Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Khmer có liên hệ với tiếng Việt ở một giới hạn chừng mực nào đó, để góp phần làm đa dạng hơn về văn hóa ngôn ngữ cũng như vấn đề giao tiếp và cách ứng xử
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi đến gia đình và quý thầy cô tại Khoa cũng như tại trường Tiếp theo, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến quý thầy cô Trường Đại Học Trà Vinh đặc biệt là quý thầy cô Khoa Ngôn Ngữ - Văn hóa – Nghệ Thuật Khmer Nam Bộ đã truyền đạt vốn kiến thức quý báo cho tôi trong khoảng thời gian học tập tại trường và đặc biệt hơn tôi xin chân thành cám ơn GVHD thầy Thạch Sa Phone đã tận tình hướng dẫn cùng các thầy cô trong Khoa đã cố gắng cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến đề tài, giúp tôi vượt qua những trở ngại và khó khăn trong lúc này để tôi hoàn thành tốt khóa luận, tiếp theo tôi xin chân thành cám ơn các bạn cùng lớp cũng như tất cả các bạn cùng khoa đã ủng hộ cổ vũ cho tôi
Vì cuộc sống con người chưa một lần hoàn hảo nên trong quá trình thực hiện
sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót, kính mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến để cho tôi rút ra được nhiều bài học, kinh nghiệm hơn nữa Những lời đóng góp, những bài học đó cũng chính là cái kinh nghiệm và cái hành trang giúp tôi thành công lớn nhất cho tôi sau này khi rời khỏi nhà trường và tiếp xúc với công việc mới mà không còn
bỡ ngỡ
Cuối lời tôi xin gửi lời chúc đến quý thầy cô luôn có nhiều sức khỏe, hạnh phúc và luôn đạt thành công trong sự nghiệp giảng dạy của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể 5
2.1 Mục tiêu chung 5
2.2 Mục tiêu cụ thể 5
3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu: 7
6 Đối tượng nghiên cứu 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 8
1.1 Khái niệm uyển ngữ 8
1.2 Phân biệt uyển ngữ với tiếng lóng và biện ngữ 9
1.2.1 Những điểm tương đồng và điểm khác biệt giữa uyển ngữ với tiếng lóng 9
1.2.1.1 Khái niệm tiếng lóng: 9
1.2.1.2 Điểm tương đồng 10
1.2.1.3 Điểm khác biệt 11
1.2.2 Phân biệt uyển ngữ với biệt ngữ 12
1.2.2.1 Khái niệm biệt ngữ: 12
1.2.2.2 Những điểm tương đồng 12
1.2.2.3 Những điểm khác biệt 12
1.3 Cơ sở hình thành và quá trình phát triển của uyển ngữ 13
1.3.1 Cơ sở hình thành 13
1.3.1.1 Nhu cầu xã hội 15
1.3.1.2 Nhu cầu tâm lý 16
1.3.1.3 Nhu cầu lễ phép, lịch sự 18
1.3.2 Qua trình phát triển 19
1.4 Nguyên tắc vận dụng uyển ngữ và hiệu quả sự dụng 20
1.4.1 Vận dụng từ vay mượn 20
1.4.2 Vận dụng từ trừu tượng 21
1.4.3 Vận dụng nguyên tắc biểu đạt gián tiếp 21
1.4.4 Vận dụng nguyên tắc trong ca dao tục ngữ 21
1.4.5 Vận dụng nguyên tắc cấu trúc tương đối dài và ngắn 22
1.5 Phân loại uyển ngữ 23
CHƯƠNG II CHỨC NĂNG VÀ PHẠM VI SỬ DỤNG CỦA UYỂN NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER 25
Trang 32.1 Chức năng của uyển ngữ trong đời sống người Khmer 25
2.1.1 Chức năng kiêng kỵ 26
2.1.2 Chức năng che giấu 27
2.1.3 Chức năng hài hước 29
2.1.4 Chức năng lịch sự 30
