1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cách tri nhận của người khmer qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm lý (tt)

14 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 308,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những năm 1970 trở lại đây, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước.. Thực trạng này có nguyên nhân từ cách tri n

Trang 1

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nội dung triển khai nghiên cứu. 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

5.2.Phạm vi nghiên cứu: 3

6 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng 4

7 Kết cấu khóa luận 4

II PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Khái niệm từ, ngữ, từ ngữ chỉ trạng thái tâm lý 5

1.2 Một số vấn đề về nghía của từ 8 1.3 Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ học tri nhận 9

CHƯƠNG 2 22

CÁCH TRI NHẬN VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÝ TRONG TIẾNG KHMER 23

2.1 Cách tri nhận các trạng thái tâm lí của người Khmer 23

2.2 Phương thức biểu đạt nghĩa từ ngữ chỉ trạng thái tâm lý của người Khmer 30

KẾT LUẬN 37

PHỤ LỤC TỪ 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 2

I PHẦN MỞ ĐẦU

Trong chính sách ngôn ngữ, Đảng và Nhà nước ta dành nhiều sự ưu ái cho việc tạo điều kiện thuận lợi để bảo tồn và phát huy văn hóa, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Thế nhưng, việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số chưa đạt được nhiều thành tựu như mong muốn Từ những năm 1970 trở lại đây, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước Tuy nhiên, các ngôn ngữ này chưa được tập trung nghiên cứu một cách toàn diện; thực tế, mỗi ngôn ngữ chỉ mới được xem xét một vài vấn đề nào đó của nó Như vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, ngoài ý nghĩa khoa học còn có một ý nghĩa nhân văn sâu sắc: góp phần bảo tồn và phát huy ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung Và ngôn ngữ Khmer hiện nay đã có nhiều nhà ngôn ngữ đã và đang nghiên cứu nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ này còn khá là ít so với các ngôn ngữ khác trên thế giới, đa số chỉ tập trung nghiên cứu về phương ngữ, ngữ pháp, ngữ âm hay ngữ nghĩa Nhưng trong đời sống hằng ngày của chúng ta có một nhóm từ mà chúng ta luôn sử dụng đến rất thường xuyên mà không được chú ý, những từ này thường biểu đạt tâm trạng, cảm xúc, tâm

lý của chúng ta Nhưng ít ai biết được những từ này là từ ngữ thuộc nhóm nào, nó được kết hợp như thế nào để ra từ đó, và người xưa đã tri nhận nó như thế nào để có được từ đó Bởi tính tò mò muốn hiểu thêm về nhóm từ này nên em đã chọn làm đề tài là “cách tri nhận của người Khmer qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm lý” này

Mặt khác, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer, nhiều từ chưa có sự tương đương về nghĩa cũng như ngữ dụng Thực trạng này có nguyên nhân từ cách tri nhận của hai dân tộc Khmer, Việt cũng như cách biểu đạt nghĩa của từ.Điều này đã gây không ít khó khăn cho sinh viên chúng tôi trong việc chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ, đặc biệt đối với nhóm từ mà nghĩa của chúng khá trừu tượng như lớp từ ngữ chỉ trạng thái tâm lý.Vì vậy, nếu đề tài của chúng tôi được thực hiện sẽ góp phần tạo cơ sở cho việc lựa chọn đơn vị tương đương trong biểu đạt

Vậy người Khmer đã tri nhận các trạng thái tâm lý như thế nào? Và phương thức biểu đạt nghĩa từ ngữ của họ như thế nào?

