, nó có lịch sử tồn tại hàng ngàn năm. Mặc dù ra đời rất sớm nhưng trong bản thân nó chứa đựng những tư tưởng triết học rất lớn mang giá trị lịch sử và hiện tại. Quá trình nghiên cứu tư tưởng triết học phật giáo chủ yếu được thực hiện qua quá trình nghiên cứu những bộ kinh điển của đạo phật. Khi mới ra đời hay còn gọi là đạo phật nguyên thuỷ tư tưởng triết học phật giáo có đóng góp to lớn cho tư duy nhân loại.Đối với nước ta, Phật giáo xâm nhập vào từ rất lâu, một số tư tưởng triết học cơ bản của học thuyết này đã ăn sâu, bám rễ trong tâm thức của người Việt và đã góp phần tạo nên những giá trị truyền thống của dân tộc, tồn tại mãi với thời gian. Ngày nay, mặc dù chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang chiếm địa vị thống trị, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; thế nhưng, một số tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, qua đó có những tác động nhất định đến công cuộc xây dựng xã hội mới trên đất nước ta. Việc nhận diện đúng và tìm ra các giải pháp có tính khả thi để phát huy những ảnh hưởng tích cực, đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực bởi sự tác động của một số tư tưởng triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm góp phần tăng cường, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tối đa nội lực của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế, hướng đến thực hiện trọn vẹn hai mục tiêu chiến lược là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là lý do mà em chọn đề tài “Tư Tưởng Phật giáo và sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
2.3 Đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay 9
2.4 Sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay 10
Trang 21 Dẫn Nhập
1.1 Lý do chọn đề tài
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn trên thế giới, nó có lịch sử tồn tại hàng ngàn năm Mặc dù ra đời rất sớm nhưng trong bản thân nó chứa đựng những tư tưởng triết học rất lớn mang giá trị lịch sử và hiện tại Quá trình nghiên cứu tư tưởng triết học phật giáo chủ yếu được thực hiện qua quá trình nghiên cứu những bộ kinh điển của đạo phật Khi mới ra đời hay còn gọi là đạo phật nguyên thuỷ - tư tưởng triết học phật giáo có đóng góp
to lớn cho tư duy nhân loại
Đối với nước ta, Phật giáo xâm nhập vào từ rất lâu, một số tư tưởng triết học cơ bản của học thuyết này đã ăn sâu, bám rễ trong tâm thức của người Việt
và đã góp phần tạo nên những giá trị truyền thống của dân tộc, tồn tại mãi với thời gian Ngày nay, mặc dù chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang chiếm địa vị thống trị, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; thế nhưng, một số tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, qua đó có những tác động nhất định đến công cuộc xây dựng xã hội mới trên đất nước ta
Việc nhận diện đúng và tìm ra các giải pháp có tính khả thi để phát huy những ảnh hưởng tích cực, đẩy lùi những ảnh hưởng tiêu cực bởi sự tác động của một số tư tưởng triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm góp phần tăng cường, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tối đa nội lực của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá -hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế, hướng đến thực -hiện trọn vẹn hai mục tiêu chiến lược là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa Đó là lý do mà em chọn đề tài “Tư Tưởng Phật giáo và
sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận.
Trang 31.2 Phạm vi đề tài
Nghiên cứu những tư tưởng triết học Phật giáo cơ bản và sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay
1.3 Cơ sở dữ liệu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo và đoàn kết dân tộc; Nội dung, giáo lý của Phật giáo Việt Nam, những quy định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Đề tài cũng được thực hiện trong khuôn khổ và đúng quy định pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các vấn đề nêu trên
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tổng hợp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là lôgic và phân tích, tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn để thực hiện đề tài
Trang 42 Nội dung
2.1 Sự ra đời và tồn tại của Phật giáo
Trong lịch sử triết học của Ấn Độ, mà thực chất là sự phát triển của các tôn giáo đan xen hệ tư tưởng triết học, có một thời kỳ là Bàlamôn, phật giáo Ở thời
kỳ này, mặc dù diều kiện kinh tế xã hội có sự phát triển hơn trước, nhưng nó vẫn
bị kìm hãm bởi tổ chức xã hội kết cấu kiểu công xã nông thôn hay Mác còn gọi
là phương thức sản xuất châu Á, sự phân bị đẳng cấp khắc nghiệt và sự thống trị của nhà nước trung ương tập quyền
Trong lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội lúc bấy giờ các trào lưu triết học,
mà thực chất đây là hệ tư tưởng của các tầng lớp xã hội khác nhau trong xã hội xuất hiện đa dạng và phong phú nhưng lại chia thành hai hệ thống đối lập nhau: Trường phái chính thống và trường phái phi chính thống hay còn gọi là tà đạo Hệ
tư tưởng chính thống tức là thừa nhận thần là thế gới quan duy tâm trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Ngược lại trường phái phi chính thống là tư tưởng đòi tự do, bình đẳng trong xã hội lại ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân
Đạo phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, người sáng lập là Sidhartha (Tất Đạt Đa) với tư cách là một trong những hệ tư tưởng tiên phong chống phân chia giai cấp, kì thị chủng tộc và đồng cảm với người nhân Ấn Độ nói riêng và con người nói chung Có thể nói sự ra đời của đạo phật là một tất yếu, đòi hỏi khách quan của cuộc sống lúc bấy giờ Thái tử Tất Đạt Đa là con trai của Trịnh Phạn Vương (Suđhodana) vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc ấn Độ (nay thuộc đất Nê Pan) ông sinh ra vào khoảng năm 623 trước công nguyên Truyền thuyế kể rằng hoàng hậu MaDa sinh hạ một hoàng tử tuấn tú tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni dưới gốc cây Ưu Bát La, thường gọi là cấy vô ưu có hoa với màu sắc rực rỡ Thái tử sinh vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch và được đặt tên là Tất Đạt Đa Có nhiều truyền thuyết kể về quá trình Tất Đạt Đa được sinh ra với nhiều tình tiết hoang đường Có lẽ là do học trò đời sau của Ngài muốn tôn vinh ngài đến mức siêu phàm Tất Đạt Đa được sống trong một cuộc sống hết sức sung túc và đầy đủ nhưng những gì mà mắt thấy tai nghe lại trái ngược hoàn toàn Chính sự trái ngược giữa cuộc sống hiện tại và những gì mình đang có làm cho Ông hoài nghi
về cuộc sống, Ngài quyết định rời hoàng cung, dứt áo ra đi, Hoàng tử Sidhartha
đã trở thành nhà tu hành
Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh Sau
đó, ngài vào rừng tu Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng các phép thiền định và những triết lý của upanishad Học thuyết và thực hành giải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử Chàng đi tiếp và nhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh Suốt sáu năm trường ép xác Hoàng tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sự giải thoát Ngài bèn bỏ cuộc sống
tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bình thường
Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây bồ đề
ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua nước Magadha Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nông dân trong