2.1.5 Chức năng châm biếm, mỉa mai 31
2.2 Các phạm vi sử dụng trong đời sống người Khmer 31
2.2.1 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến cách đặt tên cho con cái 32
2.2.2 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến chết chóc 32
2.2.2.1 Ảnh hưởng bởi tôn giáo 33
2.2.2.2 Ảnh hưởng bởi địa vị trong xã hội 34
2.2.2.3 Ảnh hưởng bởi tuổi tác 34
2.2.2.4 Ảnh hưởng bởi giới tính 35
2.2.2.5 Những từ ngữ thay thế cho từ chết để sử dụng chung cho tất cả đối tượng 35
2.2.2.6 Cái chết khi bị tai nạn hay do không may mắn 36
2.2.3 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến tang lễ 36
2.2.4 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến bệnh tật, những đều không may mắn, khiếm khuyết sinh lý 38
2.2.5 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến tính, sinh lý và bài tiết 41
2.2.6 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến sinh hoạt phụ nữ 44
2.2.7 Biểu đạt những vấn đề liên quan đến đồ dùng cá nhân 45
PHẦN III: KẾT LUẬN 47
KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ được coi là tài sản quí giá nhất và là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người, đặc biệt được các nhà nghiên cứu học trên thế giới quan tâm Con người chúng ta sử dụng ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng và truyền đạt thông tin nhằm mục đích hiểu và biết đối phương cần gì, muốn gì Tất cả các dân tộc trên thế giới nói chung và dân tộc Khmer nói riêng, thì mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, tiếng nói và nền
văn hóa riêng của họ
Xã hội không ngừng thay đổi đòi hỏi ngôn ngữ cũng phải thay đổi và phát triển sau cho phù hợp với thực trạng của xã hội Với sự phát triển không ngừng như thế đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải kịp thời nắm bắt những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ Trong bối cảnh hội nhập và phát triển như hiện nay thì tiếng Khmer ngày càng biến đổi sâu sắc, trong đó uyển ngữ cũng là một phần quan trọng trong tiếng Khmer
và là một hiện tượng đặt biệt, nó xuất hiện cùng với ngôn ngữ Dân tộc Khmer là một trong những dân tộc số đông theo đạo Phật, tin tưởng vào các vị thần linh nên có rất nhiều lễ hội, nghi lễ, phép tắt … Đặc điểm này được thể hiện rõ qua đời sống sinh hoạt, giao tiếp, cách ứng xử của họ hằng ngày Cũng chính vì nhu cầu giao tiếp là tất yếu nên họ luôn đề cập những câu ca từ liên quan đến vấn đề tế nhị, không tiện nói
ra, kiêng kỵ, né tránh hay sợ mất lòng người khác… cũng như người xưa có câu
“thuốc đắng giã tật sự thật mất lòng” Để thể hiện tính lịch sự với nhau, thể hiện lòng tôn kính đến các vị thần linh, nên họ thường dùng các câu ca từ ngữ uyển chuyển, nhẹ nhàng, dễ nghe để thay thế vào những vấn đề khó nói trực tiếp mà vẫn không làm mất đi nét nghĩa Những câu ca từ đó được các nhà nghiên cứu học Việt Nam gọi là