Trang 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong tỉnh

Qua tìm hiểu chúng tôi chưa thấy có công trình nghiên cứu trong tỉnh nào liên quan đến đề tài cách tri nhận của người Khmer qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm

2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài tỉnh

Một số công trình nghiên cứu liên quan nhóm từ chỉ trạng thái tâm lý:

Nguyễn Ngọc Trâm (1991), trong đặc trưng ngữ nghĩa-ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí-tình cảm trong tiếng Việt, Hà Nội Tác giả đã mô tả đặc trưng ngữ nghĩa-ngữ pháp của các từ biểu thị tâm lí tình cảm, phân loại các từ tâm lí tình cảm thành ba góc độ khác nhau: tâm lí học, phạm trù ngữ nghĩa và cấu trúc nghĩa vị Phân tích và giải thích bản chất từ loại của các từ tâm lí tình cảm và các mối quan

hệ ngữ nghĩa Tìm hiểu chức năng biểu thị tình thái của các tâm lí tình cảm

Vũ Đức Nghiệu (2007), báo cáo “ Những đơn vị từ vựng biểu thị tâm lí, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt” chủ yếu nghiên cứu phân tích những từ ngữ biểu thị tâm lí, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể

người

Nguyễn Đình Mỹ Giang (2014), “Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ cảm xúc, thái

độ trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng” đã nêu lên những đặc điểm của nhóm

từ chỉ tình cảm, cảm xúc trong tiếng Việt và cũng đã đánh giá rằng trong thực tế sử dụng tiếng Việt, có một số lượng các đơn vị tương đương, đó là từ phái sinh, các ngữ đoạn cố định và lâm thời được biểu thị ý nghĩa tâm lí, tình cảm, trong đó có những ngữ đoạn đặc trưng tư duy và giao tiếp của người Việt

Vương Di Giảo (2016), “Đối chiếu nhóm từ Hán Việt chỉ tâm lí, tình cảm trong tiếng Việt và tiếng Trung”, đã chỉ ra được những sự tương đồng và khác biệt rõ ràng

giữa đặc điểm từ loại và đặc điểm cú pháp

Trần Thị Thùy Oanh (2016), Báo cáo tổng kết đề tài khoa học “Nghiên cứu ngữ nghĩa của các động từ chỉ sự tri giác bằng giác quan trong tiếng Anh trên bình diện ngôn ngữ học tri nhận (đối chiếu tiếng Việt)” chỉ nói đến cơ sở lý luận về ngôn ngữ học tri nhận, đặc tính của động từ chỉ sự tri giác bằng giác quan trong tiếng Anh và

Trang 4

có đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của các động từ chỉ sự tri giác bằng các giác quan

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Liêu Thị Thanh Nhàn (2017), trong Tạp chí khoa học – Đại học Huế “Hoán dụ ý niệm bộ phận cơ thể người biểu trưng cho tính cách và tư duy trong tục ngữ tiếng Hán” cũng có nói liên quan đến tri nhận nhưng chỉ nói đến điển mẫu, hoán dụ ý niệm của một số yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ của người Hán, nên

cũng chưa nói sâu về cách tri nhận

Như vậy, qua việc khái quát trên cho thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu về đối chiếu các từ ngữ chỉ tâm lí, tình cảm giữa tiếng Việt và tiếng Khmer trên cơ sở ngôn ngữ học tri nhận theo hướng phân tích đối chiếu giữa hai ngôn ngữ và đặc biệt

là trong tiếng Khmer vẫn chưa thấy công trình nghiên cứu về tiếng Khmer vì vậy

em đã chọn đề tài “cách tri nhận của người Khmer qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm lý”, đây cũng là tài liệu cho những người quan tâm đến và cũng góp phần bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số cũng như góp phần thực hiện chủ trương chính sách ngôn ngữ của Đảng và nhà nước ta

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo tìm hiểu của chúng tôi thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến đề tài cách tri nhận của người Khmer qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm lý

3 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về cách tri nhận, phương thức biểu đạt nghĩa qua lớp từ chỉ trạng thái tâm lí trong tiếng Khmer

4 Nội dung triển khai nghiên cứu

Mô tả cách tri nhận và phương thức biểu đạt nghĩa của người Khmer qua lớp

từ chỉ trạng thái tâm lý

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhóm từ chỉ trạng thái tâm lí trong tiếng Khmer

5.2.Phạm vi nghiên cứu:

