1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh

124 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Phường Ở Thị Xã Hồng Lĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thu
Người hướng dẫn PGS. TS Hoàng Thị Bích Loan
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 779 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

uy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận CBCC nói chung, CBCC cấp xã, phường nói riêng có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dân chủ cơ sở; có dấu hiệu, tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nội bộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG 9

1.1 Khái niệm, tiêu chí đánh giá và vai trò của nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường 9

1.1.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã, phường 9

1.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã, phường 18

1.1.3 Vai trò của nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường 27

1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường 29

1.2.1 Nội dung nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường 29

1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường 39

1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường của một số địa phương và bài học kinh nghiệm rút ra cho thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 42

1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 42

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 44

Trang 4

Kết luận chương 1 46

Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG Ở THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2012 - 2016 47

2.1 Khái quát về thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 47

2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển của thị xã Hồng Lĩnh 47

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thị xã Hồng Lĩnh 48

2.1.3 Cơ cấu bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh 51

2.2 Thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 55

2.2.1 Quy hoạch và cơ cấu công chức 55

2.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng công chức 58

2.2.3 Thể lực công chức 63

2.2.4 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 65

2.2.5 Phẩm chất đạo đức, tác phong và tính chuyên nghiệp 70

2.3 Đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 73

2.3.1 Những thành tựu đạt được 73

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 76

Kết luận chương 2 83

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG Ở THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH 85

3.1 Mục tiêu nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 85

3.1.1 Mục tiêu chung 85

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 85

Trang 5

3.2 Phương hướng nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị

xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 86

3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 87

3.3.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch công chức cấp xã, phường .87

3.3.2 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng công chức cấp xã, phường 89

3.3.3 Nâng cao thể lực công chức 92

3.3.4 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ công chức 93

3.3.5 Nâng cao đạo đức, tác phong và tính chuyên nghiệp của công chức 96

3.3.6 Xây dựng và thực hiện đúng chế độ chính sách đối với công chức .101

Kết luận chương 3 102

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104

1 Kết luận 104

2 Kiến nghị 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG

Trang

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường ở thị xã

Hồng Lĩnh năm 2016 51Bảng 2.1: Số lượng công chức chuyên môn cấp xã theo vị trí công tác từ

năm 2012 - 2016 55Bảng 2.2: Số lượng và cơ cấu công chức theo giới tính năm 2016 56Bảng 2.3: Thực trạng công chức phân theo độ tuổi năm 2016 57Bảng 2.4: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã, phường

của thị xã Hồng Lĩnh năm 2016 58Bảng 2.5: Ý kiến đánh giá của đội ngũ công chức cấp xã về công tác đào

tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã của thị xã Hồng Lĩnh 59Bảng 2.6: Kết quả công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức cấp

xã của thị xã Hồng Lĩnh, giai đoạn 2012 - 2016 61Bảng 2.7: Đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã về sự phù hợp giữa trình

độ, năng lực của công chức xã đối với các vị trí đang đảm nhận 62Bảng 2.8: Kết quả khám sức khỏe định kỳ của đội ngũ công chức cấp xã

phường thị xã Hồng Lĩnh từ năm 2012-2016 64Bảng 2.9: Đánh giá sự quan tâm của xã, phường đến nâng cao thể lực đội

ngũ CBCC cấp xã 64Bảng 2.10: Thực trạng công chức theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ

năm 2012 đến năm 2016 66Bảng 2.11 Khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công chức cấp xã

trong thực hiện công việc 67Bảng 2.12: Kết quả tự đánh giá kỹ năng thực thi công vụ của CC cấp xã

của thị xã Hồng Lĩnh 69

Trang 9

Bảng 2.13: Đánh giá của nhân dân về uy tín trong công tác và năng lực tổ

chức quản lý công việc của đội ngũ công chức cấp xã 71

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâmtới việc xây dựng đội ngũ CBCC nói chung và CBCC chính quyền cấp xã,phường nói riêng Đây là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm làphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thành côngchương trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nông thôn mới, gópphần ổn định hệ thống chính trị và chất lượng bộ máy nhà nước

Đội ngũ CBCC chính quyền cấp xã từng bước phát triển cả số lượng vàchất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thời kỳ mới Đa số CBCCcấp xã có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng, tin tưởng vào sựnghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi với nhân dân,tâm huyết với công việc Đây là nhân tố quan trọng góp phần đảm bảo tổ chứcthực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu

Trang 11

mạnh, xã hội công bằng, văn minh Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Công chức cấp xã, phường là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dânhàng ngày, giải đáp, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện theochủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếplắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên những kiến nghị, ý kiến,nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, chất lượng hoạt động của công chức cấp xãảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến

sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước

Công chức xã, phường là những người trực tiếp đưa chủ trương, đườnglối, nghị quyết của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhândân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện Kết quả thực hiệnchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sởcũng như năng lực lãnh đạo, uy tín chính trị, bản chất của Đảng, Nhà nước tagắn liền với năng lực, trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ này

Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phậnCBCC nói chung, CBCC cấp xã, phường nói riêng có biểu hiện suy thoái vềphẩm chất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dânchủ cơ sở; có dấu hiệu, tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nộibộ; tinh thần phê bình và tự phê bình còn thấp, gây tổn hại đến uy tín và làmgiảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Mặt khác, tỉ lệ CBCCchưa đạt chuẩn còn cao

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, phường đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ vừa là yêu cầu cơ bản, vừa là đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạnhiện nay

Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công chức

cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài Luận văn Thạc

sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị

Trang 12

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Liên quan đến đề tài luận văn đã có một số công trình nghiên cứu trongnước nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực, dưới dạng các đề tài nghiên cứucủa các ngành và các luận văn, luận án của một số tác giả đã được công bố Mỗicông trình nghiên cứu nhằm mục tiêu nhất định do đó có cách tiếp cận giải quyếtvấn đề riêng, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

- Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực” Tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm nhân lực, nguồn nhânlực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực Theo đó, tác giả khẳng định phát triểnchất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề phát triểnnguồn nhân lực

- Vũ Bá Thể trong quyển sách: “Phát huy nguồn lực con người để công

nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Nhà xuất

bản Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2005 Tác giả đã nêu lên những thực trạngNNL ở nước ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lượng và chất lượngNNL nước ta hiện nay, trong đó tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế và

xu hướng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hộicủa nước ta; đồng thời rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân củachúng Từ đó có những định hướng và những giải pháp phát huy nguồn lực conngười để phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới

- Lê Văn Khoa (2008) với đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

hệ thống KBNN” đề tài nghiên cứu về chiến lược phát triển nguồn nhân lực với

đối tượng và phạm vi là cả hệ thống KBNN Đề tài phân tích, đánh giá đượcthực trạng về chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống KBNN Việt Nam, từ đóđưa ra các giải pháp vĩ mô nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của toàn

hệ thống KBNN

- Nguyễn Ngọc Nga (2011) với đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất

lượng công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức KBNN” Trên cơ sở nghiên

Trang 13

cứu về con người, những quy định về pháp lý và sử dụng cán bộ, công chứccùng với việc đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng cán bộ, công chức trongthời gian qua, những quy định cụ thể và cả về chất lượng cán bộ, công chức Đềtài đề ra những giải pháp mới đi sâu về yếu tố con người mà cụ thể là cán bộ,công chức trong một tổ chức mà trực tiếp đó là hệ thống KBNN.

- Bùi Quang Sáng (2011) với đề tài khoa học: “Một số giải pháp hoàn

thiện công tác quản lý, sử dụng công chức tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện KBNN Thái Nguyên” Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung

-và thực tiễn của KBNN Thái Nguyên nói riêng -và hệ thống KBNN về công tácquản lý, sử dụng công chức tại KBNN cấp huyện trực thuộc KBNN TháiNguyên, qua đó đưa ra được những giải pháp nhắm quản lý và sử dụng côngchức một cách hiệu quả hơn

- Nguyễn Chí Vương (2013), với Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực KBNN Hà Nội” Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Tác

giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng nguồn nhân lực của KBNN Hà Nội, chỉ

ra phương hướng phát triển, đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển nguồnnhân lực KBNN Hà Nội nhằm góp phần xây dựng một đội ngũ nhân lực chấtlượng cao đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế

-Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2004), Xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, NXB Chính trị quốc gia Trên cơ sở nghiên cứu các

quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và củaĐảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, cũng nhưyêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; tìm hiểu những bài họckinh nghiệm về việc tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sửdựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như kinh nghiệm xây dựng nềncông vụ chính quy hiện đại của đất nước trong khu vực và trên thế giới Từ đó

Trang 14

xác định các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

- Trần Anh Tuấn (2007), “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt

Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế” Luận án tiến sĩ Kinh

tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Luận án tập trung đi sâu vào nghiên cứu, đánhgiá, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý đội ngũcông chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế

- Võ Xuân Tiến: “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân

lực”; Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Bài báo này làm sáng tỏ nội

dung: Nguồn nhân lực là nguồn lực quí giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tốquyết định sự thành bại của họ trong tương lai Bởi vậy, các tổ chức và đơn vịluôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình Một trong cácbiện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực Qua đó, bài báo đã làm rõ các nội dung của phát triển nguồnnhân lực và được tham khảo để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài

Ngoài ra còn có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài

viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí khác nhau như: “Quản lý nguồn nhân lực ở

Việt Nam, của Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân; “Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” của Trương Thị Minh Sâm, Viện Khoa học và Xã hội tại Thành phố

Hồ Chí Minh thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia; “ Phát

triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của

Nguyễn Thanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh…Các côngtrình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lýluận về phát triển nguồn nhân lực nói chung trên các lĩnh vực, các ngành, cácvùng của nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước

Các đề tài nghiên cứu nhìn chung đều gắn liền với một ngành một lĩnhvực hoạt động cụ thể Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào trùng tên

Trang 15

với đề tài nghiên cứu về nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xãHồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã,

phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Từ đó đề xuất các phương hướng và

giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng

Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh thời gian tới.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao chấtlượng công chức cấp xã, phường

Làm rõ hệ thống các tiêu chí và nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chấtlượng công chức cấp xã, phường

Phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã,

phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức

cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Nâng cao chất lượng công chứccấp xã, phường

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những lý luận, quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam về công chức câp xã, phường; chất lượng công chức câp xã, phường

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu, tác giả vận dụng phương phápluận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứu kinh tế: Phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lịch sử và

lôgich; Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp phân tích định tính và định lượng…

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu: phân tích thống kê so sánh, đối

chiếu bằng các bảng biểu, mô hình

5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài thu thập thông tin bằng

bảng hỏi, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Tác giả chọn ra 100người dân để tiến hành điều tra nhận xét của nhân dân đối với công chức cấp xã,phường ở nội dung như kết quả giải quyết công việc, phẩm chất đạo đức lốisống, thái độ trách nhiệm với công việc và chọn ra 50 cán bộ lãnh đạo chínhquyền cấp xã và cấp thị xã tiến hành điều tra nhận xét về sự phù hợp giữa trình

độ, năng lực,chuyên ngành đào tạo của công chức xã đối với các vị trí đang đảmnhận, về phẩm chất, đạo đức, lối sống, thái độ phục vụ nhân dân …., tác giảchọn ra 62 công chức để đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng, kỹ năng làmviệc, khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

5.2.3 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập

thông tin về hành vi, thái độ, điều kiện làm việc của công chức cấp xã, phường

5.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu: Được sử dụng để phân tích các công

trình nghiên cứu liên quan Phân tích nội dung tài liệu để thu thập, học hỏi, kếthừa và phát triển phù hợp với đề tài Cùng với đó đề tài sử dụng một số phương

Trang 17

pháp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của

đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra

Ngoài ra luận văn cũng kế thừa, phát triển các kết quả của các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chínhcủa luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.

6.1 Ý nghĩa lý luận

Khái quát, tổng hợp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về công chức

xã, phường và chất lượng công chức xã, phường; Luận giải rõ khái niệm, tiêu chíđánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức xã, phường

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân tích thực trạng nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã,phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh dựa vào các tiêu chí để có đánh giákhách quan về thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị

xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bảnnhằm nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh

Hà Tĩnh

Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhànghiên cứu quan tâm đến chủ đề; giúp các nhà lãnh đạo địa phương quan tâm

đến đội ngũ công chức cấp xã, phường vận dụng mang lại hiệu quả

7 Kết cấu của luận văn.

Luận văn được bố cục thành 3 chương, ngoài Phần mở đầu, kết luận vàcác danh mục

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thực tiễn nâng

cao chất lượng công chức cấp xã, phường

Chương 2 Thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường ở

thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2012- 2016

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công

chức cấp xã, phường ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ, PHƯỜNG

1.1 Khái niệm, tiêu chí đánh giá và vai trò của nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

1.1.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã, phường

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm công chức cấp xã, phường

* Khái niệm công chức

Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc giatrên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyêntrong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm côngchức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất Có nước chỉ giới hạn côngchức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác

có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiệntrực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làmviệc trong các cơ quan có tính chất công cộng [4, tr.12]

Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làmviệc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chứcdịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức bao gồm cả trung ương, địa phương [24,tr.126]

Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người công táctrong cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chứclãnh đạo và công chức nghiệp vụ Công chức lãnh đạo là những người thừa hànhquyền lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điềuhành của Hiến Pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền cáccấp Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do các

cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ 10 vào Điều lệ công

Trang 19

chức, chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quántriệt, chấp hành các chính sách và pháp luật [24, tr.126].

Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chứcnhà nước và công chức địa phương Công chức nhà nước gồm những ngườiđược nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốchội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốcdoanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước Công chức địa phương là nhữngngười làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương [10, tr.2]

Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giốngnhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội,

do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và thường gắn liền với

sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước.Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Điều 1, Sắc lệnh 76/SLngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quychế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dântuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ởtrong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trườnghợp riêng biệt do Chính phủ định" Cùng với sự phát triển của đất nước và nềnhành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chitiết hơn Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ,

ai là công chức

Đến năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông quaLuật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 Đây là bước tiến mới, mang tínhcách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm,đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà 11 nướcpháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định: “Công chức là

Trang 20

công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danhtrong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân độinhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,

hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập của Đảng Cộng sản VIệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị

sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ-

CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt nam,được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế,hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị

sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trongcác cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ởcác Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chứcChính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh,Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn

vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sátnhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện

* Khái niệm công chức cấp xã, phường

Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán

bộ, công chức 2008 như sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đượctuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân

Trang 21

cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Như vậy, công chức xã được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vựcchuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnhđạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Cơ cấu công chức cấp xã: Theo khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, côngchức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉhuy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môitrường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môitrường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội

Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý Ngoài các chức danh theo quyđịnh trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luânchuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

Số lượng công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghịđịnh số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lượngcán bộ, công chức cấp 13 xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp

xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điềuđộng, biệt phái về cấp xã)

Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghịđịnh số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn

Điều 8 Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định những người là Công

Trang 22

chức, trong đó Công chức trong Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Phó Việntrưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làmviệc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhândân tối cao;

Công chức phải có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chứcdanh, chức vụ Các vấn đề liên quan tới bổ nhiệm, tuyển dụng công chức vàocác chức danh, chức vụ và bổ nhiệm vào các ngạch công chức quy định cụ thể ở

chương IV - Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 Những vấn đề này còn

phụ thuộc vào quy định riêng đối với các chức danh, chức vụ khác nhau; cùngmột chức danh, chức vụ nhưng thuộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau;cùng một chức danh, chức vụ thuộc cùng một loại tổ chức, cơ quan, đơn vịnhưng ở các cấp khác nhau

Tiêu chuẩn đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã: trung cấp Luậttrở lên, phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn, sau khiđược tuyển dụng, phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, lớp bồidưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã Còn đối với công chức Tài chính - Kế toán cấpxã: trung cấp Tài chính Kế toán trở lên, phải sử dụng được kỹ thuật tin học trongcông tác chuyên môn; sau khi tuyển, phải qua bồi dưỡng quản lý hành chínhNhà nước

Thứ hai, về nơi làm việc: Nơi làm việc của Công chức rất đa dạng Nếu

như cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước,

Tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trungương, ở Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh thì Công chức còn làmviệc ở cả Cơ quan, Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong

bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập

Khoản 2 Điều 11 Nghị định 06/2010/NĐ - CP quy định Công chức trong

bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập như sau: “Người đứng đầu,

cấp phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó tổ chức

Trang 23

của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội, Chính phủ.”

Thứ ba, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi

được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kì như cán bộ (Điều 60 - Luật cán bộ, công chức năm 2008) Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 - Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014).

Thứ tư, về chế độ lao động: Công chức được biên chế và hưởng lương từ

ngân sách nhà nước (Điều 12 - Luật cán bộ, công chức năm 2008); đối với công

chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lươngđược bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định củapháp luật

Họ là những người trưởng thành về thể chất và trưởng thành về mặt xãhội, họ được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trongcác công sở của Nhà nước, họ đang trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyềncủa nền hành chính quốc gia, như vậy họ là những người tự làm chủ được hành

vi, thái độ của mình và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách làmột công dân, một công chức hành chính Họ trưởng thành ở mặt xã hội cònbiểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động của họ được xã hội công nhận và bằng sứclao động của mình, họ đã nuôi sống được bản thân Hơn nữa, sự trưởng thành vềmặt xã hội còn thể hiện ở cuộc sống riêng tư của họ, họ là những người có đầy

đủ điều kiện hành vi trước pháp luật

Họ là những người đã có vị thế xã hội, vì công chức là những ngườiđang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo và được xếpvào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính, bởi vậy, công chức đang

có một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của Nhà nước quản lýtoàn xã hội

Trang 24

Công chức có nhiều kinh nghiệm sống, được tích luỹ tuỳ theo lĩnh vực mà

họ hoạt động Bởi là công chức, họ phải được đào tạo ở trình độ nhất định, cùngvới vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền

1.1.1.2 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã, phường và nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

- Khái niệm chất lượng công chức

Khái niệm chất lượng Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tínhchất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được Dướimỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau

Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất,giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” [29, tr.144] Đây là cáchđánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độclập của nó

Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đốicủa sự vật để phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quancủa sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộctính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ

sự vật và không tách khỏi sự vật [28, tr.16]

Như vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu có thể hiểu: Chất lượng của

công chức là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch

vụ hành chính

Tiêu chí để đánh giá chất lượng cán bộ công chức cũng đa dạng: có thể là

tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; cóthể là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụhành chính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hàilòng về thời gian giải quyết công việc của người dân…

Trang 25

Chất lượng đội ngũ công chức được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của độingũ công chức, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, 19 năng lực,phẩm chất đạo đức…của những người công chức theo những tiêu chí nhất địnhđối với từng ngành nghề riêng biệt

Để đánh giá chất lượng đội ngũ công chức, cần nói tới chất lượng của mỗicông chức vì mỗi công chức là một phần, một bộ phận của đội ngũ công chức

Chất lượng công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sứckhỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềmtin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện cóhiệu quả nhiệm vụ đựoc giao Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước yêu cầu chấtlượng đối với công chức ngày càng cao, đòi hỏi người công chức không những

có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn công chức mà còn phải gương mẫu, đitiên phong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật rất cao, có tư duy khoahọc, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó vớitập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinhnghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấphành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng vàNhà nước

Chất lượng của đội ngũ công chức ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ thuộcvào cơ cấu đội ngũ công chức, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ,giữa công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên môn nghiệp vụ

Mỗi công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong mộtchỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ công chức Vì vậy quan niệm chất lượng độingũ công chức phải được đạt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng củatừng công chức với chất lượng của cả đội ngũ

Bên cạnh đó cũng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và

số lượng đội ngũ công chức Chỉ khi nào hai mặt này có quan hệ hài hòa mới tạonên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ

Trang 26

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Chất lượng công chức cấp xã,

phường là tổng hợp chất lượng của từng công chức cấp xã, phường thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của mỗi công chức cũng như cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lượng đội ngũ công chức bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã, phường.

- Khái niệm nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

Chất lượng đội ngũ công chức xã, thị trấn được thể hiện thông qua hoạtđộng của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạtđộng của chính quyền cấp xã Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt độngquản lý nhà nước của UBND cấp xã, cần thiết phải nâng cao chất lượng của độingũ công chức xã trên tất cả các mặt như: phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực

và khả năng hoàn thành nhiệm vụ, trình độ năng lực, sự tín nhiệm của nhân dân,khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người công chức đối vớicông vụ được giao,…

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là tổng thể các hình thức,phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượngtừng công chức đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xãhội trong từng giai đoạn phát triển Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làmột yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi ngườicông chức Bên cạnh thể lực, trí lực thì chất lượng nguồn nhân lực còn phản ánhtác phong, thái độ, ý thức làm việc của người công chức

Việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, phường sẽ góp phầnlàm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xãhội Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã có vai trò đặc biệt quantrọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Để phát triểnnhanh, bền vững mỗi địa phương cần hết sức quan tâm đến chính sách phát huytối đa năng lực của công chức thông qua nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

Trang 27

của mình như: đào tạo, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe cả về vật chất, tinh thần,

có chính sách đãi ngộ nhân tài hợp lý, rèn luyện tác phong công nghiệp,

Như vậy, nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường chính là việc

hoàn thiện những điểm còn hạn chế, chưa hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ công chức cấp xã, phường; đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ công chức sao cho quy mô công chức vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của người công chức thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với

đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của người công chức luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc

Trong phạm vi của luận văn này, tác giả đề cập đến vấn đề chất lượng độingũ công chức cấp xã, phường chủ yếu dựa trên việc tiếp cận, nghiên cứu, đánhgiá cơ cấu, số lượng và các tiêu chí phản ánh chất lượng về trí lực và tâm lựccủa đội ngũ công chức cấp xã Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng đội ngũ công chức cấp xã, phường ở địa phương cụ thể

Để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã, phường cần phảigiải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng công chức Trong thực tếchúng ta cần phải chống hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất là chạytheo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượngnhưng hoạt động không hiệu quả; Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượngnhưng không quan tâm đến số lượng Đây là một nguyên nhân quan trọng làmcho tuổi đời bình quân của đội ngũ công chức ngày càng cao, thiếu tính kế thừa

Trong giai đoạn hiện nay, cần thiết phải coi trọng chất lượng của đội ngũcông chức cấp xã, phường trên cơ sở đảm bảo số lượng công chức theo quy định

1.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cấp xã, phường

1.1.2.1 Tiêu chí về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiệncác nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc Trình độ là mức độ về sự hiểu biết,

Trang 28

về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thểhiện ở văn bằng chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trìnhhọc tập.

Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cánhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thựctiễn, cũng như rèn luyện của cá nhân

Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian,của cải, mà kết quả lại tốt Việc phát hiện ra năng lực của con người căn cứ vàonhững dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với công việc nào đó, sự dễ dàng tiếp thu

kỹ năng nghề nghiệp, hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó

Đối với công chức xã, năng lực thường bao gồm những tố chất cơ bản vềđạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ kiến thức vềpháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội Sự am hiểu và nắm vững đường lối, chínhsách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật 23 xử lýthông tin để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước một cách khônkhéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật Đội ngũ côngchức xã phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm.Đội ngũ công chức xã phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin,khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời Vì vậy, việc nâng cao hiểu biết và nănglực tổ chức thực hiện cho đội ngũ công chức xã là vấn đề quan trọng và bức xúctrong mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trang 29

- Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ

Năng lực của người cán bộ quyết định sức mạnh để có thể hoàn thànhcông việc với mục đích cuối cùng là hiệu quả, được thể hiện ở các mặt như:trình độ văn hóa, kiến thức quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

+ Trình độ văn hóa là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợicho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn

+ Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác độngmang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội, đó là thủ pháp mà nhà quản lý sửdụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc cụthể đặt ra Hoạt động quản lý vừa được coi là một khoa học, vừa là nghệ thuật

Để thực hiện được các hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ công chức xã cần phảiđược đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước thì mới cóđược những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao

+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo ởcác lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đó lànhững kiến thức mà nhà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngànhnhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp Chính quyền cấp xã là 24 nơitrực tiếp thực hiện mọi hoạt động quản lý, giải quyết mọi tình huống phát sinhtrên thực tế Nếu đội ngũ công chức xã không có chuyên môn, nghiệp vụ, chỉlàm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện chắc chắn sẽhiệu quả không cao thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng

1.1.2.2 Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

- Về phẩm chất đạo đức: Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũđội ngũ công chức xã, thị trấn nó là cái “gốc” của người cán bộ Người côngchức muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải làngười công chức có phẩm chất đạo đức tốt Trong bối cảnh nền kinh tế thịtrường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội đang nảy sinh nhiều vấn

Trang 30

đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, sựđòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ công chức chuyên môn Thêm vào đó côngtác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người công chức ở cơ sở phải tạo lập cho mìnhmột uy tín đối với nhân dân.

Luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm,chính, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, có tinh thần chốngtham nhũng, tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, quan hệ mật thiết vớiquần chúng nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gâyphiền hà cho dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, nói đi đôi với làm, làmnhiều hơn nói

Có tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc; biết lắng nghe, tiếp thu ýkiến của đồng nghiệp và những người xung quanh

Yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ công chức cấp xãđòi hỏi phải cao hơn so với người khác bởi vì công chức là công bộc của dân.Xét về bản chất thì đây là tiêu chuẩn hàng đầu và xem như là đương nhiên phải

có của người công chức Người công chức nếu thiếu phẩm chất đạo đức, thì dù

có tài năng kiệt xuất cũng không thể là công bộc của dân được

- Về phẩm chất chính trị:

Đây là yếu tố đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi người công chức Là giátrị và tính chất tốt đẹp của con người Để trở thành những người công chức cónăng lực trước hết phải là người có phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị củađội ngũ công chức xã, thị trấn được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đốiđối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH

Đó là con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệquan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao độngtrước những khó khăn thử thách Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đivào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương

Người công chức có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng lời tuyên bố,

Trang 31

hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị,nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệchlạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Phẩm chất chính trị củangười công chức xã, thị trấn còn biểu hiện thông qua việc họ có làm việc vớitinh thần trách nhiệm, hiệu quả hay không; có tinh thần độc lập, sáng tạo, khôngthụ động, ỷ lại trong công tác hay không, có ý chí cầu tiến, ham học hỏi haykhông, thái độ tận tụy phục vụ nhân dân, tinh thần trách nhiệm đối với đời sốngnhân dân tại địa phương

1.1.2.3 Tiêu chí về uy tín trong công tác

Uy tín là sự tín nhiệm và mến phục của mọi người Uy tín là sự phản ánhphẩm chất và năng lực của một cá nhân, do đó tất yếu nó phải do phẩm chất vànăng lực quyết định Tức là người cán bộ phải có chuyên môn giỏi, không có tìvết về phẩm chất đạo đức, quan hệ gần gũi, hòa nhã với mọi người; luôn lo sựnghiệp chung nhưng vẫn không quên trách nhiệm, tình cảm của mình với ngườithân trong gia đình Người cán bộ có uy tín thì những người dưới quyền khôngchỉ phục tùng mà quan trọng hơn là họ tự giác phục tùng với niềm tin mãnh liệt

Như vậy, uy tín là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố thuộc về sự nỗ lựcchủ quan của một người trên cả hai mặt phẩm chất và năng lực, trong đó nổi bậtnhất, quan trọng nhất là những yếu tố sau đây:

- Sự gương mẫu, gương mẫu đến mực thước về các mặt, trước hết là vềmặt phẩm chất đạo đức, có lối sống trong sạch, tận tụy, khiêm tốn, “mình vì mọingười”; sự thấu cảm và chia sẻ

- Có học thức cao, năng lực lãnh đạo và quản lý giỏi; tầm hiểu biết sâurộng, bao gồm cả nhãn quan chính trị, trình độ nhận thức và vốn sống; sự đổimới và khả năng thích nghi; khát vọng và hoài bão

- Có tinh thần trách nhiệm, có năng lực tổ chức, thể hiện ở chỗ hoàn thànhxuất sắc chức vụ mà mình đảm trách

Trang 32

- Nắm vững kỹ năng lãnh đạo, ứng xử có văn hóa; có quan hệ đúng đắn,trước hết là với những người cùng cộng tác hoặc có quan hệ trực tiếp với mình;biết tự kiểm soát, tự kiềm chế.

Tóm lại là hội đủ cả ba yếu tố: Tâm, Tầm, Tài

Uy tín là kết quả của sự phấn đấu rèn luyện gian khổ, bền bỉ của bản thâncán bộ Đặc biệt với người lãnh đạo cần phải giành lấy uy tín tuyệt đối trong tậpthể bằng chính tài năng, đức độ, nghị lực, bằng ảnh hưởng tư tưởng và hànhđộng thực tế của mình chứ không phải bằng danh hiệu và chức vụ hoặc bằng thủđoạn và tiểu xảo Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không phải ta cứ viết lêntrán chữ “Cộng sản” mà được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến nhữngngười có tư cách đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thướccho người ta bắt chước”

Uy tín không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với chức vụ Chức vụ chỉ làđiều kiện khách quan để củng cố và nâng cao uy tín, còn uy tín là cái quyết định

sự tồn tại của chức vụ Nếu uy tín mất đi thì theo quy luật thông thường, chức vụtrước sau cũng sẽ mất theo Giữa chức vụ và uy tín có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Theo ý nghĩa nào đó, có thể hiểu mối quan hệ giữa chức vụ và uy tín như

là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung Chức vụ là hình thức, còn uy tín lànội dung

Có thể khẳng định - uy tín tất yếu phải do phẩm chất và năng lực của cánhân cán bộ quyết định, thể hiện ở các yếu tố: Khả năng tổ chức và chuyên môngiỏi; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và kiên định trong công tác; cóquan hệ bình đẳng, tính tập thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp; gươngmẫu đi đầu trong mọi công tác; gần gũi, dân chủ, cởi mở với mọi người; tínhchiến đấu, tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, không tranh công, đổ lỗi

Người có uy tín còn là người biết lắng nghe, kể cả những lời nói trái;không tự ái, sĩ diện, thành kiến Người có uy tín là người có bản lĩnh, dũng cảm,kiên cường, bảo vệ người ngay thẳng, trung thực, đấu tranh với những hành vi

Trang 33

sai trái, những biểu hiện cơ hội, thực dụng, không nịnh ai và cũng không thích ainịnh mình.

