Mục đích của nó là để cách mạng hóa ngành công nghiệp thông qua các "nhà máy thông minh" sẽ cho phép sự linh hoạt hơn trong nhu cầu sản xuất, phân bổ nguồn lực hiệu quả, và tích hợp các
Trang 1UNIVERSITY OF ECONOMICS HO CHI MINH CITY
*********
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN HỌC: QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH
BÀI THI KẾT THÚC MÔN:
HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH
TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC
DẦU KHÍ TRONG THỜI ĐẠI 4.0
Giảng viên: Thầy PGS-TS Hồ Tiến Dũng Học viên thực hiện: Lê Đăng Thanh Lớp: CH30.2_DC_AD_BRVT
TP HỒ CHÍ MINH – 2021
Trang 2Lời cảm ơn
Thông qua môn học này, em xin gửi lời cảm ơn Thầy PGS-TS Hồ Tiến Dũng
là giảng viên môn học này, đã chia sẻ về những thực tiễn áp dụng kèm vào nội dung của môn học này, qua môn học với những nội dung bổ ích và kiến thức phong phú đã mở rộng thêm kiến thức và tư duy cho em, môn học đã góp phần rất quan trọng để áp dụng cho công việc thực tiễn tới tận sau này.
Kết lời, em xin kính chúc Thầy PGS-TS Hồ Tiến Dũng giàu sức khỏe và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Học Viên
Lê Đăng Thanh
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỜI ĐẠI 4.0 4
1.1 Công nghiệp thời đại 4.0 4
1.2 Một số lợi ích của công nghiệp 4.0 4
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 6
2.1 Giới thiệu về công ty 6
2.2 Sơ đồ tổ chức 7
2.3 Chức năng nhiệm vụ phòng tài chính – kế toán 7
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 4.0 VÀO TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 9
3.1 Tác động của bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0 đến nghề kế toán, kiểm toán 9
3.2 Những thuận lợi và khó khăn của bộ phận Kế toán trong cuộc CMCN 4.0 10
3.3 Giới thiệu về hệ thống ứng dụng 12
3.4 Tổng quan 12
3.5 Chỉ số năng lực cung cấp thông tin của hệ thống kế toán 14
3.6 Sự tiên tiến của công nghệ thông tin 14
3.7 Am hiểu công nghệ thông tin của Ban giám đốc 14
3.8 Kết quả đạt được 15
3.9 Khảo sát am hiểu thực tế về công nghệ thông tin của Ban giám đốc 17 Đánh giá & đề xuất
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỜI ĐẠI 4.0
1.1 Công nghiệp thời đại 4.0
Tác động qua lại của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là Internet of Things (IoT) trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau đã trở thành một hiện tượng mà các chuyên gia đã coi đó là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Công nghiệp 4.0 hoặc I4.0 Mục đích của nó là để cách mạng hóa ngành công nghiệp thông qua các "nhà máy thông minh" sẽ cho phép sự linh hoạt hơn trong nhu cầu sản xuất, phân bổ nguồn lực hiệu quả, và tích hợp các quá trình; từ giám sát thiết bị đến phân phối, thông qua việc sử dụng các công nghệ như tích hợp của hệ thống vật lý không gian mạng - Cyber-Physical Systems (CPS), Internet of Things (IoT) và Internet of Services (I S), và tương tác thời gian thực giữa máy móc, phần mềm và cá nhân.
Do những bước nhảy công nghệ gần đây và tốc độ đổi mới, ngành công nghiệp phải đối mặt với những thay đổi mô hình, còn gọi là các cuộc cách mạng công nghiệp (Lasi và cộng sự, 2014).
Ngành công nghiệp 4.0 là một phân lớp của sự chuyển đổi số trong các doanh nghiệp hiện tại và các quy trình (Porter, M.E và cộng sự, 2016).
Nó được đặc trưng bởi việc thực hiện các hệ thống vật lý không gian mạng (CPS), và sản xuất thông minh (Shamim, S và cộng sự, 2016).