Mô tả, phân tích cách tri nhận Khmer và cách biểu đạt nghĩa của từ thể hiện qua nhóm từ chỉ trạng thái tâm lí

Trang 5

6 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được dùng trong nghiên cứu những cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài, nghiên cứu nguồn tài liêu để thu thập ngữ liệu

- Phương pháp liệt kê: được dùng trong dùng trong việc lập bảng liệt kê ngữ liệu đã thu thập được

- Phương pháp mô tả, phân tích: được dùng trong mô tả, phân tích cách tri nhận và phương thức biểu đạt nghĩa của người Khmer qua lớp từ ngữ tâm lý, tình cảm

7 Kết cấu khóa luận

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương này khái quát về trạng thái tâm lý, một số vấn đề về ngôn ngữ học

tri nhận như sự tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận, các nguyên lý cơ bản của ngôn

ngữ học tri nhận

Chương 2: Cách tri nhận và phương thức biểu đạt nghĩa từ ngữ chỉ tâm lý trong

tiếng Khmer

Chương này nói về cách tri nhận các trạng thái tâm lý trong tiếng Khmer và

những phương thức biểu đạt nghĩa từ ngữ chỉ trạng thái tâm lý của người Khmer

Cuối cùng là phần kết luận, bảng phụ lục từ và tài liệu tham khảo

Trang 6

II PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm từ, ngữ, từ ngữ chỉ trạng thái tâm lý

1.1.1 Khái niệm từ

Ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ là từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên các

sự vật, hiện tượng của thực tế; còn ngữ âm thuộc vào ngoại biên về chất liệu vì nó trực tiếp được lĩnh hội bởi giác quan của con người So với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có tính chất cụ thể Nó chỉ liên hệ với thực tế không qua từ vựng, chỉ lĩnh hội được thông qua ngữ âm Vì vậy, ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ [3, tr.60]

Nếu chiết tự, vựng là một yếu tố gốc Hán, có nghĩa là sưu tập, tập hợp, do đó, từ vựng sẽ là sưu tập, tập hợp các từ của ngôn ngữ Trong thực tế nội dung của khái niệm này rộng hơn Nó không chỉ bao gồm các từ mà còn bao gồm cả các ngữ, tức

là những cụm từ cụm từ sẵn có, tương đương với từ, chẳng hạn các thành ngữ tiếng Việt như: nước đổ lá khoai, mẹ tròn con vuông, xanh vỏ đỏ lòng,… Tuy nhiên, trong các đơn vị từ vựng, từ là đơn vị cơ bản Ngữ không phải là đơn vị từ vựng cơ bản vì nó do các từ cấu tạo nên, muốn có các ngữ, trước hết phải có các từ [3, tr.60] Vậy từ là gì? Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ Chính các từ đã biến đổi và kết hợp ở trong câu theo quy luật ngữ pháp của ngôn ngữ Mặc dù từ luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của một ngôn ngữ, nhưng khái niệm này rất khó định nghĩa Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ) ;

có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ) ;

có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ), có từ có kết

Trang 7

cấu nội bộ, có từ không có kết cấu nội bộ, có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi, v.v… Vì vậy, không

có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Nói chung, không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc,

có thể chấp nhận định nghĩa như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập

về ý nghĩa và hình thức [3,tr.60-61]

1.1.2 Khái niệm ngữ

Ngữ là cụm từ sẵn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ:

 Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ

 Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng có thể là cơ sở

để cấu tạo các từ mới

 Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người

 Tính cố định và tính thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ [3,tr.71]

1.1.3 Trạng thái tâm lý

Trạng thái tâm lý là gì ?

