1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía bắc lớp 1, 2, 3 qua môn tiếng việt

117 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THỊ HÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC LỚP 1, 2, 3 QUA MÔN TIẾNG VIỆT

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ HÀ

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN

KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC LỚP 1, 2, 3 QUA MÔN TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ HÀ

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN

KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC LỚP 1, 2, 3 QUA MÔN TIẾNG VIỆT

Ngành: Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

Mã số: 8 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG THỊ LỆ TÂM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đề tài

là công trình nghiên cứu của riêng mình và không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Thị Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Đặng Thị Lệ Tâm,

người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại đây

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác giúp đỡ của các thầy cô giáo

và các em học sinh trường Tiểu học Tình Húc - huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; trường Tiểu học Thượng Giáo - huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm sư phạm

Để hoàn thành luận văn: “

” chúng tôi đã sử dụng, kế thừa có chọn lọc các nghiện cứu của các tác giả

đi trước, đồng thời nhận được rất nhiều sự quan tâm chỉ bảo của các thầy cô giáo,

sự giúp đỡ của bạn bè, người thân đã động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Sau quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành

Do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ suất và thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp, bổ sung của thầy, cô giáo và các bạn

Tôi xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, thành công tới quý thầy cô

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu 6

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 7

8 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Lý thuyết giao tiếp và việc vận dụng phát triển kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2, 3 9

1.1.2 Trẻ em và quá trình hình thành tiếng nói 12

1.1.3 Đặc điểm của học sinh tiểu học dân tộc thiếu số cấp Tiểu học 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học 20

1.2.2 Thực trạng rèn kĩ năng nói ở trường tiểu học 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

Trang 6

Chương 2 XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC

SINH DÂN TỘC THIẾU SỐ LỚP 1, 2, 3 34

2.1 Nguyên tắc xây dựng 34

2.1.1 Đảm bảo mục tiêu môn học 34

2.1.2 Đảm bảo gắn liền với vùng miền của học sinh 35

2.1.3 Đảm bảo nguyên tắc khoa học 35

2.1.4 Đảm bảo nguyên tắc sư phạm 36

2.1.5 Đảm bảo nguyên tắc thực tiễn 36

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập 37

2.2.1 Bài tập rèn kĩ năng phát âm 38

2.2.2 Bài tập rèn kĩ năng độc thoại 43

2.2.3 Bài tập rèn kĩ năng hội thoại 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Đối tượng thực nghiệm 59

3.3 Nội dung thực nghiệm 60

3.4 Phương pháp thực nghiệm 60

3.5 Kết quả thực nghiệm 64

3.5.1 Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh 64

Tiểu kết chương 3 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Kết quả thực nghiệm lớp 1 65

Bảng 3.2 Kết quả thực nghiệm lớp 2 65

Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm lớp 3 65

Bảng 3.4 Kiểm tra lớp 1 67

Bảng 3.5 Kiểm tra lớp 2 67

Bảng 3.6 Kiểm tra lớp 3 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có ngôn ngữ riêng, Việt Nam là một quốc gia trải qua nhiều biến cố lịch sử để trở thành một nước độc lập, thống nhất, một quốc gia đa dân tộc vì vậy có nhiều ngôn ngữ được sử dụng Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ dân tộc khác luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi người dân Việt Nam Tiếng Việt là một ngôn ngữ luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Việt Nam, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển lịch sử qua các thời kì

Tiếng mẹ đẻ hay là ngôn ngữ thứ nhất có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi người Với một xã hội, đó là công cụ để con người giao tiếp và tư duy; đối với trẻ em, K.A.Usinxki đã chỉ rõ: “

” Trước khi trẻ được tới trường, trẻ đã được làm quen với tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ trong cuộc sống hàng ngày Đó là phương tiện quan trọng giúp các em giao tiếp với mọi người, với xã hội, giúp các em phát triển tư duy Từ khi bắt đầu vào lớp 1, việc học tiếng Việt có một môn riêng là Tiếng Việt, trẻ được học một cách có hệ thống, có phương pháp mang tính khoa học Giúp trang bị cho các em những hiểu biết cũng như các kĩ năng, kĩ xảo sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình trở nên thành thục Làm nền tảng vững chắc giúp các em học tốt các môn học khác ở trường qua các cấp học và giao tiếp tốt hơn với cộng đồng

Trẻ em Việt Nam trước khi đến trường đã có khả năng nghe, nói tương đối thành thạo, một bộ phận trẻ đã biết một số lượng từ, một số lượng câu, một

số quy tắc giao tiếp, một số em khác được người lớn dạy từ rất sớm đã biết đọc, biết viết trước khi được đến trường Tuy nhiên được người lớn dạy trước, biết trước nhưng các kĩ năng hình thành ở lứa tuổi tiền học đường mới chỉ là kĩ năng

Trang 10

giao tiếp đơn giản chưa có hệ thống rõ ràng Nhiệm vụ của nhà trường rất quan trọng đó là phát triển các kĩ năng giao tiếp thông thường đó của các em trở thành

kĩ năng, kĩ sảo giúp cho các em giao tiếp thuần thục sử dụng trong cộng đồng Chính vì vậy, việc dạy Tiếng Việt không những phát huy vốn tiếng Việt của các

em mà phải từng bước giúp học sinh sử dụng tiếng mẹ đẻ có ý thức hóa và hoàn thiện ngôn ngữ cho các em, giúp các em tiến hành hoạt động giao tiếp một cách tích cực, tự giác, có mục đích, có phương pháp…

Ở cấp tiểu học ở nhiều quốc gia không chỉ ở Việt Nam, mục tiêu hàng đầu là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ

đẻ Việt Nam chú trọng với 4 kĩ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết Bốn kĩ năng

sử dụng ngôn ngữ, trong đó kĩ năng nói đóng vai trò quan trọng, bởi cùng với kĩ năng nghe, kĩ năng nói được sử dụng nhiều nhất, thường xuyên nhất khi giao tiếp giữa người với người Kĩ năng nói góp một phần quan trọng giúp học sinh tiểu học học tốt các phân môn trong Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Kể chuyện, phân môn Luyện từ và câu, phân môn Tập làm văn Học sinh đầu cấp, nói tốt sẽ giúp các em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, mạnh dạn trình bày suy nghĩ của mình cũng như trong việc đóng góp xây dựng bài học ở trường lớp và thể hiện quan điểm cá nhân Để rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh tiểu học đạt kết quả cao, chương trình và sách giáo khoa hiện hành quan tâm hơn nhiều so với các chương trình và sách giáo khoa trước đây Nhưng trên thực tế dạy học ở nhà trường vẫn chưa đạt hiệu quả như chúng ta mong muốn… Vậy nguyên nhân là do đâu? Phải có những biện pháp nào để tăng cường rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh? Là những câu hỏi được các nhà giáo dục quan tâm hàng đầu

Học sinh dân tộc thiểu số do hạn chế về điều kiện địa lý, kinh tế vùng miền, môi trường giao tiếp hẹp; do đặc điểm tâm lý của học sinh dân tộc có nhiều nét khác biệt về nhận thức, xúc cảm, tình cảm, tính chủ động trong quá trình giao tiếp chưa cao nên giao tiếp của HS tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc còn một số hạn chế như: nhút nhát, tự ti và lúng túng khi đứng trước đám đông, chưa

Trang 11

có kỹ năng hợp tác…Trong khi đó, việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả giáo dục còn hạn chế, những chính sách về đầu tư, phát triển, xây dựng môi trường giáo dục chưa thực sự tốt Chính bởi vậy, các nhà trường, các gia đình và xã hội cần có cách nhìn nhận và thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng giao tiếp nói riêng cho HS Bên cạnh đó, cần

có những nghiên cứu cụ thể để đề xuất những biện pháp giáo dục mang tính đặc thù cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng Đây là yêu cầu cần thiết và khách quan trong sự phát triển

Chính vì những lý do trên, với đề tài:

chúng tôi muốn nghiên cứu cụ thể hơn về biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh và mong muốn góp một phần nào đó để nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt ở một vùng miền còn nhiều khó khăn

2 Lịch sử vấn đề

Kĩ năng nói là kĩ năng để giao tiếp cơ bản trong cuộc sống nhưng để dùng tốt được kĩ năng đó thì con người ta cũng cần phải có một quãng thời gian để luyện tập và thực hành kiên trì Đặc biệt đối với học sinh tiểu học là lứa tuổi cần được bồi dưỡng để các em có được bộ kĩ năng chuẩn, tự tin bước vào cuộc sống tương lai Một điều đặc biệt hơn và đáng chú ý hơn thì phải kể đến đối tượng các

em học sinh tiểu học dân tộc miền núi phía Bắc, nơi mà các em còn thiếu rất nhiều những điều kiện về cả kinh tế lẫn cuộc sống, làm cho sự chăm sóc quan tâm của giáo viên trở nên khó khăn khiến các em thiếu rất nhiều những kĩ năng

cơ bản Đây là vấn đề cấp thiết của toàn xã hội, cần phải có những bài nghiên cứu để có những hướng giúp các em nơi đây có thể đến trường và rèn luyện các

kĩ năng như các bạn miền xuôi

Trang 12

Giáo trình “

” [6] (Tài liệu đào tạo giáo viên) của Dự án phát triển giáo viên tiểu học

đã đề cập đến phương pháp dạy kĩ năng nói cho học sinh tiểu học Đặc biệt tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp để luyện phát âm và sửa lỗi phát âm cho học sinh

Thị Lanh, Bùi Minh Toán đã giới thiệu cái tổng thể về tiếng Việt và đi sâu vào 2 đơn vị cơ bản của ngữ âm tiếng Việt là âm tiết và âm vị Sách đã giúp chúng ta xác định và tìm ra được các lỗi phát âm mà học sinh thường mắc phải Nhưng các tác giả chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lí thuyết chung của ngữ âm mà chưa

đi sâu vào việc xác định lỗi phát âm sai của học sinh

đã đề cập vấn đề liên quan đến ngữ âm trong nhà trường, nêu ra được một số biện phát cụ thể có liên quan đến rèn kĩ năng nhưng chưa rõ ràng với từng đối tượng cụ thể

Luận án “

” [23] của tác giả Ngô Giang Nam đã đề cập đến vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nông thôn nhưng chỉ dừng lại ở vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp mà chưa đề cập vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh

Trong cuốn “ ” [14] tác giả Trần Mạnh Hưởng đã biên soạn những trò chơi, bài tập nhẹ nhàng về Tiếng Việt theo yêu cầu hình thức và

kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc tiểu học để học sinh vừa có thể tự học mà vẫn được chơi cùng bạn bè

Tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kĩ năng giao tiếp xã hội trong

giao tiếp với bạn bè Trong cuốn “ ” [16] của tác giả Kak - Hai - Nodich người Đức, tác giả đã nêu rõ yêu cầu về phát triển ngôn ngữ của trẻ có vai trò quan trọng và quá trình phát triển của từng giai đoạn

Trang 13

Trong bài “

” [3] - tác giả Hoàng Hòa Bình, Phan Phương Dung đã đề cập đến những tồn tại trong chương trình Tập làm văn Các tác giả cũng đã đề ra giải pháp và phương pháp dạy Tập làm văn theo chương trình Tiếng Việt mới giúp học sinh sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp Những vấn đề nội dung, phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc được đề cập đến trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Bộ giáo dục và đào tạo “

[5]

Trong bài “

”[22] - tác giả Trần Thị Hiền Lương đã đề ra biện pháp và cách thức thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học qua môn Tiếng Việt

Trong luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội “

” [30] - của tác giả Nguyễn Hồng Thúy đã hệ thống bài tập mà tác giả nêu ra trong luận văn khá đa dạng và sinh động, nhưng chỉ giới hạn cho học sinh một khối lớp 4

Trong giáo trình “

” [5] - Dự án phát triển giáo viên tiểu học, tài liệu đã thiết kế các hoạt động, nhằm tích cực hóa hoạt động học tập cho người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học, chú trọng sử dụng tích hợp nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau ( tài liệu

in, băng hình, băng tiếng…) giúp cho người học dễ hiểu, dễ học và gây hứng thú trong học tập

Sáng kiến kinh nghiệm “

” [40] của giáo viên Nguyễn Thị Bích Vân - trường tiểu học Ba Ngạc đã nghiên cứu kĩ chương trình, mục tiêu cần đạt được đối với môn học để

có hướng và biện pháp dạy học phù hợp trong giảng dạy phân môn Tập đọc, nhằm nâng cao hiệu quả nhất

Trang 14

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến các vấn đề khác nhau của việc dạy học Tiếng Việt và kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về việc dạy kĩ năng nghe - nói cho học sinh tiểu học dân tộc miền núi phía Bắc Do đó chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “

”giúp các em học sinh nơi đây có được hệ thống bài tập, trò chơi để rèn luyện và nâng cao các kĩ năng về nói

3 Mục đích nghiên cứu

Rèn luyện năng lực nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3 đồng thời nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3

5 Phạm vi nghiên cứu

Các trường Tiểu học có học sinh DTTS miền núi phía Bắc trên địa bàn các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Ninh, Lạng Sơn Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi giới hạn phạm vi ở tỉnh Quảng Ninh và Bắc Kạn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí luận rèn luyện năng lực nói cho học sinh dân tộc thiểu

số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3

- Khảo sát thực trạng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3

- Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3

- Thực nghiệm sư phạm đề xuất hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc lớp 1, 2, 3

Trang 15

7 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp, các tài liệu nghiên cứu

về dạy học, rèn luyện kĩ năng nói, phát triển kỹ năng nói cho học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc, các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng nói cho học sinh để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp sau để nghiên cứu đề tài:

suốt quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước

có liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp các số liệu, tri thức có được

từ hoạt động phân tích tài liệu Từ đó, đưa ra những luận dải, nhận xét và đề xuất của tác giả về đề tài ở các chương về thực trạng và quan điểm, định hướng phương pháp luyện nói cho học sinh DTTS miền núi phía Bắc lớp 1,2,3

- : Sử dụng hệ thống câu hỏi điều tra trên các đối tượng là: giáo viên, học sinh thông qua đó để khảo sát, đánh giá thực trạng kỹ năng dạy học kĩ năng nói của giáo viên ở các tỉnh như Thái Nguyên, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Kạn

Trang 16

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; Nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương Cụ thể chư sau:

