tiễn thông điệp truyền thông trên sóng đài truyền thanh huyện nhằm rút ra những đánh giá khái quát về thực trạng truyền thông chính sách giảm nghèo thời gian qua Từ đó, nêu lên những vấn đề cần thực hiện cho công tác này đi vào chiều sâu và hiệu quả, nhằm góp phần thu hút sự quan tâm của công chúng Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng chương trình phát thanh trên sóng đài truyền thanh cấp huyện; nâng cao vai trò của đài truyền thanh cấp huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, là bạn đồng hành của người dân
7 Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 4 chương, 14 tiết, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng phát thanh
Chương 2: Thực trạng công tác truyền thông chính sách giảm nghèo trên
sóng đài truyền thanh cấp huyện trong tỉnh Cà Mau
Chương 3: Đánh giá chất lượng truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện trong tỉnh Cà Mau
Chương 4: Giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện
Trang 20Truyền thông: Trong tiếng Anh, "Communication" có nghĩa là truyền thông -
sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc Trong tiếng La tinh,
nó có nghĩa là cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội Truyền thông
là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức
Theo PGS-TS Nguyễn Văn Dững (2011), truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…chia sẻ kỹ năng hoặc kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng xã hội Như vậy, truyền thông không đơn thuần là một hành động mà là một quá trình, có sự tương tác qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể Từ đó, từng bước hiểu nhau, làm thay đổi nhận thức và hành vi phù hợp nhu cầu phát triển chung
Truyền thông được thể hiện dưới ba hình thức: Truyền thông cá nhân là quá
trình trao đổi thông tin giữa người này với người khác trên cơ sở giao tiếp lẫn nhau,
cả hai đều có thể là nguồn phát và là người nhận thông tin Truyền thông nhóm là
quá trình truyền đạt thông tin từ một hoặc một nhóm người đến một tập thể như: nội bộ
cơ quan, công ty, một cuộc hội thảo, hội nghị, lớp học …Truyền thông đại chúng là
quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi hướng đến mọi người trong xã hội thông qua các PTTTĐC, như: sách, báo, phát thanh, truyền hình, mạng internet… Quá trình truyền thông cũng diễn ra theo hai cách là trực tiếp và gián tiếp
1.1.2 Truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng là một dạng thức truyền thông đặc biệt trong lịch sử
loài người - khi mà người truyền thông tin có thể truyền tải thông điệp cho đông đảo
Trang 21quần chúng về số lượng và rộng khắp về địa lý - điều mà các cách thức truyền thông trước đó không thể nào có được Truyền thông đại chúng được thực hiện qua các phương tiện PTTTĐC
Có nhiều PTTTĐC khác nhau, phổ biến nhất là báo in, phát thanh, truyền hình và Internet Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các PTTTĐC có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội Các PTTTĐC nói chung, báo chí nói riêng ra đời là để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và
xã hội Chức năng cơ bản, khởi nguồn của báo chí là thông tin; nhưng báo chí thông tin để thực hiện chức năng tư tưởng, chức năng giáo dục, thực hiện vai trò quản lý, giám sát, phản biện xã hội, thông tin để thực hiện chức năng văn hóa, giải trí
1.1.3 Phát thanh
Phát thanh ( còn gọi là báo nói) là một phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua âm thanh Âm thanh trong phát thanh bao gồm: lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nền hoặc minh họa cho lời nói như tiếng mưa, nước chảy, vỗ tay, tiếng máy công trình, tiếng ồn trên đường phố,…
Xét từ mục đích, người ta thường chia phát thanh thành các loại: phát thanh thương mại, phát thanh giáo dục, phát thanh chính trị-xã hội, phát thanh công cộng Thông thường, mỗi nước đều có hệ thống phát thanh của nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ công cộng, phục vụ cho các mục đích chính trị, xã hội của chính phủ Người ta gọi đó là các đài phát thanh quốc gia hay đài phát thanh công cộng Ở Việt Nam, toàn bộ hệ thống phát thanh đều thuộc sở hữu của Nhà nước, do Chính phủ và chính quyền các địa phương quản lý Đài Tiếng nói Việt Nam là đài trung ương, ngoài ra còn có các đài phát thanh khu vực, đài phát thanh cấp tỉnh, thành phố
Trang 22trở lên; truyền thanh để chỉ các đài từ cấp huyện đến cơ sở Đài cấp tỉnh thường phát bằng sóng AM hoặc FM, còn đài cấp huyện và cấp xã lúc ban đầu chỉ truyền bằng hệ thống dây dẫn Song, hiện nay, các đài truyền thanh cấp huyện và phần lớn đài truyền thanh cấp xã đều phát sóng FM Vì vậy, hai khái niệm này thực ra không
có sự khác biệt
Như vậy, phát thanh/truyền thanh là những thuật ngữ chỉ phương tiện truyền tải thông tin bằng ký hiệu âm thanh qua các hạ tầng kỹ thuật khác nhau Về bản chất, đó là một trong bốn loại hình báo chí phổ biến hiện nay, đó là báo nói
Theo Luật báo chí Việt Nam năm 2016: “Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.”
