Đạo Phật hướng đến giải thoát sanh tử, chứng Niếtbàn để sống tự tại trong cuộc đời mà làm lợi lạc quần sanh. Khái niệm giải thoát được sử dụng phổ biến trong Phật giáo và hầu như người học Phật nào cũng trả lời tu tập là để giải thoát. Tuy nhiên, giải thoát cái gì mới là vấn đề cốt yếu. Trong Phật giáo, khái niệm giải thoát sanh tử thường được sử dụng để nói về mục đích cuối cùng của người tu tập Phật pháp. Giải thoát là cởi bỏ được sự trói buộc của phiền não mà vượt thoát khỏi thế giới mê muội khổ đau; là ra khỏi sự trói buộc trong ba cõi dục, sắc, vô sắc; là dứt tuyệt nguyên nhân sinh tử luân hồi nghiệp báo; là không bị những luyến ái trói buộc cái tâm; là đạt được sự siêu thoát vượt sự trói buộc của thế giới trần tục, khỏi sự chi phối của dục vọng, sống hoàn toàn thanh thoát tự tại; là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong luân hồi và đạt Niếtbàn. Tóm lại, giải thoát là tâm không bị ràng buộc bởi các phiền não và các duyên trần khác và đạt Niếtbàn. Từ quan niệm “lìa sinh tử chứng Niết bàn” (thoát khỏi sinh tử mới đạt tới Niết bàn) đến “Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu niết bàn”, Phật giáo đã giải thích cặn kẽ hơn về sinh, tử và niết bàn. Sinh tử hay luân hồi cũng không có gì đáng sợ nữa, khổ đau đã trở thành cơ duyên giúp con người vươn tới, đạt được lý tưởng cao siêu của giải thoát. Căm ghét khổ đau không giúp con người thoát khỏi khổ đau. Do vậy, “Giải thích câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết bàn) trong phẩm Quán phọc giải của Trung quán luận” có ý nghĩa to lớn với phật tử trong trần thế để hiểu rõ hơn về sinh, tử, về niết bàn một cách đúng đắn.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: GIẢI THÍCH CÂU KỆ: “CHẲNG LÌA SINH TỬ, MÀ RIÊNG
CÓ NIẾT BÀN”( BẤT LY Ư SINH TỬ, NHI BIỆT HỮU NIẾT -BÀN)TRONG PHẨM QUÁN PHỌC GIẢI CỦA TRUNG QUÁN LUẬN
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
– 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
2
Giải thích câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết -bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn trong Phẩm
Trang 3MỞ ĐẦU
Đạo Phật hướng đến giải thoát sanh tử, chứng Niết-bàn để sống tự tại trong cuộc đời mà làm lợi lạc quần sanh Khái niệm giải thoát được sử dụng phổ biến trong Phật giáo và hầu như người học Phật nào cũng trả lời tu tập là để giải thoát Tuy nhiên, giải thoát cái gì mới là vấn đề cốt yếu Trong Phật giáo, khái niệm giải thoát sanh tử thường được sử dụng để nói về mục đích cuối cùng của người tu tập Phật pháp Giải thoát là cởi bỏ được sự trói buộc của phiền não mà vượt thoát khỏi thế giới mê muội khổ đau; là ra khỏi sự trói buộc trong ba cõi dục, sắc, vô sắc; là dứt tuyệt nguyên nhân sinh tử luân hồi nghiệp báo; là không
bị những luyến ái trói buộc cái tâm; là đạt được sự siêu thoát vượt sự trói buộc của thế giới trần tục, khỏi sự chi phối của dục vọng, sống hoàn toàn thanh thoát
tự tại; là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong luân hồi và đạt Niết-bàn Tóm lại, giải thoát là tâm không bị ràng buộc bởi các phiền não và các duyên trần khác và đạt Niết-bàn
Từ quan niệm “lìa sinh tử chứng Niết bàn” (thoát khỏi sinh tử mới đạt tới Niết bàn) đến “Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu niết bàn”, Phật giáo đã giải thích cặn kẽ hơn về sinh, tử và niết bàn Sinh tử hay luân hồi cũng không có gì đáng