- Chương 1: Chúng tôi trình bày lý thuyết giao tiếp, trẻ em và quá trình hình thành tiếng nói, đặc điểm của HS tiểu học DTTS lớp 1, 2, 3 và môn Tiếng Việt ở tiểu học, thực trạng rèn kĩ năng nói ở trường tiểu học

- Chương 2: Chúng tôi đề xuất nguyên tắc xây dựng bài tập và hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho HS DTTS lớp 1, 2, 3

- Chương 3: Chúng tôi thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của những

đề xuất trong đề tài

Trang 17

về giao tiếp của các nhà tâm lý học trong và ngoài nước như sau:

Nhà tâm lý học xã hội Mỹ C.E.Osgood cho rằng giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin Ông cho rằng giao tiếp là một quá trình gồm hai mặt: liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau

Các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề giao tiếp trên nhiều khía cạnh Ở đây, có thể điểm qua một số quan điểm:

- Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hay giữa nhân cách này với nhân cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, nhà tâm lí học B.Ph.Lomov cho rằng: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể”; nhà tâm lí học B.D.Đarưghin cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau [40]

- Ở góc độ nhân cách, nhà tâm lí học V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp

là một quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể” Theo nhà tâm lí học Ia.L.Kolôminxki thì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành” [40]

- Vấn đề giao tiếp ở góc độ tiếp cận nhận thức, nhà nghiên cứu L.X.Vưgotxki cho rằng giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc K.K.Platonôv cho rằng: “Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người” [40]

Trang 18

- Ở góc độ xem xét giao tiếp là một dạng hoạt động, nhà nghiên cứu A.N.Lêônchiev đã chỉ ra: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ, bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và

sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ” [1]

Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm

1970 đến những năm 1980 và cũng có những khái niệm giao tiếp được xác lập

- Tác giả Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “ Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” [40, tr.166]

- Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy thì “giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người hoặc giữa con người với các yếu tố khác, nhằm thõa mãn những nhu cầu nhất định” [13]

- Tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau” [15]

- Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ Ngày nay, từ này hàm 14 ngụ sự trao đổi

ấy thông qua một bộ giải mã, người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được” [15]

- Tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai hay nhiều người thông qua phương tiện ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau” [15]

- Tác giả Trần Trọng Thủy thì quan niệm: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong

đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” [15]

Trang 19

- Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân Giao tiếp có chức năng thõa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc định hướng và điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân và của nhau, tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau” [28]

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với khái niệm giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn, đó là: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan

hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ

thể khác” [9]

Tiếng Việt với học sinh DTTS miền núi phía Bắc là ngôn ngữ thứ hai của các em Việc rèn luyện kĩ năng nói một ngôn ngữ mới gặp nhiều khó khăn với HS Tuy vậy, rất có ích đối với sự phát triển và trưởng thành của học sinh DTTS miền núi phía Bắc trong hoạt động giao tiếp hằng ngày, học sinh giao tiếp với thầy cô, gia đình, bạn bè… Giúp phát triển sự nhận thức về thế giới xung quanh thông qua việc trao đổi thông tin giữa người với người, nắm được tâm lí giao tiếp, hiểu mục đích giao tiếp, tác động trực tiếp lên suy nghĩ để trẻ dần hình thành kỹ năng giao tiếp phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội Cha mẹ và thầy cô giáo có nhiệm vụ giúp đỡ trẻ rèn luyện kĩ năng nói tự tin và hiệu quả Họ cần dạy học sinh nói rõ ràng, thuyết phục và tự tin Việc rèn luyện kĩ năng nói giúp học sinh trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp tương lai đặc biệt quan trọng với học sinh DTTS miền núi Phía Bắc

Việc dạy ngôn ngữ nói cùng với giao tiếp bằng ngôn ngữ nói (với thầy cô, bạn bè trong học tập, với người thành thạo ngôn ngữ…) cung cấp cho học sinh

Trang 20

kinh nghiệm trong những cấu trúc cú pháp mới, các nghi thức lời nói mới và phát triển cách thức mới trong việc thể hiện và liên kết ý tưởng vì vậy, nói giúp học sinh có thói quen tạo sự phức hợp về ý tưởng, khả năng thuyết phục người nghe Tới lượt mình, thói quen và khả năng này lại tạo điều kiện cho viết được sâu sắc

và có hiệu quả

Như vậy, trong dạy và học ngôn ngữ, dạng nói với những ưu thế của mình là

cơ sở để xậy dựng ngôn ngữ viết Dạy và học ngôn ngữ nhấn vào dạy nói đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy viết - như một trọng tâm trong chương trình dạy tiếng ở nhà trường và là phương tiện tiếp thu văn hóa, văn minh

Trẻ học ngôn ngữ ngay từ khi mới sinh, sự phát triển ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, khám phá thế giới xung quanh, học tập

và vui chơi, trải nghiệm… Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quá trình hình thành tiếng nói của trẻ, với nhiều trường phái khác nhau:

Một số tác giả do ảnh hưởng của ngữ pháp đã cho rằng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chỉ đơn giản là sự mở rộng cấu trúc bẩm sinh tức cái tri năng (competance) của N.Chomsky Một vài nhà nghiên cứ cho rằng việc học ngôn ngữ của trẻ chỉ là hành vi có tính máy móc theo sơ đồ kích thích- phản ứng Một số lại cho rằng ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển dưới tác động của nhiều yếu tố như gia đình, tâm lí, nhận thức, xã hội… Hướng nghiên cứu thuần ngôn ngữ học nghiên cứu trình sự xuất hiện ngôn ngữ của trẻ đây

là hướng nghiên cứu đáng tin cậy tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ nghiên cứu trên bề mặt các hiện tượng ngôn ngữ của trẻ chưa giải thích được sự liên quan giữa các yếu tố khác ra sao, giải thích hiện tượng như thế nào Hướng nghiên cứu về tâm lí- ngôn ngữ học được các nhà nghiên cứu trên thế giới lựa chọn Trong đó có trường phái tâm lí học- ngôn ngữ Xô Viết đã đạt được những thành tựu đáng kể trong đó có Leontev A A là người có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này

Trang 21

Đối với trẻ em Việt Nam các nhà nghiên cứu chia giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ làm 2 giai đoạn: tiền ngôn ngữ và giai đoạn ngôn ngữ

Giai đoạn tiền ngôn ngữ là giai đoạn trước khi trẻ dung ngôn ngữ để giao tiếp Ở giai đoạn này trẻ phát triển như sau [19]:

Bước 1: Trẻ tiếp nhận lời nói theo một kích thích, cũng như mọi kích thích

khác: hình dáng người nói chuyện với trẻ, hoàn cảnh, giọng nói, ngữ điệu

Bước 2: Trẻ nhận biết được ngữ điệu giọng nói và có phản ứng lại

mếu khóc hay cười

Bước 3: Dần dần trẻ hiểu một số từ và tên gọi của một số vật quen thuộc

Giai đoạn tiền ngôn ngữ này là giai đoạn quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ Đây là bước đệm cho sự hình thành tiếng nói sau này của trẻ

Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ từ 1 năm tuổi trở đi đã hình thành nhu cầu giao tiếp với mọi người xung quanh Ở giai đoạn này trẻ thích nói và phát âm những từ có cấu trúc đơn giản như: ba, bà, cá, gà…Từ 2-3 tuổi trẻ chủ động hơn trong giao tiếp số lượng từ tăng nhanh, tuy nhiên về mặt phát âm các phụ

âm đầu, nguyên âm, âm đệm, dấu thanh còn chưa đúng hoàn toàn Từ 4-6 tuổi khả năng nghe của trẻ phát triển mạnh hơn, trẻ bắt chước lời nói ngữ điệu nhanh và tự nhiên Trẻ đã hiểu và trả lời nhiều kiểu câu hỏi, các phụ âm đầu, nguyên âm, âm đệm, dấu thanh đã được định vị Ở giai đoạn này trẻ đã có thể làm quen được bảng chữ cái hay làm quen với ngoại ngữ

Quá trình hình thành và phát triển kĩ năng nói của một đứa trẻ trải qua các giai đoạn sau đây:

- Giai đoạn thứ nhất: Hướng về phía phát ra tiếng nói, lắng nghe ngôn ngữ nói (bắt đầu chú ý đến âm thanh lời nói)

- Giai đoạn thứ hai: Quan sát sự liên kết giữa âm thanh của lời nói với sự vật, hành động, âm thanh, màu sắc… (bắt đầu hiểu nghĩa của lời nói)

- Giai đoạn thứ ba: Lắng nghe và ghi nhớ các từ ngữ/ câu nói được lặp lại nhiều lần hàng ngày (bắt đầu nhập tâm/ thu nạp vốn từ)

- Giai đoạn thứ tư: Thực hành nói bằng cách mô phỏng âm thanh lời nói nghe thấy (bắt đầu nói thụ động/nói theo/bắt chước)

Trang 22

- Giai đoạn thứ năm: Giao tiếp bằng tiếng nói trong cộng đồng ngôn ngữ (nói một cách chủ động)

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh nhất trong 3 năm đầu tiên của cuộc sống, đó là thời gian bộ não của trẻ phát triển mạnh nhất và đầy đủ nhất Đến tuổi lên 5, hầu hết trẻ em biết vài nghìn từ, và nắm được hầu hết toàn bộ các quy tắc ngữ pháp Trẻ em phát triển ngôn ngữ theo những tốc độ khác nhau, và theo những cách khác nhau

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ còn là một trong những dự báo tốt nhất về sự trình diễn sau này của đứa trẻ ở trường Trẻ vốn có từ vựng lớn và nắm chắc các quy tắc ngữ pháp sẽ dễ dàng đọc và viết

Theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lý trẻ em, từ 7 tuổi trở đi (giai đoạn trẻ đến trường), trẻ em trở nên khó học ngôn ngữ hơn Quá trình tư duy của trẻ thay đổi kéo theo việc ngôn ngữ cũng thay đổi theo Lúc này, trường tiểu học trở thành môi trường giáo dục ưu việt nhất, hướng dẫn trẻ phát triển vốn từ, học các cấu trúc chính xác của tiếng mẹ đẻ, mở mang hiểu biết, hoàn thiện nhân cách

Những điều nêu trên cho thấy, việc học tiếng nói chung và việc rèn kĩ năng nói nói riêng cho học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc cần dựa trên

Việc tìm ra những biện pháp phù hợp để phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc

là trọng trách của các nhà nghiên cứu giáo dục

Khu vực miền núi phía Bắc phân chia theo địa lí tự nhiên bao gồm Tây Bắc

có các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện biên, Hòa Bình, Lai Châu, Sơn La Đông Bắc

có các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang

Trang 23

Dân số, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, mặt bằng dân trí, nguồn nhân lực qua đào tạo (có chất lượng cao) của các DTTS miền núi phía Bắc không đồng đều Có những dân tộc khá phát triển, dân tộc tương đối đông đến hàng chục vạn trở lên như Tày, Thái, Mường, Dao… mặt bằng dân trí tương đối cao, có đông cán bộ có trình độ đại học, trên đại học Về vùng đất, cùng là vùng đồng bào DTTS miền núi phía Bắc cư trú, có những vùng thuận lợi về đất đai, khí hậu, giao thông đi lại, lại có những vùng hết sức khó khăn Không thể so sánh các thung lũng rộng rãi, phì nhiêu như Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lò (Yên Bái), Bắc Quang (Hà Giang)… với các vùng cao đèo dốc, thiếu đất canh tác, khí hậu khắc nghiệt

Do đặc điểm sống phân tán của cư dân trong một dân tộc và việc sống xen kẽ giữa các cư dân của nhiều dân tộc dẫn tới tình trạng các lớp học ở vùng DTTS miền núi phía Bắc có rất nhiều nhóm học sinh thuộc các dân tộc khác nhau Năng lực ngôn ngữ cũng như khả năng học tập của các nhóm trẻ này không đồng đều Trẻ DTTS miền núi phía Bắc là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn trong học tập

Ngoài ra, trong lớp học ở vùng DTTS miền núi phía Bắc cũng có khoảng 4% số học sinh khuyết tật như: khuyết tật trí tuệ hay khiến thính, khiếm thị,… Một số nhóm khác, nơi mà trẻ sống thiếu nguồn nước sạch thì các bệnh về tai và xoang xảy ra rất phổ biến Ở đó cũng có thể có rất nhiều trẻ có khả năng thính giác bị ảnh hưởng nghiêm trọng, có thể chịu hậu quả vĩnh viễn hoặc tạm thời, do

bị nhiễm bệnh hoặc các chất dịch nhầy trong viêm xoang và tai gây nên Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, người ta có thể dự kiến khoảng 10% trẻ không bị khuyết tật vẫn sẽ gặp phải các khó khăn trong học tập trên lớp

Năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi Tây Bắc là 28,55%, miền núi Đông Bắc: 17,39%; Tình trạng đói nghèo phải tham gia lao động trước tuổi là phổ biến không chỉ đối với DTTS miền núi phía Bắc mà ngay cả ở nhiều vùng nông thôn, tất yếu dẫn tới tình trạng bỏ học có thời hạn hoặc bỏ

Trang 24

học lâu dài Công việc hàng ngày của đồng bào DTTS miền núi phía Bắc thuộc diện lao động giản đơn có tính truyền thống, gắn với tự nhiên, dựa vào tự nhiên Trên thực tế nhiều lúc, nhiều nơi có thể thấy, với tư tưởng

nên nhu cầu học tập của học sinh chưa được đặt ra một cách bức bách Nhiều chuyên gia nước ngoài hỏi các em vì sao không đi học tiếng phổ thông Các em trả lời, có giỏi tiếng Kinh khi về nhà làm nương làm rẫy cũng chẳng dùng đến nên không cần học

Đó là một rào cản lớn, nếu không muốn nói là lớn nhất trong việc vận động học sinh tới trường Mặc dù nhu cầu giáo dục là rất cần thiết nhưng một khi

họ đã không muốn, tức là không có nhu cầu thì việc dùng mệnh lệnh hành chính công vụ để giải quyết là rất khó Chỉ còn biện pháp vận động, thuyết phục để họ dần cảm thấy có nhu cầu, và công việc đó không thể hấp tấp, mà phải cần có thời gian

Đó là chưa nói đến cơ sở vật chất, lớp học, bàn ghế, nhà bán trú, thiết bị dạy học, điện, nước sạch, nhà vệ sinh ở nhiều trường, nhiều vùng, rất thiếu thốn, nếu không muốn nói là chưa có gì đáng kể Trình độ dân trí thấp, phúc lợi xã hội, các dịch vụ về ý tế, lao động, bảo hiểm, giao thông, bưu điện, phát thanh, truyền hình… nhìn chung còn rất thấp kém, một số còn xa lạ hoặc chưa đến được với đồng bào miền núi Đó cũng là hạn chế quan trọng trong việc thu hút học sinh đến trường và đảm bảo sĩ số

Tâm lí học sinh DTTS miền núi phía Bắc mang đặc điểm của tâm lí dân tộc Theo các nhà tâm lí Nga thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của tâm

lí học dân tộc là nghiên cứu so sánh các đặc điểm sinh lí, các quá trình tư duy, trí nhớ, cảm xúc, ngôn ngữ và tính cách các dân tộc

tìm hiểu cái đặc thù trong cái phổ biến, cái riêng trong quan hệ cái chung,

Trang 25

quan điểm bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, đồng thời đảm bảo nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật khi nghiên cứu và lí giải hiện tượng tâm lí người

những học sinh tiểu học cùng trang lứa Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc trưng riêng, những đặc trưng mang tính dân tộc người và những đặc trưng do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên

Trước hết là sự chuẩn bị tâm lí đến trường: có thể quan niệm sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho quá trình nhận thức trước khi đi học của học sinh

Ở miền núi, như đã trình bày, các tổ chức xã hội, gia đình, trường học chưa tạo

ra một bước chuyển biến rõ nét về mặt tâm lí đến trường cho HS, cũng như việc tạo ra nhu cầu, hứng thú thích đi học Các nét tâm lí như ý chí rèn luyện, óc quan sát, tri nhớ, tính kiên trì, tính kỉ luật… của học sinh DTTS chưa được chuẩn bị chu đáo Việc học chưa được coi trọng vì thiếu động cơ thúc đầy, hay nói cách khác, quá trình chuyển hóa nhiệm vụ, yêu cầu học tập cũng như cơ chế hình thành ở bản thân học sinh diễn ra chậm chạp

Một trong những đặc điểm chi phối hoạt động học tập của học sinh DTTS cấp tiểu học là vốn ngôn ngữ - phương tiện để học tập và môi trường học tập còn hạn chế Đây là hai vấn đề quan trọng nếu xét ở phương diện dạy học để có thể

tổ chức tốt các hình thức dạy học thích hợp cho các em

Tiếng Việt với học sinh DTTS miền núi phía Bắc là ngôn ngữ thứ hai, do

đó, trình độ tiếng Việt của các em còn hạn chế, làm trở ngại đến quá trình tiếp thu tri thức cũng như hoạt động tự học, kĩ năng học tập trung và kĩ năng hoạt động của học sinh Do vốn từ hạn chế nên nhiều em ngại tiếp xúc, thiếu mạnh dạn trong trao đổi thông tin Trên lớp, các em ngại phát biểu, thảo luận, bảo vệ ý kiến vì sợ sai, xấu hổ

Trang 26

Vốn tiếng Việt của một số HS DTTS miền núi phía Bắc vào học tiểu học chưa nhiều Các em lại phải tiếp xúc ngay với chương trình các môn học khá mới

mẻ, ngôn ngữ thể hiện cũng xa lạ với các em Do đó khả năng tiếp thuu bài giảng (qua nghe lời giảng của giáo viên, qua đọc - tài liệu học tập) và khả năng thực hiện yêu cầu của các bài tập (nói - viết) chưa đáp ứng được đòi hỏi của chuẩn kiến thức,

kĩ năng Khả năng hiểu ngôn ngữ tiếng Việt của các em học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học còn rất hạn chế Một bài văn trong SGK có nhiều từ các em chua hiểu, nhất là các từ ngữ có ý nghĩa trừu trượng, khái quát cao, hay ít sử dụng trong cuộc sống hàng ngày…

Do khả năng hiểu ngôn ngữ hạn chế, vốn từ chưa được phong phú, học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và học tập, thể hiện rõ nhất trong các bài kiểm tra viết, đọc hiểu, trả lời câu hỏi Các em viết sai nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp; chưa biết

sử dụng dấu câu; bài viết thiếu mạch lạc, kiến thức lộn xộn Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên học sinh một số dân tộc còn có hiện tượng sai trong trật tự câu (Ví dụ: “Bạn đi đâu?” thì các em hỏi là “Đi đâu bạn?”)

Tư duy của học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học cũng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản như các học sinh dân tộc khác ở đồng bằng hay thành phố, đó là: tính có vấn đề của tư duy, tính gián tiếp của

tư duy, tính trừu tượng và khái quát của tư duy, tính chất lí tính của tư duy, tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học cũng có các đặc điểm tư duy riêng biệt sau đây:

Nổi bật trong tư duy của học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học là các em chưa có thói quen làm việc trí óc, đa số các em ngại suy nghĩ, ngại động não Khi vấp phải vấn đề khó trong bài học là một số các em bỏ qua, không biết đọc đi đọc lại, lật đi lật lại vấn đề để hiểu Khi suy xét một vấn đề hay một hiện tượng nào đó, các em không đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa, diễn biến, hậu quả… mà dễ dàng thừa nhận những điều người khác nói Từ đó dẫn đến việc

Trang 27

học sinh khó có cả khả năng tự học tốt Một số em thích học thuộc, thậm chí học thuộc cả phần ghi sai trong vở mà vẫn không hiểu Đó chính là hạn chế rất hay mắc phải của học sinh DTTS miền núi phía Bắc

Tư duy của một số em học sinh tiểu học người DTTS miền núi phía Bắc còn chưa linh hoạt Nguyên nhân chính là do cuộc sống của em ít có sự tranh luận hay đấu tranh, ít giao tiếp, ít va chạm với thực tế cuộc sống phức tạp như

ở miền xuôi và đô thị Mặt khác, do thiếu vốn từ vựng tiếng Việt, khả năng sử dụng ngôn ngữ yếu nên các em lúng túng trong suy nghĩ, ngại tranh luận, ngại trình bài một vấn đề khó, sợ nói sai sẽ bị các bạn cười

Trong tư duy của học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc, khả năng “tư duy trực quan - hình ảnh” tốt hơn “tư duy trừu tượng - lôgic” Đối với các sự vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi với đời sống, các em tư duy dễ dàng hơn so với các

sự vật, hiện tượng các em chưa nhìn thấy, chưa được cảm nhận

Về các thao tác tư duy, một số học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc yếu về khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát Điểm yếu cơ bản là sự thiếu hụt toàn diện khi các em phân tích, tổng hợp và khái quát Các em rất khó để có thể tổng hợp hoặc khái quát những kiến thức, tri thức đã học

là quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đấy

Hoạt động học tập không thể không có sự tham gia có trí nhớ, học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học có một số đặc điểm về ghi nhớ sau:

- Học sinh DTTS miền núi phía Bắc cấp tiểu học kém khả năng hồi tưởng đăc biệt là đối với học sinh lớp 1,2,3 Do ý chí học tập chưa cao, do việc ghi nhớ

