1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy giá trị nhân văn quân sự việt nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân việt nam hiện nay

221 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố cơ bản quy định phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội 56 Chương 3 THỰC TRẠNG, DỰ BÁO NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤ

Trang 1

được trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trịnh Khắc Mừng

Trang 2

bố có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra luận án

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

NHÂN VĂN QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN

2.1 Quan niệm phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây

dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam 30 2.2 Những yếu tố cơ bản quy định phát huy giá trị nhân văn quân sự

Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội 56

Chương 3 THỰC TRẠNG, DỰ BÁO NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ MỘT

SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÂN VĂN QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

3.1 Thực trạng phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng

nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 77 3.2 Dự báo nhân tố tác động và một số vấn đề đặt ra đối với phát

huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam 102

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÂN VĂN

QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN

4.1 Nâng cao trách nhiệm và năng lực của các chủ thể trong phát

huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam 120 4.2 Nâng cao chất lượng giáo dục giá trị nhân văn quân sự Việt

Nam nhằm hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho hạ sĩ

4.3 Nâng cao hiệu quả định hướng giá trị nhân văn quân sự Việt Nam vào

hoạt động thực tiễn quân sự của hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiện nay 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam là đặc trưng riêng, vốn có cấu thànhvăn hóa quân sự Việt Nam có vai trò to lớn, là động lực tinh thần mạnh mẽ thểhiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc từ thế hệ này quathế hệ khác, góp phần làm nên những chiến công hiển hách trước các thế lựcngoại xâm Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam được biểu thị trong hoạt độngquân sự như: Trong hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh mang tính chất

tự vệ, chính nghĩa, cách mạng; trong hoạt động xây dựng quân đội của dân, dodân, vì dân; trong hoạt động đấu tranh vũ trang bằng nghệ thuật quân sự dân tộcđộc đáo, sáng tạo mang đậm tính nhân văn Đó là những giá trị có vai trò to lớncần được gìn giữ, khai thác, phát huy ở tất cả các lĩnh vực hoạt động quân sự,trong đó có việc xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân ViệtNam hiện nay (sau đây gọi là hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội) Những giá trị đó khiđược khơi dậy phát huy thường xuyên sẽ tạo thành động lực tinh thần to lớn thúcđẩy nội tâm, thổi bùng lên ngọn lửa lý tưởng, hoài bão, chí tiến thủ không ngừngphấn đấu vươn lên ở hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội, từ đó họ có đầy đủ phẩm chất,năng lực, xứng đáng trở thành người kế tục trung thành và hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó

Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội là những thanh niên ưu tú được tuyển chọnhằng năm theo luật nghĩa vụ quân sự, là lực lượng đông đảo giữ vai trò xung kích,trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Thời gian qua, vấn đề phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, trong đó cógiá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩđược lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cơ quan chức năng trong quân đội quan tâm Do

đó, phần lớn hạ sĩ quan, binh sĩ có nhận thức đúng đắn, có tình yêu quê hương đấtnước sẵn sàng xả thân, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc củanhân dân được xã hội tôn vinh, nhân dân tin tưởng và yêu mến Tuy nhiên, bêncạnh những thành tựu đã đạt được, việc nhận thức, phát huy giá trị nhân văn quân

sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách của hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội ở nhiều

Trang 4

đơn vị vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao Trong huấn luyện quân

sự, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện vẫn còn những hạ

sĩ quan, binh sĩ có biểu hiện thụ động, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ; một bộ phận hạ sĩquan, binh sĩ chưa thật sự tin tưởng vào tinh hoa nghệ thuật quân sự dân tộc ViệtNam, chưa thấm nhuần giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong phẩm chất, nănglực của mình, thậm chí có một số hạ sĩ quan, binh sĩ có những hành vi vi phạmpháp luật, v.v., làm tổn hại đến nhân cách quân nhân cách mạng, phẩm giá Bộ đội

Cụ Hồ cũng như phai nhạt giá trị nhân văn quân sự Việt Nam

Việc nghiên cứu phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựngnhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ phương phápluận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử góp phần làm rõ cơ

sở khoa học giúp khái quát những khía cạnh bản chất, tính quy định cho phép đề xuấtnhững giải pháp thực tiễn đạt đến chiều sâu gốc rễ của vấn đề Từ đó giúp các chủ thểlãnh đạo, chỉ huy trong quân đội nâng cao hơn nữa hiệu quả phát huy giá trị nhân vănquân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ

Sự cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn là cơ sở để tác giả lựa chọn vấn đề:

“Phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án; kháiquát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố và chỉ ranhững vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Trang 5

Phân tích, luận giải những vấn đề lý luận về phát huy giá trị nhân văn quân

sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Đánh giá thực trạng, dự báo nhân tố tác động và những vấn đề đặt ra vớiviệc phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩquan, binh sĩ Quân đội hiện nay

Đề xuất giải pháp cơ bản phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trongxây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Bản chất phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhâncách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn phát huy giá trịnhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ đangphục vụ tại ngũ ở đơn vị cơ sở thuộc đơn vị chủ lực, đơn vị đủ quân làm nhiệm

vụ sẵn sàng chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Phạm vi khảo sát: Tiến hành điều tra, khảo sát đại diện tại một số đơn vị

cơ sở chiến đấu thuộc sư đoàn bộ binh đủ quân (fBB312/QĐ1; fBB325/QĐ2;fBB10/QĐ3; fBB9/QĐ4), Lữ đoàn 201 và 215 thuộc Binh chủng Tăng Thiếtgiáp, sư đoàn 361 Phòng không - Không quân Phạm vi thời gian nghiên cứu,khảo sát giới hạn từ năm 2016 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn hóa quân sự ViệtNam, về con người, nhân cách, nhân cách quân nhân cách mạng

Cơ sở thực tiễn

Hệ thống tài liệu tổng kết, số liệu thống kê của các cơ quan, đơn vị về giáodục chính trị, giáo dục truyền thống; kết hợp với kết quả điều tra, khảo sát thực tếcủa tác giả về thực trạng phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xâydựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiện nay Dựa vào những nhận định,đánh giá trong văn kiện, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng, Nhà nước, Bộ

Trang 6

Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; các tài liệu, báo cáo tổng kết công tác đảng, côngtác chính trị, công tác đoàn và phong trào thanh niên, công tác huấn luyện chiến đấu

và giáo dục chính trị ở một số đơn vị cơ sở; khái quát, tổng hợp số liệu điều tra,khảo sát ở một số đơn vị Bộ binh về phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Namtrong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thểnhư: Phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách;phương pháp lịch sử

và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; khái quát hoá và trừutượng hoá; so sánh, điều tra xã hội học; tổng kết thực tiễn; xin ý kiến chuyên gia

5 Những đóng góp mới của luận án

Góp phần làm rõ các khái niệm giá trị nhân văn quân sự Việt Nam, phát huygiá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ

Những yếu tố cơ bản quy định phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Namtrong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Giải pháp cơ bản, đặc thù, có tính khả thi phát huy giá trị nhân văn quân sự ViệtNam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập và giáo dụctruyền thống, giáo dục chính trị và những vấn đề có liên quan đến giá trị nhânvăn quân sự Việt Nam ở các đơn vị cơ sở hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Trang 7

Kết cấu của luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mụccác công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam

Giá trị nhân văn quân sự là một trong những nội dung cấu thành văn hóaViệt Nam nói chung cũng như văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng Là một trongnhững giá trị tinh thần truyền thống quý báu, phản ánh đặc trưng tính chất hoạtđộng quân sự của dân tộc Việt Nam trong lịch sử Lĩnh vực này đã và đang thuhút được nhiều sự quan tâm của các tác giả với nhiều công trình khoa học đặc sắc,luận giải từ nhiều phương diện khác nhau làm nổi bật tính đặc thù của văn hóaquân sự Việt Nam với tính nhân văn sâu sắc Tiếp cận tổng quan những phạm trù,khái niệm chung trong các công trình khoa học đã nghiên cứu là cơ sở, công cụluận giải bản chất khái niệm giá trị nhân văn quân sự Việt Nam cũng như luận giảicác thuộc tính nhân văn quân sự độc đáo, đặc sắc của dân tộc Việt Nam

Nguyễn Thế Vị (2004), Nhân tố văn hóa trong truyền thống quân sự Việt Nam [159] Nhấn mạnh đến giá trị nhân văn quân sự Việt Nam, tác giả tác giả đã

dành một chương luận giải về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam, theo tác giả giátrị nhân văn quân sự Việt Nam là “Đấu tranh cùng tồn tại - một kế sách giữ nước lâudài”, là “Thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa, lòng khao khát yêu hòa bình, đấu tranh giữmối giao hảo, cùng tồn tại và mở rộng bang giao thân thiện với các nước láng giềng,được coi là kế sách giữ nước lâu dài của dân tộc Việt Nam” [159, tr 161 - 162] Giátrị nhân văn quân sự Việt Nam thể hiện “không những bằng đấu tranh vũ trang màcòn kết hợp chặt chẽ với đấu tranh ngoại giao để mở đường cho kẻ thù rút ra khỏicuộc chiến tranh mà không bị bẽ mặt; trong những điều kiện nhất định thì đấutranh ngoại giao là phương thức đấu tranh chủ yếu” [159, tr 169]

Trang 8

Lê Văn Quang (2005), Tính nhân văn trong tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh [119] đã chỉ rõ nguồn gốc tính nhân văn trong tư

tưởng sử dụng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh, tác giả nhấn mạnh đếnmột trong những ngọn nguồn của tính nhân văn trong bạo lực cách mạng theo

tư tưởng Hồ Chí Minh đó là từ văn hóa giữ nước và văn hiến của dân tộc ViệtNam, tác giả luận giải “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyềnthống: lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo; cả nướcchung sức, toàn dân đánh giặc; thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước,không chịu làm nô lệ” [119, tr 2]

Đồng Anh Dũng (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích sử dụng bạo lực cách mạng [18] có cách luận giải sâu sắc về giá trị nhân văn trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về mục đích sử dụng bạo lực cách mạng, theo tác giả “Tiến hànhđấu tranh bằng bạo lực cách mạng, chống lại hành động xâm lược, nô dịch, là lấynhân văn để chống lại phản nhân văn, chống lại dã man và tàn bạo Đây là chủnghĩa nhân văn cách mạng, nhân văn trên lập trường mácxít nhằm: giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người” [18, tr 21]

Nguyễn Văn Hữu (2006), Báo cáo tổng kết đề tài văn hóa quân sự Việt Nam với xây dựng Quân đội nhân dân về chính trị hiện nay [61] Trên cơ sở luận

giải nhân văn quân sự Việt Nam như một thành tố tạo nên tính đặc thù của vănhóa quân sự Việt Nam, tác giả đã khái quát các đặc điểm quá trình hình thành pháttriển văn hóa quân sự Việt Nam, và cho rằng: Một trong những đặc điểm nổi bật

đó là văn hóa quân sự Việt Nam hình thành, phát triển trên nền tảng truyền thốngyêu nước và tư tưởng nhân văn Việt Nam Tác giả khẳng định tư tưởng nhân văn

là điểm tựa, là lý tưởng, bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của cộng đồng quốc gia dân tộc trở thành chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Tác giả nhấn mạnh “Chủ nghĩanhân văn Việt Nam là một hệ thống giá trị văn hóa chi phối trực tiếp đến sựhình thành, phát triển các giá trị văn hóa quân sự Việt Nam, chứa đầy bảnchất nhân văn - từ con người, vì con người, do con người” [61, tr 20]

Trang 9

-Nguyễn Văn Tài, Văn Đức Thanh (2009), Hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử giữ nước của dân tộc [127] khẳng định “Truyền

thống nhân đạo, nhân văn thấm sâu vào tất cả các mối quan hệ trong lĩnh vực

tổ chức và hoạt động quân sự, trở thành một trong những nhân tố tạo nên sứcmạnh quân sự, chiến thắng các kẻ thù to lớn và hung tàn” [127, tr 52 - 53].Như vậy, giá trị nhân văn quân sự Việt Nam là đặc trưng tiêu biểu tạo nên sứcmạnh chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược trong truyền thống dựngnước và giữ nước của người Việt Nam

Ngô Đức Thịnh (Chủ biên, 2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam [152], coi “khoan dung” là một trong những đặc trưng hoạt động quân

sự của Việt Nam Tác giả đã nhấn mạnh “khoan dung” là biểu hiện của tình yêuthương con người, hướng thiện và yêu chuộng hòa bình Trong lĩnh vực quân sự,khoan dung là rộng lượng tha thứ cho những thế lực ngoại xâm bị bại trận, kếtthúc chiến tranh bằng con đường hòa bình, thiết lập giao hảo lâu dài

Trần Văn Giàu (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam [44], đã luận giải sâu sắc và chỉ rõ đặc trưng cơ bản về giá trị tinh thần

truyền thống dân tộc Việt Nam, tác giả khẳng định “Thương người” là một giátrị nhân văn tiêu biểu nhất thuộc truyền thống của dân tộc Việt Nam, là một đứctính lớn thuộc truyền thống của dân tộc Việt Nam, chính giá trị nhân văn tiêubiểu đó (thương người) đã tạo nên sức mạnh “thống nhất lòng người” từ thuởkhai sơ lập quốc như “suối chảy thuận về sông, như sông chảy thuận về biển” [44, tr.382] Tác giả cho rằng “nước Văn Lang cổ đại được dựng lên từ thuở bình minh củadân tộc trên cơ sở vững chắc của tình thương, thương người, thương dân, thươngnhau trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa” [44, tr 382 - 383], khác xa vớitruyện Tần Thủy Hoàng thôn tính sáu nước thống nhất Trung Quốc bằng mộtloạt cuộc chiến tranh dữ dội phi nhân tính, nhân văn

Văn Đức Thanh (Tổng chủ biên, 2014), Văn hóa quân sự Việt truyền thống và hiện đại [149] Đây là công trình khoa học với sự tham gia

Nam-của nhiều nhà khoa học có uy tín nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa quân sựViệt Nam Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và quan

Trang 10

điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với các cứ liệu lịch sử, các tác giảtrong công trình khoa học này đã luận giải sâu sắc về văn hóa quân sự ViệtNam truyền thống và hiện đại cả lý luận và thực tiễn Các tác giả nhấn mạnh

“cùng với truyền thống yêu nước và truyền thống kiên cường, bất khuất trong

sự nghiệp chống ngoại xâm, mọi phương diện tổ chức và hoạt động quân sựcủa dân tộc ta còn thấm đậm truyền thống nhân đạo, nhân văn và đây cũng là

hệ giá trị nền tảng của văn hóa quân sự Việt Nam” [149, tr 49]

Hà Thị Thùy Dương (2014), Bàn thêm về các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của Việt Nam [24], đã trình bày một cách có hệ thống khái niệm,

những yếu tố chi phối, cơ sở hình thành và chỉ ra những giá trị văn hóa tinh thầncủa dân tộc Việt Nam trong truyền thống, coi giá trị nhân văn của một dân tộc lànhững nguyên lý đạo đức lớn; khẳng định Việt Nam đánh thắng các thế lựcngoại xâm mạnh hơn mình gấp nhiều lần vì Việt Nam luôn đặt giá trị con người

ở vị trí trung tâm, lấy con người làm mục đích của cuộc chiến đấu

Đậu Văn Minh (Chủ biên, 2015), Giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (1945 - 1975) [87], khẳng

định nội dung quan trọng cấu thành văn hóa quân sự Việt Nam trong hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ 1945 - 1975 đó là tư tưởng nhân đạo, nhânvăn cao cả, đồng thời nhấn mạnh: “giá trị văn hóa quân sự về tư tưởng nhân đạo,nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam là giá trị phản ánh bản chất cao thượng, vị thacủa dân tộc Việt Nam, đồng thời là giá trị về phương pháp luận ứng xử trong đấutranh vũ trang trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc” [87, tr 100 - 110]

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (2015), Bản sắc văn hóa Việt Nam nền tảng của những chiến thắng quân sự [105] Đây là công trình tập hợp

-gồm nhiều bài viết của nhiều nhà khoa học, tướng lĩnh trong và ngoài quânđội (31 bài) luận giải về nhân văn quân sự trong nền văn hóa quân sự ViệtNam Các bài viết trong công trình này có những cách tiếp cận, luận giải khácnhau nhưng đều nhấn mạnh đến tính chất nhân văn trong lĩnh vực hoạt độngquân sự của dân tộc Việt Nam Tiêu biểu phải kể đến bài “Chân - thiện - mĩtrong văn hóa quân sự Việt Nam” của tác giả Dương Xuân Đống Tác giả chorằng “Hoạt động đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở Việt Nam mang tính

Trang 11

nhân văn rõ rệt vì nó luôn luôn hướng tới “chân - thiện - mĩ” Nội dung đó đượcthể hiện rõ rệt trong nghệ thuật quân sự, bộ mặt rực rỡ nhất của văn hóa quân sựViệt Nam và cũng là nơi tập trung mọi sáng tạo cao nhất về trí tuệ của con ngườitrong chiến tranh chống ngoại xâm” [105, tr 114]

Nguyễn Bá Dương (Tổng chủ biên, 2017), Tư tưởng nhân văn quân

sự Việt Nam [26]; công trình này bao gồm 6 tập Đây là công trình khoa

học nghiên cứu công phu với sự tham gia của nhiều nhà khoa học có uytín, công trình này luận giải sâu sắc tư tưởng nhân văn quân sự Việt Namtrong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Bằng

phương pháp lịch đại và đồng đại, công trình khoa học Tư tưởng nhân văn quân sự Việt Nam lần đầu tiên đã nghiên cứu một cách có hệ thống về tư

tưởng nhân văn quân sự Việt Nam Trên cơ sở đó các tác giả quan niệm

“Tư tưởng nhân văn quân sự Việt Nam là hệ thống các quan điểm, luậnđiểm của giai cấp, chính đảng, nhà nước, các danh nhân, danh tướng vềbản chất, tính chất nhân văn, giá trị nhân văn thể hiện ở mục tiêu, tínhchất, các mối quan hệ cơ bản trong tổ chức và hoạt động quân sự ViệtNam, là giá trị cơ bản và động lực phát triển của tổ chức và hoạt độngquân sự Việt Nam” [26, tr 29]

Vũ Như Khôi (2017), Văn hóa giữ nước Việt Nam - những giá trị đặc trưng [67] Từ việc phân tích những đặc điểm lịch sử, con người Việt Nam

chi phối chủ nghĩa nhân văn nói chung cũng như tính nhân văn trong côngcuộc giữ nước nói riêng, tác giả đi đến khẳng định “những đặc điểm lịch sửcon người ấy ghi đậm tính nhân văn cao cả, trở thành một giá trị đặc trưngcủa văn hóa giữ nước Việt Nam” [67, tr.199], tác giả nhấn mạnh “nhân văn

là một nội dung đặc sắc của văn hóa giữ nước Việt Nam, cũng là nét độc đáotrong lịch sử dựng nước và giữ nước, một vốn quý trong tâm hồn con ngườiViệt Nam” [67, tr 223]

Trên đây là một số công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến giá trịnhân văn quân sự Việt Nam Tuy chưa đưa ra được quan niệm về giá trị nhânvăn quân sự Việt Nam là gì, nhưng các kết luận và luận giải sâu sắc về những

Trang 12

thuộc tính biểu thị tính chất nhân văn của dân tộc nói chung và trong lĩnh vựchoạt động quân sự nói riêng là những gợi ý quan trọng để tác giả luận án tiếpthu, kế thừa phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu đề tài luận án của mình, nhất

là trong việc nghiên cứu, luận giải về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam

1.1.2 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan về nhân cách

và xây dựng nhân cách quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam

Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về nhân cách

Trên cơ sở các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề nhâncách sẽ giúp tác giả luận án nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về vấn đề này,

từ đó làm cơ sở để tác giả luận án vận dụng, triển khai, luận giải ở phươngdiện lý luận về nhân cách Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều công trìnhkhoa học nghiên cứu sâu sắc với nhiều cách luận giải khác nhau Tiêu biểu:

Hoàng Anh (2012), Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên [1] Tác giả cho rằng nhân cách là của con người và chỉ con

người mới có nhân cách “Con người là một thực thể sinh vật - xã hội Các yếu

tố sinh vật ở mỗi con người chỉ được tạo nên để hình thành nhân cách, hìnhthành phẩm chất xã hội đặc thù của nhân cách nhân cách là một chỉnh thểthống nhất trong đó các yếu tố sinh vật kết hợp chặt chẽ với các yếu tố xã hộitrong quá trình sống của cá nhân” [1, tr 23]

Vũ Minh Tâm (2012), Triết lý thiết thực của người Việt xưa [129] tác

giả đã nhấn mạnh đến yếu tố Đức trong nhân cách sống của con người, tácgiả cho rằng “Đức (mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc - thực hiện, tuânthủ tất cả các quan hệ đạo đức đã được xác định, tạo ra sự ổn định, hội nhập

và hòa hợp xã hội) nằm trong cái hồn cao qúy của con người, thể hiện “tínhngười”, nhân cách sống, phẩm giá cá nhân - cá thể và biểu hiện cái bản sắcnhân văn của dân tộc” [129, tr 35] Tác giả nhấn mạnh “Đức là hiện thâncủa “đạo làm người” Hạt nhân của đạo làm người, của đức chính là “cáitâm”, tức lòng thương người, tính bao dung, vị tha, nhân nghĩa, yêu nướcthương nòi, quên mình vì dân, vì nước đã thành trí tuệ, tình cảm sâu sắc,toàn vẹn trong con người” [129, tr 36]

Trang 13

Nguyễn Thế Kiệt (2014), Triết học thẩm mỹ và nhân cách [65] Trên cơ sở

phương pháp luận chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả cho rằngnhân cách gồm hai mặt thống nhất với nhau là phẩm chất (đức) và năng lực (tài) Tácgiả đi sâu luận giải mặt “phẩm chất” (đức) và chỉ rõ những biểu hiện cụ thể như:Phẩm chất xã hội (thế giới quan, lập trường, thái độ chính trị - xã hội, thái độ laođộng); Phẩm chất đạo đức cá nhân v.v Ở mặt “năng lực” (tài) tác giả cho rằng “đó

là năng lực hoàn thành các hoạt động được giao với chất lượng và hiệu quả cao”[65, tr 118], tác giả đưa ra bốn biểu hiện năng lực đó là: Năng lực xã hội hóa; nănglực chủ thể hóa; năng lực hành động; năng lực giao lưu, giao tiếp xã hội

Cao Thu Hằng (2014), “Về sự hình thành nhân cách” [49], đã tập trung

lý giải sự hình thành nhân cách dưới tác động của môi trường xã hội và tínhtích cực của mỗi cá nhân Trên cơ sở tiếp cận yếu tố sinh học và xã hội củacon người, tác giả khẳng định sự hình thành và phát triển nhân cách do hainhân tố quyết định: nhân tố bên ngoài - những yếu tố xã hội, tính quyết định

xã hội và nhân tố bên trong - tính tích cực của chính cá nhân Nhân tố xã hội

cơ bản có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người

là tồn tại xã hội, hoàn cảnh sống mang tính lịch sử - cụ thể mà cá nhân đósống Tính tích cực cá nhân một mặt phụ thuộc vào nhu cầu, lợi ích, mặt khácphụ thuộc vào môi trường xã hội và khuynh hướng tiến bộ xã hội

Trần Sĩ Phán (2016), Giáo dục đạo đức với sự phát triển nhân cách sinh viên hiện nay [114], trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, tác giả nhấn mạnh nhân cách và sự hình thành nhân cách là một quá trình

“động”, chứ không phải là cái gì đó nhất thành, bất biến Từ những phân tích

về quá trình hình thành, phát triển nhân cách tác giả cho rằng “Nhân cách như

là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử - cụ thể, đóng vai trò là chủ thể nhậnthức và cải tạo thế giới, chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩnmực đạo đức, thẩm mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác” [114, tr 26]

Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu và Nguyễn Thạc (2016), Hoạt động - giao tiếp - nhân cách [2] Dưới nhãn quan tâm lý học, các tác giả đã đưa ra định

nghĩa nhân cách “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm

Trang 14

lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó” [2, tr.258] Các tác giả nhấn mạnh, nhân cách là sự tổng hòa những đặc điểm quyđịnh con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xãhội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Mặc dù các công trình khoa học trên đa số tập trung luận giải vấn đềnhân cách của một đối tượng cụ thể là thanh niên, sinh viên và dưới những

góc độ khác nhau, nhưng đều khẳng định phẩm chất và năng lực là hai

thành tố quan trọng nhất cấu thành nhân cách Những kết luận đó có giá trịgợi mở đối với tác giả luận án trong việc xác định mối liên hệ cũng nhưnhìn nhận ở góc độ triết học khi luận giải về nhân cách và nhân cách hạ sĩquan, binh sĩ Quân đội

Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về xây dựng nhân cách quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam

Tiếp cận các công trình khoa học nghiên cứu về xây dựng nhân cách quânnhân sẽ giúp tác giả luận án hiểu sâu sắc hơn về cấu trúc, mô hình nhân cách quânnhân cách mạng, từ đó tác giả luận án kế thừa, phát triển trong việc luận giải xâydựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Xoay quanh vấn đề này đã thu hút nhiều nhàkhoa học trong quân đội với nhiều công trình khoa học luận giải sâu sắc về nhâncách quân nhân và xây dựng nhân cách quân nhân Tiêu biểu phải kể đến:

Phạm Văn Nhuận (Chủ biên, 2008), Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quân đội hiện nay [108], đã tập trung làm rõ lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ

Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội và đề xuấtphương hướng, nội dung nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộquân đội hiện nay tác giả nhấn mạnh: Nhân cách quân nhân nói chung,nhân cách người cán bộ quân đội nói riêng phải là “những phẩm chất nhâncách tốt đẹp, có đủ cả đức và tài, trong đó đức phải là gốc” [108, tr 147]

Hoàng Đình Châu (Chủ biên, 2012), Phẩm chất nhân cách của Bộ đội

Cụ Hồ [10] đã chỉ rõ những phẩm chất nhân cách Bộ đội Cụ Hồ và cho rằng “Đạo

đức là cái gốc vững chắc để xây dựng nên nhân cách quân nhân” [10, tr 11], các

Trang 15

tác giả trong công trình này nhấn mạnh đến điều kiện tâm lý - xã hội để giữvững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong đó đặc biệt chú ý đến quátrình tự tu dưỡng rèn luyện, coi đây là động lực có tác dụng định hướng, thúcđẩy cán bộ, chiến sĩ trong tự giáo dục.

Nguyễn Vĩnh Thắng (2016), Xây dựng quân đội về chính trị trong

sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới [147], tác giả đã đi sâu nghiên cứu,

phân tích, làm rõ thêm những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựngquân đội vững mạnh về chính trị trong thời kỳ mới Trên cơ sở phân tích,luận giải sâu sắc tình hình thế giới, khu vực và trong nước đã, đang và sẽtác động đến công cuộc xây dựng quân đội về chính trị, tác giả cho rằngphải đảm bảo cho quân đội không chỉ giỏi tác chiến trên mặt trận đấu tranh

vũ trang mà phải giỏi tác chiến trên mặt trận phi vũ trang Thực hiện đượcđiều đó cần phải “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì,cán bộ chính trị, những chính trị viên về cả phẩm chất chính trị, đạo đức,năng lực, phương pháp, tác phong công tác thực sự vừa “hồng” vừa

“hồng” vừa “chuyên”, vừa “đức” vừa “tài”, trong đó “đức” là gốc, nền tảngtạo nên nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa” [77, tr 15]

Các công trình khoa học trên tuy chưa đưa ra định nghĩa về xây dựngnhân cách quân nhân, nhưng đều khẳng định phẩm chất - “đức” và năng lực

- “tài” là hai bộ phận quan trọng của nhân cách quân nhân, vì vậy cần phảitạo dựng mọi điều kiện để phẩm chất, năng lực quân nhân không ngừngđược nâng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Những luận điểm khoa học về

Trang 16

vấn đề xây dựng nhân cách quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam của cáccông trình khoa học tiêu biểu đó có giá trị rất lớn, cung cấp những luận điểmđịnh hướng cho tác giả luận án trong việc tiếp cận, luận giải vấn đề xâydựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội.

1.1.3 Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam

Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến lý luận phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam

Hoàng Trinh (Chủ biên, 1996), Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chủ nghĩa nhân văn và văn hóa [156] Tác giả cho rằng, “ở Việt Nam không có trào

lưu tư tưởng về triết học gọi là “nhân văn chủ nghĩa” nổi bật qua từng thời đại như

ở các nước phương Tây, nhưng chủ nghĩa nhân văn dưới dạng những biểu hiện vềmặt tư tưởng và triết lý thể hiện rất sâu sắc thành những truyền thống dân tộc, cóthể tìm thấy trong các truyện cổ tích, trong ca dao, dân ca, tục ngữ, trông nhữngáng hùng văn, đặc biệt là cả văn khắc, văn bia dành cho những người “có côngđức”[156, tr 10] Tác giả kết luận “toàn bộ những lời phát biểu của Bác Hồ trêncác lĩnh vực của đời sống đều mang bản chất vì dân, do dân, của dân - là bản chấtnhân văn cao đẹp nhất” Cũng theo tác giả để phát huy và phát triển chủ nghĩanhân văn ở Việt Nam hiện nay cần phải kết hợp tinh thần nhân văn xã hội chủnghĩa và sự tự lực làm ăn, kinh doanh, làm giàu Tức là có thể và cần phải giúpcho con người vừa biết lao động sáng tạo, làm ăn, vừa biết tôn trọng nhân phẩm,tôn trọng con người, tôn trọng đồng loại

Thành Duy (2000), Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh [23], bằng việc

phân tích, tổng hợp, khái quát về các quan niệm nhân văn và chủ nghĩa nhân vănphương Đông, phương Tây, và Việt Nam tác giả đi đến kết luận “trong thực tế,tính nhân văn và chủ nghĩa nhân văn được đề cập vô cùng phong phú và đadạng, gắn với văn hóa mỗi dân tộc, mỗi sản phẩm văn hóa, thậm chí mỗi người

sử dụng nó Do đó, khi sử dụng các khái niệm nhân văn và chủ nghĩa nhân văn

Trang 17

từ truyền thống đến hiện đại cũng cần phân biệt những đặc điểm và nội hàm của

nó, gắn với sản phẩm mỗi dân tộc, mỗi thời đại” [23, tr 51 - 52] Tác giả nhấnmạnh “Với Việt Nam chủ nghĩa yêu nước và tư tưởng nhân văn được kết hợptrong cả truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thống nhân ái, nhân nghĩamang đặc trưng và sắc thái độc đáo của Việt Nam” [23, tr 68] Từ đó tác giả kếtluận “Không chỉ chiến thắng kẻ thù xâm lược mà còn chiến thắng cả nghèo nànlạc hậu, với khẩu hiệu đó con người gần gũi nhau, yêu thương nhau, cùng nhauhợp thành sức mạnh” [23, tr 70]

Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên (Đồng chủ biên, 2012), Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập [45] cho rằng

cùng với sự vận động của sự đổi mới đời sống vật chất, một số giá trị có sựvận động biến đổi, song các giá trị truyền thống như “lòng yêu nước, lòngnhân ái, nhân văn luôn chiếm vị trí chủ đạo và được nâng lên tầm cao mới,tác giả khẳng định “Tính dân chủ, đời sống sinh hoạt tinh thần phong phú vàmang đậm tính nhân văn của làng xã góp phần làm cho con người Việt Namgắn bó với quê hương, xứ sở” [45, tr 226]

Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên, 2015), Tư tưởng Hồ Chí Minh giá trị nhân văn và phát triển [130], là công trình tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về

giá trị nhân văn Hồ Chí Minh, các bài viết tập hợp trong cồng trình này có nhiềucách tiếp cận theo các khía cạnh nghiên cứu khác nhau, song tựu chung ở các bàiviết đều khẳng định tính nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh trong tính hiện thực,

mang bản chất người, đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng Trong “báo cáo đề dẫn Hội thảo Tư tưởng Hồ Chí Minh giá trị nhân văn và phát triển” tác giả khẳng

định: Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh có sức lay độnghàng triệu con tim, khối óc không chỉ của những người Việt Nam mà còn với nhândân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới Tư tưởng của Người không chỉ là

sự cảm thông, chia sẻ với nỗi đau, mất mát, sự nhọc nhằn của con người mà quantrọng hơn là đã thức tỉnh, tổ chức họ đứng lên đấu tranh chống áp bức dân tộc,chống bất công xã hội, chống nghèo đói, lạc hậu, dốt nát, hướng tới độc lập, tự do,hạnh phúc bằng con đường thực sự cách mạng và khoa học, phản ánh ước mơ,

Trang 18

nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội Việt Namđồng thời phản ánh quy luật, xu hướng vận động của thời đại [130, tr 18 - 19].

Đỗ Duy Tú (2018), Khoan dung Hồ Chí Minh - cơ sở để thực hiện chiến lược đoàn kết của cách mạng Việt Nam [139] cho rằng “Sự kết hợp bản tính nhân

ái, khoan dung, như sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc với chủ nghĩa nhânđạo cộng sản, tinh thần khoan dung mácxít đã tạo nên văn hóa khoan dung Hồ ChíMinh” [139, tr 69] Tác giả luận giải, với bản tính thiện và nhu cầu chung sốnghòa bình, mọi con người đề cần biết khoan dung nhưng để khoan dung trở thànhđức khoan dung (tác giả nhấn mạnh), tức là thuộc tính tất yếu và nguyên tắc hànhđộng, con người thực sự phải có một tầm cao văn hóa, tác giả khẳng định “Bằng

tư tưởng và hành động cao cả, Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng chân xác chotinh thần khoan dung văn hóa của dân tộc Việt Nam” [139, tr 68]

Các công trình trên bằng nhiều cách khác nhau, song đã khẳng định tínhchất nhân văn là đặc trưng cơ bản trong mọi hoạt động quân sự, nhất là trong côngcuộc chống giặc ngoại xâm gìn giữ độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, tạonên cốt cách con người Việt Nam Đó là những định hướng, gợi mở khoa họcquan trọng để tác giả luận án xây dựng và làm rõ phần lý luận của đề tài luận án,nhất là khi luận giải những đặc trưng giá trị nhân văn quân sự Việt Nam cũng nhưphát huy giá trị đó trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến thực trạng phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh

sĩ quân đội nhân dân Việt Nam

Vũ Khắc Liêm (1993), Nhân cách văn hóa trong bảng giá trị Việt Nam

[74] Trên cơ sở phân tích những mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực của cơchế kinh tế thị trường, tác giả nhấn mạnh: Nguy cơ lớn của nền kinh tế thịtrường là đẩy quyền lực kinh tế lên thành quyền lực độc tôn, phá vỡ sự cânbằng trong nhân cách, làm suy yếu mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội vốn lànền tảng cho sự phát triển nhân cách của con người

Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự (2007), Báo cáo tổng kết đề tài

“Sai lệch chuẩn mực quân nhân của binh sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 19

hiện nay” [161] đã chỉ ra một số đặc điểm chủ yếu của binh sĩ Quân đội nhân dân

Việt Nam Binh sĩ đang ở độ tuổi thanh niên, phổ biến trong độ tuổi từ 18 đến 25;đây là lực lượng chiếm số đông ở đơn vị cơ sở; binh sĩ tiếp nhận và mang trongmình truyền thống tốt đẹp của một quân đội anh hùng, dân tộc anh hùng, quân đội

từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu Tuy nhiên, do còn trẻ nên hạ sĩ quan,binh sĩ quân đội còn những hạn chế như: bồng bột, dễ dao động trước những khókhăn, chưa vững về lập trường cách mạng, v.v., một bộ phận hạ sĩ quan, binh sĩ còn

có biểu hiện ngại khó, ngại khổ trong rèn luyện, học tập, chưa thật sự trưởng thành

về mặt nhân cách quân nhân cách mạng

Lê Duy Chương (2008), Một số vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở [14] đã khái quát một số đặc

điểm của hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở chiến đấu quân đội Đây là côngtrình luận giải sâu sắc về đối tượng hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân ViệtNam, từ việc phân tích mặt tâm, sinh lý lứa tuổi đến luận giải những vấn đề

có tính quy luật trong giáo dục chính trị cho đội ngũ này

Vũ Văn Bách (2018), “Hệ giá trị văn hóa của thanh niên Quân đội nhân dânViệt Nam trong thời kỳ mới” [5] Trên cơ sở chỉ ra tính đặc thù của hệ giá trị vănhóa của thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, tác giả đã khái quátnhững giá trị cơ bản về hệ giá trị văn hóa của thanh niên quân đội trong thời kỳmới, tác giả cho rằng, hệ giá trị văn hóa của thanh niên Quân đội nhân dân ViệtNam trong thời kỳ mới có sự phát triển về nội hàm Sự phát triển này do nhữngbiến đổi của tình hình kinh tế - xã hội và điều kiện hoạt động quân sự quy định Do

đó hệ giá trị này vừa có những điểm chung, vừa có sự khác biệt nhất định so với hệgiá trị thế hệ đàn anh đi trước trong quân đội và của con người Việt Nam hiện nay

Phạm Công Thưởng (2019), Phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [154]; trên cơ sở phân tích tính đặc thù đối tượng hạ sĩ quan, binh

sĩ quân đội nhân dân Việt Nam tác giả đã luận giải những nhân tố quy địnhphát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của họ Từ việc

Trang 20

khảo sát thực tế một số đơn vị bộ binh thuộc các quân, binh chủng trongtoàn quân, tác giả đã đánh giá thực trạng phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốccủa hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam Tác giả nhận định: Đại

bộ phận hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã có

sự chuyển biến toàn diện, nhanh chóng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa, phần lớn hạ sĩ quan, binh sĩ đã tích cực, tự giác tham gia cáchoạt động giáo dục, huấn luyện, rèn luyện và các hoạt động phong trào củađơn vị luôn ở mức cao Tuy vậy, phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa còn những hạn chế, yếu kém cần khắc phục

Từ những kết luận, đánh giá trong các công trình khoc học tiêu biểu trêngiúp tác giả luận án có cái nhìn khách quan về hạ sĩ quan, binh sĩ - lực lượng đôngđảo nhất trong Quân đội Từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về thựctrạng phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩquan, binh sĩ Quân đội hiện nay

Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến giải pháp phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh

sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam

Lê Văn Quang (2004), Phát triển phẩm chất tinh thần của thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [118], đã chỉ ra rằng phẩm chất tinh thần

cũng là một thành tố cơ bản trong nhân cách của thanh niên quân đội nói riêng,trong sức mạnh tổng hợp của quân đội nói chung Từ đó tác giả nhấn mạnh: “Việcphát triển phẩm chất tinh thần của thanh niên quân đội ta hiện nay có ý nghĩa rấtquan trọng không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội; màcòn góp phần hoàn thiện nhân cách, thực hiện chiến lược con người của Đảngtrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [118, tr 3]

Lê Anh Tuấn (2008), “Phát huy vai trò xung kích của thanh niên quân độitrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [141], trên cơ sởxác định những khó khăn, thuận lợi, thời cơ và thách thức đối với thanh niên quânđội trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình ở giai đoạn mới của

Trang 21

cách mạng đã chỉ ra những yêu cầu ngày càng cao đối với lực lượng này Tác giảcho rằng: “Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ và hành động, phát huy vaitrò xung kích của thanh niên quân đội trong điều kiện hiện nay là một yêu cầu vừa

là giải pháp cơ bản, lâu dài, vừa là đòi hỏi cấp bách, trước mắt của sự nghiệp xâydựng quân đội trong tình hình mới” [141, tr 28]

Nguyễn Hùng Oanh (2009), Phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay [111], đã đi sâu phân tích

và luận giải về bản chất quá trình phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quânđội Theo tác giả, đạo đức cách mạng luôn giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho sựhình thành, phát triển nhân cách ở người thanh niên quân đội, “khi các nguyên tắc

và chuẩn mực của đạo đức cách mạng được thấm sâu vào người thanh niên quânđội, nó trở thành động lực thôi thúc nội tâm, làm bùng cháy lên ngọn lửa nhiệttình cách mạng, lý tưởng, hoài bão, chí tiến thủ, tinh thần phấn đấu ở người thanhniên quân đội và định hướng một cách vững chắc cho sự phát triển các giá trị nhâncách ở họ” [111, tr 47]

Hoàng Văn Thanh (2016), Xây dựng mối quan hệ tích cực giữa cán bộ

và chiến sĩ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [150],

trên cơ sở phân tích những ưu điểm, hạn chế trong xây dựng mối quan hệ tíchcực giữa cán bộ và chiến sĩ ở đơn vị cơ sở hiện nay, đưa ra những giải pháp

cơ bản xây dựng mối quan hệ tích cực giữa cán bộ và chiến sĩ ở đơn vị cơ sởtrong quân đội hiện nay, các tác giả nhấn mạnh: “Xây dựng mối quan hệ tíchcực giữa các quân nhân trong tập thể là động lực thúc đẩy quá trình phát triểnnhân cách của mọi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị; thúc đẩy sự phát triển vữngmạnh của tập thể quân nhân.” [150, tr 30]

Tô Xuân Dân và Đặng Quốc Bảo (2017), Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ hiện nay [15], khẳng định: “Thanh niên

là rường cột của nước nhà, là tương lai của đất nước Thanh niên Việt Nam từ thế

hệ này đến thế hệ khác, kế thừa truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước, luônphát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng vươn lên, không quản ngại gian khổ,

hi sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [15, tr 16] Xoay quanh vấn đề giáo dục

lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ hiện nay cũng là xây

Trang 22

dựng nhân cách cho thế hệ trẻ, nhấn mạnh vai trò của các giá trị được đúc kết từtruyền thống dân tộc đối với việc xây dựng hình thành nhân cách thế hệ trẻ Cũngtrong cuốn sách này đã khẳng định “các giá trị của dân tộc và hệ giá trị phổ quátcủa nhân loại quyện chặt bổ sung cho nhau để thế hệ trẻ vừa có lý tưởng cáchmạng cao đẹp và có đạo đức, lối sống trong sáng” [15, tr 109]

Chu Xuân Hải (2018), “Bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho thanh niêntrong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [47], khẳng định “Văn hóaứng xử là phương diện của văn hóa, phản ánh thái độ và hành vi của conngười trong giải quyết các mối quan hệ theo một hệ thống giá trị văn hóanhất định Đặc trưng nổi trội, đặc tính cốt lõi của văn hóa ứng xử là sựchuẩn mực về thái độ và hành vi của con người trong giải quyết các mốiquan hệ”, đồng thời cũng theo tác giả “văn hóa ứng xử là nhân tố cơ bản,giữ vai trò chủ đạo, định hướng sự phát triển nhân cách của từng thanhniên trong quân đội” [47, tr 49]

Nguyễn Bá Dương (2021), Sáng mãi tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh [28 ], tác giả đi sâu luận giải về một trong những thuộc tính cấu thành tư

tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh đó là chăm lo đời sống vật chất, tinh thầncho bộ đội Tác giả nhấn mạnh: “Chăm lo cho con người, vì hạnh phúc của nhândân không chỉ là khát vọng, triết lý sống và hành động vì con người mà còn làmục tiêu cao cả suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi, phấn đấu thực hiện vìnước, vì dân” [28, tr 22] Qua bài viết này tác giả đã đưa ra sáu biện pháp cụ thểnhằm nâng cao hơn nữa việc vận dụng tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh,một trong những biện pháp đó là: “Nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chínhtrị, làm cho mọi quân nhân, nhất là quân nhân trẻ tuổi hiểu rõ hơn sự quan tâm,chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với quân đội Từ đó mỗi quân nhângiác ngộ sâu sắc về nghĩa vụ và các quyền lợi chính đáng mà họ được hưởng , để

họ yên tâm công tác, huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu” [28, tr 25]

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận

Trang 23

án và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

1.2.1 Khái quát thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài

Nhìn chung các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đãkhái quát tương đối rõ vấn đề nhân văn quân sự Mỗi công trình như một gammàu tạo nên bức tranh tổng thể về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam cũng như tôthêm sắc thái cho vấn đề nhân cách thanh niên nói chung, hạ sĩ quan, binh sĩ Quânđội nói riêng Mặc dù các công trình khoa học tiêu biểu trên chưa đưa ra quanniệm cụ thể về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam là gì, nhưng những kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học trên có ý nghĩa quan trọng về lý luận vàthực tiễn đối với đề tài luận án, được tác giả kế thừa, phát triển ở nhiều khía cạnh.Mỗi công trình có những quan niệm, luận giải khác nhau nhưng nhìn chung đềutoát lên nội dung cốt lõi sau:

Về lý luận, các tác giả đã đề cập và luận giải giá trị nhân văn, giá trị nhân văn

quân sự gắn liền với lịch sử xây dựng và giữ nước của dân tộc, là đặc trưng cơ bảncủa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được tôi luyện qua thử thách của thời gian,chủ nghĩa yêu nước đậm đà tính nhân văn, là nội hàm quan trọng trong khái niệm

“văn hóa quân sự” Việt Nam - thành tố tạo nên những chiến công oanh liệt chiếnthắng mọi kẻ thù xâm lược

Các tác giả đã đề cập và luận giải những đặc trưng giá trị nhân văn quân sựViệt Nam theo nhiều cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưchính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử v.v., dù tiếp cận dưới góc độ nào và phươngpháp nào các tác giả đều thống nhất về những thuộc tính nhân văn quân sự ViệtNam tiêu biểu như: Chính nghĩa, khoan dung, hòa hiếu , đặc biệt có công trìnhkhoa học đã luận giải, minh chứng các giá trị nhân văn quân sự Việt Nam như mộttrong những thành tố quan trọng của công cuộc giữ nước Có công trình đã đưa

ra khái niệm về tư tưởng nhân văn quân sự Việt Nam, luận giải sâu sắc nhữngđặc trưng tiêu biểu trong tư tưởng nhân văn quân sự Việt Nam và khẳng địnhnhững tư tưởng đó có bề dày, chiều sâu từ trong tổ chức và hoạt động thực tiễn

Trang 24

quân sự Đồng thời nhấn mạnh những tư tưởng nhân văn quân sự đó có vai trò

và giá trị to lớn trong các lĩnh vực đời sống xã hội hiện nay, nhất là trong lĩnhvực quân sự Điều đặc biệt hơn, các công trình trên nhấn mạnh đến vai trò củanhững giá trị nhân văn truyền thống trong sự tác động đến xây dựng nhân cáchthanh niên trong đó có lực lượng thanh niên Quân đội, đa số các tác giả đềunhấn mạnh đến giá trị văn hóa truyền thống là cơ sở xây dựng, phát triển nhâncách cho thanh niên hiện nay, đồng thời giá trị văn hóa truyền thống được kếthừa, phát huy, gia nhập cấu trúc nhân cách trở thành phẩm chất mới, lối sốngmới tích cực của thanh niên Tuy nhiên các công trình khoa học trên chưa đưa

ra khái niệm về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam, về nhân cách hạ sĩ quan,binh sĩ Quân đội Đây là khoảng trống đòi hỏi tác giả tiếp tục đi sâu nghiêncứu, khái quát và bổ sung cho luận án của mình

Về thực tiễn, các công trình khoa học trên đã chỉ ra những yếu tố tác

động đến sự hình thành nhân cách và việc cần gìn giữ phát huy giá trị văn hóacủa dân tộc nói chung, văn hóa quân sự nói riêng với xây dựng nhân cách quânnhân trong quân đội cũng như thanh niên quân đội, trong đó có hạ sĩ quan, binh

sĩ Các công trình khoa học trên có những cách tiếp cận và lý giải khác nhaudưới lăng kính khác nhau nhưng đều khẳng định tầm quan trọng phát huy cácgiá trị văn hóa dân tộc trong việc xây dựng nhân cách, các tác giả đều thốngnhất ở nhận định thế hệ trẻ hôm nay đều sinh ra và lớn lên sau chiến tranh nênkhông biết nhiều về quá khứ, cũng như ít có điều kiện quan tâm đến nhữngcuộc chiến tranh mà dân tộc ta đã trải qua, kể cả những biến đổi trong các quan

hệ từ gia đình đến xã hội, sự biến đổi các giá trị truyền thống, sự thay đổi mau

lẹ của tình hình hiện tại đã tác động mạnh mẽ đến định hướng tu dưỡng nhâncách thanh niên ngày nay, do đó việc phát huy các giá trị nhân văn của dân tộctrong xây dựng nhân cách, nhất là nhân cách thế hệ trẻ là công việc cần kiếpcủa mọi lực lượng, mọi lĩnh vực trong xã hội hiện nay

Các công trình trên đa số tiếp cận chủ yếu ở đối tượng chung là thanhniên, sinh viên mà chưa đề cập đến một đối tượng mang tính đặc thù trong lĩnhvực hoạt động quân sự đó là hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội Nhưng những nhận

Trang 25

định, đánh giá trong các công trình đó lại có tính chất gợi ý cho tác giả tiếp tụcnghiên cứu làm sâu sắc thêm vấn đề mà mình đang nghiên cứu, đồng thời có ýnghĩa quan trọng giúp tác giả tiếp cận, kế thừa, phát triển ở nhiều khía cạnh khiluận giải về vấn đề phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựngnhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội

Về giải pháp, các công trình khoa học trên đã đề cập đến nhiều vấn đề

về giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, có những côngtrình đã đi sâu luận giải về giáo dục đạo đức truyền thống, vai trò của giáodục đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ Tuy nhiêncác công trình trên lại chưa luận bàn cụ thể đến vấn đề nhân cách hạ sĩ quan,binh sĩ trong quân đội Có công trình luận giải sâu sắc vấn đề phát huy giátrị truyền thống cũng như phát huy giá trị văn hóa quân sự truyền thốngnhưng chưa luận giải đến vấn đề xây dựng nhân cách cho một đối tượng đặcthù, đông đảo nhất trong quân đội đó là hạ sĩ quan, binh sĩ

Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã ít nhiều khái quát và chỉ ra vaitrò, nhiệm vụ của thanh niên quân đội (trong đó có đối tượng hạ sĩ quan, binh sĩ)các công trình đã tiếp cận luận giải những vấn đề cơ bản về giáo dục, định hướnghình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của thanh niên quân đội nói chung, hạ

sĩ quan, binh sĩ nói riêng Một số tác giả phần nào làm rõ ý nghĩa và sự cần thiếtcủa việc xây dựng nhân cách cách mạng trong thời kỳ mới, coi đây là một phẩmchất quan trọng của quân nhân nói chung, hạ sĩ quan, binh sĩ nói riêng, là nền tảngtạo nên cốt cách của Bộ đội Cụ Hồ Những thành tựu cơ bản trên được tác giảluận án kế thừa, tiếp thu và làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn quân sự Việt Nam,phát huy các giá trị đó trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiệnnay

1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

Từ những vấn đề có liên quan được tác giả đề cập ở trên, đã gợi mở chotác giả luận án nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong luận án

Về lý luận, luận án tiếp tục bổ sung và phát triển sâu sắc thêm cách tiếp

cận triết học về nhân văn quân sự Việt Nam ở khía cạnh giá trị Đồng thời xây

Trang 26

dựng và phân tích quan niệm về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam; xây dựngnhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội; phát huy giá trị nhân văn quân sự ViệtNam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội Phân tích, làm rõnhững yếu tố cơ bản quy định phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Namtrong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiện nay Qua tổngquan, dù ở mỗi phương diện khác nhau, các công trình khoa học bàn nhiều đếncác giá trị truyền thống, tư tưởng nhân văn quân sự nhưng chưa có công trìnhnào bàn trực tiếp về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam và phát huy giá trị ấytrong hình thành, phát triển nhân cách cho một đối tượng cụ thể là hạ sĩ quan,binh sĩ trong Quân đội

Về thực tiễn, luận án khảo sát, đánh giá thực trạng, dự báo những nhân tố

tác động và một số vấn đề đặt ra đối với phát huy giá trị nhân văn quân sự ViệtNam trong xây dựng nhân cách cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội hiện nay.Bằng sự khái quát hóa, tổng kết lịch sử, điều tra, khảo sát một số công trình đãđưa ra các nhận định và đánh giá sâu sắc Tuy nhiên, để làm rõ cơ sở thực tiễngiá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách của một đốitượng xác định cụ thể là hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội không chỉ dừng lại

ở một phương pháp nào đó mà cần sử dụng tổng hợp các phương pháp khácnhau Trên cơ sở đó đánh giá tình hình, luận giải những mâu thuẫn nội tại cũngnhư ngoại cảnh tác động, chính là đánh giá đúng thực trạng; dự báo nhữngnhân tố tác động và những vấn đề đặt ra với việc phát huy giá trị nhân văn quân

sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ hiện nay là vấn đềthực tiễn đặt ra trong luận án cần nghiên cứu và giải quyết

Về giải pháp, luận án đề xuất các giải pháp cơ bản để phát huy giá trị

nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách cách hạ sĩ quan, binh

sĩ Quân đội hiện nay Xây dựng nhân cách, hay giáo dục nhân cách chothanh niên quân đội hiện nay được nghiên cứu với nhiều giải pháp chung,mang tính tổng hợp dưới nhãn quan khác nhau Tuy nhiên, trên bình diệnluận giải phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhâncách của một đối tượng đặc thù là hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội hiện

Trang 27

nay lại chưa có công trình nào nghiên cứu hay đề cập, vì vậy việc nghiêncứu và đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp là vấn đề luận án tập trunghướng tới nghiên cứu và giải đáp một cách thỏa đáng.

Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án chothấy đề tài: “Phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhâncách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” không trùnglặp với bất cứ công trình khoa học nào đã công bố và đây là cơ sở trực tiếp đểtác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ trong luận án

Trang 28

Kết luận chương 1

Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án cho thấycác công trình khoa học nghiên cứu về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam với nhiềucách tiếp cận nghiên cứu từ các góc độ khác nhau và đã luận giải những thuộc tínhnhân văn trong hoạt động quân sự như tính chất chính nghĩa, vì dân, khoan dung,nhân ái, hòa hiếu với kẻ thù khi thua trận Một số công trình đã đề cập đến yếu tốquy định, thực trạng và giải pháp phát huy giá trị cũng như các thành tố có liên quanđến giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong hình thành nhân cách quân nhân

Tuy nhiên, trên bình diện luận giải trực tiếp về giá trị nhân văn quân sựViệt Nam, cũng như phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xâydựng nhân cách của một đối tượng đặc thù là hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quânđội nhân dân Việt Nam hiện nay lại chưa có công trình nào nghiên cứu hay đềcập, vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp là vấn

đề luận án tập trung hướng tới nghiên cứu và giải đáp một cách thỏa đáng

Kết quả tổng quan các công trình khoa học đã công bố giúp tác giả xácđịnh cách tiếp cận, hướng nghiên cứu của đề tài Những nội dung liên quanđến đề tài mà các công trình đã đề cập, nghiên cứu, những nội dung tác giảcần nghiên cứu, bổ sung, phát triển; khắc phục sự trùng lặp với các công trình

đã công bố có liên quan Từ đó khẳng định: đề tài luận án “Phát huy giá trịnhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩQuân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” không trùng lặp với bất cứ công trìnhkhoa học nào đã được công bố và đây là cơ sở trực tiếp để tác giả tiếp tục đisâu nghiên cứu làm sáng tỏ trong luận án

Trang 29

Chuơng 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÂN VĂN QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG NHÂN CÁCH

HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1 Quan niệm phát huy giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Quan niệm về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam và xây dựng nhân cách hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam

Quan niệm về giá trị nhân văn quân sự Việt Nam

Giá trị là phạm trù của nhiều bộ môn khoa học như triết học, kinh tế chính trị

học, văn hoá học, toán học, xã hội học, … nghiên cứu Từ đầu thế kỷ XX, giá trị trởthành khái niệm trung tâm của giá trị học khi trở thành một ngành khoa học độc lập.Trong tiếng Hy lạp, “axios” có nghĩa là giá trị, còn trong tiếng Anh, thuật ngữ

“value” cũng mang nghĩa giá trị Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa, quan niệmkhác nhau về giá trị, xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau

Tiếp cận giá trị trong lĩnh vực kinh tế chính trị học, giá trị luôn gắn liềnvới hàng hóa, giá cả và sản xuất hàng hóa Giá trị là lao động xã hội của ngườisản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vì vậy, sản phẩm nào không có laođộng của người sản xuất kết tinh trong đó, thì không có giá trị Sản phẩm nàohao phí lao động xã hội sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao

Dưới góc độ triết học, giá trị là một phạm trù chỉ sự đánh giá của con người

về ý nghĩa và tác dụng của sự vật, hiện tượng đối với cuộc sống con người Giá trịthường được khẳng định ở khía cạnh, phương diện tích cực, tốt đẹp, đúng đắn cótác dụng thúc đẩy con người thực hiện các hoạt động sáng tạo đồng thời đánh giá vàđiều chỉnh các hoạt động đó nhằm vươn tới chân, thiện, mỹ