Là đặc điểm của hoạt động tâm lý trong những khoảng thời gian ngắn được gây nên bởi hoàn cảnh bên ngoài (hoặc do cảm giác con người ảnh hưởng đến hành vi con người trong thời gian đó) [13, tr.7]

- Là những từ chỉ sự tồn tại, trạng thái của một vật về những mặt ít nhiều đã ổn định không đổi

VD: khóc, cười, vui, buồn,…

Các trạng thái tâm lý: Trạng thái vui, trạng thái buồn, trạng thái tức giận, trạng thái yêu, trạng thái ghét,…

1.2 Một số vấn đề về nghĩa của từ

Nghĩa của từ thuộc về bình diện tinh thần nên là một khái niệm khó có được định nghĩa chính xác Xung quanh vấn đề nghĩa của từ, có nhiều khái niệm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài và trong nước đưa ra [5, tr.8]

Trang 8

A.I.Sminiski quan niệm: nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lý tương tự về tính chất hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng lẻ của thực tế) nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ [5, tr.8]

Trong ngôn ngữ học hiện đại, quan điểm coi nghĩa của từ là chính cái sự vật hiện tượng… mà từ biểu thị đã bị phản bác P.H Nowell – Smith đã chỉ ra: “Nói rằng từ có ý nghĩa không phải chính là nói từ biểu thị một cái gì đó, còn có ý nghĩa

gì thì không phải là nói nó biểu thị cái gì” Còn L.Wittgenstein khẳng định: “Gọi vật tương ứng với từ là ý nghĩa thì cách dùng này của từ ý nghĩa mâu thuẫn với các quy tắc ngôn ngữ Điều này có ý nghĩa lẫn lộn ý nghĩa tên gọi với cái mang tên gọi; khi nói ngài NN chết thì người ta có ý nói người mang tên này đã chết chứ không phải ý nghĩa của tên gọi đã chết Mặc khác, trong vốn từ của một ngôn ngữ có nhiều loại từ khác nhau và nghĩa của chúng cũng khác nhau Cách định nghĩa của từ như nêu trên chỉ mới có thể có vẻ phù hợp với các thực từ chủ yếu gồm các danh từ, động từ và tính từ,…có nghĩa cụ thể Còn những từ loại khác như: đại từ, cảm từ, hư từ,…thì nghĩa của chúng không lọt vào các định nghĩa như thế” [5, tr.8-9]

Vì từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng

là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản như:

1.2.1 Nghĩa sở chỉ

Đó là quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là những sự vật mà còn là các quá trình, tính chất, hoặc hiện tượng thực tế nào đó Những sự vật, quá trình, tính chất, hoặc hiện tượng mà từ biểu thị được gọi là cái sở chỉ của từ Mối quan hệ của từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ [3, tr.79]

1.2.2 Nghĩa sở biểu

Đó là quan hệ của từ với ý, tức là với khái niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ được gọi là cái sở biểu và quan

hệ giữa từ với cái sở biểu được gọi là nghĩa sở biểu Thuật ngữ ý nghĩa, thích hợp nhất là dùng để chỉ nghĩa sở biểu [3, tr.79]

Trang 9

Cái sở biểu và cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau Cái sở biểu chính là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người Tuy nhiên giữa cái sở biểu và cái sở chỉ vẫn có sự khác nhau rất lớn Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau vì nó có quan hệ với cả một lớp hạng đối tượng trong thực tế Ngược lại, một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau, bởi

vì sự vật, tùy theo đặc trưng của mình, có thể tham gia vào một số lớp hạng khác nhau, bắt chéo lẫn nhau Chẳng hạn, cùng một người, có thể là bố, là thanh niên, là giáo viên, là bộ đội, v v…[3, tr.80]

Nghĩa sở chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói Nó không có tính ổn định, bởi vì bản thân mối quan hệ của từ với cái sở chỉ có thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể [3, tr.80]

Quan hệ giữa ngữ âm của từ với cái sở biểu, tức là nghĩa sở biểu của từ đó, trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định là cái có tính chất ổn định Vì vậy nghĩa sở biểu thuộc vào hệ thống ngôn ngữ Khi nói đến ý nghĩa hay nghĩa từ vựng của các từ, trước hết người ta muốn nói đến chính cái nghĩa này [3, tr.80]