ý nghĩa yếu nên việc tạo ra những hình ảnh cũ dễ bị không chuẩn xác, thậm chí

bị méo mó, vì thế rất khó hồi tưởng đúng hình ảnh

Trang 28

- Học sinh DTTS miền núi phía Bắc có khả năng tái nhận tốt, song tái hiện chưa tốt Điều này thể hiện qua việc khi đọc lại các tài liệu đã học, các em hiểu những nếu cho các em tự trình bày lại vấn đề đã học mà không dùng tài liệu thì nhiều em không trình bày được, thậm chí có em không nhớ lại được tài liệu

của học sinh dân tộc cấp tiểu học DTTS miền núi phía Bắc, sự tập trung chú ý thiếu bền vững Chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinh đòi hỏi một động cơ thiết thực thúc đẩy

Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định, học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì sự chú ý liên tục trong khoảng 30 - 35 phút Song sự chú ý của học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập và sự cuốn hút vào cách dạy của giáo viên Nhịp độ học tập trong lớp cần duy trì ở mức độ vừa sức với các em Nếu giáo viên tiến hành bài học quá nhanh, các em sẽ không theo kịp và không hiểu được bài Ngôn ngữ giảng dạy trong lớp học với học sinh dân tộc là ngôn ngữ thứ hai, không phải tiếng mẹ đẻ nên nếu giáo viên nói quá nhanh, hoặc ngôn ngữ nói của giáo viên không rõ ràng, không tròn vành rõ tiếng sẽ khiến học sinh rất khó theo dõi và không còn hứng thú tập trung vào bài học Giáo viên cần tổ chức các hoạt động phù hợp với khả năng của học sinh, giúp các em có cơ hội được tự trải nghiệm để tự lĩnh hội kiến thức

1.2 Cơ sở thực tiễn

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học Bên cạnh việc học Toán để phát triển tư duy logic cho học sinh, việc

Trang 29

học Tiếng Việt sẽ giúp học sinh hình và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm

Ở bậc tiểu học, tầm quan trọng của môn Tiếng Việt được thể hiện rõ rệt qua 2 giai đoạn:

Đối với trẻ học lớp 1, 2, 3, nội dung của môn Tiếng Việt tập trung hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói dựa trên vốn Tiếng Việt mà trẻ đã có Các bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành, được thấm vào học sinh một cách tự nhiên qua các bài học thực tế Ví dụ, học âm “e”, sau đó viết con chữ “e” Những tri thức về

âm - chữ cái, về tiếng (âm tiết) - chữ, về thanh điệu - dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ Những tri thức về câu trong đoạn hội thoại (câu hỏi, đáp

và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lý thuyết mà học sinh được hình dung

cụ thể trong một văn bản cụ thể

Ở giai đoạn này, trẻ sẽ nhận diện được và sử dụng được các đơn vị của Tiếng Việt, các quy tắc sử dụng Tiếng Việt trong lúc đọc, viết, nghe, nói Vậy nên, việc học Tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền tảng cho trẻ trong việc phát triển tư duy ngôn ngữ, biểu hiện qua việc trẻ đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ động, rành mạch

Về nội dung môn học, học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kỹ năng Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), học sinh được học các bài về trí thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách,…) Những bài học này cũng không phải là lý thuyết đơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe,

Trang 30

nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm Nội dung chương trình giai đoạn này nhằm phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn

Ở giai đoạn lớp 4, lớp 5 trẻ bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở học sinh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi xúc cảm, tình cảm Nhà trường tạo môi trường để hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Giúp các em phát triển khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho trẻ Nội dung kỹ năng sống được thể hiện ở tất cả các nội dung của môn học Những kỹ năng đó chủ yếu là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản thân, Thông qua các kỹ năng này sẽ giúp trẻ nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh

Nói tóm lại, Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất nước, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học - lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Vì vậy, Tiếng Việt không những là “công cụ của tư duy” mà còn bước đệm để hình thành nhân cách của một đứa trẻ

Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của

tư duy

Trang 31

Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chương trình và sách giáo khoa rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, 2, 3 ở trường tiểu học qua các phân môn phân môn Tập đoc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Nội dung rèn luyện kĩ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1,2,3 quy định trong chương trình ban hành năm 2018 như sau:

- Nói lời chào hỏi, chia

tay trong gia đình,

trường học

- Trả lời câu hỏi; đặt câu

hỏi đơn giản (theo mẫu)

- Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, đề nghị,

tự giới thiệu; đáp lời cảm ơn, xin lỗi, lời mời trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng

- Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội

- Nói, kể theo chủ điểm tuần

- Kể lại những câu

chuyện được nghe kể

trên lớp (kết hợp nhìn

tranh minh họa và đọc lời

gợi ý dưới tranh)

- Nói về mình và người

thân bằng một vài câu

- Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý

- Giới thiệu về quê hương, đất nước

- Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu)

về hoạt động của tổ, lớp, chi đội

Trang 32

* Lớp 1:

Học sinh được rèn luyện kỹ năng nói thông qua các chủ điểm trong phân môn Tập đọc và Kể chuyện Ngay từ những bài học đầu tiên của lớp 1, HS đã được luyện nói theo chủ đề gần gũi như: Bố mẹ ba má; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Điểm 10; Bữa cơm; Thiên nhiên… Do đó GV có thể cho HS sắm vai nhân vật, thể hiện tình cảm của ông bà, ba mẹ đã yêu thương, quan tâm, chăm sóc em, hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ của mình Điều này phù hợp với tâm lí HS lớp 1 và thuận lợi cho việc dạy học theo nguyên tắc giao tiếp

Hệ thống bài tập (HTBT) đi từ đơn giản đến phức tạp Nếu như trong phần luyện âm vần chỉ yêu cầu HS nói một câu hay nhiều câu gắn với âm vần mới học thì trong phần Luyện tập tổng hợp lại yêu cầu HS có KNN ở mức độ cao hơn như nói trong hội thoại, nói độc thoại, nói các câu liên kết với nhau tạo thành ý Nội dung các bài tập thể hiện thông qua các hình thức khác nhau: hình thức sử dụng nghi thức lời nói, hình thức đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, kể chuyện, hình thức nhận xét, đánh giá

Thông qua việc khảo sát sách giáo khoa chúng tôi tổng hợp được các bài tập rèn kỹ năng luyện nói cho học sinh lớp 1 như sau:

- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học

Ví dụ: Tập nói lời chào [16.47]

- của bé với mẹ trước khi bé vào lớp,

- của bé với cô giáo trước khi bé ra về

- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)

- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi đơn giản (theo mẫu)

Ví dụ: Hỏi nhau về nghề nghiệp của bố [16.86]

Trang 33

- Nói về mình và người thân bằng một vài câu

Ví dụ: Kể về anh chị của em [16.140]

Sách giáo khoa Tiếng Việt 2,3 khung chương trình tương đối giống nhau bao gồm 15 đơn vị học, nỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần ở lớp 2)

* Lớp 2:

- Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, đề nghị, tự giới thiệu; đáp lời cảm ơn, xin lỗi, lời mời trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng

Ví dụ: [27.38]

1 Nói lời cảm ơn của em trong các trường hợp sau

a Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa

b Cô giáo cho em mượn quyển sách

c Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi

2 Nói lời xin lỗi của em trong các trường hợp sau:

a Em lỡ bước, giẫm vào chân bạn

b Em mải chơi quên làm việc mẹ dặn

c Em đùa nghịch va phải một cụ già

Trang 34

3 Hãy nói 3,4 câu về nội dung bức tranh, sử dùng lời cảm ơn xin lỗi thích hợp

- Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý

Ví dụ: kể về gia đình em [27.110]

Gợi ý:

a Gia đình em gồm mấy người? Đó là những ai?

b Nói về từng người trong gia đình em

c Em yêu quý những người trong gia đình em như thế nào?

a Đội thành lập ngày nào?

b Những đội viên đầu tiên của Đội là ai?

c Đội được mang tên Bác Hồ từ khi nào?

