Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ
du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực có nguồn gốc
rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kz công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hương Xuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Ngoại thương,nhất là các cán bộ, giảng viên khoa sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tácgiả hoàn thành bản luận văn này Đặc biệt, tác giả xin trân trọng cảm ơn thầy giáohướng dẫn TS Nguyễn Văn Cảnh đã hết lòng ủng hộ và hướng dẫn tác giả hoànthành luận văn
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn vàđộng viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luậnvăn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Hương Xuân
Trang 5TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn đã tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau:
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch và thực tiễn thi hành tại tỉnh QuảngNinh từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
- Làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh và pháp luật về hành vi cạnhtranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, CTKLM theo pháp luật ViệtNam
- Phân tích, đánh giá thực tiễn Pháp luật về hành vi CTKLM trong dịch vụ dulịch tại tỉnh Quảng Ninh
-Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về dịch vụ du lịch tại tỉnhQuảng Ninh
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và phápluật về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Tổ chức thực hiện pháp luậtcạnh tranh về du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
du lịchXuất nhập khẩuKinh doanh nhà hàng
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ DU LỊCH 7
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tronglĩnh vực dịch vụ du lịch 7
1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ
du lịch
7
1.1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lạnh mạnh 7 1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại về dịch vụ du lịch 10 1.1.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực dịch vụ
Trang 81.3.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực du lịch 27 1.3.2 Biện pháp xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
28
Trang 91.3.3 Quy định về thẩm quyền xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
28
1.4 Các yêu tố ảnh hưởng đến pháp luật về hành vi cạnh tranh trong lịch vực du lịch 29
1.4.1.Yếu tố chính trị 29
1.4.2 Trình độ, năng lực xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện về hành vicạnh tranh trong lĩnh vực DVDL 29 1.4.3 Yếu tố về ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý 30
1.4.4 Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực du lịch 30 Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ THỰC TIỀN THỰC THI TẠI TỈNH QUẢNG NINH 33
2.1 Thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 33
2.1.1 Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 33 2.1.2 Các quy định về hình thức xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Dịch vụ du lịch 34 2.1.3 Các quy định về thẩm quyềm xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 36 2.2 Tổng quan về tỉnh Quảng Ninh 36
2.2.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiện 36
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 39
2.2.2.1 Tài chính, tín dụng 39
2.2.2.2 Đầu tư, xây dựng 40
2.2.2.3 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 40
Trang 102.2.2.4 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 41 2.2.2.5 Sản xuất công nghiệp 42
Trang 112.2.2.6 Thương mại, dịch vụ 42 2.2.2.7 An sinh xã hội 43 2.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội đến thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại tỉnh Quảng Ninh 44
2.3 Thực trạng về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch trong thời gianqua và thực tiễn xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch thực tiễn tạitỉnh Quảng Ninh 45
2.3.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang tính chất lợi dụng 45 2.3.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang tính chất công kích 48 2.3.3 Các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng 51 2.3.4 Nhóm các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực dịch vụ du lịch thực thi hiệu quả pháp luật về hành vi cạnh tranh
Trang 12không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 70
Trang 133.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 70
3.1.2 Định hướng thực thi hiệu quả pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch ở Việt Nam 80
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch 75
3.2.1 Tăng cường tính công khai, minh bạch và sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân, của đối tượng điều chỉnh, đối tượng chịu sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực DVDL 75
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực DVDL mang tính toàn diện, đảm bảo bao quát hết các loại hành vi và chủ thể thực hiện hành vi nhằm cạnh tranh không lành mạnh 76 3.2.3 Giải pháp đổi mới quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực DVDL đảm bảo tính khả thi 78 3.2.4 Giải pháp nâng cao nhận thức cho cộng đồng doanh nghiệp và quần chúng nhân dân về pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực DVDL nói riêng 79 3.2.5 Giải pháp thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch tại tỉnh Quảng Ninh 80 3.2.6 Một số đề xuất để hoàn thiện các giải pháp 81
3.3 Một số giải pháp nâng cao khả năng thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch tại tỉnh Quảng Ninh 90
3.3.1 Đối với cấp Tỉnh 90
3.3.2 Đối với cấp Sở ngành 84
3.3.3 Đối với các cơ quan liên quan 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế năng động của mọi nền kinh tế, phát triển với tốc
độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giới Những nhịp độ tăng trưởng cao vàdòng chảy đầu tư lớn vào du lịch có ảnh hưởng tích cực đến các khu vực kinh tếkhác nhau (nhà nước hoặc tư nhân) và tạo ra một ngành công nghiệp quan trọng -công nghiệp du lịch Du lịch chiếm 6% tổng sản phẩm quốc dân thế giới, 7% đầu tưtoàn cầu, 1/16 chỗ làm việc, 11% chi phí tiêu dùng thế giới Dịch vụ du lịch trởthành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước Ngành du lịch pháttriển sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác như vận tải, bưu điện,thương nghiệp, tài chính, các hoạt động phục vụ sinh hoạt cá nhân, các dịch vụ phục
vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hoá thể thao Mặt khác, hoạt động dịch vụ
du lịch còn có tác dụng tăng cường các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị và sự hiểubiết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia Do đó, ngày nay không thể không nhậnthấy ảnh hưởng to lớn của dịch vụ du lịch đối với nền kinh tế thế giới Với hiệu quảnhư vậy, nhiều nước chú trọng phát triển du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tếquan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình Việt Nam cũngkhông nằm ngoài con số đó Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng phát triển hoạtđộng du lịch Dịch vụ du lịch Quảng Ninh lại là một trong những điểm sáng vô cùngtiềm năng, nơi hội tụ những vẻ đẹp tiềm ẩn, đầy quyến rũ; đã, đang và sẽ là mộtđiểm đến tuyệt vời cho những du khách thích chiêm ngưỡng cái đẹp, thích khámphá cảnh quan thiên nhiên kỳ thú nơi đây Tuy nhiên, đứng trên góc độ nhìn nhậnnào đó, dịch vụ du lịch Quảng Ninh chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềmnăng to lớn này Để đưa dịch vụ du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên địabàn Quảng Ninh cần thiết có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ những khó khăn
và hạn chế của thực trạng phát triển hoạt động dịch vụ du lịch của tỉnh Tuy nhiênlàm như thế nào để đưa dịch vụ du lịch Quảng Ninh trở thành ngành kinh tế mũinhọn lại là vấn để cần được xem xét trong thời điểm thực tiễn này.Thực tế cho thấy,trong lĩnh vực này đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến hoạt động cạnhtranh lành mạnh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Trang 15khác nhau, tác động xấu đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam, như: Nội dungquảng cáo không trung thực, sai lệch nhiều mặt, dùng những hình ảnh, cử chỉ, lờinói gây phản cảm, vi phạm đạo đức truyền thống…
Với tính chất phức tạp và đa dạng, các hành vi cạnh tranh, cạnh tranh khônglành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh củaLuật Cạnh tranh, được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 6 tháng 12/2004