1.2.3 Nghĩa sở dụng

Đó là quan hệ của từ với người sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc) Người sử dụng ngôn ngữ hoàn toàn không thờ ơ đối với từ ngữ được dùng Họ có thể bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình với từ ngữ và qua đó tới cái sở chỉ và cái sở biểu của từ ngữ Quan hệ của từ với người sử dụng được gọi là nghĩa

sở dụng [3, tr.80]

1.2.4 Nghĩa kết cấu

Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác Quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống được gọi là nghĩa kết cấu Nghĩa sở chỉ và nghĩa sở biểu trong các ngôn ngữ điều có quan hệ với việc nhận thức hiện thực khách quan Nhưng sự hình thành của những cái sở biểu lại được diễn ra trên cở sở ngôn ngữ, bằng những phương tiện ngôn ngữ có sẵn cho nên có thể đạt đến các cái sở biểu bằng những con đường khác nhau, bởi vì bản thân quá trình nhận thức được thực hiện bằng những biện pháp ngôn ngữ khác nhau Khi các biện pháp ngôn ngữ thay đổi thì cái sở biểu cũng thay đổi Chính vì vậy, cái

sở biểu của những từ tương ứng trong các ngôn ngữ không hoan toàn giống nhau

Trang 10

Sự khác nhau là do quan hệ nội tại lẫn nhau giữa các từ trong từng ngôn ngữ qui định [3, tr.80]

Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và trục ngữ đoạn Quan hệ của từ với các từ khác trên trục đối vị được gọi là nghĩa khu biệt hay giá trị Quan hệ của từ với từ khác trên trục ngữ đoạn được gọi là nghĩa cú pháp hay ngữ trị Nghĩa cú pháp hay ngữ trị của từ chính là khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp cú pháp của từ đó Khả năng kết hợp từ vựng là khả năng kết hợp của các nghĩa, còn khả năng kết hợp cú pháp là khả năng dùng các từ trong những cấu trúc nào đó [3, tr.81]

1.3 Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ học tri nhận

1.3.1 Sự tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận

Tri nhận là quá trình khách thể tác động lên chủ thể, là quá trình não bộ thực hiện việc điều chỉnh, nhận thức lại về thế giới khách quan, tức là quá trình não người thực hiện các thao tác xử lí về thế giới khách quan và các quan hệ của nó (cảm giác, tri giác, biểu tưởng, ý niệm hóa, phạm trù hóa,…), qua đó nhận thức một cách sống động về thế giới Tri nhận chính là quá trình tổ chức các trải nghiệm về thế giới khách quan bằng các hoạt động tâm lí, ý niệm hóa, cấu trúc hóa chúng.Tri nhận có trước ngôn ngữ.Giai đoạn tiền ngôn ngữ đã có tri nhận Trước khi có ngôn ngữ, con người ghi nhớ và truyền đạt tư tưởng nhờ vào những phương tiện như tay,

vẽ hay thắt nút thừng Do đó, những nghiên cứu tri nhận liên quan đến tất cả các quá trình tinh thần, nhờ nó mà một sinh vật hiểu biết về đối tượng của tư duy hoặc thu được sự hiểu biết về môi trường của nó.Vì biểu tưởng biểu trưng của một vật là phương tiện quan trọng của sự hiểu biết, cho nên ngôn ngữ tạo thành đối tượng chính để khảo sát cách tiếp cận tri nhận [4, tr.203-204]

Ngôn ngữ học tri nhận là một cách tiếp cận ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm của chúng ta về thế giới và cách thức mà chúng ta tri giác và ý niệm hóa thế giới.Bản thân hoạt động tri nhận khó có thể quan sát được cho nên ngôn ngữ trở thành cửa sổ quan sát và nghiên cứu tri nhận Từ năm 1980, càng ngày càng có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến việc nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề: Làm thế nào con người có thể nhận thức về thế giới cũng như làm thế nào hình thành được khái niệm; làm thế nào có thể biểu hiện khái niệm bằng ngôn ngữ; ngôn ngữ phản

Ngày đăng: 07/08/2021, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm