1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận phật giáo so sánh kinh phân biệt sự thật số 141 trong trung bộ kinh và kinh phân biệt thánh đế số 31 trong trung a hàm kinh và đưa ra nhận thức của mình về ý nghĩa và bài học nêu ra trong kinh

18 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 40,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc đời con người,ai cũng phải trải qua những cột mốc quan trọng của gồm sinh, lão, bệnh, tử, chúng ta đều chỉ có một mình, không người giúp đỡ, không chốn tựa nương. Bệnh tật hay khổ đau, sự sống hay cái chết đều chỉ do chính chúng ta trải nghiệm, không thể san sẻ hay nương tựa vào ai. Vậy làm thế nào để chúng ta vượt qua nó để tìm được niềm an lạc vô tận trong cuộc sống tâm linh của mình. Điều đó chỉ có được khi chúng ta biết và hiểu được Phật Pháp, và cụ thể là thông qua “tứ diệu đế”. Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp. Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy : “Những bậc A La Hán Chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về bốn Thánh đế”. Sau khi chứng đạo cao cả, Đức Phật còn ngồi ở cội Bồ đề suy tư thiền quán thêm 21 ngày nữa về nội dung giáo pháp mà mình vừa chứng đắc. Sau đó ngài quyết định đến vườn Lọc Uyển khai pháp cho 5 người bạn cùng tu với mình trước đây. Bài pháp đầu tiên này được đem ra phổ biến đó là pháp Tứ Đế là Pháp mà nội dung nó là nhằm nói đến đời sống hiện hữu trước mắt. Bài pháp này mang chất sống động rõ rệt về thân phận con người không phải để ca tụng, sùng bái thần linh nào cả, không phải được tuyên đọc từ một vị thiên sứ từ trời cao bay xuống cứu chuộc tội lỗi cho con người, mà là bài pháp được thể hiện, thấy được bởi con người giác ngộ giữa trần gian này, về thân phận con người.

Trang 1

TIỂU LUẬN

So Sánh Kinh Phân Biệt Sự Thật Số 141 Trong Trung Bộ Kinh Và Kinh Phân Biệt Thánh Đế Số 31 Trong Trung A Hàm Kinh và đưa ra nhận thức của mình về ý nghĩa và bài học nêu ra trong kinh

MỤC LỤC

1 DẪN NHẬP

1.1 Lý Do Chọn Đề Tài

1.2 Phạm vi Đề Tài

1.3 Cơ sở dữ liệu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

2.NỘI DUNG

2.1 Nội Dung Bản Số 141, Kinh phân biệt sự thật trong Kinh Trung bộ

2.2 Nội Dung Bản số 31, kinh phân biệt Thánh đế trong Kinh Trung A Hàm 2.3 Ý nghĩa rút ra từ các bài kinh

2.4 Nhận thức về giá trị của tứ diệu đế trong đời sống thực tại

2.5 Những phẩm chất cần có của người tu Phật khi thấm nhuần chân lý của

Tứ diệu đế

3 KẾT LUẬN

Tài Liệu Tham Khảo

Trang 2

1: DẪN NHẬP

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc đời con người,ai cũng phải trải qua những cột mốc quan trọng của gồm sinh, lão, bệnh, tử, chúng ta đều chỉ có một mình, không người giúp đỡ, không chốn tựa nương Bệnh tật hay khổ đau, sự sống hay cái chết đều chỉ do chính chúng ta trải nghiệm, không thể san sẻ hay nương tựa vào ai Vậy làm thế nào để chúng ta vượt qua nó để tìm được niềm an lạc vô tận trong cuộc sống tâm linh của mình Điều đó chỉ có được khi chúng ta biết và hiểu được Phật Pháp, và cụ thể là

thông qua “tứ diệu đế” Tứ Diệu Đế được coi là cốt tủy, là xương sống của toàn bộ

giáo pháp của Phật pháp Tất cả giáo pháp của Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế

Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ

đế, Ngài dạy : “Những bậc A La Hán Chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về bốn Thánh đế” Sau khi chứng đạo cao cả, Đức Phật còn ngồi ở cội Bồ đề suy tư thiền quán thêm 21 ngày nữa về nội dung giáo pháp mà mình vừa chứng đắc Sau đó ngài quyết định đến vườn Lọc Uyển khai pháp cho 5 người bạn cùng tu với mình trước đây Bài pháp đầu tiên này được đem ra phổ biến đó là pháp Tứ Đế

là Pháp mà nội dung nó là nhằm nói đến đời sống hiện hữu trước mắt Bài pháp này mang chất sống động rõ rệt về thân phận con người không phải để ca tụng, sùng bái thần linh nào cả, không phải được tuyên đọc từ một vị thiên sứ từ trời cao bay xuống cứu chuộc tội lỗi cho con người, mà là bài pháp được thể hiện, thấy được bởi con người giác ngộ giữa trần gian này, về thân phận con người

Có thể nói, Tứ diệu đế đã khai mở một đường đi, một chân trời mới là làm sáng lại giá trị con người Chỉ cho con người thấy được kho tàng trí thức cũng như khả năng của họ để họ tự nỗ lực kiến tạo lại đời mình bằng mọi hiểu biết có căn cội đúng đắn nhất xuất phát ngay giữa lòng cuộc sống này Đây là lần đầu tiên hiếm

Trang 3

quý duy nhất mà giá trị đời sống, thân phận con người được đem ra phân tích một cách sáng suốt nhất, bằng một kinh nghiệm ngay đây mà mọi hữu tình đều có thể thấy rõ được Đức Phật luôn dạy : “Này các Tỳ Kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không còn giác ngộ Tứ thánh đế, ta

sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra” Chính vì vậy nghiên cứu về

Tứ diệu đế trong Kinh Phân Biệt Sự Thật Số 141 Trong Trung Bộ Kinh Và Kinh Phân Biệt Thánh Đế Số 31 Trong Trung A Hàm Kinh có ý nghĩa hết sức quan trọng

1.2 Phạm vi đề tài

Kinh Trung A Hàm và Kinh Trung bộ là những một bộ kinh dài lại rất cao thâm Trong phạm vi tiểu luận ngắn này người viết chỉ chọn một nội dung cụ thể là

tứ diệu đế trong Kinh Phân Biệt Sự Thật (Trung Bộ Kinh) và Kinh Phân Biệt Thánh Đế (A Hàm Kinh) Qua đó nói lên phương pháp, cách thức giáo dục và giác ngộ của đức Phật thông qua những tinh túy của Tứ diệu đế được ghi chép trong kinh

1.3 Cơ sở dữ liệu

Trong khuôn khổ dung lượng của một bào tiểu luận con xin chọn phân tích tổng hợp nhận xét và đánh giá dựa trên hai tài liệu gốc là Kinh Trung Bộ và Kinh Trung A Hàm Qua hai bài kinh là Kinh Phân Biệt Sự Thật Số 141 Trong Trung Bộ Kinh tương đương với Kinh Phân Biệt Thánh Đế Số 31 Trong Trung A Hàm Kinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này, người viết trình bày ý tưởng bằng sự tổng hợp, chọn lọc, trích dẫn, phân tích những ý kinh được chư Tôn Đức giảng giải thông qua học trực tiếp và từ kinh sách

Đề tài này có lẽ không có gì mới mẻ đối với những người từng học Phật Nhưng nếu không quán triệt cho thấu đáo chân lý của Tứ diệu đế đối với đời sống

Trang 4

tu tập của mỗi con người thì sẽ là thiếu sót, và sẽ đi vào vòng luẩn quẩn không có lối thoát khi tu tập Tài liệu chỉ là kết quả bước đầu của quá trình học hỏi của bản thân nên không thể tránh những điều thiếu sót Rất mong được sự chỉ giáo của chư Tôn Đức và các bậc cao minh

2 NỘI DUNG:

2.1 Nội Dung Bản Số 141, Kinh phân biệt sự thật trong Kinh Trung bộ 2.1.1 Duyên Khởi

Thế Tôn tuyên bố vô thượng pháp luân đã được Thế Tôn chuyển vận tức là

Thế Tôn tuyên bố về bốn sự thật Thế Tôn có lời tán thán Tôn giả Sriputta và Tôn giả Moggallna Rồi Thế Tôn đi vào tinh xá Tôn giả Sriputta phân biệt tổng thuyết

về bốn sự thật

2.1.2.Chánh kinh

Vô thượng Pháp luân đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Tôi nghe như vầy: Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừngThắng lâm, vườn Cấp cô độc Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: Chánh Ðẳng Giác chuyển vận ở vườn Lộc Uyển, chỗ chư Tiên đọa, tại Ba-la-nại Không một Sa-môn, Bà-là-môn,chư Thiên,

Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chận đứng, chuyển vận ngược lại, tức là sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ bốn thánh đế Khổ Thánh đế; Tập khổ Thánh đế; Khổ diệt Thánh đế; sự khai thị, Khổ diệt đạo Thánh đế

* Sự thật về Khổ đế:

Thế nào là Khổ Thánh đế, kinh Phân biệt về sự thật đã chỉ rõ: Sanh là khổ, già

là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ

Sanh là khổ: Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất

sanh, xuất thành, tái sanh của chúng, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn

Trang 5

Già là khổ: Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự niên lão, sự hủ

hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại

Chết là khổ: Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần,

thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất

bỏ tử thi

Sầu, là khổ: Với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai

cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu của người ấy…

Bi là khổ: Với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm

thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy Này chư Hiền, như vậy gọi là bi

Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ

* Sự thật thứ hai: Khổ tập Thánh đế.

Khổ tập Thánh đế: Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế

* Sự thật thứ ba: Khổ diệt Thánh đế.

Khổ diệt Thánh đế: Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự

khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy) Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế

Sự thật thứ tư: Con đường đưa đến khổ diệt.

Khổ diệt đạo Thánh đế: Ðó là Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến,

chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định

Nội dung kinh nêu rõ:

Chánh tri kiến là Tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt,

tri kiến về Khổ diệt đạo;

Trang 6

Chánh tư duy là tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại.

Chánh ngữ là tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không

ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm

Chánh nghiệp là tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cắp, tự chế không

tà dâm

Chánh mạng là từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng.

Chánh tinh tấn là đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn

không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này

nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí Ðối với các thiện pháp đã sanh khởi, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí

Chánh niệm là sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để

chế ngự tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời

Chánh định: Là ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất,

một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ Vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm, diệt

tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm

sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba Tỷ-kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh

2.2 Nội Dung Bản số 31, kinh phân biệt Thánh đế trong Kinh Trung A Hàm

Trang 7

Bản kinh là một cách nhìn triệt để của Đức Phật, chỉ ra nội dung đời sống là khổ, tam khổ, bát khổ và cuối cùng là luân hồi khổ Có cảm nhận một cách trực diện sáng tỏ chắc chắn như vậy mới khát khao, đi truy tìm nguyên nhân của nó với

kế hoạch cụ thể từ hiện trạng này, và nguyên nhân của mọi đau khổ ở đây xuất phát

từ mọi hành tác mà ta đã phóng ra bởi sự xúc xiểm của vô minh là thế lực ngu muội nguyên thủy và cái tâm bám víu đeo níu quá mạnh, khát ái về mọi thế trên dương trần một thuở mình đi qua Sau khi biết rõ hai thế lực tương quan nhân quả ấy, ta bắt đầu chuyển đời bằng ý chí bằng nỗ lực của chính mình để kiến tạo đời sống thánh hạnh tiến lên đạt giải thoát, thành bậc Giác Ngộ Ngài dạy: “Những bậc A La Hán Chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về bốn Thánh đế”

Đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế

* Khổ thánh đế: sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán tăng hội khổ, ái

biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ

Sanh là khổ; sanh là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng sanh

kia, sanh thì sanh, xuất hiện thì xuất hiện, thành hình thì thành hình, hiện khởi năm uẩn rồi liền có mạng căn

Già là khổ: Già nghĩa là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng

sanh kia, kẻ kia trở nên già yếu, đầu bạc răng rụng, sự cường tráng ngày càng suy yếu, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, phải chống gậy mà đi, thịt rút, da nhăn, xù xì như cây gai, các căn hư hoại, nhan sắc xấu xí

Bệnh là khổ: nói thế là vì lẽ gì? Này chư Hiền, bệnh là đầu đau, mắt đau, tai

đau, mũi đau, mặt đau, môi đau, răng đau, lưỡi đau, nướu đau, cổ đau, phong suyễn, ho hen, ói mữa, cứng họng, bệnh điên, bệnh động kinh, ung thư, mọc bướu, kinh nguyệt tràn, viêm đỏ, nóng hực, khô héo, bệnh trĩ, mụn nhọt, kiết lỵ, và tất cả những bệnh tương tự như vậy, từ xúc mà sanh ra, không rời khỏi tâm, ở ngay trong thân