và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Với cácphân tích ở trên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thihành pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh gian dối, không lành mạnh tronglĩnh vực dịch vụ du lịch có ý nghĩa quan trọng để vận dụng trong công cuộc pháttriển nền kinh tế, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh ởnước ta Đây là cơ sở để học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh QuảngNinh” để nghiên cứu và làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung được rất nhiềunhà nghiên cứu Luật học quan tâm, trong đó đã có khá nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này ở Việt Nam Tất cả các công trình này đều đã nêu ra được bản chấtpháp lý của cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, các bàiviết về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch chủ yếu mới dừng lại ở cácbài báo, tạp chí, báo mạng, khóa luận tốt nghiệp đại học hay được đề cập một phầntrong các công trình nghiên cứu về CTKLM mà chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu về vấn đề hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Có thể kể đếnmột số công trình nghiên cứu tiêu biểu về CTKLM bao gồm: Đề tài Nghiên cứu
khoa học cấp bộ “Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004
và đề xuất áp dụng” của TS Tăng Văn Nghĩa, 2005; Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ “ Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật cạnh tranh trong thực tiễn”, Đề tài Tiến sĩ “Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn (2008) do PGS.TS Nguyễn Như Phát hướng
dẫn khoa học của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nôị; và một số bài báo, tạp chí
Trang 16chuyên ngành cũng như rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cạnh tranh khônglành mạnh, trong đó có đề cập đến vấn đề về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch
vụ du lịch
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học thì vấn đề pháp luật về hành vi CTKLMtrong lĩnh vực du lịch hầu như chưa có công trình nghiên cứu Tuy nhiên, có một số
đề tài nghiên cứu khoa học đã công bố có liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành Du lịch năm 2007 của tác giả Trần
Việt Dũng: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận; đánh giá thực
trạngnăng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ du lịch Việt Nam từ đó chỉ ra nhữngđiểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội đối với ngành du lịch Việt Nam tronggiai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Học tập kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnhtranh của ngành du lịch ở một số nước có ngành du lịch phát triển trên thế giới.Đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch ViệtNam
- Luận văn thạc sĩ năm 2009 của tác giả Vũ Thu Giang với tiêu đề: Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam,
của trường Đại học ngoại thương Hà Nội Đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận cơbản về cạnh tranh, đánh giá thực trạng về CTKLM ở Việt Nam từ đó đưa ra đề xuất,giải pháp xử lý thỏa đáng hành vi CTKLM ở Việt Nam
Bài viết đăng trên Báo điện tử Tổng cục du lịch ngày 12 tháng 4 năm 2017 của
tác giả Minh Nhân - Vụ Thể thao và Du lịch có tựa đề: Tour giá rẻ, Tour 0 đồng: Bản chất và giải pháp Đã làm rõ những vấn đề của CTKLM trong các Tour du lịch
từ đó đưa ra đề xuất, giải pháp xử lý thỏa đáng hành vi CTKLM trong lĩnh vựcDVDL ở Việt Nam Bài viết đăng trên Báo Thanh niên ngày 22 tháng 7 năm 2017
của tác giả Hà Mai có tựa đề: Cạnh tranh trên thị trường du lịch trực tuyến Đã chỉ
ra thực trạng CTKLM trên thị trường du lịch trực tuyến Và đưa ra được giải phápcho các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này
Bài viết đăng trên báo điện tử Petro Times ngày 29 tháng 3 năm 2018 của tác
giả Thùy Trang có tựa đề: Doanh nghiệp du lịch bức xúc vì cạnh tranh không lành
Trang 17mạnh Đã chỉ ra những vấn đề bức thiết gây lo lắng cho các doanh nghiệp du lịch do
hành vi CTKLM
Luận văn kế thừa một số vấn đề, nội dung mang tính chất lý luận chung và tậptrung nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch
vụ du lịch phân tích, luận giải thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh
Tuy nhiên các đề tài này chủ yếu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngành
du lịch Việt Nam mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật về hành vi CTKLMtrong lĩnh vực dịch vụ du lịch theo pháp luật cạnh Việt Nam và thực tiễn thực thi tạitỉnh Quảng Ninh
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ thực tiễn thi hành tại tỉnh QuảngNinh từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềhành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh và pháp luật về hành vi cạnhtranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, CTKLM theo pháp luật ViệtNam
- Phân tích, đánh giá thực tiễn pháp luật về hành vi CTKLM trong dịch vụ dulịch tại tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về dịch vụ du lịch tại tỉnhQuảng Ninh
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành viCTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Tổ chức thực hiện pháp luật cạnh tranh về
du lịch
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 18Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến pháp luật về hành vi cạnhtranh không lành mạnh trong lĩnh vực du lịch và thực tiễn thi hành tại tỉnh QuảngNinh.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được diễn ra trong hầu hếtcác lĩnh vực kinh doanh, trong phạm vi của luận văn thạc sĩ luật học, ngành luậtkinh tế học viên tập trung nghiên cứu pháp luật về hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch và thực tiễn thi hành pháp luật tại tỉnh QuảngNinh Để làm sâu sắc hơn nội hàm đề tài nghiên cứu, trong phạm vi luận văn này,học viên tập trung nghiên cứu về chế định pháp luật về hành vi cạnh tranh khônglành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch để đề xuất quan điểm và giải pháp hoànthiện pháp luật về hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch ở Việt Namhiện nay nhằm điều chỉnh và kiểm soát hiệu quả các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu pháp luật về hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch từ khi có Luật Cạnh tranh năm 2004 cho tớinay, khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện và thực thi pháp luật học viên đưa giảipháp từ nay đến năm 2023 và tầm nhìn đến năm 2028
Về không gian: Học viên nghiên cứu pháp luật thực tại của Việt Nam thực tiễnthi hành tại tỉnh Quảng Ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý luận về pháp luật về cạnh tranh
ở Việt Nam và về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch thực tiễn thi hànhtại tỉnh Quảng Ninh, thông qua đó làm rõ các vấn đề lý thuyết được đặt ra trongluận văn
Đề tài sẽ được triển khai nghiên cứu với phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học bao gồm: Phươngpháp tổng hợp; phương pháp phân tích, thống kê; phương pháp so sánh; phươngpháp điều tra khảo sát thực tiễn để hoàn thành luận văn
Trang 19Phương pháp tổng hợp và phân tích: Nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về cạnh tranh và thực trạng pháp luật CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch ở ViệtNam
Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê các văn bản quy phạm pháp luật,
các tài liệu khác liên quan đến đề tài
Phương pháp so sánh: Luật học so sánh việc áp dụng các quy định của pháp
luật với thực trạng áp dụng pháp luật tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ dulịch, so sánh các quy định của pháp luật hiện hành và các văn bản đã bị thay thế
6 Ý nghĩa của luận văn
Với kết quả nghiên cứu của luận văn, đây có thể là tài liệu để các cá nhân, tổchức có thể tham khảo trong quá trình nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng thựctiễn công tác trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hành vi CTKLM tronglĩnh vực dịch vụ du lịch
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, nội dung chính của luậtvăn gồm ba chương theo hướng đi từ những vấn đề chung mang tính khái quát đếnnhững vấn đề cụ thể hơn từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành viCTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Bao gồm:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hành vi cạnh tranh và thực tiễn hoạt động cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh và tổ chức thực hiện pháp luật về hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Ninh.