“Uyển ngữ” hay “Nhã ngữ”, dù nó có nhiều tên gọi khác nhau đi nữa nhưng các chức năng của nó vẫn không thể nhầm lẫn được với các chức năng của tiếng lóng hay biệt ngữ Từ xưa đến nay, uyển ngữ vẫn được sự dụng rộng rãi trong văn hóa giao tiếp của dân tộc Khmer Xã hội đã trải qua nhiều thời kì đổi mới, vì thế đều cần thiết là ngôn ngữ cũng phải đổi mới và phát triển để đáp ứng nhu cầu cần thiết của xã hội Bên cạnh đó uyển ngữ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ mà nó còn là hiện tượng văn hóa và nó chính là hiện tượng văn hóa thể hiện qua ngôn ngữ Những quan niệm của xã hội về văn hóa cũng như về đạo đức cách giao tiếp, tạo mối quan hệ với nhau trước những vấn đề tế nhị, đau buồn, khó nói… và đây cũng chính là nguyên
Trang 5nhân đã khích lệ cho uyển ngữ ra đời Theo chúng ta thấy uyển ngữ đã phản ánh rất
rõ về văn hóa, đạo đức và cách ứng xử của mỗi người trong cộng đồng xã hội đối với những sự vật hiện tượng tự nhiên có trong đời sống con người Uyển ngữ không chỉ
là vấn đề của ngôn ngữ học mà nó còn là vấn đề tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa của mình Khi một quốc gia hay một dân tộc phát triển hơn, văn minh hơn thì việc sử dụng uyển ngữ cũng cần nhiều hơn Cũng chính vì nhu cầu cần thiết của xã hội, vấn đề phát triển không ngừng của ngôn ngữ nói chung và uyển ngữ nói riêng đã thúc đẩy và là động lực tác động trực tiếp đến tôi nghiên cứu đề tài này Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Khmer có liên hệ với tiếng Việt ở một giới hạn chừng mực nào
đó, để góp phần làm đa dạng hơn về văn hóa ngôn ngữ cũng như vấn đề giao tiếp và cách ứng xử trong ngôn ngữ Đó chính là lý do mà tôi muốn nghiên cứu đề tài này
2 Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể
2.1 Mục tiêu chung
Xác định chức năng và phạm vi sử dụng uyển ngữ trong tiếng Khmer
2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định các chức năng của uyển ngữ trong tiếng Khmer
Xác định phạm vi sử dụng của uyển ngữ trong tiếng Khmer
3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Theo như chúng ta được biết về vấn đề Ngôn ngữ nói chung và Uyển ngữ nói riêng Có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, đặc biệt là các công trình liên quan đến uyển ngữ nhưng đa phần chỉ có công trình nghiên cứu uyển ngữ tiếng Việt còn trong tiếng Khmer rất khang hiếm
Điển hình là một số công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học:
Tác giả Nguyễn Đức Dân (2000), trong cuốn Ngữ dụng học, NXB Giáo dục Tác giả đã bàn về lối nói mang tính lịch sự, lối nói gián tiếp, giữ thể diện, cách dùng các đại từ sau cho phù hợp [1, tr 143-151]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2013), trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam Tác giả đã bàn về một số vấn đề liên quan đến uyển ngữ cũng như một số từ ngữ kiêng kỵ trong đời sống hằng ngày, ông nói sử dụng uyển ngữ với mục đích là giấu kín, làm cho ý nghĩa thích hợp hơn hoặc muốn diễn đạt tính lịch sự trang nhã, tránh dùng các từ gây ấn tượng về sự chết chóc, giữ bí mật trong chính trị quân sự [2, tr 81-84]
Trang 6Tác giả Nguyễn Thượng Hùng (2014), trong quyển Dịch thuật những tri thức cần thiết, NXB tri thức Tác giả cũng đã bàn luận về khái niệm của uyển ngữ là phương thức nói nhẹ đi, không gay gắt hoặc gián tiếp thay cho lối nói trực diện, sỗ sàng hoặc làm khó chịu [4, tr 296]
Bên cạnh đó tác giả còn bàn về vấn đề kiêng kỵ, lối nói tránh thô tục Đặc biệt hơn tác giả đã nhắc trong vấn đề dịch thuật, người dịch cần biết những kiêng kỵ trong nền văn hóa của văn bản gốc và nghĩa của uyển ngữ để chuyển đổi chúng sang ngôn ngữ người tiếp nhận, bằng những cách diễn đạt tương tự hay bách thủ pháp tu từ [4,
tr 435:438]
Tác giả Đinh Trọng Lạc (1994), trong cuốn 99 phương tiện và biển pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam Tác giả cho rằng uyển ngữ thuộc nhóm hoán
dụ, là hình ảnh tu từ trong đó người ta thay tên gọi một đối tượng (hoặc một hiện tượng) bằng sự miêu tả những dấu hiệu cơ bản của nó hoặc bằng việc nêu lên những nét đặc biệt của nó [4, tr 71-74]
Qua quá trình tham khảo một số công trình của tác giả cho ta thấy, trong phần nội của của tài liệu có khá rất nhiều vấn đề liên quan đến uyển ngữ và cũng rất bổ ít, cung cấp khá nhiều thông tin liên quan đến đề tài và là nền tảng cho việc nghiên cứu
đề tài của tôi Tuy nhiên những công trình này chỉ trình bày một cách chung chung
về các khái niệm cũng như về các từ ngữ kiêng kỵ Chưa phân định rõ về các yếu tố liên quan đến uyển ngữ như: quá trình phát triển, phân loại, chức năng và phạm vi sử dụng của uyển ngữ, đều cần thiết nhất là cần làm rõ thêm một số vấn đề mới mẽ hơn cho công trình nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu tốt về đề tài tôi chọn một số phương pháp nghiên cứu như:
- Tìm kiếm tài liệu: đọc, ghi chép và tìm hiểu tất cả các vấn đề, các tài liệu
có liên quan đến đề tài để làm nền tảng
- Khảo sát, thăm dò: phỏng vấn các vị Sư, Kru Achar là người học cao hiểu rộng để lấy thêm thông tin liên quan đến đề tài
- So sánh đối chiếu giữa uyển ngữ với biệt ngữ và tiếng lóng
- Phân tích ngôn ngữ, từ vựng
Trang 75 Phạm vi nghiên cứu:
Thu thập ngữ liệu trong các lĩnh vực thuộc phạm vi sinh hoạt gần gũi hằng ngày của con người
6 Đối tượng nghiên cứu
Uyển ngữ trong tiếng Khmer
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm hai chương
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Trong chương này tôi trình bày một cách khái quát về lý thuyết liên quan đến
đề tài, đặc biệt là khái niệm, một số nhu cầu cần thiết tác động trực tiếp lên ngôn ngữ làm cho uyển ngữ xuất hiện và phát triển để đáp ứng theo thực trạng của xã hội Bên cạnh đó liên hệ từ tài liệu tiếng Việt, tôi chia uyển ngữ theo mặt ngữ nghĩa học thành năm loại chính khác nhau
CHƯƠNG II: CHỨC NĂNG VÀ PHẠM VI SỬ DỤNG CỦA UYỂN NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER
Uyển ngữ hay nhã ngữ cũng chính là những câu ca từ uyển chuyển, nhẹ nhàng, nói giảm nói tránh hay nói cách khác hơn, nó là những từ kiêng kỵ Uyển ngữ là một hiện tượng văn hóa ngôn ngữ Qua kết quả nghiên cứu cho ta thấy, uyển ngữ liên quan đến một số lĩnh vực quan trọng như: văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo…, kết quả nghiên cứu của chương hai giúp chúng ta biết được một số chức năng của nó cũng như về phạm vi sử dụng, biểu đạt những vấn đề liên quan đến chết chóc, sinh lý hay sinh hoạt của phụ nữ…
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm uyển ngữ
Về ngôn ngữ thực chất vẫn chưa có sự đồng nhất về mặt khái niệm nói chung
và khái niệm của “uyển ngữ” nói riêng Theo một số tài liệu cho ta thấy vẫn có nhiều khái niệm khác nhau khi nói về ngôn ngữ thông qua sự hiểu biết và sự tri nhận của mỗi nhà ngôn ngữ, mỗi dân tộc Vì uyển ngữ là một khía cạnh của ngôn ngữ, muốn nghiên cứu về uyển ngữ thì cần phải tìm hiểu một số vấn đề cơ bản sơ bộ về ngôn ngữ để làm nền tảng cho từng bước nghiên cứu về đề tài của tôi Sau đây là một số khái niệm về uyển ngữ
Theo định nghĩa của GS Hoàng Phê trong quyển Từ điển tiếng Việt cho Rằng:
“Uyển ngữ là phương thức nói nhẹ đi, thay cho lối nói có thể bị coi là sỗ sàng, làm
xúc phạm, làm khó chịu” [8, tr 1380]
Theo Nguyễn Thượng Hùng trong cuốn Dịch thuật những tri thức cần thiết lại
cho rằng: “Uyển ngữ là phương thức nói nhẹ đi, không gay gắt hoặc gián tiếp thay
cho lối nói trực diện”
Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
tác giả cho rằng: “Uyển ngữ thuộc nhóm hoán dụ, là hình ảnh tu từ trong đó người ta
thay tên gọi một số đối tượng (hoặc một hiện tượng) bằng sự miêu tả những dấu hiệu
cơ bản của nó, hoặc bằng việc nêu lên những nét đặc biệt của nó Uyển ngữ tăng cường tính tạo hình cho lời nói vì nó không chỉ gọi tên đối tượng mà còn miêu tả đối tượng [7, tr 71]
Theo tôi: Uyển ngữ là phương thức nói nhẹ đi, uyển chuyển, dễ nghe, lịch sự thay cho lối nói thô tục, sỗ sàng, xúc phạm và làm khó chịu người nghe
Riêng về tài liệu nói về khái niệm của uyển ngữ trong tiếng Khmer thì tôi vẫn chưa thấy một tài liệu nào trong tủ sách thư viện khi nói đến uyển ngữ trong tiếng Khmer
Tuy nhiên như thế theo từ (បង្វែរន័យ), thì tôi cắt nghĩa theo từ điển của Tăng Thống Chuôn Nath dịch từ បង្វែរ គឺធ្ែើឲ្យង្ែរ ឲ្យង្បរ បំង្បរត្រឡប់ឲ្យែិញ ធ ើក
Trang 9ង្តែកធែរឲ្យធៅធ ើង្រមួយៗ (làm cho chuyển, dịch chuyển), nếu để từ បង្វែរ+ន័យ từ ន័យ được dịch là (nghĩa), nếu thế kết hợp lại hai từ đó với nhau thì tôi tạm dịch là làm cho chuyển nghĩa, làm cho dịch chuyển nghĩa, nhưng trong trường hợp này thì không những chuyển nghĩa mà có một số từ phải chuyển cả từ vựng
Như vậy theo nghĩa của từ đó trong tiếng Khmer và dịch theo nghĩa của tiếng Việt thì nó khác so với một số khái niệm mà tôi chọn, nhưng theo tôi thì đó cũng là cách dùng một số từ khác để thay thế, làm chuyển nghĩa nó nhầm mục đích phục vụ trong giao tiếp