sợ nữa, khổ đau đã trở thành cơ duyên giúp con người vươn tới, đạt được lý tưởng cao siêu của giải thoát Căm ghét khổ đau không giúp con người thoát
khỏi khổ đau Do vậy, “Giải thích câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết
- bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn) trong phẩm Quán phọc giải
của Trung quán luận” có ý nghĩa to lớn với phật tử trong trần thế để hiểu rõ hơn
về sinh, tử, về niết bàn một cách đúng đắn
Trang 4NỘI DUNG
1 Phẩm Quán Phược Giải của Trung quán luận
Trung luận được kiết tập trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh, tập 30, kinh số 1564 (T30n1564), được Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán vào năm 409 từ nguyên văn tiếng Phạn do Bồ tát Long Thọ trước tác, lời tựa viết cho Trung luận của Thích Tăng Duệ, và phần sớ giải của Phạm Chí Thanh Mục Nội dung gồm 27 chương (phẩm), 446 bài tụng, mỗi bài có 4 câu năm chữ
1 Quán nhân duyên (pratyayaparīkṣ̣ā)
2 Quán khứ lai (gatāgataparīkṣ̣ā)
3 Quán lục tình (cakṣ̣urādīndriyaparīkṣ̣ā)
4 Quán ngũ ấm (skandhaparīkṣ̣ā)
5 Quán lục chủng (dhātuparīkṣ̣ā)
6 Quán nhiễm nhiễm (rāgaraktaparīkṣ̣ā)
7 Quán tam tướng (saṃ̣skṛ̣taparīkṣ̣ā)
8 Quán tác tác giả (karmakārakaparīkṣ̣ā)
9 Quán bản trú (pūrvaparīkṣ̣ā)
10 Quán nhiên khả nhiên (agnīndhanaparīkṣ̣ā)
11 Quán bản tế (pūrvaparakoṭ̣iparīkṣ̣ā)
12 Quán khổ (duḥ̣khaparīkṣ̣ā)
13 Quán hành (saṃ̣skāraparīkṣ̣ā)
14 Quán hợp (saṃ̣sargaparīkṣ̣ā)
15 Quán hữu vô (svabhāvaparīkṣ̣ā)
16 Quán phọc giải (bandhanamokṣ̣aparīkṣ̣ā)
17 Quán nghiệp (karmaphalaparīkṣ̣ā)
18 Quán pháp (ātmaparīkṣ̣ā)
19 Quán thời (kālaparīkṣ̣ā)
20 Quán nhân quả (sāmagrīparīkṣ̣ā)
21 Quán thành hoại (saṃ̣bhavavibhavaparīkṣ̣ā)
Trang 522 Quán Như Lai (tathāgataparīkṣ̣ā)
23 Quán điên đảo (viparyāsaparīkṣ̣ā)
24 Quán tứ đế (āryasatyaparīkṣ̣ā)
25 Quán niết-bàn (nirvāṇ̣aparīkṣ̣ā)
26 Quán thập nhị nhân duyên (dvādaśāṇ̇gaparīkṣ̣ā)
27 Quán tà kiến ( dṛ̣ṣ̣ṭ̣iparīkṣ̣ā)
Trong 27 chương (phẩm) trên thì câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” (Bất ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn) nằm trong chương (phẩm) 16
Trung luận 中中 hoặc Trung quán luận 中中中, Trung luận tụng 中中中, gọi đầy
đủ theo tên Phạn văn (mūlamadhyamakakārikā) là Căn bản trung luận tụng 中中中
中 中 , là một tác phẩm tối quan trọng của Long Thọ, người khai sáng tông phái Trung quán (mādhyamika) tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên Dựa trên bản tiếng Phạn hiện còn tồn tại, tên tiếng Phạn của Trung
luận là Mūla-madhyamaka-kārikā, do 3 cụm từ tổ hợp thành Mūla nghĩa là “căn bản”; madhyamaka xuất phát bởi tính từ madhya (trung, trung gian), cộng thêm đuôi ma (tối cao, chí thượng), hình thành nên nghĩa “tối trung” hoặc “chí trung”; kārikā nghĩa là “tụng kệ”, “luận tụng” Do đó Mūlamadhyamakakārikā
có thể được dịch là “Căn bản trung luận tụng”
Nội dung Trung luận là làm sáng tỏ pháp Quán trung đạo cho nên còn gọi
là Trung quán luận Trung có nghĩa là rời khỏi sự điên đảo hí luận khỏi hai cực
đoan là không (vô) và có (hữu) Pháp Quán trung đạo này lấy trí tuệ tánh không làm thể, lấy sự quán chiếu nhân duyên, trung đạo, bất nhị, xa lìa vọng
chấp hữu-vô làm dụng Nguồn gốc phép quán này chính là khái niệm Chánh kiến mang nghĩa trung đạo xa lìa chấp có, chấp không mà Đức Phật đã thuyết
trong Tạp A Hàm, kinh số 301 Tán-đà Ca-chiên-diên
(Kaccayanagotta) Chánh tức là trung, còn kiến tức là quán, chánh kiến tức
là trung quán [1, tr,267].
Trung là giữa, quán là xem xét, Trung Quán Luận tức là bộ Luận dùng trí quán sát đúng lý trung đạo Lý trung đạo trong nhà Phật có hai tầng lớp:
Trang 6Một là trung đạo của hàng Nhị thừa Sau khi thành đạo, Đức Phật đi giáo hóa trong nhân gian, Ngài thường phê phán thời bấy giờ có những người tu phóng túng, hướng về ngũ dục rồi thụ hưởng, đắm trước, Phật gọi đó là hạng người đuổi theo dục lạc Lại có hạng người tu khác xoay qua khổ hạnh, hành hạ thân xác như nằm trần trụi ngoài trời hoặc ăn uống những thức ăn như trấu cám… Như vậy họ tự đày đọa thân xác khổ sở mà không tỉnh giác, Phật gọi đó
là hạnh ngu si Vì thế Đức Phật chủ trương thuyết Bát Thánh Đạo, tức là lấy Bát Thánh Đạo làm nền tảng tu hành, thoát khỏi hai bên, một bên đuổi theo tham dục và một bên hành hạ thân xác Thí dụ như về y phục, người thế gian có thể có năm hoặc mười bộ, còn trong đạo, đức Phật chỉ cho ba y chứ không được dùng nhiều, thế là ở giữa, không phải trần trụi, cũng không phải quá nhiều, về phần ăn uống, người thế gian ăn uống vô chừng, còn người tu khổ hạnh ăn rất ít hoặc ăn
mè, ăn bắp đói khát khổ sở Trong khi ấy đức Phật cho Tỳ kheo dùng ngọ là bữa
ăn chính, không phải nhịn ăn, cũng không phải ăn nhiều Như thế lý trung đạo trong nhà Phật được dùng trong cuộc sống từ ăn đến mặc, đến cả việc tu cũng vậy, không cho lệch bên này hoặc bên kia Trung đạo của Nhị thừa là thoát ra khỏi hai điều chấp nê đuổi theo ngũ dục và hành khổ hạnh
Hai là trung đạo theo lý Bát-nhã Theo tinh thần Bát-nhã, những sự vật ở trên thế gian này đều do nhân duyên mà có, đều do nhân duyên mà sanh, vì do nhân duyên sanh nên không có thật thể cố định Muôn pháp hiện có chỉ là giả tướng giả danh Như vậy nhìn bằng trí Bát-nhã các pháp thật có hay không? Vì duyên hợp như huyễn, nó có chỉ là giả tướng giả danh, cho nên không kẹt bên
có Vì duyên hợp như huyễn, giả tướng giả danh chớ không phải là không, cho nên không kẹt bên không Không kẹt bên có, không kẹt bên không thì chúng ta ở chỗ nào? Thấy các pháp không thật có cũng không thật không vì do nhân duyên sanh Do nhân duyên sanh nên không có thật thể cố định Đó là tướng trung đạo Các pháp do nhân duyên sanh nên Phật nói là Không, tức là không có thật thể, không có cố định Không thật thể, không cố định mà có, đây là chỉ có giả tướng giả danh Thấy được giả tướng giả danh không có thật thể là cái thấy trung đạo, là nghĩa trung đạo, tức là Đệ nhất nghĩa đế Như thế chữ trung đạo
Trang 7này chỉ lý thật đi thẳng vào Đệ nhất nghĩa đế, chớ không phải trung đạo đối đãi
ở khoảng giữa, một bên theo dục lạc, một bên theo khổ hạnh Thế nên người thấy được lý thật của các pháp là người giác, là người trí tuệ, vượt khỏi mê lầm
ở hai bên Đó là nghĩa trung đạo của bộ Trung Luận này
2 Giải thích câu kệ: “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” (Bất
ly ư sinh tử, nhi biệt hữu Niết - bàn trong Phẩm Quán Phược Giải của Trung quán luận
Niết bàn và luân hồi chỉ là một nhưng nhìn trong vô minh thì là luân hồi, nhìn khi giác ngộ là Niết bàn, giống như nhìn sợi dây thừng trong bóng tối là con rắn nhưng nhìn trong ánh đèn thì chỉ là sợi dây thừng, không còn đáng sợ nữa Vì vậy, phải chấp nhận sống trong luân hồi thì mới chi phối được nghiệp báo luân hồi Trong Đại thừa, phái Duy thức bổ sung thêm hai loại Niết bàn nữa,
là Tự tính thanh tịnh Niết bàn và Bất trụ Niết bàn Thực chất, đó cũng chỉ là những dạng thức mới của Hữu dư Niết bàn Tự tính thanh tịnh Niết bàn chính là bản tính thanh tịnh vốn có ở cái tâm của mỗi người mà khi đạt tới đó, con người được giải thoát
Còn Bất trụ Niết bàn là khái niệm nói về trạng thái của những con người sống ngay trong thế giới hiện thực, tồn tại trong luân hồi nhưng vẫn tự do tự tại, làm chủ bản thân mình; đồng thời, tích cực hoạt động cứu giúp những người khác cùng được giải thoát như mình Họ sống giữa cõi đời với cái tâm “vô sở đắc” (tâm không cầu được) với khát vọng giúp cho mọi người cùng được giải thoát khỏi khổ đau như mình Cuộc đời của Phật Thích Ca là cuộc đời của một con người “Bất trụ Niết bàn” vì ông đã đạt tới Hữu dư Niết bàn từ năm 35 tuổi nhưng không dừng lại mà quay về với cuộc sống trần tục, tích cực hoạt động truyền giáo trong 45 năm cho lý tưởng cứu độ chúng sinh 45 năm đó là 45 năm Bất trụ Niết bàn của người đã đặt chân tới Niết bàn nhưng không một phút ở yên trong Niết bàn tịch tĩnh [2, tr.154]
Theo Trung Quán Luận, để tới được Niết bàn, con người, một mặt, phải giác ngộ được lẽ vô thường; mặt khác, phải đạt được tự do tinh thần, không bị ngoại cảnh chi phối, khi nào thoát khỏi chấp ngã (mắc vào cái tôi cá nhân), khi
Trang 8đó con người đạt tới Niết bàn Con đường tu đó không bao giờ chấm dứt, nên Đại thừa thường có câu: “Tu đến thành Phật cũng không thôi” Hay cũng có thể nói rằng, đó là con đường vĩnh viễn luân hồi, vĩnh viễn giải thoát Sự khác nhau trong quan niệm về Niết bàn của Tiểu thừa và Đại thừa quy định hai lối tu khác nhau Với Vô dư Niết bàn, Tiểu thừa thực hành lối tu xuất thế, lánh đời Với Hữu dư Niết bàn, Đại thừa thực hành lối tu nhập thế, sống hoà cùng đời tục nhưng vươn lên giữa cuộc đời
Trung quán luận cho rằng Duyên khởi là vô vi, vì Duyên khởi là: “Phật xuất thế hoặc chẳng xuất thế thì pháp tánh, pháp trụ, pháp giới vẫn thường trụ”
Họ cho rằng Duyên khởi thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt mà nhìn Duyên khởi
từ lý tánh xa lìa sự tướng Điều này không giống với Đại thừa, trong Bát nhã Đăng luận ngài Thanh Biện cũng từng nói đến Theo các nhà Trung Quán, Duyên khởi bất sanh bất diệt là nói Duyên khởi tức bất sanh bất diệt, tánh tịch diệt của Duyên khởi này là trung đạo Đức Phật giác ngộ được Duyên khởi mà thành đạo, chính là chỗ này; Thanh văn chứng nhập vô vi vô sanh cũng chỗ này Duyên khởi bất sanh bất diệt này chính là nghĩa sâu xa căn bản của Phật pháp, là
sở chứng chung của hàng Tam thừa
Nhưng trong quá trình triển khai giáo nghĩa của Phật giáo thì Duyên khởi này trở thành nghĩa sâu xa mà các học giả Đại thừa đặc biệt phát huy Về hình thức nó đã trở thành giáo học riêng biệt của Đại thừa Một số học giả Thanh văn cho Duyên khởi là nghĩa vô thường sinh diệt Kinh Duy-ma quyển thượng ghi :
“Bất sanh bất diệt là nghĩa vô thường” Điều này tựa hồ như mâu thuẫn và đã trở thành điểm tranh luận giữa Đại thừa và Thanh văn Nhưng căn cứ theo giáo nghĩa của đức Thích Tôn thì sanh diệt và bất sanh bất diệt xưa nay vẫn một Khi
nói “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” thì kinh A-hàm muốn chỉ vào
Niết-bàn, vô vi Niết-bàn nhất định chẳng phải chết, cũng chẳng phải sau khi chết mới đạt được Niết-bàn, ngài Huyền Tráng dịch là viên tịch, từ này trong tiếng Phạn bao hàm nghĩa phủ định, diệt tắt, an lạc tự tại Niết-bàn được Phật nói đến
là chỉ cho cảnh giới đã vượt ra khỏi những hỗn loạn, phiền muộn, trói buộc để đạt đến an ổn, bình đẳng, tự tại giải thoát Đạt tới cảnh giới này là hoàn thành
Trang 9chánh giác của Phật giáo, tức thoát khỏi ngu si là nguồn gốc sanh tử, mà đạt đến trí huệ là gốc giải thoát Niết-bàn còn gọi là vô vi, vô sanh (vô trụ, vô diệt) Vì đức Phật gọi tất cả các phápthế gian là hữu vi, do hoặc nghiệp chiêu cảm thành
Không có một Niết Bàn nào lìa sinh tử, nếu như đoạn hết sinh tử mới thấy Niết Bàn thì đó là quan điểm của hàng phàm phu, sai với ý Phật dạy Chúng ta phải thấy rằng, Niết Bàn chẳng lìa sinh tử, điều đó không có nghĩa hai cái này chồng lên nhau mà Niết Bàn chính là bản thể của sinh tử Trong Duy thức, nhất thiết pháp gồm 100 pháp, đó là các pháp sinh tử hữu vi (94 pháp) gồm tâm vương, tâm sở, sắc pháp, bất tương ưng pháp (và cả 6 pháp vô vi - dừng sinh tử tạo tác) đều là hiện tượng của vô ngã tính (nhất thiết pháp vô ngã), tức Niết Bàn Trói buộc và giải thoát chẳng qua chỉ là cảm thụ của chúng ta Bản chất của tham sân si hay của tất cả sự vật đều do cảm thụ của chúng ta không có thực thể Trên thực tế các pháp là duyên hợp chẳng có đặc tính gì hết, kể cả trói buộc hay giải thoát Nếu như nhìn tham sân si với tính độc lập, trung tính thì hiển nhiên chúng ta đã giải thoát khỏi nó rồi
Chính vì bản chất các pháp là không có tự tính nên phiền não không có tự tính, phiền não không có tự tính thì pháp mà ta gọi là Niết Bàn cũng không có tự tính Đó chỉ là giả danh đặt ra mà thôi Về mặt bản chất, thì Niết Bàn chính là bản thể của phiền não, vì Niết Bàn có nghĩa là trạng thái không có ràng buộc, không có rò rỉ, lậu hoặc, trạng thái đó chính là trạng thái rỗng không vô ngã của các Pháp Vì vậy không thể có một Niết Bàn nằm ngoài phiền não