Trang 8

Nói chết là khổ: Chết là chúng sanh kia, với chủng loại sai biệt của chúng

sanh kia, mạng chung, vô thường, chết chôn, tan rã, tuổi thọ chấm dứt, hủy hoại, mạng căn bế tắc, như vậy gọi là chết

Oán tắng hội là khổ: Nghĩa là, chúng sanh thật có sáu nội xứ[15]: Mắt, tai,

mũi, lưỡi, thân và ý xứ vốn không khả ái mà chúng cùng tụ hội ở một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp…

Ái biệt ly khổ: đó là chúng sanh thật có sáu xứ bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi,

thân và ý xứ vốn khả ái, nhưng chúng phân tán thành khác biệt, không tương ứng, biệt ly không tụ hội, không gắn bó, không tập hợp, không hòa hợp, đó là khổ

Sở cầu bất đắc là khổ: Nghĩa là chúng sanh lệ thuộc vào sanh pháp, không

thể lìa xa sanh pháp, ước muốn rằng: ‘Mong tôi không sanh ra’, điều ấy quả thật không thể muốn mà được Với sự già, sự chết, sự ưu sầu, buồn lo mà ước muốn rằng: ‘Mong tôi không có buồn lo’ Điều ấy không thể muốn mà được

Tóm lại, ngũ thủ uẩn khổ là con người, trên các phương diện khác nhau cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác, cảm giác toàn diện Tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện Thân tâm cảm nghiệm khổ, cảm nghiệm toàn diện; cảm giác khổ, cảm giác toàn diện

* Khổ tập thánh đế:

Nghĩa là chúng sanh thật có sáu xứ tham ái bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý xứ Trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có ô nhiễm, có đắm trước thì gọi là tập.Lời kinh nêu thí dụ: “Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tài vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác những nghiệp

có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập Người kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế này Cũng vậy, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng, hành, ái, cũng lại như vậy.“Này chư Hiền, chúng sanh quả thực có sáu giới tham ái: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức giới, trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập

* Khổ diệt thánh đế:

Trang 9

Nghĩa là chúng sanh thực có sáu xứ tham ái bên trong: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ Chúng sanh ấy giải thoát, không nhiễm, không đắm trước, đoạn bỏ hoàn toàn, vô dục, diệt tận, tĩnh tịch; đó gọi là Khổ diệt

* Khổ diệt đạo Thánh đế:

Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định

Chánh kiến là khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo;

hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh Hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự giản trạch, giản trạch toàn diện, giản trạch quyết định, giản trạch pháp, nhận định, toàn diện nhận định, quán sát minh đạt

Chánh tư duy là suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo;

hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự tư sát,

tư sát toàn diện, tùy thuận tư sát, điều nào nên niệm thì niệm, điều nào nên hy vọng thì hy vọng

Chánh ngữ là khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo;

hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài bốn diệu hành thuộc miệng, còn các ác hành khác nơi miệng đều viễn ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội Đó là chánh ngữ

Chánh nghiệp là khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là

đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng

Trang 10

suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài

ba diệu hành thuộc thân, còn các ác hành khác nơi thân đều viễn ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội

Chánh mạng: Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập,

diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó phải là mong cầu vô lý, không do nhiều tham dục mà không biết vừa đủ, không làm các thứ xảo quyệt bùa chú, để sinh sống bằng tà mạng Chỉ theo chánh pháp mà mong cầu y phục, chớ không phải với phi pháp, cũng theo chánh pháp để mong cầu thực phẩm, giường chõng, chớ không phải với phi pháp

Chánh tinh tấn là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt

là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó, nếu có phương tiện tinh tấn thì quả quyết, tinh cần để mong cầu, có khả năng để thú hướng, chuyên chú không xả bỏ, cũng không suy thối, quyết định hàng phục tâm mình Đó là chánh tinh tấn

Chánh niệm: Đó là khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là

đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó, nếu tâm tùy thuận niệm, phản chiếu giải thoát niệm, suy niệm, biến mãn suy niệm, liên tục ức niệm, tâm niệm không xao lãng

Chánh định: Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt

là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh;

Ngày đăng: 06/08/2021, 08:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w