Ví dụ: Cái đầu heo khi lấy đi cúng cho Neakta thì người ta thay tên gọi bằng từ មួយ កំណារ់ (một khúc), những người đi biển đánh cá hay gọi là ngư nghiệp, khi ăn cá hết một bên thì họ không cho lật ăn thêm một bên nữa nếu muốn lật thì phải biết cách hoặc người ta phải nói từ ត្រឡប់ង្តនដី (lật trái đất) để thay cho từ ត្រឡប់ត្រី, tuy nhiên như vậy, nhưng tùy theo vùng, miền mà họ sử dụng từ khác nhau để thay thế không nhất thiết phải sử dụng từ đó Lên núi khi bị mệt thì người ta cho nói là សុខ សបាយ (vui) ស្សួ (khỏe) ង្ខែ (khỏe) ញុំណាស់ (đã lắm), để thay thế cho một
số từ không may mắn Đặc biệt hơn là khi đi vô rừng hay leo núi thì cấm tuyệt đối nhắt đến các loại thú dữ hay những đều không may mắn, nếu muốn nhắc phải dùng
từ khác để nhắc: ឆ្មាព្ត្ៃ (mèo rừng, mèo hoang), thay cho từ សរែខ្លា (con hổ)
1.2 Phân biệt uyển ngữ với tiếng lóng và biện ngữ
1.2.1 Những điểm tương đồng và điểm khác biệt giữa uyển ngữ với tiếng lóng
1.2.1.1 Khái niệm tiếng lóng:
Theo Nguyễn Khang trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội cho rằng: “Tiếng lóng
được coi là ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội hoặc một nghề nghiệp có tổ chức gồm các yếu tố của một hoặc một số các ngôn ngữ tự nhiên đã được chọn lọc vả biến đổi đi nhằm tạo ra sự cách biệt ngôn ngữ với những người không liên đới (Đái Xuân Ninh, 1986)” [6, tr 117]
Trang 10Ví dụ: Hốt (lấy liền), bỉ, đượi (gái mại dâm)
Theo Nguyễn Thiện Giáp trong quyển 777 Khái niệm Ngôn ngữ học thì lại
cho rằng: “Là những biệt ngữ mang nghĩa xấu” [3, tr 410]
Tuy nhiên như thế theo ông thì tiếng lóng vẫn được sự dụng trong nhóm học sinh, sinh viên và binh lính…
Ví dụ: 1 điểm thì gọi cây gậy, tài liệu coppy thì gọi là phao, đạn, bạn thân thì gọi là cốt
Theo Hoàng Phê trong quyển Từ điển tiếng Việt cho rằng: Tiếng lóng là cách
nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, nhằm chỉ
để cho trong nội bộ hiểu được với nhau mà thôi Tiếng lóng của kẻ cắp
Theo tôi cho rằng: Tiếng lóng là ngôn ngữ riêng dành cho một nhóm người nào đó trong xã hội hoặc một nghề nghiệp có tổ chức, đặc biệt là giới trẻ hiện nay
Sử dụng với một mục đích chung để che giấu bí mật của họ
Ví dụ: Hàng nặng (súng), hàng (ma túy), xoạc (quan hệ tình dục) bơm hàng (đặt hàng
mà không mua) Soái ca (trai đẹp)
1.2.1.2 Điểm tương đồng
Nói chung về nội dung của “uyển ngữ’ và “tiếng lóng” thì chỉ có một vài nét
có sự tương đồng với nhau Xét cho cùng thì cả hai đều không nói trực tiếp hay mang
ý nghĩa trực tiếp, sử dụng các câu từ để thay thế những từ mà mình muốn nói đến với mục đích biểu đạt che đậy một số vấn đề gì đó khi không muốn nhắc đến trong khi giao tiếp, hoặc muốn giữ bí mật với người khác Nói chung uyển ngữ hay tiếng lóng
nó đều không có ngữ âm hoặc ngữ pháp riêng của nó, nếu có thì cũng chỉ là phương thức tạo ra từ mà thôi
Ví dụ trong tiếng lóng: Ma túy được thay bằng từ hàng Súng được thay bằng hàng nặng, tài liệu coppy được thay bằng phao hay đạn, hạ thủ được thay cho từ móc túi dưới, triệt tiêu thay cho từ giết
Ví dụ trong uyển ngữ: Quan hệ tình dục trước khi cưới thì được thay bằng từ ăn cơm trước kẻng (ទុំមុនស្សគា ) Khi các thiếu nữ của người Khmer bị mất trinh trước khi cưới thì được thay bằng từ ង្បកកអម, trinh tiết của phụ nữ thì gọi là ត្ៃហ្ា ចារី