Trang 20CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ DU LỊCH
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
1.1.1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lạnh mạnh
Cho đến nay, vai trò của cạnh tranh trong việc cân bằng cung cầu trên thịtrường, tạo động lực đổi mới và phát triển cũng như bảo vệ quyền lợi cho người tiêudùng Tuy nhiên, để đem lại những lợi ích như vậy, hoạt động cạnh tranh cần đượcduy trì trong một khuôn khổ lành mạnh và tuân theo những nguyên tắc nhất định
Có thể hiểu đơn giản hành vi cạnh tranh không lành mạnh là một thứ cạnhtranh quá mức và vì thế gây tác dụng ngược Nhà nghiên cứu người PhápDominique Brault đã trích dẫn một so sánh mang tính hình tượng: “Cạnh tranh làmột thứ rượu, dùng đúng liều nó là chất kích thích, dùng quá liều nó trở thành thuốcđộc” Nhà nước không chỉ có trách nhiệm không tạo ra lợi thế hay bất lợi cho mộtđối thủ cạnh tranh, mà còn cần ngăn chặn việc các đối thủ cạnh tranh tạo ra lợi thếcho mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào họ muốn Nếu không, trật tự kinh tế sẽ bị rốiloạn và nhiều doanh nghiệp trung thực bị gạt ra khỏi cuộc chơi Xét một cách kháiquát, pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngăn chặn các hành vi củadoanh nghiệp nhằm tạo lợi thế cạnh tranh một cách không chính đáng trước các đốithủ cạnh tranh khác Những vụ việc thực tế về cạnh tranh không lành mạnh đều thểhiện một bản chất chung theo đó doanh nghiệp toan tính đạt được thành công trênthị trường không dựa trên nỗ lực của bản thân cải thiện chất lượng, giá cả của sảnphẩm, mà bằng cách chiếm đoạt những ưu thế của sản phẩm người khác hoặc tácđộng sai trái lên khách hàng
Tuy nhiên, xét cả về lý luận lẫn thực tiễn, khi cơ chế thị trường khuyến khíchcác doanh nghiệp cạnh tranh tự do và sáng tạo, việc đánh giá tính chính đáng tronghành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và đặt ra các giới hạn cho cạnh tranh lành
Trang 21mạnh là khó khăn mà các nhà lập pháp có vẻ đã không giải quyết được triệt để vàtrong nhiều trường hợp chỉ đề ra các tiêu chí khái quát chung và trao quyền cho cơquan thực thi pháp luật cạnh tranh tự đánh giá và quyết định ở những vụ việc cụ thể.(Nguyễn Long, 2018, Tr.17).
Sự không rõ ràng trong khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh được thểhiện ngay tại một trong những định nghĩa pháp lý phổ biến nhất và lâu đời nhất của
nó, nằm tại Điều 10 bis Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Điềukhoản này được bổ sung được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được sửa đổi lầncuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, theo đó bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đingược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thươngmại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tại định nghĩa này, có thể thấy tiêuchí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh không, lành mạnh của một hành vicạnh tranh là “các thông lệ trung thực và thiện chí” không rõ ràng và ổn định, ở mỗiquốc gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội
và lịch sử của quốc gia đó
Trên thực tế, Điều 10 bis Công ước Paris đã có ý bỏ ngỏ khái niệm này chopháp luật quốc gia của các nước thành viên Công ước tự định đoạt Tuy nhiên đếncấp độ pháp luật quốc gia, tình hình cũng không có gì tiến triển hơn Sự không rõràng trong việc xác định phạm vi cạnh tranh không lành mạnh tiếp tục được thểhiện trong pháp luật nhiều nước, tại Bỉ và Luxembourg các tiêu chí này được gọi là
“thông lệ thương mại trung thực”, tại Tây Ban Nha và Thuỵ Sỹ là “nguyên tắc ngaytình”, tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”, tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan là
“đạo đức kinh doanh” Còn tại Hoa Kỳ, do thiếu định nghĩa trong các văn bản phápluật, các toà án đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “cácnguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường” Phápluật đã không đưa ra được chuẩn mực để nhận diện các hành vi cạnh tranh lànhmạnh, được chấp nhận trong kinh doanh Tiêu chí “công bằng” hay “trung thực”phản ánh các quan niệm đa chiều về kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, triết học …tồn tại trong một xã hội, do đó sẽ khác nhau giữa các quốc gia hoặc thậm chí trongcùng một quốc gia Theo thời gian, các tiêu chí này cũng có thể thay đổi Hơn nữa,
Trang 22luôn có những hoạt động cạnh tranh không lành mạnh mới, khi tính sáng tạo trongkinh doanh không có giới hạn Mọi nỗ lực nhằm bao quát trong một định nghĩa tất
cả các hoạt động cạnh tranh hiện tại và tương lai, có thể đồng thời xác định mọihành vi bị ngăn cấm và linh hoạt đủ để thích nghi với những thông lệ thị trườngmới, cho đến nay vẫn thất bại (Lâm Vũ, 2017, Tr 23)
Luật Cạnh tranh năm 2004 Việt Nam đưa ra định nghĩa về cạnh tranh khônglành mạnh tại khoản 4 Điều 3 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh làhành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩnmực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hạiđến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặcngười tiêu dùng” (Luật VN 2004) Nhìn chung, định nghĩa về cạnh tranh khônglành mạnh của Luật Cạnh tranh năm 2004 tương tự với định nghĩa của Công ướcParis và pháp luật các nước có nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới Tuynhiên, tại định nghĩa này, một lần nữa có thể thấy tiêu chí đánh giá về tính chấtkhông lành mạnh của hành vi cạnh tranh chỉ được nêu chung chung là “các chuẩnmực thông thường về đạo đức kinh doanh” Công ước Paris ít nhất còn đưa ra haitiêu chí cụ thể là tính trung thực và tính thiện chí, để dựa vào đó cơ quan côngquyền đánh giá một hành vi cụ thể trên thực tế có tỏ ra trung thực và thiện chí haykhông Đồng thời Công ước cũng khuyến nghị các nước tham gia cụ thể hóa cáctiêu chí đánh giá trong nội luật của mình để thuận tiện cho việc áp dụng pháp luật.Pháp luật cạnh tranh Việt Nam chẳng những không đưa thêm được các tiêu chíđánh giá mà còn giản lược hơn khi chỉ đề cập đến khái niệm đạo đức kinh doanh,gây khó khăn cho việc xem xét hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thực tế:
- Thứ nhất, do nền kinh tế thị trường tại nước ta mới hình thành, các quan hệkinh doanh chưa đủ thời gian để trở thành tập quán và được chấp nhận rộng rãi.Tầng lớp thương nhân của Việt Nam cũng chưa đủ đông và mạnh để có thể thốngnhất đặt ra những tiêu chuẩn chung, những hướng dẫn đóng vai trò quy tắc đạo đứccho một ngành kinh doanh
- Thứ hai, do pháp luật Việt Nam không thừa nhận án lệ, các cơ quan tài pháncủa nước ta thường có vai trò hạn chế trong việc vận dụng pháp luật, nhất là trong
Trang 23trường hợp chỉ có những quy định mang tính nguyên tắc như trường hợp về cácchuẩn mực đạo đức kinh doanh này Các cơ quan công quyền cũng không đủ hiểubiết thực tế để thay cho thương nhân đặt ra các quy tắc đạo đức trong một ngànhkinh doanh cụ thể Do đó, quy định thiếu cụ thể đối với một nội dung có vai tròđịnh vị như vậy sẽ gây trở ngại lớn cho các hoạt động thực thi pháp luật cạnh tranhtại Việt Nam.(Lâm Vũ, 2017, Tr 25).