Xây dựng cho được một uy tín cần thiết đã khó, nhưng phấn đấu để giữvững và không ngừng nâng cao uy tín lại càng khó Trong mỗi cán bộ đều có cáitốt, cái xấu Uy tín thật - cái tốt, uy tín giả - cái xấu Học cái tốt thì khó, vì như

“người ta leo núi phải vất vả và khó nhọc mới lên đến đỉnh Học cái xấu thì dễ,như ở trên đỉnh chỉ trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu” Điều đó đòi hỏingười cán bộ phải có ý chí và nghị lực rất cao Người ở cương vị càng cao càngphải hết sức chăm lo giữ gìn uy tín, vì uy tín của họ không phải đơn thuần chỉ là

uy tín cá nhân mà còn liên quan đến uy tín chung của tập thể

1.1.2.4 Tiêu chí về chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao

- Kỹ năng giải quyết công việc:

Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong mộtlĩnh vực nào đó vào thực tế, kỹ năng công việc bao giờ cũng gắn với một hoạtđộng cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp,

kỹ năng soạn thảo văn bản Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp vớiviệc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng côngchức khi thực thi nhiệm vụ, công chức cần có những kỹ năng nhất định để thựcthi nhiệm vụ Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi công chức và cónhững kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm công chức nhất định phụthuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận Việc phân chia kỹ năng nghềnghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác định nội dung bồi dưỡng kỹ năng cho cácnhóm công chức khác nhau, căn cứ vào kết quả mà các kỹ năng hướng đến thì

kỹ năng nghề nghiệp đối với công chức có thể chia thành các nhóm sau:

+ Nhóm kỹ năng liên quan đến đề xuất, ban hành, thực hiện và kiểm tracác chính sách, các quyết định quản lý như kỹ năng thu thập, tổng hợp, phân tích

và đánh giá thông tin; kỹ năng triển khai quyết định quản lý; kỹ năng phối hợp;

Trang 34

kỹ năng đánh giá dư luận.

+ Nhóm kỹ năng quan hệ, giao tiếp như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ nănglắng nghe, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng tiếp dân

+ Nhóm kỹ năng tác nghiệp cá nhân như kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng bốtrí lịch công tác, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình Tất cả các kỹ năng nêutrên đều chịu ảnh hưởng quan trọng của trình độ chuyên môn, khả năng cá nhân

và kinh nghiệm công tác của người công chức trong quá trình thi hành công vụ.Bởi vậy, đây là nội dung phức tạp trong quá trình đánh giá công chức, dễ gâynhầm lẫn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ Vì vậy, khi đánh giá theo tiêu chínày cần xác định các kỹ năng tốt phục vụ cho hoạt động; các kỹ năng chưa tốt,chưa đáp ứng được yêu cầu; các kỹ năng cần thiết mà người công chức chưa có;các kỹ năng không cần thiết mà người công chức có

- Chất lượng dịch vụ công được cung cấp:

Chất lượng dịch vụ công là kết quả hoạt động, hiệu quả quản lý, phục vụđạt được và được biểu hiện đối với xã hội thông qua sự hài lòng của người dân,niềm tin của người dân đối với Nhà nước, được xác định thông qua tính kinh tế,hiệu lực, hiệu quả

Chất lượng thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp xã phụ thuộcvào các yếu tố như: Thứ nhất, năng lực thực thi công vụ của bản thân công chức,phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công việc Thứ hai,phụ thuộc vào tổ chức và môi trường của tổ chức Đó là sự phân công công việc,tính chất công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc của công chứcchuyên môn cấp xã Thứ ba, là sự động viên, khuyến khích của người lãnh đạo,quản lý, tạo động lực cho công chức từ chế độ, chính sách đãi ngộ và cơ hộithăng tiến phát triển đối với công chức

Như vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ công được cung cấp thì phảichú trọng cải thiện từ năng lực làm việc của công chức chuyên môn cơ sở, đếnmôi làm việc của cơ quan hành chính cơ sở cũng như cách thức tổ chức công

Trang 35

việc và chế độ, chính sách nhằm động viên, khuyến khích đội công chức chuyênmôn hăng say, nhiệt tình làm việc đạt hiệu quả cao

Tóm lại: Một đội ngũ công chức có chất lượng là đội ngũ có phẩm chấtchính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực và có khả năng vận dụngđường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách có hiệu quảnhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân tại địaphương góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.1.2.5 Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý

Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý mộttình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định.Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con ngườinhư kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thểtrong các điều kiện xác định Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm cócác thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ

Năng lực của cán bộ công chức không phải là năng lực bất biến, được sửdụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường Ở thời điểm hay môi trường này nănglực được thể hiện, phát huy tác dụng nhưng ở thời điểm khác thì cẩn phải có loạinăng lực khác Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu

về năng lực khác nhau Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến không cónghĩa là có năng lực tổ chức trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong điều kiệnphát triển kinh tế hàng hóa thị trường cũng không có nghĩa là người đó cũng cókhả năng trở thành một giáo viên ngay được

Năng lực của cán bộ công chức luôn gắn liền với mục đích tổng thể vớichiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực điều kiện cụ thể

Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng động viên và giải quyết cáccông việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viêncủa đồng nghiệp, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu,biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và