Đặc trưng của phát thanh chính là âm thanh Âm thanh bao gồm: lời nói, tiếng động, âm nhạc Sản phẩm chủ yếu của phát thanh là dùng âm thanh để truyền đạt thông tin đến người nghe Âm thanh là cơ sở tái hiện hình ảnh, tạo nên sự sinh động và kích thích trí tưởng tượng của người nghe
Đặc trưng, thế mạnh và hạn chế của phát thanh:
Phát thanh/ truyền thanh có nhiều thế mạnh trong công tác truyền thông chính sách nói chung, giảm nghèo nói riêng Song, thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: tính tỏa khắp Phát thanh có thể tỏa sóng cho nhiều người nghe
cùng lúc, cùng tác động đến nhiều người Nhất là đối với phát thanh/truyền thanh địa phương có hệ thống loa công cộng rộng khắp Phát thanh có thể coi là phương tiện tốt nhất trong tuyên truyền, cổ vũ, động viên quần chúng dân, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội thực hiện đồng loạt, đồng bộ các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch, nhằm tạo nên các phong trào hiệu quả ở địa phương
Thứ hai: phát thanh có lợi thế là phương tiện thông tin nhanh, tiếp cận đồng
thời với sự kiện diễn ra Phát thanh có thể truyền tải nhanh chóng những chính sách đến với người dân, dễ dàng tạo nên dư luận xã hội rộng rãi
Trang 23Thứ ba: phát thanh có tính sống động, thân mật, riêng tư Thế mạnh của phát
thanh là sử dụng âm thanh, như: lời nói, tiếng động, âm nhạc để diễn tả, chuyển tải thông tin một cách sinh động, thu hút và kích thích trí tưởng tượng người nghe Đây
là phương tiện gần gũi, chia sẻ, là người bạn đồng hành của thính giả trong những câu chuyện, những tình huống khó nói trực tiếp
Thứ tư: phát thanh là kênh truyền thông ít tốn kém, thậm chí không tốn kém
đối với người dân nếu tiếp cận qua hệ thống loa công cộng; do đó, phù hợp đối với người nghèo Một chiếc radio, chiếc điện thoại rẻ tiền cũng đều tích hợp chức năng nghe đài FM, hay nghe miễn phí qua hệ thống loa công cộng Từ đó, người dân dễ tiếp cận chương trình phát thanh từ thông tin thời sự, giải trí, ca nhạc, kỹ năng sống, biện pháp làm ăn, chuyển giao kỹ thuật…rất dễ dàng Do đó, phát thanh rất thích hợp với cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân ở nông thôn, mức sống chưa cao
Thứ năm: Phát thanh là phương tiện có tính tiện ích mà không có loại hình
báo chí nào có được đó là vừa nghe vừa kết hợp với công việc khác mà không nhất thiết phải tập trung mọi giác quan vào việc tiếp nhận thông tin như các loại hình khác Nhất là nghe qua hệ thống loa công cộng Bác nông dân có thể vừa làm nông vừa nghe đài, bà nội trợ vừa nấu nướng vừa nghe thông tin … Điều này rất thích hợp cho những người nông dân khi đang lao động Họ có thể cùng lúc vừa làm vừa tiếp nhận thông tin mà không mất thời gian, không mất công làm việc Trong khi
đó, người ta không thể vừa lái xe vừa xem báo, vừa đi tập thể dục vừa xem Tivi
Thứ sáu: phát thanh là phương tiện cung cấp thông tin rộng rãi, phổ quát, ai
cũng có thể nghe và hiểu được Từ đó, có thể cụ thể hóa chủ trương, chính sách thành những câu chuyện, tình huống cụ thể dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ thực hiện
Một thế mạnh quan trọng của phát thanh/truyền thanh trong công tác truyền thông chính sách đó là tính địa phương Tin tức địa phương ít nhiều có tầm ảnh hưởng lớn đến thính giả bởi nó chính là những gì gần gũi, phù hợp với đời sống của
họ Từ đó, nâng cao tính thuyết phục để người dân tin tưởng, làm theo hoặc có sự phản biện, đóng góp khi chính sách không phù hợp với địa phương
Trang 24Hoạt động báo chí phát thanh là tác động vào ý thức nhân dân, nhằm tập hợp, thuyết phục, động viên và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội, thông qua đó, góp phần thanh đổi nhận thức, thái độ, điều chỉnh hành vi của người dân phù hợp với thực tiễn cuộc sống Đó là chuyển tải chủ trương, chính sách đến người dân và phản ánh thực tiễn để hoàn thiện chủ trương, chính sách Đây là một lợi thế trong truyền thông về chính sách giảm nghèo ở địa phương
Tuy nhiên, phát thanh có những hạn chế nhất định, trước hết là mức độ xác định của thông tin tiếp nhận Do phát thanh là hình thức truyền thông tuyến tính, và cách tiếp nhận duy nhất là nghe, nên người nghe hoàn toàn phụ thuộc và bị động về tốc độ, trình tự vận hành của dòng âm thanh Chỉ cần một thời điểm không tập trung chú ý đã không thể hiểu đúng hay không đầy đủ về nội dung thông điệp Mặc khác, những thông tin có logic thường có nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp, nên khi phát trên phát thanh sẽ có hiệu quả thấp, do thính giả rất khó theo dõi nội dung thông tin nhiều tầng lớp, khi mà trí nhớ nhanh của con người có hạn Bên cạnh đó, việc diễn đạt dài dòng cũng khiến người ta không thể nhớ kịp để nắm được toàn bộ nội dung
1.1.4 Nghèo
Theo Ngân hàng thế giới nghèo là bần cùng hóa về phúc lợi
Theo nghĩa hẹp, nghèo là sự thiếu thốn các điều kiện thiết yếu của cuộc sống Theo nghĩa rộng, nghèo cần được xác định ở góc độ đa chiều, đó là sự phát triển toàn diện của con người Bao gồm cả vật chất, con người và xã hội
Về vật chất, đó chính là biểu hiện sự thiếu hụt các điều kiện cần thiết cho nhu cầu cuộc sống Về con người, đó là sức khỏe, tiếp cận dịch vụ y tế, dinh dưỡng, trình độ, kiến thức…Về xã hội, nghèo biểu hiện ở sự phân hóa đẳng cấp, hầu như người nghèo ít có tiếng nói trong xã hội Cách tiếp cận này giúp những nhà hoạch định chính sách đưa ra chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững hơn, giúp người nghèo không chỉ thoát nghèo về vật chất mà còn xóa nghèo về con người và nghèo về xã hội Đó là cách tiếp cận theo hướng đa chiều
Trang 25Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-
2020 thì việc xác định hộ nghèo đa chiều dựa trên 2 tiêu chí cơ bản đó là thu nhập
và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, như: y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tiếp cận thông tin.v.v
Như vậy, nghèo được hiểu là sự thiếu hụt cả về vật chất và tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản Tiêu chí đánh giá sẽ tùy vào không gian và thời gian khác nhau, ở
đô thị khác ở nông thôn, 5 năm trước khác 5 năm sau
1.1.5 Giảm nghèo bền vững
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần…; đảm bảo an ninh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững”
Giảm nghèo bền vững là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn hay thu nhập đó khi gặp sự cố hay rủi ro
1.1.6 Chính sách
Chính sách (hay còn gọi là chính sách công) là vấn đề quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như với từng địa
phương cụ thể Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định
chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định Việc xây dựng,
hoạch định chính sách, công bố chính sách tới người dân, thực thi như thế nào liên quan nhiều tới công tác truyền thông chính sách
PGS-TS Nguyễn Văn Dững (2018) cho rằng: Chính sách công là quan điểm, thái độ, cách tiếp cận, quyết sách và cách thức giải quyết hoặc không giải quyết vấn
đề liên quan đến lợi ích cộng đồng, liên quan đến lợi ích của các nhóm xã hội lớn, trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích nhân dân nói chung, của nhà nước hay
Trang 26chính phủ, chính quyền, của tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị của một quốc gia Chính sách công chính là công cụ của nhà nước nói chung được dùng
để giải quyết các vấn đề thực tiễn, điều hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội lớn, tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm phát triển bền vững
Về chính sách giảm nghèo: Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Sơn(2012): chính sách giảm nghèo là những quyết định, quy định của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chương trình dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo
Mục tiêu của chính sách giảm nghèo chính là giúp đỡ, hỗ trợ cho người nghèo thoát nghèo cả về vật chất, con người và xã hội Đó là tăng thu nhập, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, tăng cường tiếng nói cho người nghèo…
1.1.7 Truyền thông chính sách giảm nghèo
Truyền thông chính sách là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách đến các chủ thể chính sách khác nhằm tăng cường sự hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của các chủ thể chính sách để đạt mục tiêu chính sách
Truyền thông chính sách đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình chính sách công Khâu hoạch định chính sách, truyền thông chính sách giúp xác định được đúng và trúng vấn đề chính sách, bảo đảm sự đồng thuận xã hội Trong khâu xây dựng chính sách, truyền thông chính sách giúp quá trình lựa chọn giải pháp công cụ chính sách phù hợp Trong khâu thực hiện chính sách, truyền thông chính sách giúp việc giám sát chính sách công được thực hiện với sự tham gia của cả xã hội Khâu đánh giá truyền thông chính sách giúp làm rõ được kết quả chính sách, đồng thời, giúp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách
Như vậy; truyền thông chính sách giảm nghèo có thể hiểu là quá trình phổ
biến, chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin các chính sách giảm nghèo, nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
Trang 271.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo và vai trò của báo chí trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước
ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Quan điểm của Đảng về công tác giảm nghèo luôn được hoàn thiện, rõ ràng hơn qua các kỳ đại hội