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại về dịch vụ du lịch
“Dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của con người hay hàng hoáthuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kinh tế khácvới sự đồng ý trước của người hay chủ thể kinh tế ban đầu” Theo Từ điển Báchkhoa Việt Nam năm 2012, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãnnhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt” Do nhu cầu đa dạng và do sự phâncông lao động xã hội nên dịch vụ có thể được phân thành nhiều loại, như dịch vụphục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế, giải trí), dịch vụ cánhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình, Như vậy, định nghĩa trong Từ điểnBách khoa Việt Nam nhấn mạnh vào tính chất và mục tiêu của dịch vụ là nhữnghoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng, từ nhà sản xuất,doanh nghiệp đến người tiêu dùng Từ những phân tích trên, học viên cho rằng dịch
vụ là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người Nói cách khác, dịch
vụ là hoạt động có ý thức của con người được tiến hành nhằm đáp ứng nhu cầu củacon người trong xã hội Dịch vụ có thể phát sinh ở mọi lĩnh vực như trong đời sốnghàng ngày, trong hoạt động sản xuất, trong hoạt động kinh doanh Dịch vụ cũng có
Trang 24thể phát sinh ở phạm vimột nước và cả ở phạm vi quốc tế Chính điều này đã dẫnđến một thực tế khách quan là nhiều tổ chức quốc tế (ví dụ WTO) đã đặt ra yêu cầu
là các thành viên phải có chính sách phù hợp để thúc đẩy dịch vụ phát triển trongphạm vi thương mại quốc tế
+ Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến khôngchỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫnchưa thống nhất
Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người
có một cách hiểu về du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về
du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này làmột hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phụcsức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, pháttriển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Chúng ta cũng thấy ý tưởng nàytrong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ vàhiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tạinhững nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” (Về sau địnhnghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà
nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Picara- Edmod đưa ra địnhnghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ vềphương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và củanhững khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc giántiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam
đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên
Trang 25gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cựccủa con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lamthắng cảnh…” Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanhtổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyềnthông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước,đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch
là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ tại chỗ
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thànhhai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là:
+ Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cánhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tạichỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một sốgiá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng
+ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trongquá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhânhay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tạichỗ về thế giới xung quanh (Nguyễn Long, 2018, Tr.24)
Khi điều kiện kinh tế chưa phát triển, người ta coi du lịch như một hiện tượng
xã hội mang tính nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức con người và dịch
vụ du lịch là thoả mãn nhu cầu cho tầng lớp trên của xã hội kiếm được tiền ở mộtnơi và đi tiêu tiền ở một nơi khác Điều kiện kinh tế phát triển hơn, người ta nhậnthức được du lịch không còn là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà còn là một hoạtđộng kinh tế, trong đó những hoạt động dịch vụ phối hợp với nhau nhằm thoả mãnnhu cầu của con người
Khi kinh doanh du lịch phát triển, trở thành một hệ thống mang tính tổng hợptrên phạm vi vùng miền không chỉ của một quốc gia thì người ta coi du lịch là mộtngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của cáctài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hoá để tạo ra sảnphẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách
Trang 26Pháp lệnh Du lịch (2/1999) do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCNViệt Nam quy định: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (Pháp lệnh,
1999 Tr.57)
Có thể hiểu, du lịch là một phạm trù kép; một mặt có ý nghĩa thông thường là
sự di chuyển của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí, nhưng mặt khác nó baohàm hệ quả kinh tế tự thân khi những dịch vụ hỗ trợ và cung ứng nhằm thoả mãnnhu cầu vật chất và tinh thần cho du khách, trong sự di chuyển đó
Với quan niệm trên, sản phẩm du lịch cũng mang những nét đặc trưng cơ bảnkhông như các sản phẩm vật chất thuần tuý khác Theo Từ điển du lịch (Tiếng Đức,Nxb Kinh tế Berlinh, 1984) định nghĩa: "Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch
vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cungcấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và
sự hài lòng" Theo nghĩa hẹp, thì sản phẩm du lịch là những gì du khách bỏ tiền ramua lẻ hoặc trọn gói trong chuyến đi của mình Còn theo nghĩa rộng, đó là tổng hợpnhững sản phẩm vô hình và hữu hình do con người và thiên nhiên tạo ra, có khảnăng thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho du khách về nghỉ ngơi, giải trí vànhững hoạt động có ích khác
Theo Từ điển du lịch, lữ hành, lưu trú và ăn uống, (Tiếng Anh, NxbButterworth Heinemann 1993) thì: Dịch vụ du lịch là kết quả của các hoạt độngkinh tế được thể hiện trong sản phẩm vô hình (phân biệt với hàng hoá vật chất) nhưlưu trú, vận chuyển, dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, y tế và các dịch vụ cá nhânkhác
.+ Khái niệm về dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đápứng nhu cầu của khách du lịch (Điều 4 – Luật du lịch năm 2017, tr.2)
-Đặc điểm về dịch vụ du lịch
Trang 27Dịch vụ du lịch có những đặc điểm chung của dịch vụ: là kết quả mang lại nhờcác hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng và khách hàng và thông quaviệc đáp ứng nhu cầu khách hàng đó mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ
đó Ngoài ra, dịch vụ du lịch còn có các đặc điểm mang tính đặc thù:
Thứ nhất: Tính phi vật thể - đây là đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ dulịch Người sử dụng dịch vụ không thể tiêu dùng trực tiếp dịch vụ đó trước khi mua
nó, nói cách khác quá trình sản xuất ra dịch vụ cũng gắn liền với quá trình tiêu thụ
nó Dịch vụ đồng hành với sản phẩm vật chất nhưng nó lại tồn tại dưới dạng phi vậtchất nên người sử dụng chỉ có thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ khi trựctiếp sử dụng nó Đặc điểm quan trọng này buộc các nhà cung cấp phải có tráchnhiệm trong việc tạo dựng thương hiệu thông qua cung cấp thông tin đầy đủ vàchính xác, chân thực và khách quan về những tiện ích và ưu việt của dịch vụ đối với
du khách để họ thực sự yên tâm và hài lòng về quyết định mua sản phẩm dịch vụ
Về phía du khách: phải thận trọng và cần có sự nhìn nhận, lựa chọn nhà cung cấpcăn cứ trên uy tín thương hiệu, quảng cáo sản phẩm và tham khảo thêm nhữngngười đã sử dụng dịch vụ trước khi quyết định mua dịch vụ cho mình
Thứ hai: Tính đồng thời trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ Khácvới các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra ở từngthời gian và địa điểm khác nhau, dịch vụ du lịch được sản xuất và tiêu dùng thườngdiễn ra cùng lúc Chính đặc điểm này quy định tính thời vụ trong loại hình kinhdoanh du lịch và nó làm cho công tác dự báo của ngành du lịch thực sự trở thànhmột khoa học giúp các nhà hoạch định chiến lược nắm được cung - cầu trên thịtrường mà có hướng đầu tư phù hợp Trên thực tế có nhiều bất cập xảy đến trongquá trình quản lý và kinh doanh du lịch, nguyên nhân sâu xa chính vì chưa nắm thấuđáo tính chất đặc thù này
Thứ ba: Khách hàng là một bộ phận của cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm Tính đặc thù này được quy định bởi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụdiễn ra trong một thời gian và không gian nhất định nên không tạo ra khoảng cáchgiữa người tiêu dùng và người sản xuất dịch vụ Nói cách khác, người tiêu dùngkhông chỉ hưởng thụ một cách thụ động sản phẩm dịch vụ được cung ứng, mà họ
Trang 28còn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thông qua việc phản hồi của họ vớinhà cung cấp về chất lượng và mức độ hoàn thiện của sản phẩm Thậm chí bằngkinh nghiệm và trình độ cảm nhận của mình, du khách còn là người trực tiếp sángtạo ra các sản phẩm dịch vụ giúp cho nhà cung cấp tạo ra những sản phẩm nhằmthoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng.