Khái niệm Công nghiệp 4.0 là một sự kiện hợp nhất, và trở thành một cột mốc mới trong phát triển công nghiệp, chắc chắn sẽ đặt ra những thay đổi đáng kể trong cách sản xuất và thương mại trong những năm tới Cuộc cách mạng này được hỗ trợ bởi sự phát triển của các hệ thống chuyển các lợi thế phổ biến của Internet và hệ thống thông tin đối với hệ thống vật lý; cốt lõi của cuộc cách mạng là sự tương tác của các hệ thống số với các hệ thống sản xuất vật lý Công nghiệp 4.0 sẽ cung cấp sự linh hoạt và tính mạnh mẽ tuyệt vời cùng với các tiêu chuẩn chất lượng cao nhất trong các quy trình kỹ thuật, quản lý, sản xuất, vận hành và hậu cần Nó sẽ phát huy các chuỗi giá trị động, tối ưu hóa trong thời gian thực và với một tổ chức tự động hóa, sẽ xem xét các biến số khác nhau như chi phí, khả năng thanh toán và sử dụng các nguồn lực và nhu cầu thị trường Sự thay đổi mô hình này tạo ra một cơ hội phát triển vượt bậc về sản xuất, công nghệ thông tin và truyền thông.
1.2 Một số lợi ích của công nghiệp 4.0
Công nghiệp 4.0 không chỉ nói về các hệ thống kết nối; các thiết bị và máy móc tự động liên lạc với nhau trong sản xuất, công nghiệp 4.0 còn nhiều lợi ích hơn nữa Nó mang lại giá trị thực sự cho các ngành sản xuất và mở ra những khả
Trang 5năng mới về chất lượng, độ tin cậy và hiệu quả Dưới đây là các lợi ích đáng kể nhất của công nghiệp 4.0 liên quan đến hệ thống kết nối
và tạo ra hiệu quả trong sản xuất, cũng như trong công tác quản lý.
- Quản trị trong thời đại 4.0 được ứng dụng trong hầu khắp các khía cạnh từ
kế toán, kiểm toán, kinh doanh, quản trị nhân sự đến chăm sóc khách hàng Công nghệ cho phép các nhân viên trong công ty có thể liên lạc, trao đổi và làm việc với nhau dễ dàng hơn Tạo ra môi trường làm việc công nghệ chuyên nghiệp, hiện đại và thuận lợi hơn.
- Kiểm soát quy trình: Sự kết nối mang lại những quan điểm mới về cách một nhà máy được vận hành, nâng cao hiệu quả Các công ty có thể phân tích dữ liệu và cung cấp thông tin có ý nghĩa ở đâu và khi nào là cần thiết nhất Họ cũng có thể kiểm soát hiệu suất của các nhà khai thác.
- Các thông số chuẩn: Công nghiệp 4.0 cho phép các công ty tạo ra một hệ thống sản xuất thông minh và thống nhất bằng cách kết nối nhiều nhà máy với nhau Điều này có nghĩa là họ có thể ngăn ngừa thất bại và lần lượt cải thiện chất lượng.
- Thiết lập công việc nhanh: Việc thiết lập một công việc cho sản xuất là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong môi trường sản xuất.
- Các quyết định nhanh hơn và tốt hơn: khi thiết bị được kết nối, dữ liệu mà họ tạo ra trực tiếp vào các ứng dụng phần mềm do người dùng điều khiển Trong nháy mắt, họ có thể đưa ra các quyết định hiệu quả hơn nếu họ phải phân tích từng thiết bị của nhà máy một lần Khả năng kết nối cho phép các công ty tiếp cận với sự không hiệu quả và sớm giải quyết vấn đề.
- Sản xuất thích nghi: Các công ty có thể giúp khách hàng công nghiệp giải quyết các vấn đề mà trước đây được cho là không thể giải quyết Nhà máy mới 4.0 đang liên tục thích ứng với nhu cầu của khách hàng, sửa đổi sản xuất và tạo ra các giải pháp tùy chỉnh.
- Quản lý, điều hành từ xa: Các nhà máy và quy trình được điều khiển từ máy tính, không có giới hạn thời gian (điều khiển từ xa từ thiết bị di động) hoặc không gian.
5
Trang 6CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
2.1 Giới thiệu về công ty
Tổng Công Ty Thăm Dò Khai Thác Dầu Khí
Mã số doanh nghiệp: 0100150908
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 26, tòa nhà Charmvit, số 117 đường Trần Duy Hưng, Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài: PETROVIETNAM EXPLORATION PRODUCTION CORPORATION LIMITED
Tên doanh nghiệp viết tắt: PVEP
Mã số doanh nghiệp: 0100150908
Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) là đơn vị có bề dày truyền thống, giữ vai trò chủ lực của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong lĩnh vực hoạt động cốt lõi của Tập đoàn - tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí Quá trình hình thành và phát triển của PVEP gắn với lịch sử phát triển của Ngành Dầu khí Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua Khởi điểm từ các công ty Petrovietnam II (PV-II, thành lập tháng 5/1988) và Petrovietnam I (PV-I, thành lập tháng 11/1988), PVEP đã trải qua nhiều lần đổi tên và cơ cấu lại cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển Năm 1993, Công ty Giám sát các hợp đồng chia sản phẩm (PVSC) và Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đã được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Petrovietnam I, Petrovietnam II, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Ngành Dầu khí trong việc quản lý hiệu quả hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ở Việt Nam, đồng thời tham gia vào các hợp đồng dầu khí ở trong nước và nước ngoài với tư cách là một bên Nhà thầu để từng bước phát triển thành một công ty dầu khí thực thụ.
Sự ra đời của Công ty Đầu tư - Phát triển Dầu khí (PIDC) vào năm 2000 trên
cơ sở Công ty PVSC là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển Tổng công
ty Thăm dò Khai thác Dầu khí ngày nay với việc PIDC tăng cường tự đầu
tư, tham gia góp vốn vào các dự án ở trong nước, đồng thời triển khai đầu
tư thăm dò khai thác ở nước ngoài với các dự án đầu tiên được ký kết ở Iraq, Algeria, Malaysia và Indonesia Cũng trong giai đoạn này Công ty PVEP và Công ty PIDC đã xác lập năng lực tự điều hành và bước đầu thành công với các dự án thăm dò khai thác dầu khí quan trọng.
Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) hiện nay được thành lập ngày 04/05/2007 trên cơ sở hợp nhất Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí và Công ty
Trang 7Đầu tư - Phát triển Dầu khí để thống nhất hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam và nước ngoài.
2.2 Sơ đồ tổ chức
2.3 Chức năng nhiệm vụ phòng tài chính – kế toán
Về chức năng, phòng kế toán thực hiện tham mưu tư vấn cho lãnh đạo Công ty và tổ chức thực hiện các công tác sau:
– Thực hiện các công việc liên quan đến nghiệp vụ chuyên môn tài chính kế toán theo chuẩn mực và nguyên tắc kế toán do Nhà nước quy định;
– Tiến hành hạch toán kế toán một cách đầy đủ và kịp thời toàn bộ tài sản bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ phải trả Hạch toán các hoạt động thu chi tài chính và kết quả kinh doanh theo chính sách của nội bộ Công ty, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty;
– Lập kế hoạch tài chính và kế hoạch kinh doanh của đơn vị;
Trang 8– Tham mưu cho Ban giám đốc về chỉ đạo, thực hiện kiểm tra, quản lý, giám sát việc thực hiện và chấp hành chế độ tài chính kế toán của nội bộ đơn vị cũng như của nhà nước;
– Theo dõi, phản ánh sự vận động vốn của đơn vị dưới mọi hình thức và tham mưu, cố vấn cho Ban lãnh đạo về các vấn đề liên quan;
– Kết hợp với các bộ phận khác trong việc quản lý thông tin hiệu quả và năng động.
Căn cứ vào các chức năng của phòng kế toán thì nhiệm vụ của phòng kế toán bao gồm:
– Hạch toán các nghiệp vụ về kinh tế nảy sinh tại đơn vị nhanh chóng và đầy đủ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của tại đơn vị Bao gồm các nghiệp vụ sau:
+ Kế toán vốn bằng tiền;
+ Kế toán doanh thu;
+ Kế toán chi phí;
+ Kế toán tài sản cố định, công cụ, dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu,…; + Kế toán công nợ;
+ Và các hoạt động kế toán khác.
– Thực hiện, tham gia thực hiện và trực tiếp quản lý các công tác cho vay, đầu tư tài chính tại đơn vị.
– Tham mưu cho Ban lãnh đạo của đơn vị về việc chỉ đạo thực hiện hoặc trực tiếp tiến hành kiểm tra, giám sát việc quản lý và chấp hành chế độ tài chính kế toán của nội bộ công ty và của Nhà nước Cụ thể về một số vấn đề sau:
+ Đảm bảo các kế hoạch chi tiêu đúng về định mức chi tiêu của Nhà nước và của đơn vị đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả;
+ Xây dựng các quy định nội bộ về các vấn đề tài chính như là: quy trình thu, chi kinh doanh; quản lý công nợ, tiền vốn; các loại định mức tiền lương, hàng tồn kho;… và các chính sách về việc kiểm tra việc chấp hành các quy định này; + Nghiên cứu và đề xuất với Ban lãnh đạo các biện pháp quản lý hoạt động
kinh doanh đạt hiệu quả cao.
– Phổ biến các chính sách về chế độ quản lý tài chính của Nhà nước với các phòng ban liên quan khi cần thiết.
– Chủ trì và phối hợp với các phòng ban có liên quan khác để lập kế hoạch tài chính, kế hoạch kinh doanh ngắn hạn và dài hạn cho đơn vị mình Thực hiện đầy đủ các công tác lập báo cáo tài chính, thống kê kế hoạch tài chính theo quy định của Công ty.
– Cuối cùng là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho Ban giám đốc Công ty.
Trang 9CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 4.0 VÀO
TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
3.1 Tác động của bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0 đến nghề kế toán, kiểm toán
Trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, từ đó cũng mở ra nhiều cơ hội về việc làm cũng như nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực Theo thỏa thuận trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN, từ năm 2016, kế toán
là một trong 8 ngành nghề được tự do di chuyển trong khối ASEAN.
Bối cảnh hội nhập và cách mạng 4.0 tạo điều kiện cho việc khai thác dữ liệu, nâng cao độ tin cậy cho các thông tin được trình bày trên báo cáo kế toán, kiểm toán được lập bằng các hệ thống tự động theo nhu cầu Theo dự báo 3-10 năm tới, các phần mềm và hệ thống thông minh sẽ thay thế cho công việc kế toán thủ công, tự động hóa các quy trình phức tạp và đa diện, hỗ trợ các xu hướng dịch vụ thuê ngoài và tái sử dụng nội bộ một số dịch vụ khác
Theo kết quả khảo sát của VACP (Phạm Sỹ Danh, chủ tịch VACP tại Hội thảo CMCN 4.0 – Thời cơ và thách thức, 2018), ngành kế toán -kiểm toán trong thời kỳmới sẽ phải đương đầu với yêu cầu cao về lao động có trình độ công nghệ thông tin; sự đầu tư tài chính lớn; kiểm soát dữ liệu khó hơn trong khi thị phần giảm do cạnh tranh gay gắt.
Dưới tác động của CMCN 4.0, các công việc của kế toán, kiểm toán đã
có sự thay đổi đáng kể theo hướng ứng dụng công nghệ 4.0 vào các sản phẩm phần mềm kế toán - kiểm toán, cung cấp cho doanh nghiệp giải pháp quản trị tài chính thông minh, các phần mềm tích hợp dịch vụ hóa đơn điện tử, kết nối ngân hàng điện tử, kê khai thuế qua mạng… công nghệ mới như AI hay công nghệ chuỗi khối (Blockchain) được đưa vào sản phẩm giúp công việc kế toán trở nên thông minh, nhanh và hiệu quả hơn.