Trang 36

kiểm soát công việc Năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với cán

bộ công chức, vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm

Cách nhận biết một người có năng lực tổ chức quản lý có thể dựa vàonhững tiêu chuẩn mang tính định tính

+ Biết mình nhất là biết mình qua nhận xét của người khác

+ Biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ

và biết sử dụng họ

+ Có khả năng tiếp cận với những người khác Biết tập hợp những ngườikhác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc bổ sung nhau Biết giao việc chongười khác và kiểm tra việc thực hiện của họ

+ Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọitình huống có những giải pháp sáng tạo

+ Quyết đoán dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm

1.1.3 Vai trò của nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đánh giárất cao vai trò của đội ngũ công chức Có đường lối đúng đắn nhưng thiếu độingũ công chức có phẩm chất và năng lực thì cách mạng cũng khó thành công.Công chức có vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng

Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọngcán bộ và công tác cán bộ Người cho rằng: “Công việc thành công hoặc thất bạiđều do cán bộ tốt hay kém" Nếu có đội ngũ công chức chuyên nghiệp, biết nắmbắt thời cơ, hiểu tình thế thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiệntiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi Không có đội ngũ côngchức tốt thì dù có đường lối chính sách đúng cũng khó có thể biến thành hiệnthực được Muốn biến đường lối thành hiện thực, cần phải có con người sử dụnglực lượng thực tiễn - đó là đội ngũ cán bộ cách mạng và cùng với quần chúngcách mạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đưa cách mạng đến thành công

Đội ngũ công chức cấp xã, phường có vị trí, vai trò quyết định trong việc

Trang 37

triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Trong quá trình triển khai, vận động, dẫndắt nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Thông qua

họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho Đảng, Nhànước “ăn sâu, bám rễ” trong quần chúng nhân dân, tạo nên quan hệ máu thịtgiữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối vớiĐảng và Nhà nước Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động haykhông, tùy thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dâncủa đội ngũ CC cấp xã

CC cấp xã là một bộ phận trong đội ngũ CC nhà nước có số lượng lớn vàvai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhànước nói chung và chính quyền cấp cơ sở nói riêng Bởi vì họ là những ngườitrực tiếp gắn bó với địa phương, am hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân địaphương đồng thời là người đại diện cho nhân dân trong việc cung cấp thông tincho các cán bộ lãnh đạo để đưa ra quyết định quản lý khoa học, đúng đắn

Là một bộ phận trong đội ngũ CC, họ là người đại diện cho nhà nước thựchiện nhiệm vụ theo đúng chức trách và thẩm quyền được giao Hơn nữa, CC cấp

xã cũng là người trực tiếp hoà giải những xung đột, mâu thuẫn tranh chấp trongnội bộ nhân dân, hiện thực hoá quyền làm chủ cơ sở của nhân dân Vì vậy,trình độ và phẩm chất của đội ngũ này có ảnh hướng rất lớn đến sự vận hànhliên tục và hiệu quả của bộ máy nhà nước Và thực tế cũng đã chứng minh rằng:Nơi nào quan tâm đầy đủ và làm tốt công tác cán bộ, có đội ngũ cán bộ cơ sởvững mạnh thì nơi ấy tình hình chính trị xã hội ổn định, kinh tế văn hoá pháttriển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, mọi chủ trương chính sách của Đảngđược triển khai có kết quả Ngược lại ở đâu đội ngũ CC cấp xã không được quantâm để cho tình trạng tham nhũng, cửa quyền, hách dịch diễn ra thì nơi đó tình

Trang 38

hình địa phương gặp nhiều khó khăn, phức tạp dễ bị kẻ xấu lợi dụng.

Họ là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng hệ thống chính trị cấp xã, làtrung tâm đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực của địa phương, độngviên mọi tâng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu vềkinh tế - xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ sở

1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

1.2.1 Nội dung nâng cao chất lượng công chức cấp xã, phường

1.2.1.1 Quy hoạch và cơ cấu công chức cấp xã, phường

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch biên chế để phát triển đội ngũ côngchức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng là một công việc thườngxuyên và quan trọng, đây là quy trình quen thuộc được thực hiện hàng năm Quyhoạch tốt, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tế khách quan thì gópphần cho sự phát triển, ngược lại sẽ gây lãng phí

Quy hoạch cán bộ, công chức là quá trình thực hiện đồng bộ các chủtrương, biện pháp tạo nguồn để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, là việc bốtrí, lập kế hoạch trong dài hạn, là sự sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức đang làmtrong các cơ quan hành chính hoặc nguồn dự bị nhằm đảm bảo chủ động nguồnnhân lực cho chất lượng, lấp chỗ trống trong các cơ quan hành chính hay thaythế đội ngũ cán bộ, công chức đương nhiệm nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm

vụ trong thời gian nhất định

Quy hoạch đội ngũ công chức là việc lập dự án, thiết kế xây dựng tổnghợp đội ngũ công chức; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ công chức theomột ý đồ rõ rệt với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định làm cơ sởcho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giớithiệu công chức ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý

Việc sử dụng đội ngũ công chức cấp xã phải xuất phát từ nhiều yếu tố,trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng cơ quan, đơn vị

Trang 39

Đối với đội ngũ công chức xã, hai căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng làyêu cầu của công vụ và điều kiện nhân lực hiện có của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Sử dụng công chức xã phải dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc sau:

- Sử dụng công chức phải có tiền đề và quy hoạch

- Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu Mục tiêu của hoạt động quản lý đếnmục tiêu sử dụng công chức

- Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô tư và công bằng khithực hiện chính sách của Nhà nước Đây là căn cứ quan trọng để thực hiện chínhsách sử dụng cán bộ

- Xây dựng chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với côngchức khối đảng, đoàn thể và công chức khối cơ quan nhà nước Có chế độ phụcấp và chính sách thu hút đối với cán bộ, công chức công tác ở các xã vùng sâu,vùng xa, vùng biên giới, hải đảo có nhiều khó khăn và vùng có đông đồng bàodân tộc thiểu số Tiến hành thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đối với độingũ cán bộ, công chức cấp xã, như thu hút, đãi ngộ nhân tài; khuyến khích đàotạo, bồi dưỡng; thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công táctại xã Qua đây, động viên sự nhiệt tình công tác, gắn bó với địa phương, củng

cố sự đoàn kết, thống nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, ngăn chặnnhững tiêu cực của cán bộ, công chức và thực hiện công bằng xã hội