Thứ tư: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua và bán Đây là mộtđặc thù riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem trao đổi trên thị trường Vì
là sản phẩm không thể di chuyển trong không gian, là sản phẩm phi vật thể và cótính đồng nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên khách hàng chỉ đang muaquyền sử dụng sản phẩm chứ không hề mua được quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ
đó Khi quyền sử dụng của du khách không còn thì cũng là lúc nhà cung cấp toànquyền sở hữu đối với sản phẩm dịch vụ đó
Sản phẩm du lịch gồm: Dịch vụ du lịch và giá trị tài nguyên thiên nhiên
-Phân loại dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch gồm:
- Dịch vụ vận chuyển, nhằm đưa du khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch,
từ các điểm du lịch này đến điểm du lịch khác hoặc trong phạm vi một điểm du lịchnào đó, bằng phương tiện nhất định
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống bao gồm các dịch vụ phục vụ du khách nghỉ ngơi,thư giãn và lấy lại sức khoẻ trong hành trình du lịch của mình thông qua hệ thốngcác khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng nơi khách dừng chân
- Dịch vụ vui chơi giải trí: là loại hình giúp du khách đạt được sự thoả mãncao trong mỗi chuyến đi Bởi vậy, nên thời gian của du khách phần lớn được cácnhà tổ chức chuyên nghiệp hướng đến là đưa khách tham quan các khu du lịch, cáckhu di tích, xem văn nghệ thậm chí đến các sòng bạc, các bar café, sàn nhảy TS.Nguyễn Văn Mạnh, 2005, Tr.27)
Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu được thoả mãn về tinh thần càng lấn át nhucầu mang tính vật chất thuần tuý, do đó, nhu cầu đi du lịch ngày càng có xu hướngtăng cao trong cộng đồng dân cư Nắm được điều này, các nhà kinh doanh du lịchcàng nghiên cứu đầu tư vào dịch vụ giải trí sẽ càng thu được lợi nhuận cao Thái
Trang 29Lan, Trung Quốc, Tây Ban Nha là những quốc gia có kinh nghiệm và nhạy béntrong việc tập trung đầu tư cho dịch vụ này nên chỉ trong vòng vài thập niên đãnhanh chóng thu hút được tỉ lệ lớn khách du lịch đến từ các nước và nhờ đó đã đónggóp được một phần đáng kể ngoại tệ cho phát triển kinh tế đất nước.
Ví dụ: Thái Lan năm 2004 đón 11,6 triệu khách du lịch quốc tế, thu ngoại tệđạt 9,6 tỷ USD Khách du lịch nội địa đạt 74,8 triệu lượt khách, tạo thu nội tệ xấp xỉ
8 tỷ USD Du lịch đóng góp cho GDP năm 2005 gần 15% Ngoài ra, hoạt động dulịch đã tạo ra trên 1,3 triệu việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội (Báo điện tử,2018)
Hoặc Trung Quốc: hiện nay là quốc gia có thu nhập từ du lịch quốc tế lớn nhấtthế giới Năm 2004, Trung Quốc đón 41,8 triệu lượt khách du lịch quốc tế (nếu tính
cả khách tham quan du lịch trong ngày là 109 triệu lượt), thu nhập ngoại tệ từ dulịch đạt 25,7 tỷ USD Khách du lịch nội địa đạt 1,1 tỷ lượt khách, tạo thu nội địatương đương 65,7 tỷ USD Du lịch tạo ra 38,93 triệu việc làm gián tiếp và trực tiếpcho xã hội
Cả hai cường quốc trên đều có ưu việt nổi trội trong hoạt động du lịch và cónhiều kinh nghiệm phát triển kinh doanh du lịch Hai nước này đều luôn coi du lịch
là quốc sách và có nhiều biện pháp nhằm tạo ra chiến lược sản phẩm du lịch tốt,trong đó coi trọng việc đầu tư đồng bộ các loại hình dịch vụ giải trí cho du khách
- Dịch vụ mua sắm: thực tế đây cũng là hình thức giải trí không thể thiếu trongmột chuyến đi du lịch của du khách, được thực hiện thông qua các siêu thị, cửahàng, làng nghề truyền thống, hàng mỹ nghệ, tạp hoá, vải lụa
- Dịch vụ trung gian và bổ sung khác: y tế, công nghệ thông tin, Internet, sửachữa tuy phụ trợ nhưng loại hình dịch vụ này cũng góp phần làm thoả mãn chuyến
đi của du khách và tham gia vào việc tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh nơikhách dừng chân
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn bao gồm cả giá trị tài nguyên thiên nhiên - một
bộ phận cấu thành quan trọng, nó đòi hỏi các nhà chuyên môn trong quản lý và điềuhành phải biết phối hợp và điều tiết quá trình cung ứng sản phẩm du lịch một cáchkhoa học thực sự, mới đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời thoả mãn được nhucầu của du khách
Trang 30Trong nền kinh tế hiện đại, tỉ trọng các ngành dịch vụ có xu hướng ngày càngtăng, ở các nước tiên tiến có khi lên đến 75%, ở Việt Nam chiếm khoảng 40% Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã chỉ rõ “Cơcấu ngành trong GDP năm 2010: Khu vực nông nghiệp khoảng 15-16%, côngnghiệp -xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%”
1.1.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Xuất phát khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, có thểxác định một số đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau:
Thứ nhất: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
trước hết là một hành vi cạnh tranh do chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch trên thịtrường thực hiện Có thể phân tích vấn đề này trên hai khía cạnh:
- Một là, trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh trong lĩnh vựcdịch vụ du lịch của một doanh nghiệp cũng chính là hành vi cạnh tranh trong tươngquan với các doanh nghiệp khác, do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnhvực dịch vụ du lịch đều có thể bị xem xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệhay đạo đức kinh doanh và pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh có thể canthiệp vào nhiều hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế Đặc điểm này khiến chopháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tại một số quốc gia có thể có phạm vi ápdụng rất rộng và điều chỉnh những hành vi đa dạng Một ví dụ gần đây được nhiềungười biết đến là Điều 18 của Luật hành vi cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bảnquy định về việc hối lộ cũng bị coi là một dạng hành vi cạnh tranh không lànhmạnh Quy định này được bổ sung năm 1998 và được coi là sự nội luật hoá Côngước của OECD về Chống hối lộ đối với quan chức nước ngoài trong giao dịch quốctế
- Hai là, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanhnghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch trên thị trường
Ở đây, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chứchay cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch tìm kiếm lợi nhuậnmột cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp
Trang 31luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường Trên một phạm vi rộnghơn, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối với hành