- Nói, kể theo chủ điểm tuần:

Ví dụ: kể về một người lao động trí óc mà em biết [30.38]

Gợi ý:

a Người đó là ai làm nghề gì?

b Người đó hằng ngày làm những việc gì?

c Người đó làm việc như thế nào?

- Giới thiệu về quê hương, đất nước

Ví dụ: mang tới lớp tranh, ảnh kể về một cảnh đẹp ở nước ta (ảnh chụp,

bưu ảnh, tranh ảnh cắt từ báo chí,…) Nói những điều em biết về cảnh đẹp ấy theo gợi ý dưới đây [29.102]:

Trang 35

a Tranh (ảnh) vẽ (chụp) cảnh gì? Cảnh đó ở nơi nào?

b Màu sắc của tranh (ảnh) như thế nào?

c Cảnh trong tranh (ảnh) có gì đẹp? Cảnh trong tranh (ảnh) gợi cho em những suy nghĩ gì?

- Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp, chi đội

Ví dụ: hãy cùng các bạn trong tổ mình tổ chức một cuộc họp [29.61]

Gợi ý: Trao đổi về trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng

Ví dụ: tôn trọng luật đi đường, bảo vệ của công, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khan

Hệ thống bài tập trong chương trình Tiếng Việt tiểu học nhằm hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cơ bản cho học sinh tiểu học Trong một tiết học

đã có sự kết hợp của nhiều dạng bài phù hợp với từng chủ điểm Việc kết hợp những dạng bài không những kích thích tư duy, hứng thú học tập của học sinh

mà còn hình thành, phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em, đồng thời còn giúp giáo viên phát huy những năng lực chuyên môn vốn có và tổ chức bài học dưới nhiều hình thức khác nhau

Chúng tôi đã tổ chức khảo sát vào tháng 4 năm 2019 trên địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Kạn Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng trên quy mô nhỏ với đối tượng khảo sát là 15 giáo viên và 100 học sinh Cụ thể như sau:

giáo viên

Số lượng học sinh

Trang 36

Nhằm hoàn thiện cơ cấu hệ thống và mạng lưới cơ sở giáo dục, đa dạng hình thức dạy học của giáo viên vùng DTTS và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, xuất phát từ quan điểm dạy học trong giao tiếp và thông qua giao tiếp, nhiều giáo viên ở vùng DTTS miền núi phía Bắc đã chú trọng thiết kế nội dung, tình huống giao tiếp gây được hứng thú cho học sinh, linh hoạt trong quá trình tổ chức dạy học và nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của việc luyện nói cho học sinh tiểu học vùng khó khăn sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học được thể hiện trong phiếu khảo sát giáo viên ở phần phụ lục

Tuy nhiên, trên thực tế còn có nhiều giáo viên còn chưa chú trọng việc rèn

kỹ năng nói cho học sinh Một số giáo viên vẫn chỉ giảng dạy theo Sách giáo viên hay thiết kế bài giảng để đáp ứng đúng thời gian và yêu cầu của chương trình mà chưa quan tâm đến hiệu quả dạy học đối với học sinh DTTS trong lớp học do chính giáo viên giảng dạy Vì vậy, khi học đến nội dung luyện nói lớp học thường kém hấp dẫn khiến cho tư duy sáng tạo của học sinh bị hạn chế, mất hứng thú rèn luyện kỹ năng nói, nhiều em học sinh phản ứng chậm, rụt rè, ngại nói, ngại giao tiếp và hầu như không phát biểu gì trong tiết học dần thành thói quen không chú ý luyện tập

Trong các giờ học có rèn kỹ năng luyện nói đòi hỏi cả giáo viên và học sinh cần tích cực, chủ động tạo hứng thú học tập từ đó giải quyết nhiệm vụ học tập có hiệu quả, nhưng nhiều giáo viên trong các tiết dạy phân tích bài học còn chưa hiệu quả, thiếu sinh động, chưa hấp dẫn, đôi khi còn sử dụng tiếng dân tộc vào bài học khiến các em lơ là, mệt mỏi, không có ấn tượng với bài học đối với học sinh khác ở lớp Một số giáo viên vùng DTTS miền núi phía Bắc đa số học sinh trong lớp là người DTTS thì học sinh vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của lời giảng của giáo viên, giáo viên phải kết hợp giảng bài và giải thích cho các em hiểu nội dung bài thông qua tiếng dân tộc

Trang 37

Vì vậy, giáo viên tiểu học ở các trường có đặc điểm nhiều học sinh DTTS với trường tỉ lệ học sinh DTTS ít sẽ phải có những biện pháp khác nhau Tuy vậy mỗi giáo viên cần bồi dưỡng về các quy tắc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, đồng thời mỗi giáo viên cần rèn luyện kĩ năng nói và viết tiếng Việt một cách có

ý thức và văn hóa Có như vậy, giáo viên mới có thể dạy nội dung luyện nói được hiệu quả cao

Trước khi đến trường, học sinh tiểu học DTTS miền núi phía Bắc nói riêng

và học sinh tiểu học nói chung, đã có một vốn từ nhất định thông qua quá trình giao tiếp với cộng đồng đó là những người thân, bạn bè đồng trang lứa, làng, bản Tuy vậy, việc giao tiếp của đó chỉ mang tính chất tự phát, bắt chước vì các em chưa hiểu

rõ mục đích hay cách sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp

cụ thể trong cuộc sống Đối với học sinh DTTS quá trình luyện nói tiếng Việt trước tuổi đi học còn hạn chế một số vùng chỉ sử dụng tiếng dân tộc trên địa bàn chủ yếu

là người dân tộc sinh sống, đa số học sinh DTTS miền núi phía Bắc đều rất tự nhiên khi giao tiếp trong các hoàn cảnh khác nhau Các tình huống chủ yếu đưa ra đều được các em hiểu và trả lời ngay lập tức Tuy nhiên các em còn ấp úng, chưa lưu loát, các câu trong một bài nói thường có cùng một kiểu cấu trúc lặp đi lặp lại Vì vậy, một số học sinh tỏ ra ngại nói, ngại giao tiếp, các em còn rụt rè, ấp úng, ngượng ngập trong khi giải quyết các tình huống và khi nói trước các bạn ở lớp học Điều này cho thấy khả năng tạo lập lời nói của học sinh DTTS miền núi phía Bắc còn hạn chế nhiều

Do đặc điểm tư duy, vốn ngôn ngữ, vốn sống, nhiều khi còn do hoàn cảnh sống và giao tiếp nên học sinh tiểu học gặp nhiều khó khăn khi thực hành luyện nói trong những tình huống cụ thể và khi nắm những kiến thức, kĩ năng mà giáo viên cung cấp trước khi thực hành luyện tập