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945); một trong các nhiệm vụ hàng đầu được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Cách mạng lâm thời xác định, đó là phải “diệt giặc đói”… Nhiệm vụ đó được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn dân liên tục thực hiện trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc đổi mới
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), công tác XĐGN bắt đầu được nhìn nhận, tiếp cận một cách khá toàn diện và khoa học Báo cáo chính trị Đại hội VIII nhấn mạnh: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) xác định: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ
sở hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã xác định: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016), tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận
Trang 28phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản”
Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TƯ lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm
an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông
Rõ ràng chính sách giảm nghèo có nhiều chuyển biến: nhất là từ chính sách cho không sang hỗ trợ có điều kiện; từ việc chỉ chú trọng về kinh tế, thu nhập thì nay chú trọng toàn diện hơn về hạ tầng, điều kiện sản xuất, tiếp cận dịch vụ xã hội…Không chỉ là hỗ trợ “cần câu” hay “con cá” mà là tạo sự chuyển biến về ý thức vươn lên của người dân, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ nhà nước và xã hội
1.2.2 Vai trò của báo chí trong công tác truyền thông chính sách giảm nghèo
Báo chí Việt Nam là một phần trong hệ thống chính trị, là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính quyền, đoàn thể, là diễn đàn của Nhân dân; báo chí có trách nhiệm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; cỗ vũ, động viên quần chúng nhân dân thực hiện các phong trào cách mạng, góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Báo chí có nhiều ưu thế và là phương tiện quan trọng trong công tác truyền thông chính sách đến với người dân, nhất là chính sách giảm nghèo
Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 6/1/2017 về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và trong các tầng lớp Nhân dân về tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều, mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp phần tạo được sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng tâm, hiệp lực của toàn xã hội trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 -
Trang 292020; khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng
để thoát nghèo, vươn lên khá giả; phát động phong trào thi đua “Cả nước chung tay
vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” Điều này cho thấy vai trò quan trọng của báo chí trong công tác truyền thông về giảm nghèo Báo chí, truyền thông vừa là cơ sở giảm nghèo về thông tin, vừa góp phần tuyên truyền giảm nghèo theo tiêu chí tiếp cận đa chiều
Trong Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, giải pháp được đặt lên hàng đầu là công tác tuyên truyền Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh: Đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến mọi cấp, mọi ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi và chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giả; phát động phong trào thi đua “cả nước chung tay vì người nghèo”; tôn vinh doanh nghiệp, tập thể cá nhân có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả trong công tác giảm nghèo bền vững Như vậy, thông tin và truyền thông về giảm nghèo là một dự án thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016 - 2020, thực sự là giải pháp không thể thiếu được, cùng với nguồn lực đầu tư
và hệ thống chính sách, sẽ là đòn bẩy hiệu quả để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
Thời gian qua, báo chí đã khơi dậy sức mạnh của cả hệ thống chính trị cho công tác giảm nghèo Báo chí đã luôn đồng hành cùng Nhà nước làm tròn vai trò cơ quan định hướng, truyền tải cơ chế, chính sách luật pháp trong công tác giảm nghèo tới người dân, góp phần làm tốt công tác an sinh xã hội Báo chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc cải tiến nội dung, hình thức truyền thông Việc tuyên truyền về giảm nghèo đã được thực hiện một cách đồng bộ, có trọng tâm, đa dạng
về phương thức, phù hợp với từng nhóm đối tượng, vùng miền nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng khó khăn
Trang 30Báo chí thể hiện tốt vai trò của mình trong việc phổ biến chính sách nhằm làm thay đổi nhận thức cho người dân; đồng thời, thúc đẩy huy động nguồn lực trong cộng đồng; nhân rộng các mô hình đã thành công để khuyến khích người dân có động lực vươn lên; góp phần tạo nên phong trào thi đua rộng rãi cùng nhau thoát nghèo
1.2.3 Vai trò của đài truyền thanh cấp huyện trong truyền thông chính sách giảm nghèo