vi của các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hànhnghề tự do (bác sỹ, luật sư, kiến trúc sư…) Và cuối cùng, liên quan đến trách nhiệm
cá nhân, theo một truyền thống chung của pháp luật cạnh tranh, một số quốc gia còn
mở rộng phạm vi đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý về vi phạm đến các cá nhân làlãnh đạo doanh nghiệp và không loại trừ các chế tài mang tính hình sự Lấy tiếp ví
dụ tại Luật hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản nêu trên, hình phạttối đa đối với các cá nhân vi phạm có thể lên đến 10 năm tù và 10 triệu yên tiềnphạt
Thứ hai, đặc điểm thứ hai của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực dịch vụ du lịch đã được nhắc tới tại phần trên, đó là tính chất đối lập, đi ngượclại các thông lệ tốt, các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc
xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trênthị trường Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật
về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, các quy định về cạnhtranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch được hình thành và hoàn thiệnqua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, không thể một sớm một chiều mà cóđược Mặt khác, đặc điểm này cũng đòi hỏi cơ quan xử lý về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch phải có những hiểu biết và đánh giásâu sắc về thực tiễn thị trường để phán định một hành vi có đi ngược lại những quytắc xử sự chung trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không
Như đã phân tích ở phần trên, với nền kinh tế thị trường mới hình thành, cácthông lệ, tập quán thương mại tại Việt Nam chưa đủ thời gian để tạo thành cácchuẩn mực đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch được các tổ chức, cánhân cùng nhận thức giống nhau và tự nguyên thực hiện như những quy tắc xử sự
có tính chất bắt buộc Tuy nhiên, người viết cho rằng vẫn có một số nguyên tắcđược khẳng định cả trong pháp luật và thực tiễn có thể sử dụng để đánh giá tínhlành mạnh của hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, cũng là những
Trang 32nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự, thương mại được quy định tại văn bản luậtkhác như Bộ luật Dân sự hay Luật Doanh nghiệp Đó là các nguyên tắc như trungthực, thiện chí, tự nguyện, hợp tác, hợp tác, cẩn trọng và mẫn cán… Và nhữngnguyên tắc khác có thể được đề xuất trong tương lai phù hợp với yêu cầu thực tếcủa công cuộc phát triển kinh tế xã hội.
Do đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh trong lĩnh vựcdịch vụ du lịch dựa trên các thông lệ kinh doanh trung thực, thiện chí, pháp luật vềhành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch luôn có trọngtâm bảo vệ các doanh nghiệp trung thực, các chuẩn mực hành vi của doanh nghiệpđược xem là trọng tâm ban đầu để xây dựng các quy định trong lĩnh vực dịch vụ dulịch Một hoạt động kinh doanh nhất định bị đa số trong cộng đồng doanh nghiệpphản đối thì hiếm khi được coi là là cạnh tranh lành mạnh
Mặt khác, một số thông lệ kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch đượccông nhận trong một số lĩnh vực nhất định, song lại bị coi là sai trái ở những lĩnhvực khác Trong những trường hợp như vậy, việc đánh giá hành vi phải dựa trên cácchuẩn mực chung hơn về đạo đức kinh doanh, trong đó xem xét khả năng quyền lợicủa người du khách bị phương hại Cũng có những trường hợp hành vi thoạt đầukhông gây hại cho du khách và các doanh nghiệp khác, nhưng về lâu dài vẫn có thểảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, do đó cần phải có biện pháp ngăn chặn thíchhợp Do đó, để đánh giá một hành vi cạnh tranh không lành mạnh không trong lĩnhvực dịch vụ du lịch thể không xem xét tác động của hành vi đó đến du khách không
mà là cả doanh nghiệp khác
Một khía cạnh khác cần phân tích liên quan đến đặc điểm đi ngược lại thông
lệ, chuẩn mực đạo đức kinh doanh của hành vi cạnh tranh không lành mạnh tronglĩnh vực dịch vụ du lịch, đó là yếu tố chủ quan của bên thực hiện hành vi Một hành
vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình luôn gắn với lỗi cố ý của bên vi phạm,mặc dù biết hoặc buộc phải biết đến các thông lệ, chuẩn mực đặt ra đối với hoạtđộng kinh doanh của mình nhưng vẫn cố tình vi phạm Tuy nhiên, trong thực tiễn
xử lý, việc xem xét đánh giá yếu tố lỗi được trao cho toà án hoặc cơ quan xử lý vụviệc, và nhiều trường hợp mang tính chất suy đoán hơn là đòi hỏi các bằng chứng
cụ thể về ý định cạnh tranh không lành mạnh của bên thực hiện hành vi Và khi vấn
Trang 33đề bảo vệ du khách được nhấn mạnh định hướng thực thi pháp luật về cạnh tranhkhông lành mạnh thì việc xem xét yếu tố lỗi càng không mang tính quyết định Vềnguyên tắc, một hành vi của doanh nghiệp cho dù chỉ là vô ý, bất cẩn nhưng gâythiệt hại cho du khách cũng vẫn phải bị ngăn chặn.
Ba là, một hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh trong lĩnh vực
dịch vụ du lịch và cần phải ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gâythiệt hại cho các đối tượng khác Đặc điểm này mang nhiều ý nghĩa về tố tụng vàđặc biệt được chú ý khi việc xử lý cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch
vụ du lịch được tiến hành trong khuôn khổ kiện dân sự và gắn liền với yêu cầu bồithường thiệt hại Câu hỏi đặt ra là liệu việc chứng minh thiệt hại thực tế được coi làbắt buộc để bắt đầu tiến trình xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không?Tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia cũng như quan điểm của cơ quan xử lý,
có các cách thức nhìn nhận khác nhau về hậu quả của hành vi cạnh tranh khônglành mạnh Trong nhiều trường hợp, cơ quan xử lý có thể chấp nhận việc “đe doạgây thiệt hại”, cũng như các thiệt hại không tính toán được cụ thể về cơ hội kinhdoanh là đủ để coi một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh và đáng bị ngăn cấm.(Chính phủ, 2013, Tr 45)
Về đối tượng chịu thiệt hại, dễ thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnhtrong lĩnh vực dịch vụ du lịch có thể tác động đến nhiều đối tượng khác nhau thamgia thị trường khác nhau, trong đó hai nhóm cơ bản là các đối thủ cạnh tranh và dukhách Điều 3 của Luật hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đức cấm “các hành vicạnh tranh không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổnhại đến các đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trườngkhác” Luật Cạnh tranh Việt Nam có đưa thêm một đối tượng có thể bị xâm hại làNhà nước, tuy nhiên đối tượng này không mang tính tiêu biểu, không phổ biếntrong quy định về cạnh tranh không lành mạnh của nhiều quốc gia, do chỉ có thể đặtvấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh tạinhững nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, vàcạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường Trong đa số