Đối với các bài tập đòi hỏi sự sáng tạo, các em mới chỉ đưa ra những câu trả lời còn đơn giản, theo một cấu trúc giao tiếp thường ngày của các em

Trang 38

Chẳng hạn: Trong bài tập 1 (SGKTV2, tập 1)

đối với bạn trong các trường hợp sau:

Khi làm bài tập này, hầu hết các em sẽ đưa ra các câu nói:

Như vậy các em chỉ mới hiểu trong những tình huống đó cần nói kiểu câu

gì mà chưa chú ý đến nội dung, hoàn cảnh và mục đích giao tiếp

Nguyên nhân dẫn đễn tình trạng trên là do học sinh chưa có sự tư duy sáng tạo và giáo viên chưa có sự định hướng rõ ràng, tỉ mỉ cho học sinh trong từng tình huống giao tiếp Với bài tập trên, nếu được hướng dẫn cụ thể học sinh có thể giải quyết tốt hơn như:

Lỗi phát âm chưa đúng

Ví dụ: Khi luyện nói về: người lao động trí óc mà em biết [30.38],

mang tới lớp tranh, ảnh kể về một cảnh đẹp ở nước ta (ảnh chụp, bưu ảnh, tranh ảnh cắt từ báo chí,…) Nói những điều em biết về cảnh đẹp ấy theo gợi ý dưới đây [29.102]…

Có rất nhiều HS mắc phải lỗi phát âm các âm như: r/d, x/s, ch/tr, l/n chưa đúng vì do anh hưởng của địa phương và chưa nắm được quy tắc chính tả Đây

là lỗi cơ bản không chỉ HS DTTS mắc phải mà HS thông thường cũng mắc phải Việc phát âm sai sẽ ảnh hưởng tới việc rèn kỹ năng nói của em rất khó khăn với

GV

Trang 39

Lỗi không nắm được mục đích giao tiếp

Ví dụ: Bài tập 2 (SGKTV2, tập 2) của em trong những trường hợp sau:

Khi làm bài tập này, hầu hết các em đều đưa ra những câu nói:

Như vậy các em mới hiểu được cần nói lời cảm ơn khi được người khác an ủi, lời nói của các em đã phù hợp với nhân vật giao tiếp nhưng chưa chú ý đến mục đích giao tiếp Nếu được hướng dẫn cụ thể khi phân tích tình huống thì học sinh có thể nói được nhiều hơn, lời nói phong phú hơn Các em không chỉ cảm ơn đơn giản mà khi nhận được những lời an ủi, động viên của người khác thì lời đáp của các em còn thể hiện được sự biết ơn và thái độ của mình

Trang 40

Ngoài ra, học sinh tiểu học còn mắc lỗi do không nắm được vai giao tiếp, nội dung giao tiếp

- Nhược điểm: trong quá trình khảo sát các em còn mắc một số lỗi về phát âm Còn ngại nói trước đám đông, chưa tự tin thể hiện ý kiến cá nhân Khi làm việc nhóm

kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng đưa ra vấn đề thảo luận còn nhiều hạn chế

Đối với giáo viên, việc rèn kỹ năng nói cho chính giáo viên bản địa là điều cần thiết nhất Tuy nhiên việc rèn luyện kỹ năng nói chuẩn khá khó khăn với các thầy cô Do đặc điểm vùng miền, thói quen sử dụng ngôn ngữ, các yếu

tố khác… Việc nắm được mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp rất quan trọng trọng giao tiếp tuy nhiên HS lại mắc phải những lỗi cơ bản này làm cho

kỹ năng giao tiếp bị hạn chế Chính vì vậy, giáo viên ở đây còn có những hạn chế:

- Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học của trò chưa hiệu quả

- Một số giáo viên còn phát âm theo ngôn ngữ địa phương các vùng miền của mình nên rất khó khăn khi rèn đọc Tiếng Việt cho học sinh dân tộc

- Một số giáo viên khi dạy học còn lạm dụng việc sử dụng tiếng dân tộc quá nhiều, không đúng cách, không đảm bảo việc dạy Tiếng Việt

- Giáo viên khi dạy học chưa giúp học sinh hiểu rõ mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp trong các tình huống thực tế cuộc sống

Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt không phải là ngôn ngữ duy nhất để các em tiếp thu kiến thức và nhận biết thế giới xung quanh, các

Ngày đăng: 06/08/2021, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Hoà Bình, Phan Phương Dung (2000), "Rèn kĩ năng nói viết cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn", , Số 77 tr.: 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng nói viết cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn
Tác giả: Hoàng Hoà Bình, Phan Phương Dung
Năm: 2000
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên (2006), , NXB Giáo Dục Khác
6. D Dự án phát triển giáo viên tiểu học (2006), , NXB Giáo dục Khác
7. Nguyễn Thùy Dung (2016), , Trang tin tức và sự kiện trường đại học Tây Bắc8. Hữu Đạt (2009), , NXBGiáo dục Khác
13. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh (1998), , NXB Giáo dục Hà Nội Khác
15. Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy (2000), , NXB Giáo dục Hà Nội.16. Kak-Hai-Nodich, , NXB Giáo dục Hà Nội Khác
17. Lưu Thị Lan (1996), , Luận án tiến sĩ trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
18. Đặng Thị Lanh ( chủ biên) - Hoàng Hòa Bình - Hoàng Cao Cương - Trần Thị Minh Phương (2006), (tập hai), NXB Giáodục Việt Nam Khác
19. Đặng Thị Lanh (Chủ biên) - Hoàng Cao Cương - Trần Thị Minh Phương (2006), (tập một), NXB Giáo dục Việt Nam.20. Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán (2006), , NXBĐại học sư phạm21. Linda Maget, , NXB Hồng Đức Khác
22. Trần Thị Hiền Lương (2007), Đề tài NCKH cấp Viện, Viện KHGD Việt Nam Khác
23. Ngô Giang Nam (2013), , Luận án Tiến sĩ Đại học sư phạm Thái Nguyên Khác
24. Lê Phương Nga (chủ biên), Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo (2011), , NXB Đại học Sư phạm.25. Lê Phương Nga (2011), , NXBĐại học Sư phạm Khác
26. Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng (2001), , NXB Giáodục, Hà Nội Khác
27. Phạm Thị Phượng (2018), , Sáng kiến kinh nghiệm trường tiểu học Võ Thị Sáu Khác
28. Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), , NXB Đại học Sư phạm TPHCM Khác
29. Đặng Thị Lệ Tâm (2010), , Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 9 Khác
30. Đặng Thị Lệ Tâm (2011), , Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 9/2011 Khác
33. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) - Lê Ngọc Diệp - Lê Thị Tuyết Mai - Bùi Minh Toán - Nguyễn Trí (2019), (tập hai), NXB Giáo dục Việt Nam Khác
34. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) - Trần Mạnh Hưởng - Lê Phương Nga -Trần Hoàng Túy (2005), (tập một), NXB Giáodục Việt Nam Khác
40. Nguyễn Thị Bích Vân, , Sáng kiến kinh nghiệm trường tiểu học Ba Ngạc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w