- Bổ nhiệm phải trên cơ sở xây dựng cơ cấu nhân lực của tổ chức Quátrình đề bạt, bổ nhiệm phải chú ý coi trọng việc lấy phiếu tín nhiệm để đề bạt theohướng mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải

là những người biết việc, hiểu người, tránh bè phái, cục bộ, định kiến, hẹp hòi,thiếu tính xây dựng Trước khi bỏ phiếu tín nhiệm để đề bạt, bổ nhiệm, cán bộđược dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành độngcủa mình Nên thực hiện thí điểm việc thi tuyển, tiến cử, chế độ tập sự đối với cán

bộ lãnh đạo, quản lý Nếu làm tốt sẽ là khâu đột phá thúc đẩy quá trình đổi mới,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Người đứng đầu phải có ý thức trách nhiệm,

Trang 40

công tâm, khách quan, phải vì lợi ích chung và thực hiện nghiêm túc nguyên tắctập trung dân chủ, coi trọng ý kiến của tập thể Có quy chế phối hợp giữa ngườiđứng đầu với cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan đơn vị Nếu không chỉ đạo thực hiện tốt,

sẽ dẫn đến cục bộ, bè phái, gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ, chạy quyền, chạychức trong đề bạt và bổ nhiệm cán bộ Bổ nhiệm trên cơ sở đòi hỏi của công vụ

và nguồn nhân lực hiện có đúng người, đúng việc

- Cơ chế bố trí, phân công công tác Trong quá trình xây dựng và nângcao chất lượng đội ngũ công chức xã việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ luôn làvấn đề được đặc biệt quan tâm và có thể nói đây là một trong những nhân tốquan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã Quá trình bố trí,phân công và sử dụng công chức là một chuỗi các mắt xích công việc quan trọngliên quan đến người công chức từ khâu tuyển dụng đầu vào, hướng dẫn tập sự,

bổ nhiệm vào ngạch công chức, phân công công tác phù hợp với tiêu chuẩnngạch, bậc và vị trí công tác phù hợp với ngạch được bổ nhiệm Việc sắp xếpđúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tin thần hăng say làm việc, pháthuy được năng lực, sở trường, rèn luyện kỹ năng thành thạo công việc khuyếnkhích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, góp phầnchủ yếu đảm bảo cho việc hoàn thành công vụ của cơ quan Vì vậy, công tácphân công, bố trí công chức có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũcông chức xã

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán

bộ, công chức như sau:

- Bố trí phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường Điều đó cónghĩa là khi sử dụng cán bộ, công chức, nhất là những người làm nhiệm vụ lãnhđạo, quản lý, phải xem xét cả hai yếu tố khách quan (tiêu chuẩn cán bộ, côngchức) lẫn chủ quan (phẩm chất, năng lực, nguyện vọng )

- Đề bạt, cất nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc Bố trí đề bạtkhông đúng có thể dẫn đến thừa, thiếu cán bộ công chức một cách giả tạo, công

Ngày đăng: 06/08/2021, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Quang Sáng (2011), với đề tài khoa học: “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng công chức tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện - KBNN Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số giải pháp hoàn thiệncông tác quản lý, sử dụng công chức tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện -KBNN Thái Nguyên
Tác giả: Bùi Quang Sáng
Năm: 2011
5. Lê Văn Khoa (2008), với đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống KBNN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệthống KBNN
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 2008
6. Lê Khánh Toàn (2016), “Nâng cao chất lượng nhân lực Đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Nâng cao chất lượng nhân lực Đài truyền thanhcơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Lê Khánh Toàn
Năm: 2016
8. Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực
10. Nguyễn Văn Mạnh (1999), "Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của Chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính", Tạp chí Lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạtđộng của Chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 1999
13. Nguyễn Ngọc Nga (2011), với đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức KBNN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số giải pháp nâng cao chấtlượng công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức KBNN
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nga
Năm: 2011
14. Nguyễn Chí Vương (2013), với Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KBNN Hà Nội”. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực KBNN Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Vương
Năm: 2013
15. Nguyễn Đức Cảnh (2010), "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực dò tìm xử lý bom mìn vật nổ sau chiến tranh ở Việt Nam", Luận án tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyênmôn kỹ thuật trong lĩnh vực dò tìm xử lý bom mìn vật nổ sau chiến tranh ởViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Cảnh
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Thuý Hiền (2013), "Phát triển nguồn nhân lực kho bạc Nhà nước ở Việt Nam", Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực kho bạc Nhànước ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thuý Hiền
Năm: 2013
17. Nguyễn Thị Thảo (2014), “ Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấpxã, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”
Tác giả: Nguyễn Thị Thảo
Năm: 2014
18. Nguyễn Thị Ban Mai (2015), “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp xã của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
Tác giả: Nguyễn Thị Ban Mai
Năm: 2015
19. “Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” của Trương Thị Minh Sâm, Viện Khoa học và Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệpcho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”
20. Phan Trí Tâm (2016), "Phát triển nhân lực của Công ty cổ phần nhựa bao bì Vinh", luận văn thạc sỹ, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực của Công ty cổ phần nhựa baobì Vinh
Tác giả: Phan Trí Tâm
Năm: 2016
21. “ Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Thanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước”
23. “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, của Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam
24. Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2004), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cánbộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân
Tác giả: Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
25. Trần Anh Tuấn (2007), “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế”. Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Namtrong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế”
Tác giả: Trần Anh Tuấn
Năm: 2007
26. Trần Thị Hồng Lam (2016), “Nâng cao chất lượng nhân lực tại điện lực Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nhân lực tại điện lựcTân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Trần Thị Hồng Lam
Năm: 2016
27. Võ Xuân Tiến: “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”;Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
30. Website: http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn - Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam - Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w