Trang 34trường hợp khác, lợi ích của Nhà nước đã được thể hiện thông qua lợi ích của cácnhóm chủ thể tham gia thị trường là doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Trước đây, một số quốc gia có cách tiếp cận cứng khi xác định một hành vi làcạnh tranh không lành mạnh ngay khi nó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnhtranh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch mà không cần xem xét ảnh hưởng đến các đốitượng khác, đặc biệt là du khách Điển hình là Luật hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trước của Đức (ra đời năm 1909 và được thay thế bằng đạo luật mới năm2004), trong đó cấm cả các chương trình khuyến mại giảm giá đặc biệt cho ngườitiêu dùng và kéo dài quá 12 ngày Hiện nay, cách nhìn nhận về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trở nên cân bằng hơn, cơ quan xử lý thường phải đánh giá cả thiệthại của người tiêu dùng và các đối tượng khác để kết luận về vi phạm Cần thấyrằng trong một phạm vi thị trường hữu hạn, doanh nghiệp thực hiện một hành vicạnh tranh bất kỳ cũng đều có khả năng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh củadoanh nghiệp đó, do vậy, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh đểxác định một hành vi là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ Trên thực tế, cáchành vi cạnh tranh gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác nhưng đem lại lợi íchthực tế cho du khách sẽ không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ điểnhình là trường hợp quảng cáo so sánh, trước đây bị coi là một trong những hành vicạnh tranh không lành mạnh điển hình, tuy nhiên từ sự cân nhắc lợi ích nó đem lạicho du khách (tiết kiệm thời gian tìm kiếm, lựa chọn), mà hành vi này đến nay đãđược chấp nhận với những điều kiện ràng buộc về tính chính xác, đầy đủ của thôngtin để tránh bị các doanh nghiệp lợi dụng công kích đối thủ cạnh tranh Việt Namhiện còn lại là một trong số rất ít các quốc gia trên thế giới cấm tuyệt đối các hìnhthức quảng cáo trong lĩnh vực dịch vụ du lịch là so sánh trực tiếp, mà không cần xétđến nội dung quảng cáo
1.1.3 Phân loại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụdu lịch
Do tính chất không rõ ràng trong khái niệm cũng như phạm vi điều chỉnh đốivới hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực DVDL, các nhà làm luật sửdụng cách tiếp cận từ mặt trái trong việc xây dựng quy định điều chỉnh trong lĩnhvực pháp luật này và luôn cố gắng xây dựng một danh sách các hành vi CTKLM bị
Trang 35cấm Nhìn chung, thông qua thực tiễn thương mại, người ta xác định được một sốhành vi luôn luôn bị coi là tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh Có thể phân loạicác hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch theo hai loại nhóm:
+ Nhóm 1: Nhóm các hành vi bất chính
Xét một cách khái quát, các hành vi CTKLM được mô tả trên đây có cùng mộtbản chất là việc tạo ra những lợi thế không chính đáng trong tương quan cạnh tranhtrên thị trường, và có thể được chia thành ba hành vi:
-Các hành vi mang tính chất lợi dụng;
-Các hành vi mang tính chất công kích;
-Các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng
+ Nhóm 2: Nhóm các hành vi gây thiệt hại
Đối với các hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch cũng có thể Phân loại theo Nhóm các hành vi gây thiệt hại như sau:
- Nhóm các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch;
-Nhóm các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại đến quyền lợi của khách du lịch;
- Nhóm các hành vi cạnh tranh gây thiệt hại môi trường, cảnh quan thiên nhiên du lịch; (Luật cạnh tranh năm 2004, Tr.37)
1.2 Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ
Trang 36thể trông đợi các thương nhân đơn lẻ thực hiện hành vi cạnh tranh lành mạnh mộtcách tự giác Xuất phát từ Điều 1382 Bộ luật Dân sự Pháp về trách nhiệm bồithường thiệt hại dân sự nói chung, một loạt các án lệ về hành vi cạnh tranh khônglành mạnh (concurrence deloyal) đã xuất hiện đem lại sự bảo vệ cho thương nhântrước các hành vi gây nhầm lẫn, gièm pha, xâm phạm bí mật kinh doanh, cạnh tranh
“ăn bám” Trong khi đó, nước Đức từ chối mô hình của Pháp và sau gần một thế
kỷ đã ban hành một đạo luật riêng về cạnh tranh không lành mạnh (1909) trong đóđưa ra các quy định giới hạn nghiêm ngặt hoạt động kinh doanh của thương nhân,trong đó có những hành vi ngày nay được coi là rất thông thường trong thực tiễnthương mại, như là khuyến mại, giảm giá Còn ở trung tâm công nghiệp và pháp lýthứ ba của Châu Âu thời kỳ đó là nước Anh, người ta không theo mô hình luậtchung kết hợp với án lệ của Pháp, cũng không theo mô hình luật riêng về hành vicạnh tranh không lành mạnh của Đức Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
hệ thống Thông luật của Anh quốc chỉ gói gọn trong việc mô tả các hành vi gâynhầm lẫn về nhãn hiệu (passing off), gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ, và sau
đó hệ thống pháp luật Hoa Kỳ cũng tiếp tục cách tiếp cận này trong việc điều chỉnhcạnh tranh không lành mạnh
Như vậy, có thể thấy pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tươngđối đa dạng, bao gồm cả án lệ, luật tục, luật thành văn, trong đó luật thành văn cóthể la quy định chung của pháp luật về dân sự, thương mại, cũng có thể là một đạoluật riêng về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hay là rải rác các quy định nằmtrong các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan
Xét về góc độ pháp luật có thể định nghĩa khái niệm pháp luật về hành vi
CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch là: Hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của Nhà nước và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch: quy định về chủ thể tham gia cạnh tranh, chủ thể chịu ảnh hưởng, các chế tài xử lý, giải quyết kiến nghị, tranh chấp của các DNDL và khách du lịch được quy định tại Luật du lịch và các văn bản hướng dẫn thi hành và nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác có
Trang 37liên quan như: Luật CT, Luật Doanh nghiệp, luật bảo vệ môi trường nhằm định hướng lĩnh vực này phát triển phù hợp với lợi ích, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước.
Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định “hành vi CTKLM là hành vi củadoanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩn mực thông thường
về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.(Luật cạnh tranh, 2004, Tr 17)
Từ đó có thể đúc rút khái niệm của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
dịch vụ du lịch như sau “CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch là hành vi của doanh nghiệp kinh doanh DVDL trong quá trình kinh doanh lĩnh vực du lịch trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc khách du lịch, gây bất ổn cho thị trường du lịch và hình ảnh của
du lịch Việt Nam trong mắt khách du lịch trong và ngoài nước”
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong ngành dịch vụ du lịch là một lĩnhvực còn ít được quan tâm trong nghiên cứu và xử lý hành vi cạnh tranh ở các nước.Một phần, đây là ngành kinh tế mới có sự phát triển chỉ trong vài thập niên gần đây,một phần, tỉ trọng của dịch vụ du lịch trong nền kinh tế các nước phát triển hầu nhưkhông đáng kể Chính vì vậy, tác động của Ngành dịch vụ du lịch trong nền kinh tếchỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các nước có nền kinh tế nhỏ hoặc đang phát triển.Nghịch lý là, chính ở các nước này, pháp luật và chính sách cạnh tranh còn rất sơkhai, thêm vào đó, ý chí chính trị để xử lý các hành vi phản cạnh tranh trong Ngànhdịch vụ du lịch thường còn yếu do e ngại việc xử lý các doanh nghiệp có yếu tốnước ngoài sẽ gây sụt giảm đầu tư và nguồn khách du lịch
Hơn nữa, đối với các hành vi phản cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch,lợi ích người tiêu dùng nội địa thường ít bị đe dọa trực tiếp, các doanh nghiệp nộiđịa hoạt động trong cùng lĩnh vực lại có lợi ích chồng chéo nên ít có sự tố cáo khiếu
Trang 38nại, vì vậy, cơ quan cạnh tranh các nước cũng ít quan tâm đến lĩnh vực này Do đó,
số lượng các vụ việc liên quan đến hành vi cạnh tranh phát hiện trong Ngành dịch
vụ du lịch còn thấp và số lượng các vụ việc được đưa ra xử lý thực tế còn ít hơnnhiều
Tuy nhiên, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
là nguy cơ thực tế do đặc thù của thị trường du lịch là có chỉ số tập trung tương đốicao Sản phẩm dịch vụ du lịch thường có khối lượng giao dịch thường xuyên vàmức cầu ổn định, ít tính thay đổi, sáng tạo Vì vậy, các hành vi thông đồng ấn địnhgiá, phân chia thị trường, áp đặt giá dịch vụ bất hợp lý, áp đặt điều kiện hợp đồnghoặc ngăn cản việc tham gia/gia nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh rất phổbiến trong Ngành Du lịch
Nền kinh tế càng nhỏ, càng khép kín thì khi mở cửa tư nhân hóa, mức độ tậptrung thị trường càng lớn Các doanh nghiệp có vị thế thị trường thống lĩnh nhờ quátrình điều tiết và bảo hộ trước đây vẫn sẽ tiếp tục chiếm vị trí thống lĩnh, mặc dù vềnguyên tắc, khi phi điều tiết theo cơ chế tự do phải có thêm nhiều doanh nghiệp mớigia nhập Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp khai thác du lịch chịu rào cản gianhập ngành lớn vì đặc thù của ngành dịch vụ là lợi thế theo quy mô, càng có quy
mô lớn, số lượng khách lớn, chi phí càng thấp, dẫn đến mức giá rẻ và khả năng cạnhtranh cao hơn
Ở các nước đang phát triển, hình thức về hành vi cạnh tranh không lành mạnhtương đối phổ biến là việc bán dưới giá thành nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Hìnhthức này có thể ở dạng giảm giá giả tạo, nghĩa là đưa ra mức giá chào bán tour vàdịch vụ du lịch thấp hơn nhiều các doanh nghiệp lữ hành khác, nhằm lôi kéo kháchhàng sử dụng dịch vụ Thực tế, doanh nghiệp lữ hành lại cấu kết với các doanhnghiệp cung ứng các dịch vụ khác (thuốc, đồ lưu niệm, quà tặng đặc chủng của địaphương ) nhằm thu lợi bất chính từ việc bán chênh nhiều lần các mặt hàng này, cótrường hợp chênh đến cả 100 lần so với mức giá bán lẻ ngoài thị trường Thậm chí,
có trường hợp doanh nghiệp lữ hành tự mở các doanh nghiệp sân sau cung cấp cácdịch vụ bán hàng này khiến cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính không thểcạnh tranh nổi về giá
Trang 39Một đặc điểm khác liên quan đến hành vi cạnh tranh KLM mà các doanhnghiệp dịch vụ du lịch ở các nước đang phát triển phải đối mặt là việc phụ thuộc và
bị ép giá khi liên kết cung cấp dịch vụ du lịch cho khách nước ngoài Các công ty lữhành quốc tế với tiềm lực kinh tế lớn và với lợi thế nắm nguồn cung khách có khảnăng thao túng đáng kể mức giá cung ứng dịch vụ mà các doanh nghiệp sở tại cungcấp Các công ty này còn buộc các doanh nghiệp địa phương phải ký các hợp đồngđộc quyền, chỉ cung cấp dịch vụ cho một bên mà không được bán hoặc giới thiệucho các khách khác Ngay từ năm 1998, báo cáo của Hội nghị Liên Hiệp Quốc vềthương mại và phát triển (UNTACD) liên quan đến Ngành dịch vụ du lịch đã chỉ rarằng, các dịch vụ liên quan đến du lịch do các nước đang phát triển cung cấp phảichịu sự cạnh tranh lớn từ các công ty lữ hành đa quốc gia vì các doanh nghiệp cungcấp các dịch vụ này hầu hết đều là các doanh nghiệp nhỏ, không có vị thế và kỹnăng thương thuyết nên thường phải chịu các hợp đồng bất lợi
Đối với các nước phát triển, hình thức cạnh tranh KLM phổ biến nhất tronglĩnh vực du lịch là hành vi cạnh tranh do các doanh nghiệp lữ hành lớn (thường là
đa quốc gia) và hành vi cạnh tranh do các doanh nghiệp vận tải hàng không gây ra.Hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành đa quốc gia gây thiệt hại khôngchỉ cho các doanh nghiệp du lịch ở các nước đang phát triển, mà chính người tiêudùng ở các nước phát triển cũng chịu thiệt hại do không thể xác định được giá giaodịch thực giữa các doanh nghiệp lữ hành này với các bên cung cấp dịch vụ tại điểmđến Đối với hành vi cạnh tranh liên quan đến các doanh nghiệp vận tải hàng không,đối tượng thiệt hại chính là các doanh nghiệp lữ hành, vì nhờ vị thế thị trường lớn,
và thường là thống lĩnh, các doanh nghiệp vận tải hàng không có khả năng áp đặtcác doanh nghiệp lữ hành phải ký các hợp đồng độc quyền
Cuối cùng, phải kể đến xu thế cartel hóa khu vực giữa các doanh nghiệp lữhành của các nước phát triển Xu thế này diễn ra giữa các nhóm doanh nghiệp lữhành có hoạt động kinh doanh trong cùng một khu vực để đối chọi với các nhómdoanh nghiệp lữ hành thuộc khu vực khác, ví dụ nhóm kinh doanh thị trường Caribevới nhóm kinh doanh thị trường Địa Trung Hải Các doanh nghiệp kinh doanh sảnphẩm du lịch trên cùng một địa bàn sẽ thống nhất chiến lược marketing, tài trợ các
Trang 40quảng cáo nhằm thúc đẩy thị trường Tuy nhiên, các hoạt động này thường hay biếntướng thành các dạng thống nhất hành vi nhằm giảm bớt cạnh tranh trên thị trường,thông qua việc thông đồng ấn định giá (Chính phủ, 2005, Tr 40)
trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
Chủ thể của pháp luật về hành vi CTKLM trong lĩnh vực dịch vụ du lịch đó là
“tất cả các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong quá trình cạnh tranh trên lĩnh vựcdịch vụ du lịch vì lợi nhuận có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanhnghiệp khác và người tiêu dùng (khách du lịch)”
Như vậy chủ thể thực hiện hành vi CTKLM trong lĩnh vực là các doanhnghiệp kinh doanh du lịch tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường Ở đây,khái niệm doanh nghiệp du lịch được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chứchay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên vàchuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương mại là có tư cáchthương nhân trên thị trường du lịch Trên một phạm vi rộng hơn, các quy định vềCTKLM còn có thể áp dụng đối với hành vi của các nhóm doanh nghiệp hoạt động
có tổ chức (hiệp hội du lịch) và các cá nhân hành nghề tự do (hướng dẫn viên, lái xe
1.3 Nội dung của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch
1.3.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực du lịch
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Điều 39 Luật cạnhtranh bao gồm:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;