Thông tư số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV liên Bộ Thông tin Truyền thông
và Bộ Nội vụ ngày 27 tháng 7 năm 2010 về hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đài phát thanh và truyền hình thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đài truyền thanh - truyền hình thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện; quy định: Đài Truyền thanh cấp huyện là đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, thực hiện chức năng là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền huyện
Nhiệm vụ chính của đài truyền thanh cấp huyện là sản xuất và phát sóng các
chương trình truyền thanh bằng tiếng Việt và bằng các tiếng dân tộc trên hệ thống loa truyền thanh, thiết bị phát sóng phát thanh được trang bị nhằm tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập trung vào sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương, các hoạt động tại cơ sở, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác an ninh trật tự, gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến tới nhân dân theo quy định của pháp luật Hoạt động
này không ngoài mục đích góp phần giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Rõ ràng có thể thấy, hoạt động truyền thông chính sách, trong đó có chính sách giảm nghèo là nhiệm vụ chính của đài truyền thanh cấp huyện hiện nay Đài truyền thanh cấp huyện không phải là cơ quan báo chí nhưng có hoạt động báo chí phát thanh, thông qua báo chí phát thanh để thực hiện nhiệm vụ truyền thông chính sách giảm nghèo
Như vậy, có thể hiểu truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh cấp huyện là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội nhằm phổ biến chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện, bằng loại hình báo chí phát thanh
Trang 31Hoạt động truyền thông chính sách giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh
cấp huyện thể hiện ở 3 mặt cơ bản: Thứ nhất, Phổ biến chính sách, quy định, biện pháp, cách thức… về giảm nghèo rộng rãi đến người dân Thứ hai, chuyển tải, phản
ánh những mặt đạt được, hạn chế của chính sách giảm nghèo thông qua thực tiễn từ
cơ sở, để góp phần điều chỉnh, hoàn thiện chính sách Thứ ba, phổ biến kinh nghiệm,
giới thiệu mô hình hay, chia sẻ cách làm ăn, phát huy vai trò cộng đồng xã hội chung tay giúp đỡ người nghèo, tấm gương tự vươn lên, những mô hình chung tay giảm nghèo hiệu quả… Thông qua hoạt động này, góp phần làm thay đổi tư duy, suy nghĩ, cách làm của cán bộ, người dân trong thực hiện chính sách giảm nghèo
Ngày nay, công nghệ phát triển, công chúng luôn có điều kiện tiếp cận thông tin một cách chủ động Họ luôn tìm đến những gì mình thích mà đôi khi bỏ qua những thông tin cần thiết cho cuộc sống Với đặc điểm của mình, truyền thanh cấp huyện sẽ bổ sung thiếu sót đó với hình thức nghe bắt buộc Lợi thế của truyền thanh cấp huyện còn là sự tác động liên tục làm thay đổi hành vi của công chúng, rất hiệu quả trong thực hiện chính sách giảm nghèo Đài truyền thanh cấp huyện khá sâu sát với cơ sở, khả năng tiếp cận hiện trường và thông tin nhanh nên cũng rất lợi thế trong tình huống khẩn cấp Đồng thời, cũng có điều kiện tìm hiểu sâu về đặc điểm sống, sinh hoạt của những của từng hộ dân để có cách thông tin phù hợp, thiết thực
Trang 32Nguồn phát về chính sách giảm nghèo trong trường hợp này chính là đài truyền
thanh cấp huyện; cơ quan tuyên truyền của đảng bộ, chính quyền, tiếng nói của người dân trong huyện
Thông điệp về giảm nghèo được chuyển tải qua hệ thống tin, bài có nội dung
liên quan chính sách giảm nghèo được phát sóng hằng ngày trên sóng đài truyền thanh huyện Trong đó, bao gồm việc phổ biến, cụ thể hóa chủ trương chính sách; phản ánh những mặt được và chưa được khi chính sách đi vào cuộc sống và nêu gương
Kênh truyền của đài truyền thanh cấp huyện hiện nay chủ yếu qua sóng FM đến
hệ thống loa công cộng và radio, có qua trung gian là truyền thanh cấp xã tiếp sóng
để đến với người dân
Người nhận là đông đảo công chúng của huyện nằm trong tầm phủ sóng của đài
truyền thanh huyện, bao gồm cả cán bộ, đảng viên, người dân, đặc biệt là người nghèo
Hiệu quả đạt được là sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nhằm thay đổi hành
vi của toàn xã hội trong hoạt động giảm nghèo bền vững
Thông qua đó, đài truyền thanh cấp huyện cũng có kênh riêng của mình để ghi nhận sự phản hồi của công chúng, nhất là tính thiết thực của nội dung thông tin, mức độ tin tưởng, làm theo…Đồng thời, trong quá trình truyền thông cũng khó tránh khỏi hiện tượng nhiễu, làm méo mó thông tin xảy do sự cố về kỹ thuật kênh truyền, diện phủ sóng chưa mạnh, công suất máy phát yếu hay do lỗi của những người làm báo ở huyện trong quá trình tác nghiệp, nắm bắt thông tin chưa chính xác hay do người nghe tiếp thu chưa trọn vẹn