Trang 5vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa Ăn xong, ngài xuống sông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ Và Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm Rạng sáng ngày 49, Siddhartha đã tìm ra bí mật của sự đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế giới lại tràn đầy khổ đau
và đã tìm ra được cách để chiến thắng sự đau khổ Siddhartha đã hoàn toàn giác ngộ và trở thành Buddha (Đấng giác ngộ) Sau khi giác ngộ Đức phật còn ngồi tiếp bảy ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ mà mình
đã khám phá Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn đồ trở về chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên Trên đường Phật
đã chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khi người viên tịch Và tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật đã ra đi Câu nói cuối cùng của Phật là: “Hỡi các tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ qua đi Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, do các đồ đệ nhận thức giáo lý của Ngài không thống nhất nên đã diễn ra 4 lần kiết tập để chỉnh lý thống nhất
Lần kiết tập thứ nhất tiến hành ngay sau khi Phật tịch diệt, được tổ chức tại hang Thất Diệp trong thành Vương Xá (Rajagriha), có 500 tỳ kheo tham dự, do Thập Lực Ca Diếp chủ trì Phần “Pháp” do A Nan Đà giới thiệu, sau này là cơ
sở của “Kinh Tạng”; phần “Giới” do Ưu Bà Ly giới thiệu, sau này là cơ sở của
“Luật Tạng” Trong lần kiết tập này, có một số Tỳ kheo tụ tập tại vườn Trúc Lâm ngoại thành Vương Xá tuyên bố không đồng ý với nội dung kiết tập, sự kiện này cho thấy mầm phân liệt trong nội bộ của Phật giáo đã bộc lộ
Lần kiết tập thứ hai được tổ chức sau lần kiết tập thứ nhất khoảng 100 năm tại thành Phệ Xá Lỵ (Vesali), có 700 Tỳ kheo tham dự, do Da Xá chủ trì Nội dung là thảo luận các vấn đề do giáo đoàn đông Ấn Độ nêu ra và đề nghị nới rộng giới luật, cho phép các Tỳ kheo ăn uống, cư trú, toạ cụ thoải mái hơn, đặc biệt là việc cho phép các Tỳ kheo nhận giữ và súc tích tiền bạc Sau lần kiết tập này, Phật giáo đã chia làm hai phái: Đại chúng bộ (Đại thừa) và Thượng toạ bộ (Tiểu thừa)
Lần kiết tập thứ ba được tổ chức sau lần kiết tập thứ hai khoảng 100 năm (khoảng năm 246 TrCN) tại thành Hoa Thị (Pataliputra), có 1.000 Tỳ kheo tham
dự, do vua A Dục đề xuất và Mục Kiền Liên Tử Đế Tu chủ trì Nội dung là phê phán ngoại đạo và quyết định truyền bá Phật giáo đến Srilanka cũng như các nước thuộc Nam Á, dẫn đến hình thành Tam Tạng Pali (Kinh Tam Tạng được viết bằng tiếng Pali, trước đó chỉ viết bằng tiếng Sanskrit)
Lần kiết tập thứ tư được tiến hành tại vùng Ca Thấp Di La (nay thuộc Catsơmia) vào thế kỷ 1 sau công nguyên theo sự đề xuất của vua Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska), có 500 A La Hán tham dự, do Thế Hữu chủ trì Lần kiết tập này chủ yếu để luận giải Kinh Tam Tạng, cả thảy 300.000 tụng với 6.600.000 câu Vua
Ca Nhị Sắc Ca đã cho khắc nội dung trên lên các tấm đồng, ròng rã 12 năm mới xong (hiện nay các tấm đồng này đã mất)
Trang 6Còn có tư liệu cho rằng, lần kiết tập thứ tư được tổ chức đúng 500 năm sau khi Phật tịch diệt (năm 44 thuộc thế kỷ 1 tr.CN) tại Kê Tân (tây bắc Ấn Độ ngày nay),
có 500 A La Hán và 500 Bồ Tát tham dự, do Ca Chiên Diên Tử chủ trì Sau đó Mã Minh chấp bút biên soạn A Tì Đạt Ma Tì Bà Sa có đến 1.000.000 tụng
Một tư liệu khác lại cho rằng, lần kiết tập thứ tư được tổ chức tại Srilanka dưới triều vua Phạt Đa Ca Ma Ni A Ba Da (Vattagamani Abhaya) vào thế kỷ 1 tr.CN, có 500 Tỳ kheo tham dự, mục đích là biên soạn Tam Tạng Pali [1, tr.127]
Như vậy, riêng lần kiết tập thứ tư đã có nhiều tư liệu không thống nhất về thời gian tổ chức, về người chủ trì và về nội dung kiết tập Điều đáng quan tâm
là qua các lần kiết tập đã cho thấy rằng, nhận thức của các Đại sư về giáo lý nhà Phật có sự khác nhau, cho nên nội dung Tam Tạng Pali không hoàn toàn thống nhất với Tam Tạng Sanskrit cũng là điều đương nhiên Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, nội dung Tam Tạng Pali chính thống hơn Tam Tạng Sanskrit, vì thế họ thường viện dẫn văn bản Tam Tạng Pali để nghiên cứu về Phật giáo nguyên thuỷ (còn được gọi là Phật giáo sơ kỳ); thậm chí có người còn cho rằng Phật giáo nguyên thuỷ hoàn toàn đồng nhất với Phật giáo Tiểu thừa
Sau các lần kiết tập này, Phật giáo được truyền bá mạnh mẽ sang các nước phương Đông như đã nêu trên Do chịu sự chi phối của văn hoá bản địa mà Phật giáo ở các nước này, bên cạnh những điểm chung, còn có những nét khác biệt Ngay khi mới ra đời, Phật giáo phát triển rất thịnh vượng, số người theo đạo Phật tăng lên rất nhanh Dưới thời vua Axôka (273-237 TrCN) đạo Phật trở thành quốc giáo ở Ấn Độ Trong thời kỳ này, giáo lý đạo Phật, Kinh phật và các
tổ chức Phật giáo đã được hình thành Năm 253 TrCN, một Đại hội Phật giáo lần đầu tiên được triệu tập tại Pataliputơra Vào thế klỷ III TrCN, đạo Phật đã được truyền bá rộng rãi sang Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Inđônêsia… [2, tr.290]
Bước vào chế độ Phong kiến, Phật giáo ở Ấn Độ cũng có nhiều biến chuyển Con đường tu hành khổ hạnh mà Phật giáo chủ trương từ trước không lôi kéo được đông đảo quần chúng nhân dân Để thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới, Phật giáo đã có nhiều biến đổi Nội bộ Phật giáo bị phân hoá ra làm hai giáo phái: Đại Thừa và Tiểu Thừa “Thừa” nghĩa là cỗ xe chở người ra khỏi kiếp luân hồi Phái Đại Thừa chủ trương mở rộng cửa, tiếp nhận vào tổ chức Giáo hội tất cả những ai đồng ý với nguyên lý cơ bản của đạo Phật và tích cực truyền bá Phật giáo, kể cả phụ nữ, họ phê phán các khuynh hướng và trường phái bảo thủ Tiểu Thừa Phái Đại Thừa thờ cái toàn thể, gồm cả vật chất lẫn tinh thần Toàn thể ấy bất động thì hồn nhiên như không, nhất động thì sinh ra vạn vật; phần tinh hoa nhất trong vạn vật là một hạng người rất siêu việt, rất hoàn hảo, rất thanh tịnh, rất sáng suốt, được gọi là Phật Phật không phải là người như người đời Phật là người tuyệt đối Phật Thích Ca là một vị trong muôn vàn vị Phật khác Phái Đại Thừa chủ yếu thờ Phật A Di Đà (tín ngưỡng tịnh độ), tức là tin vào cõi Tây Phương cực lạc và tin có Phật A Di Đà, đồng thời thờ Phật Quan Thế Âm
-vị Bồ Tát có chức năng dẫn dắt chúng sinh về Tây Phương cực lạc
Trang 7A Di Đà và Quan Âm Bồ Tát là hai vị Phật được tưởng tượng ra, không có thật nhưng lại được thờ chính tại các chùa ở Á Đông, còn Phật Thích Ca thì có thật mà lại được thờ phụ Phật giáo Đại Thừa không những chủ trương chúng sanh bình đẳng mà còn nhấn mạnh lý tưởng của Bồ Tát, hy sinh tất cả vì chúng sinh Các vị Bồ Tát không quản ngại những khó khăn về sự khác biệt của ngôn ngữ, phong tục, tập quán, đã đặt lên trên hết mục đích cao cả “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, nghĩa là giải thoát cho vô biên, vô lượng chúng sinh, không kể xiết, không phân biệt dân tộc và quốc độ Với sự xuất hiện của phái Đại Thừa, Phật giáo có một bước phát triển mới, vượt ra khỏi biên giới Ấn Độ Phái Đại Thừa phát triển rất mạnh ở Miền Bắc Ấn Độ rồi tuyền qua Tây Tạng (Trung Quốc), Nhật Bản, Miền Bắc Việt Nam… Phái Đại Thừa chủ trương không nhất thiết phải tu hành khổ hạnh
Phái Tiểu Thừa (cỗ xe nhỏ) chủ trương giữ nguyên tính chất nguyên thuỷ của đạo Phật, phải tu hành khổ hạnh, mục đích cuối cùng là thoát tục Phái Tiểu Thừa phát triển rất mạnh ở Miền Nam Ấn Độ rồi tuyền qua các nước Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào và Miền Nam Việt Nam Phật giáo Tiểu Thừa còn được gọi là Phật giáo Nam Phương hay Phật giáo Pali (do Kinh Phật được ghi bằng tiếng Pali và được dịch sang tiếng của các nước này từ tiếng Pali) Năm 1193, những người Hồi giáo với tư tưởng “Thánh chiến” đã tàn sát tín
đồ Phật giáo Ấn Độ, phá huỷ các tu viện (sử sách xưa đã chép lại rằng trong thời
kỳ này có tu viện cháy đến 6 tháng mới dập tắt) Phật giáo đã bị tiêu diệt chính ngay trên đất Ấn Độ, nơi khai sinh ra nó; song thực ra, Phật giáo đã bắt đầu suy vong ở đây ngay từ thế kỷ IX Tư tưởng Triết học Phật giáo dưới hình thái ý thức xã hội là tôn giáo đã từ Ấn Độ truyền bá ra các nước chung quanh và đã trở thành hệ thống tôn giáo - triết học thế giới, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần và lịch sử văn hoá của nhiều nước Phương Đông, trong đó có Việt Nam
Tóm lại: Kinh Phật nói riêng, lý luận nhà Phật nói chung là thành quả tư
tưởng của nhiều thế hệ Đại sư hữu danh và vô danh trải qua quá trình tồn tại và phát triển của Phật giáo chứ không phải chỉ riêng của Thích Ca Mâu Ni, mặc dù hầu hết các kinh Phật đều mở đầu bằng sự giới thiệu Thích Ca Mâu Ni đã thuyết pháp giảng kinh này ở đâu và với ai
Cũng như nhiều trường phái tư tưởng khác ở Ấn Độ, Phật giáo có sự thống nhất của hai tư cách: tư cách là một tôn giáo và tư cách là một hệ tư tưởng triết học Trong phạm vi bài tiểu luận này, tôi chỉ đề cập đến tư cách hệ tư tưởng triết học của Phật giáo mà thôi
2.2 Tư tưởng Phật giáo
Kinh điển triết học Phật giáo rất đồ sộ, gồm ba bộ phận: Kinh tạng (chép những điều Phật đã thuyết pháp và được học trò ghi lại), Luật tạng (chép các giới luật, các nguyên tắc xây dựng cộng đồng Phật giáo mà các giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo) và Luận tạng (chép các nội dung luận giải về giáo lý nhà Phật của các học giả, cao tăng Phật giáo đời sau) Kinh tạng, Luật tạng và Luật tạng được gọi chung là Tam Tạng kinh (phái Đại thừa dịch kinh gốc từ Tam Tạng Sanskrit, phái Tiểu thừa dịch kinh gốc từ Tam Tạng Pali)
Trang 8Xuất phát từ quan niệm cho rằng cuộc đời của mỗi con người đều là “bể khổ”, nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển, nên mục đích cuối cùng của Phật là tìm con đường giải thoát (Moksa) nhằm cứu vớt chúng sinh ra khỏi
bể khổ triền miên của vòng luân hồi bất tận Cứu khổ, cứu nạn và giải thoát nỗi khổ đau của nhân loại nơi trần thế là nội dung chủ yếu và là mục đích chính của học thuyết triết học Phật giáo Điều này được thể hiện qua câu nói của đức Phật: “Này các đệ tử, ta nói cho mà biết, trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và
lý giải về nỗi khổ đau và giải thoát khỏi nỗi khổ đau, cũng như nước ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy đây cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” [3, tr.90]
Nhìn chung, xét theo bản chất và mục đích, Phật giáo chú trọng giải quyết những vấn đề thuộc nhân sinh quan - tức là quan niệm về cuộc sống của con người với tư cách là một “chúng sinh” hiện hữu trên cõi trần gian Thế nhưng, những vấn đề nhân sinh quan Phật giáo lại không thể tách rời với những vấn đề thuộc thế giới quan triết học của học thuyết này Trong khi luận giải những vấn
đề thuộc thế giới quan và nhân sinh quan triết học, Phật giáo đã đề cập tới nhiều nội dung thuộc phạm vi của phép biện chứng - với tư cách là học thuyết triết học
về mối liên hệ phổ biến và sự vận động biến đổi của thế giới
Như vậy, những vấn đề thuộc thế giới quan, phép biện chứng và nhân sinh quan là những vấn đề thống nhất trong triết học Phật giáo, trong đó tất cả đều nhằm đến mục tiêu cao nhất là giải quyết những vấn đề của cuộc sống nhân sinh
Tư tưởng học thuyết Triết học Phật giáo thể hiện tập trung ở những phương diện: bản thể luận, quan điểm về nhân sinh, nhận thức luận và lý luận về đạo đức
Bản thể luận Có thể nhận thấy một cách rõ ràng là thế giới quan triết học Phật giáo và những tư tưởng biện chứng của nó được thể hiện thông qua một số phạm trù cơ bản như: “vô ngã”, “vô thường” và “nhân quả” Liên quan đến các phạm trù cơ bản này là hàng loạt các phạm trù khác như: “nhân duyên sinh”,
“luân hồi”, “nghiệp báo”, “bản ngã” (cái tôi)… Các phạm trù này bao hàm nhiều yếu tố duy vật, vô thần Triết học Phật giáo sau này (nhất là phái Đại thừa) còn
có thêm nhiều phạm trù khác nữa, song xét đến cùng, đó chẳng qua chỉ là sự biến tướng từ các phạm trù của triết học Phật giáo nguyên thuỷ mà thôi
Phật giáo quan niệm rằng không có ai sáng tạo ra vũ trụ, không thừa nhận
vũ trụ có ngày được tạo ra và có ngày bị tiêu diệt (tận thế) Vạn vật đa dạng và
vô cùng của thế giới sinh ra và tồn tại đều có nguyên nhân tự thân là do sự chuyển biến của bản thân nó, trong nó - theo quy luật nhân quả (nhân nào, quả nấy) và vũ trụ là tự tại (vốn có) Nhân quả là phạm trù tất yếu và phổ biến của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh
Từ phạm trù nhân quả, triết học Phật giáo đưa ra quan niệm về tính đa dạng, tính vô lượng của tồn tại không giới hạn Những tồn tại đó lại được phân chia thành những lớp tồn tại phân biệt nhất định với nhau mà triết học Phật giáo gọi đó là “các cõi giới” Cụ thể là: thế giới vạn vật (vạn pháp) là vô thuỷ, vô chung (tồn tại trong không gian và thời gian vô tận); mỗi sự vật, hiện tượng cụ thể thì có thuỷ, có chung (tồn tại trong không gian và thời gian có giới hạn) Mỗi
Trang 9sự vật (pháp) cụ thể đều có sinh, có diệt theo quy luật “thành, trụ, hoại, không”; mỗi sinh vật đều theo quy luật “sinh, trụ, dị, diệt”; mỗi con người đều tuân theo quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” [4, tr.82]
Phật giáo đề cập tới rất nhiều cõi giới với những đặc tính tồn tại khác nhau, trong đó “cõi hữu vi” chỉ là một trong số ấy, đó là thế giới của các sự vật hiện tượng mà các giác quan của con người có thể cảm nhận được Nói theo ngôn ngữ của tư duy triết học hiện đại ngày nay thì đó là thế giới các sự vật hiện tượng vật chất - vật lý Ngoài cõi giới này còn có nhiều cõi giới khác mà các giác quan thông thường của con người không thể trực tiếp cảm nhận được Muốn nhận thức được các cõi giới này, con người cần phải “khai mở” những năng lực cảm nhận đặc biệt
Trên cơ sở phạm trù nhân quả, Phật giáo đề cập đến phạm trù luân hồi Phạm trù này tuy được vận dụng nhiều trong việc lý giải cuộc sống nhân sinh, nhưng thực ra nó là phạm trù cơ bản của những vấn đề thuộc thế giới quan triết học Các phạm trù nhân quả, luân hồi mặc dù đã được đề cập trước đó trong triết học Upanisad và cũng không chỉ triết học Phật giáo mới khai thác các phạm trù này, thế nhưng, quan niệm của triết học Phật giáo vẫn có những điểm khác biệt nhất định Sự khác biệt này liên quan trực tiếp đến việc lý giải các phạm trù vô ngã, vô thường
Các phạm trù “vô ngã”, “vô thường” là những phạm trù cơ bản của triết học Phật giáo về thế giới Vô ngã là “không có cái tôi bất biến” (Anatman), cái được gọi là “một tồn tại - sắc” nào đó với một cái “danh” nhất định nào đó, thì hoàn toàn không có tự tính, nó chỉ là “giả hợp” của nhân duyên nhất định Nói cách khác, nó không phải là nó mà là tổng hợp của những cái không phải là nó, nhờ hội đủ nhân duyên Do đó, trong cái “một” đã tất yếu bao hàm cái “đa - nhiều”, một là tất cả và tất cả cũng là một Đây là nguyên lý phổ quát của thế giới quan Phật giáo, hoàn toàn đối lập với cách nhìn siêu hình về thế giới Chính vì thế, Phật giáo cho rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng xung quanh ta cũng như chính bản thân ta là hoàn toàn không có thực, chỉ là ảo giả, do vô minh đem lại Thế giới vô tình (vạn vật vô tri, vô giác) được tạo thành bởi 5 yếu tố (sắc - vật chất) là: Địa (đất, các chất khoáng); Thuỷ (nước, các chất lỏng); Hoả (lửa, các loại nhiệt); Phong (gió, không khí); Không (khoảng trống) Thế giới hữu tình - con người, được cấu tạo do sự nhóm họp của 5 yếu tố (ngũ uẩn) là: Sắc (vật chất); Thụ (cảm giác); Tưởng (ấn tượng); Hành (tư duy nói chung); Thức (ý thức) Các yếu tố Thụ, Tưởng, Hành, Thức thuộc lĩnh vực tinh thần, được gọi chung là “Danh”
“Danh” và “Sắc” chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, đây là cơ sở để khẳng định “không có cái tôi” [5, tr.209]
Từ phạm trù vô ngã, triết học Phật giáo đưa ra những nguyên lý về mối liên hệ tất nhiên, phổ biến: “có cái này thì có cái kia, không có cái này thì không
có cái kia”, rằng một cái khởi lên thì cái khác cũng động khởi, cái này tĩnh thì cái kia cũng tĩnh Vì thế, không có cái nào tồn tại biệt lập tuyệt đối so với cái khác, tất cả đều dung nhiếp nhau, hoà đồng nhau Mặt khác, triết học Phật giáo còn cho rằng, bản chất sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục
Trang 10(theo phạm trù “vô thường”) Vô thường là không “thường hằng”, là không “bất biến”; không bất biến tức là biến (cái luôn luôn biến đổi mới là điều không biến đổi, là bất biến) Biến là biến động: sinh - biến; biến - sinh; có có - không không; nay có - mai không… tất cả đều tuân theo quy luật tất yếu và phổ biến là tồn tại
- không tồn tại, không tồn tại - tồn tại; nên không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên và cũng không có cái gì là vĩnh hằng, bất biến Khi triết học Phật giáo đưa
ra quan niệm cho rằng, mỗi sự vật (pháp) cụ thể đều có sinh, có diệt theo quy luật “thành, trụ, hoại, không”; mỗi sinh vật đều theo quy luật “sinh, trụ, dị, diệt”; mỗi con người đều tuân theo quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” là muốn diễn đạt cái quy luật vô thường của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
Như vậy, Phật giáo đã bác bỏ sự tồn tại của Brahman (đấng sáng tạo - tồn tại tuyệt đối) và Atman (ngã - ý thức thuần tuý) của thánh kinh Upanishad; vì thế, Phật giáo được coi là một trong ba trường phái không chính thống (không thừa nhận quyền uy của kinh Vêđa) của triết học Ấn Độ cổ, trung đại [9, tr.310]
2.3 Đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay
Nhờ vận động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
từ bao năm nay, nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và an sinh xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể so với trước Nhưng sự xuống cấp về đạo đức thể hiện rất rõ trong lĩnh vực này qua những đại án hình sự và nhiều vụ án kinh tế mà nhiều người chịu sự trừng phạt của pháp luật lại nằm trong “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”
Đạo đức xã hội xuống cấp còn thể hiện ở những hành vi bạo lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ bạo lực gia đình, bạo lực học đường đến bạo lực nơi công cộng Có những người sẵn sàng dùng vũ khí “nóng”, vũ khí “lạnh” để giải quyết các mâu thuẫn trong mọi quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng, bạn bè… Nhiều trường hợp dẫn đến kết cục thật thương tâm
Thói tham lam, ích kỷ, thói vô cảm lan rộng gây nhiều tác hại cho cộng đồng, phản lại thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trong nền kinh tế thị trường, mọi người đều tìm cách kiếm được nhiều tiền, điều này là chính đáng, tuy nhiên một số người đã tôn sùng đồng tiền một cách mù quáng, coi “tiền là trên hết” và tìm mọi thủ đoạn để có nhiều tiền, tạo mọi điều kiện để mặt trái của đồng tiền phát huy Khi đồng tiền lên ngôi cũng chính là lúc đạo đức xuống cấp
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” Người cũng nói: “Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính Thiếu một đức thì không thành người” Vì vậy, con người mà chúng ta xây dựng là con người chính trị và đạo đức Đồng thời, không thể không xem trọng những yếu tố khác góp phần tạo nên con người cụ thể như cá tính, sở thích, ước muốn… của họ Thời kỳ mới, cần có hệ giá trị chuẩn mực mới về văn hóa, đạo đức cho con người Đây là vấn đề lớn, rất lớn nhưng ta chưa làm được