CMCN 4.0 đã làm thay đổi cơ bản công tác kế toán, thay vì phân tích dữ liệu thủ công trên Excel thì nay đã có thêm nhiều công cụ và phần mềm hiện đại hơn như Misa, Fast, AC Man… Công việc của kế toán thay vì ghi chép thủ công nay đã có công nghệ tự động thay thế trong nhiều nội dung Ứng dụng công nghệ đám mây để lưu trữ thông tin theo thời gian thực với khối lượng lớn và không bị giới hạn nhiều về bộ nhớ Việc áp dụng I vào xử lý các nghiệp
vụ kế toán phức tạp (định giá, lập dự phòng…) Liên kết các dữ liệu của bộ phận tài chính – kế toán thông qua công nghệ chuỗi khối Blockchain.
Trang 103.2 Những thuận lợi và khó khăn của bộ phận Kế toán trong cuộc CMCN 4.0
Những thuận lợi
+ Điều kiện làm việc thuận lợi
Đối với ngành Kế toán, CMCN 4.0 sẽ mang lại cho kế toán viên (KTV) trong tổng công ty điều kiện làm việc thuận lợi hơn Cụ thể là:
Thông qua việc sử dụng các trang thiết bị, các chương trình, công nghệ số hiện đại, KTV có thể thu thập các thông tin mà trước đây họ khó thu thập được.
Bên cạnh đó KTV có thể chiết xuất dữ liệu từ những kho dữ liệu khổng lồ, phục vụ cho tất cả các loại quyết định, các cấp lãnh đạo, tất cả các loại trạm kiểm soát thông tin ra quyết định và tất cả những người có lợi ích liên quan Việc này
có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, miễn là có internet Điều này có được là nhờ công nghệ điện toán đám mây Sự linh hoạt này đặc biệt tiện lợi cho các KTV làm dịch vụ cho cùng lúc nhiều DN, khi mà họ phải liên tục di chuyển giữa trụ sở làm việc và các DN thuê làm sổ sách kế toán.
Nhờ công nghệ Blockchain là công nghệ sử dụng sổ cái phân tán còn giúp nâng cao chất lượng dữ liệu thông qua các lịch trình tốt hơn, tính chính xác cao hơn và nhiều chi tiết hơn để cải thiện hiệu quả, sự đảm bảo về mặt dữ liệu; Cải thiện việc truyền tải dữ liệu cho việc hoạch định và quản lý, cụ thể như trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị và giữa các quốc gia; Nâng cao độ tin cậy và hợp
lý của việc báo cáo thông qua việc tự kiểm soát hoặc các hệ thống tự kiểm… Các giao dịch khi đã được lưu trữ trong sổ cái thì sẽ không thể thay đổi được Mỗi chủ thể tham gia mạng lưới Blockchain đều được lưu giữ một bản sao của sổ cái chung và bản này luôn được cập nhật đồng bộ thông qua một cơ chế đồng thuận, nên bất cứ thay đổi nào xảy ra, các chủ thể đều biết và có quyền chấp nhận hay không Cơ chế hoạt động này đảm bảo sự tin cậy, minh bạch và bảo mật đối với các giao dịch giữa các chủ thể trong mạng lưới.
+ Mở rộng thị trường
CMCN 4.0 sẽ là cơ hội để phòng ban lĩnh vực về kế toán nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị trường sang các nước khác nhờ kết nối internet Cuộc cách mạng này còn tạo điều kiện cho việc khai thác dữ liệu, nâng cao độ tin cậy của việc lập báo cáo thông qua các hệ thống tự động kiểm toán và kế toán theo nhu cầu.
+ Nâng cao năng suất lao động
Việc ứng dụng các công nghệ của cuộc CMCN 4.0 đã giúp nâng cao nhiều lần năng suất làm việc của các kế toán viên Việc cải thiện năng suất lao động giúp
DN hay người làm kế toán chỉ phải thuê ít lao động hơn mà vẫn tăng doanh số do phục vụ được nhiều khách hàng hơn Ví dụ như đối với công cụ phân tích chỉ báo Tại KPMG và Deloitte là hai DN kế toán đã sử dụng một công cụ phân