Từ đó cho thấy, đài truyền thanh cấp huyện cũng là một phương tiện truyền thông đại chúng, góp phần truyền thông chính sách giảm nghèo đến với người dân
1.3.2 Lý thuyết “Thiết lập chương trình nghị sự”
Truyền thông chính sách giảm nghèo phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước nhằm tạo chuyển biến tích cực về cách nghĩ, cách làm của người dân để họ tự lực vươn lên; đồng thời, kêu gọi cộng đồng xã hội chung tay giảm nghèo bền vững Chính vì vậy, luôn phải có kế hoạch, chương trình
Trang 33để đảm bảo thông tin một cách phù hợp Khi ấy, truyền thanh nói riêng, truyền thông đại chúng nói chung có chức năng sắp đặt một “chương trình nghị sự” cho công chúng Các bản tin đưa ra được tính toán, định hướng sẽ ảnh hưởng nhất định đến sự phán đoán, suy nghĩ của công chúng Thực tế, một vấn đề xảy ra có nhiều hướng thông tin khác nhau Song, những thông tin luôn được nhắc đến thường xuyên và đi theo một hướng sẽ có tác động mạnh mẽ hơn vào suy nghĩ, nhận thức của nhiều người
Đó còn là sự sàng lọc, nhằm lựa chọn thông tin và cách thức thông tin phù hợp để đưa đến công chúng, đó là khâu kiểm duyệt, biên tập thông tin trên các loại hình báo chí nói chung, truyền thanh ở cấp huyện nói riêng Đó là lựa chọn những
mô hình hay, cách làm tốt để thông tin, biểu dương, nhân rộng để người dân làm theo Đó còn là sự xác định “liều lượng” thông tin giữa nêu gương và phản ánh tiêu cực phù hợp
1.3.3 Lý thuyết “ Sử dụng và hài lòng”
Truyền thông chính sách nói chung, trên sóng truyền thanh nói riêng muốn đạt hiệu quả luôn phải lấy công chúng làm trung tâm Thính giả đến với phát thanh/ truyền thanh chủ yếu là ở nhu cầu tìm hiểu, học hỏi kiến thức mới; qua đó, giúp họ nâng cao hiểu biết và hành động Thính giả có thể tìm đến phát thanh để học hỏi, tiếp thu kỹ thuật mới, kinh nghiệm về nuôi tôm, trồng lúa để đạt năng suất cao Nhà chuyên môn thông qua truyền thanh khuyến cáo, hướng dẫn họ cách làm phù hợp với kinh nghiệm, vốn liếng, điều kiện đất đai Thông qua truyền thanh cũng tạo điều kiện cho người dân chia sẻ kinh nghiệm của mình cho người khác Có nghĩa là người ta tìm đến phát thanh để thỏa mãn nhu cầu học hỏi kiến thức sản xuất, hay đơn giản là để giải trí, giao lưu thông qua chương trình văn nghệ cuối tuần.v.v
1.3.4 Lý thuyết “Thuyết phục”
Truyền thông chính sách nói chung, giảm nghèo nói riêng trên sóng đài truyền thanh huyện thực sự là sự thuyết phục; nhằm giúp người dân thay đổi nhận thức, thái độ và điều chỉnh hành vi theo chiều hướng tích cực Dần dần, truyền thanh trở thành người bạn tin cậy của công chúng thì tính thuyết phục sẽ cao hơn,
Trang 34hiệu quả hơn Tính thuyết phục thể hiện ở việc nêu gương các mô hình làm ăn có hiệu quả, ở những tấm gương người tốt việc tốt là minh chứng cho người dân học hỏi, làm theo Tính thuyết phục thể hiện ở sự đúng đắn và hoàn thiện khi chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống Nó còn thể hiện ở việc sử dụng có hiệu quả các thế mạnh của phát thanh để làm minh chứng sinh động cho việc tái hiện cuộc sống hiện thực
1.4 Đặc điểm của truyền thông chính sách và tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông chính sách trên sóng phát thanh/truyền thanh
Quá trình truyền thông chính sách không phải và không thể là quá trình áp đặt mong muốn của chủ thể chính sách hay chủ thể truyền thông chính sách đối với công chúng Truyền thông chính sách cần là quá trình đối thoại chính sách, kích thích sự tham gia tích cực, chủ động của công chúng Sự tham gia của công chúng không chỉ dựa trên nền tảng lợi ích mà cả hiểu biết và trách nhiệm xã hội Để đảm bảo được điều đó, truyền thông chính sách phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là, thông điệp truyền thông chính sách phải phù hợp với công chúng -
nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông chính sách Truyền thông chính sách của báo chí giúp truyên truyền, đưa thông tin, để người dân và dư luận xã hội biết và hiểu về chính sách mới Từ đó, giúp tạo đồng thuận xã hội, đạt hiệu quả cao trong thực hiện các chính sách đó Vì thế, thông điệp truyền thông chính sách phải rõ, ngắn gọn, dễ hiểu để công chúng dù là ai cũng có thể nắm được một cách cơ bản
Hai là, thông điệp phải phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc Vai trò của báo chí phát thanh là tiếng nói của đảng bộ, chính quyền và nhân dân, do đó, đòi hỏi phải đảm bảo đúng với chủ trương, chính sách và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị
Ba là, thông điệp phải phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với văn hóa -
lối sống và cách thức tiếp nhận thông tin của người dân Ngoài ra, thông điệp còn phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể hiện lợi ích của công chúng Truyền thông chính sách qua báo chí không chỉ giúp người dân biết và hiểu về
Trang 35chính sách, mà báo chí là kênh thông tin hữu hiệu nhất để người dân phản hồi về chính sách mới, phản hồi những bất cập của những chính sách đang thực hiện đến
cơ quan chức năng
Bốn là, với đặc trưng và lợi thế của phát thanh, thông điệp phải đơn giản
nhưng có ấn tượng, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ làm theo Đặc trưng của phát thanh là âm thanh và tính thoáng qua Chính vì vậy, âm thanh phải gợi được hình ảnh; sử dụng đồng bộ lời nói, tiếng động, âm nhạc …để tái hiện cuộc sống Hơn nữa, ngôn ngữ phát thanh là ngôn ngữ phổ thông mà người có trình độ cao hay thấp vẫn có thể lĩnh hội, hiểu và thực hiện Thông điệp trên sóng phát thanh phải được thể hiện bằng văn phong đơn giản, ngắn đầy đủ thông tin và ở thể chủ động, sử dụng động từ, hạn chế tính từ, số liệu làm tròn…để công chúng dễ tiếp nhận
Năm là, thông điệp truyền thông chính sách trên báo phát thanh cần lưu ý về
thời điểm và tần suất xuất hiện thông điệp Rõ ràng, nếu thời điểm nắng hạn gay gắt
ở vùng nước mặn mà khuyến khích người dân trồng cây ăn trái thì không phù hợp Thời điểm dịch tả heo châu phi hoành hành mà khuyến khích nuôi heo để giảm nghèo thì khó thực hiện
Truyền thông chính sách vừa góp phần bảo đảm cho sự thành công của chính sách, đồng thời giúp cho chính sách ngày một được hoàn thiện hơn Nhất là việc phản ánh những bất cập, bức xúc từ cơ sở, nơi thực thi chính sách Để đánh giá chất lượng thông điệp truyền thông chính sách, nhất là về giảm nghèo trên sóng phát thanh cần có nhiều yếu tố, tuy nhiên, tập trung vào một số tiêu chí cơ bản sau:
Tính khách quan, chân thực: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu Khách
quan, trung thực chính là mang hơi thở cuộc sống vào hoạt động thông tin, truyền thông Điều này thể hiện ở trách nhiệm xã hội của người làm báo đối với công chúng Chân thực, khách quan là bằng chứng quan trọng để người dân tin tưởng, làm theo
Tính thời sự:Tính thời sự ở đây được hiểu theo nghĩa tương đối Đài truyền
thanh huyện không chạy theo xu hướng thông tin nhanh và cũng không thể cạnh tranh với các loại hình khác, nhất là báo mạng điện tử và mạng xã hội mà cái chính
Trang 36là chỉ dẫn, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm, phân tích…Do vậy, tính thời sự ở đây được hiểu là sự phù hợp trong từng giai đoạn, phù hợp đối tượng, mang tính địa phương…và đáp ứng đúng nhu cầu công chúng, nhu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị
Tính độc đáo, mới lạ, hấp dẫn: Đây là một yếu tố quan trọng để thu hút công
chúng nghe và làm theo Một trong những tiêu chí đánh giá sự quan tâm của công chúng đối với đài truyền thanh cấp huyện đó là thông tin có hấp dẫn hay không Nó thể hiện ở góc nhìn, cách khai thác đề tài và cách thể hiện tác phẩm Đó là sự đi sâu,
đi sát cơ sở, phát hiện và thông tin những mô hình hay, cách làm mới, lạ mà người nghe chưa gặp, chưa nghĩ tới Có những vấn đề cũ, nhưng qua góc nhìn của người làm báo nó trở nên lạ Từ đó, thông tin sẽ có sức hấp dẫn lớn
Như vậy, thông điệp phát thanh trước hết là hình ảnh được thể hiện bằng âm thanh, phù hợp với trình độ nhận thức, khả năng tiếp cận của công chúng cũng như phong tục, tập quán, lối sống Thông điệp trên phát thanh phải dễ hiểu, dễ nhớ, trung thực, khách quan, mới lạ, hấp dẫn người nghe… từ đó, mới có thể góp phần chuyển tải chủ trương, chính sách một cách thành công
Tiểu kết chương 1
Truyền thông là một khái niệm tương đối rộng, thể hiện ở sự tương tác, trao đổi, chia sẻ lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu đề ra là thấu hiểu, thay đổi hành vi theo hướng tích cực và cùng nhau hành động vì một mục đích chung Truyền thông trên phương tiện truyền thông đại chúng là một hình thức truyền thông gián tiếp
Với điều kiện của phát thanh/truyền thanh, nhất là truyền thanh cấp huyện; thì khái niệm truyền thông chính sách giảm nghèo cần được hiểu một cách tương đối Đó là sự phổ biến, nhân rộng thông tin về những quyết định, giải pháp, cách thức thực hiện chính sách giảm nghèo của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể qua hệ thống truyền thanh Qua đó, cũng phản ánh những mặt được, chưa được khi chính sách đi vào cuộc sống nhằm góp phần bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách giảm nghèo phù hợp Đồng thời, phổ biến những kinh nghiệm thiết thực, những cách làm hay trong hoạt động giảm nghèo của cấp ủy, chính quyền và người dân,
Trang 37gương vượt khó trong cộng đồng Mục tiêu chính là góp phần cùng với Đảng, Nhà nước thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững Thể hiện tốt vai trò của truyền thanh cấp huyện là cơ quan tuyên truyền của đảng bộ, chính quyền, là diễn đàn của nhân dân địa phương, là người bạn đồng hành của thính giả
Để làm được điều đó, thông điệp phát trên sóng phát thanh phải dễ hiểu, dễ nghe phù hợp với khả năng tiếp nhận của người dân, nhất là về trình độ dân trí, phong tục, tập quán, lối sống; đúng chủ trương, chính sách và thể hiện sinh động bằng thế mạnh âm thanh của thể loại báo nói, tái hiện hình ảnh chân thực của cuộc sống, khai thác những yếu tố mới lạ, hấp dẫn Mục đích chính là nâng cao hiểu biết, thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm của người dân, nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo, góp phần giảm nghèo bền vững
Trang 38Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN THANH HUYỆN TRONG
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát nội dung thông điệp truyền thông về chính sách
giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện trong năm 2019
TT Nội dung thông tin về chính sách giảm
nghèo
Tin bài TS Tỷ lệ
1 Chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc
làm, tăng thu nhập cho người nghèo
6 Chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn
hóa thông tin
7 Chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù 30 5 35 5,8%
Trang 39Thới Bình Cái Nước Phú Tân
Hỗ trợ SX, dạy nghề Hỗ trợ giáo dục đào tạo Hỗ trợ y tế
Hỗ trợ nhà ở Tiếp cận dịch vụ pháp lý Hưởng thụ văn hóa thông tin
Hỗ trợ giảm nghèo đặc thù
Qua khảo sát 2.301 tin, bài phát thanh hằng ngày trên sóng 3 đài truyền thanh huyện trong tỉnh Cà Mau năm 2019; có 604 tin, bài liên quan đến giảm nghèo, chiếm 26,24% so tổng số tin, bài đã phát Trong đó: Đài truyền thanh huyện Thới Bình 20,1%; Đài truyền thanh huyện Cái Nước 32,9%; Đài truyền thanh huyện Phú Tân 24,7% Như vậy, trong 3 đơn vị khảo sát; Đài Truyền thanh huyện Cái Nước có tần suất xuất hiện tin, bài về giảm nghèo khá cao
Biểu đồ 2.2: Kết quả khảo sát nội dung thông điệp truyền thông về chính sách giảm
nghèo trên sóng các đài truyền thanh huyện trong năm 2019
2.2 Những nội dung chính được thể hiện:
Thông tin về giảm nghèo trên sóng đài truyền thanh huyện được thể hiện khá phong phú và đa dạng, phản ánh được bức tranh sinh động trong công tác giảm nghèo ở cơ sở; bộ mặt kinh tế-xã hội và đời sống người dân ở địa phương Lồng ghép phổ biến chủ trương, chính sách giảm nghèo là những mô hình hay, cách làm mới trong công tác thực thi chính sách giảm nghèo Nội dung thông tin về giảm nghèo trên đài truyền thanh huyện được khảo sát qua 7 nội dung thể hiện ở bảng 2.1 trên
Tuy nhiên, trong đó, có 3 lĩnh vực có tần suất xuất hiện thường xuyên, liên tục trên sóng Đó là thông tin về: chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo; chính sách hỗ trợ nhà ở; chính sách hỗ trợ về y tế cho người
Trang 40nghèo Các nội dung còn lại xuất hiện ít hơn, như: hỗ trợ về giáo dục đào tạo, văn hóa thông tin, tiếp cận các dịch vụ pháp lý, chính sách giảm nghèo đặc thù…
2.2.1 Nội dung thông tin về chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo
Đây là nội dung xuyên suốt, chiếm đến 64,6% trong tổng số tin, bài liên quan đến chính sách giảm nghèo trên sóng Đài truyền thanh cấp huyện trong tỉnh Cà Mau Trong đó, nội dung này chiếm 75% ở Đài Truyền thanh Cái Nước ( 209 tin, bài); 65% ở Đài Truyền thanh huyện Phú Tân ( 115 tin, bài) và 45% ở Đài Truyền
thanh huyện Thới Bình ( 66 tin, bài) (thể hiện trong Biểu đồ 2.1)
Trước hết là việc phổ biến và thực hiện các chủ trương, chính sách giảm nghèo: nhất là các chương trình lồng ghép giảm nghèo bền vững với xây dựng nông
thôn mới Nổi bật là các giải pháp thực hiện Quyết định 1722/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 53 của UBND tỉnh Cà Mau thực hiện Quyết định 1722/QĐ-TTg Trong đó, thông tin chủ yếu là phổ biến, thực hiện các chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi hộ nghèo, cận nghèo; chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất; công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm; hỗ trợ các điều kiện sản xuất và đời sống v.v
Các thông tin phần lớn được lồng ghép thông qua các chương trình hoạt động cụ thể, như: triển khai các giải pháp từ các cuộc hội nghị, chương trình hoạt động của các ngành, các đơn vị, địa phương…Ví dụ: tin “Hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn theo đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ,
(Mỹ Hằng, Đài Truyền thanh huyện Thới Bình, ngày 24/10/2019): “Thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 của Chính phủ; mục tiêu của Ban chấp hành Huyện Đoàn Thới Bình đưa ra là trong năm 2019 sẽ kết hợp đào tạo nghề cho 500 thanh niên; tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho 2.500 thanh thiếu niên; giới thiệu và giải quyết việc làm cho 450 thanh niên Đồng thời, nhận giúp đỡ 44 hộ nghèo và 24 hộ cận nghèo…” Qua đó, vừa tuyên truyền Quyết định
1956 đi vào cuộc sống, vừa phối hợp các ngành, các cấp thực hiện chương trình đào