Cây sống đời mọc lên từ lá rụng của cây, lá tượng trưng cho sinh tử, cây mọc lên tượng trưng cho Niết Bàn Trường hợp nếu giả sử có một pháp gọi là Niết Bàn nằm ngoài sinh tử thì Niết Bàn đó là một pháp, mà đã là một pháp thì phải là duyên sinh, mà duyên sinh thì vô thường như vậy chẳng thể nào gọi Niết Bàn là thường còn được
Tính chất chất căn bản của “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” này là sanh diệt, chuyển động và trói buộc, cho nên một khi đột phá các pháp hữu vi sanh diệt phiền não, sai biệt… này thì trong cảnh giới không thể hình dung, không thể đặt tên đó tạm gọi là Niết-bàn vô vi bất sanh bất diệt Đó là
Trang 10thành quả của trung đạo hành Nhưng căn cứ theo quả pháp đã chứng ngộ thì vô
vi trở thành pháp cứu Niêt-bàn Chánh giác giải thoát, không luận là Bồ-tát hay Thanh văn, cả hai đều xem đó là mục đích cần phải đạt đến Những hành giả Thanh văn khi đạt đến đây liền cho là đã đạt đến cứu cánh, việc đáng làm đã xong không còn điều gì để tu tập, để thực hiện nữa Còn hành giả Đại thừa khi đạt đến Bất Động địa, tương đương với cảnh giới Niết-bàn “sở tác dĩ biện” đã nêu trên, chỉ gọi là vô sanh pháp nhẫn, chứ vẫn chưa xem là cứu cánh Như trong kinh Thập địa khi nói về Bồ-tát địa, có ghi: Khi Bồ-tát chứng đắc vô sanh pháp nhẫn, tưởng đã chứng Niết-bàn, đức Phật liền dạy họ: “Tánh của các pháp này, Phật xuất thế hay không xuất thế vẫn thường trụ chẳng khác
Chư Phật chẳng cho rằng đã được pháp này nên gọi là Như Lai, tất cả hàng Nhị thừa cũng có thể đạt pháp vô phân biệt này” Pháp vô sanh là pháp sở chứng chung cho hàng Tam thừa; chư Phật không lấy pháp này làm chỗ chứng đắc rốt ráo, nên gọi là Như Lai Như thế rõ ràng là hàng Đại thừa không xem Niết-bàn vô vi là “hoàn thành”, mà phải biết tiến lên một bước nữa, từ đại bi đại nguyện mà thực hiện hành nguyện lợi tha rộng lớn Về điểm này Luận Trí Độ 75 ghi: “đạt vô sanh nhẫn, được thọ ký không còn việc gì khác, chỉ cần thanh tịnh cõi Phật, thành tựu chúng sanh” Cũng theo nghĩa này, Trí Độ luận 5 ghi: “Vô sanh nhẫn là môn trợ giúp Phật đạo” Từ điều này ta có thể thấy, về mặt giải thoát, tức trên lập trường tự lợi thì Đại thừa không khác Thanh văn thừa Nhưng mốt số hành giả Thanh văn quá thiết tha với tâm tự lợi, cho nên vừa đến cảnh giới này đã là cho viên mãn mà không thể khởi tâm tinh tấn thành lợi tha Vì thế trong kinh Đại thừa thường quở trách những hạng người này Đại thừa cũng nương vào cảnh giới Chánh giác, cực quả của Thanh văn (Niết-bàn) mà đạt vô sanh pháp nhẫn, nhưng chưa xem là đã hoàn thành, mà còn tiến xa hơn là thực hiện hạnh nguyện đại bi vô tận độ chúng sanh
Tinh thần “Chẳng lìa sinh tử, mà riêng có Niết - bàn” đã phá vỡ khái niệm nhị nguyên về Niết Bàn, giúp cho hành giả thấy được bản tính vô ngã bất nhị của các pháp sinh tử, tức Niết Bàn Từ đó phát triển tinh thần bồ tát đạo dấng