Giá trị được hiểu là tất cả những gì mang ý nghĩa tích cực, gắn vớicái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái có ý nghĩa, “cái làm cho một vật có ích lợi, có

ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó” [115, tr 622] Tuy nhiên, tiếp cậngiá trị trong quan hệ giữa sự vật hiện tượng với chủ thể cụ thể khác nhau, hìnhthành các giá trị cũng khác nhau Dựa vào tiêu chí mục đích phục vụ cho nhu

Trang 30

cầu của con người, người ta chia làm hai loại giá trị: Giá trị vật chất, giá trị tinhthần, giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sự tồntại và phát triển của xã hội loài người Giá trị tinh thần là những phẩm chất đặcbiệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí, nó được thể hiện trên các lĩnh vực tư tưởng, đạođức, văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán Những phẩm chất đó ăn sâu, bám

rễ vào trong đời sống tinh thần và chúng trở thành các chuẩn mực để con ngườiđánh giá phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp trong đời sống hằng ngày,trong quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội

Tiếp cận những quan điểm về giá trị, trong khuôn khổ của đề tài luận án

quan niệm: Giá trị là cái được xác định có ý nghĩa, có ích cho con người, cộng đồng và xã hội

Nhân văn là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các khoa học xã hội

với nhiều quan niệm khác nhau Nhân văn là tính từ “thuộc về văn hóa, thuộc về

con người” [115, tr 1139], chiết tự nhân văn: nhân là người, nhân là lòng yêu

thương con người, ăn ở có nhân có nghĩa; văn: trạng thái phát triển xã hội, vănhóa, văn minh Ở góc độ riêng về lối sống của con người, nhân văn là sự đồngcảm sâu sắc trước những đau khổ, khó khăn của người khác, sự vui mừng trước

sự vui mừng của người khác

Ở góc độ ngành khoa học, nhân văn được xem là một lĩnh vực của cácngành nghiên cứu khoa học xã hội (nhân văn học) như: triết học, ngôn ngữ học,

tôn giáo, các ngành nghệ thuật như nhạc, kịch Có quan điểm cho rằng nhân văn

là một nhánh triết học luân lý, là triết học duy con người chuyên chú vào lợi ích, giátrị và phẩm cách của con người đó là chủ nghĩa nhân văn Chủ nghĩa này xuất hiện

từ thời Phục hưng chủ trương phục hưng các giá trị văn học và nghệ thuật của HyLạp và La Mã, phát triển đầu tiên ở Ý

Các quan điểm trên đều có những cách luận giải khác nhau thể hiệnnhững thuộc tính của nhân văn, đều có điểm chung toát lên tinh thần cốtlõi biểu thị nhân văn là thuộc tính của văn hóa, là sự tiến bộ, phổ biến củanhân loại Dù nội hàm nhân văn mỗi quan niệm đề cập ở các góc độ khíacạnh khác nhau, được diễn đạt bằng rất nhiều các tính từ, cụm từ khác

Trang 31

nhau nhưng đều thể hiện tinh thần cốt lõi tất cả vì sự hạnh phúc và tiến bộcủa con người, nhân văn là giá trị xuyên suốt, phổ biến của nhân loại, nó

được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển giá trị Người của lịch

sử Nhân văn thuộc về văn hóa loài người, thuộc về con người

Giá trị nhân văn, với tính cách là xem xét tác dụng, ý nghĩa, cái lợi ích của

nhân văn đối với chủ thể, có tác dụng phát triển các giá trị khác của con người.Giá trị nhân văn là một thuộc tính của văn hóa giúp hoàn chỉnh nhân cách; sự trắc

ẩn, tinh thần nhân ái, thái độ yêu thương, thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ với nhữngngười cùng khổ, làm cho người với người xích lại gần nhau hơn; sự bao dung, độlượng, sự công bằng, bình đẳng làm cho người ta có thể tránh xung đột, chungsống hòa bình, là cơ sở tạo nên sự đoàn kết xã hội, ổn định xã hội, v.v Trên cơ sở

tiếp cận đó, luận án quan niệm: Giá trị nhân văn là thuộc tính của văn hóa, biểu thị vì cuộc sống tốt đẹp của con người và sự phát triển toàn diện cho mọi người.

Quân sự, “nghĩa rộng, là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội liên

quan đến chiến tranh, quân đội (lực lượng vũ trang) và đấu tranh vũ trang;nghĩa hẹp, là một trong những hoạt động cơ bản trong quân đội, cùng với cáchoạt động khác (chính trị, hậu cần, kỹ thuật ) tạo nên sức mạnh chiến đấucủa quân đội” [157, tr 244] Luận án tiếp cận hoạt động quân sự theo nghĩa

rộng của định nghĩa trên, với lát cắt chung nhất là: Hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, hoạt động xây dựng quân đội và hoạt động đấu tranh

vũ trang để từ đó tìm ra giá trị nhân văn quân sự

Hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh: Là hoạt động có tính toàn

diện của cả đất nước, nhưng trực tiếp là lực lượng quân đội Về bản chất là tạo rasức mạnh quân sự dạng tiềm năng, trạng thái sẵn sàng để bước vào chiến tranh theođúng mục đích đã xác định

Hoạt động xây dựng quân đội: Là hoạt động liên quan đến tổ chức con người,

vũ khí, hậu cần, kỹ thuật do một nhà nước hoặc một phong trào chính trị xâydựng để thực hiện mục đích chính trị của nhà nước hoặc phong trào đó

Hoạt động đấu tranh vũ trang: Là cuộc đấu tranh bằng biện pháp quân sự,

nhằm thực hiện một mục đích chính trị nhất định, giữ vai trò quyết định trực tiếptrong việc tiêu diệt lực lượng quân sự của đối phương

Trang 32

Có thể thấy, hành động cụ thể của hoạt động quân sự có dẫn tới sự hy sinhxương máu, tính mạng, sự tàn phá tài sản vật chất, môi trường sống Nhân văn vàquân sự nhìn hiện tượng bề ngoài tưởng chừng là quan hệ “đối lập” tuyệt đối,song xét một cách toàn diện, lịch sử - cụ thể cho thấy có hoạt động quân sự manggiá trị nhân văn, có hoạt động quân sự phản nhân văn Nếu như hoạt động quân sự

có tính cách mạng, tiến bộ, chiến đấu vì con người, vì nhân dân thì hoạt động đómang giá trị nhân văn sâu sắc Ngược lại, các hoạt động quân sự nhằm mục đíchxâm chiếm lãnh thổ, chiếm đoạt tài nguyên, đồng hóa, chà đạp lên phẩm giá conngười thì hoạt động đó phản nhân văn

Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam, được xem xét trong sự thống nhất giữa

cái chung và cái riêng, đó là sự thống nhất giữa giá trị chung mang tính phổ quátcủa nhân loại với giá trị riêng, độc đáo của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực hoạtđộng cụ thể - lĩnh vực hoạt động quân sự Giá trị nhân văn quân sự Việt Namtồn tại khách quan, là những yếu tố tồn tại của xã hội; những tư tưởng, chuẩnmực, hành vi, phong tục tập quán và lối sống trong hoạt động quân sự củamột dân tộc có giá trị nhân văn sâu sắc Giá trị đó được định hình, củng cố,lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành sức mạnh tinh thần to lớntác động đến hành vi của mỗi cá nhân và tập thể hoạt động quân sự

Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam là tính chất vì con người, vì nhân dân biểu hiện qua những hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, xây dựng quân đội và đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam.

Dưới góc độ tiếp cận, đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi xuyên

suốt, tính chất nhân văn phản ánh tập trung trong hoạt động quân sự Giá

trị này có chiều dài tích tụ và được thử thách qua nhiều cuộc chiến tranhgiải phóng, bảo vệ và giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc, trở nên bềnvững Xét chiều sâu, chiều dài lịch sử cho thấy bản chất sức mạnh dân tộc

ta trong hoạt động quân sự là văn hóa, nhân đạo, nhân văn “Truyền thốngnhân đạo, nhân văn thấm sâu vào tất cả các mối quan hệ trong lĩnh vực tổchức và hoạt động quân sự, trở thành một trong những nhân tố tạo nên sức

Trang 33

mạnh quân sự, chiến thắng các kẻ thù to lớn và hung tàn” [ 127, tr 52 - 53].Tinh thần đánh giặc bằng văn hóa, sức mạnh văn hóa mà trong đó giá trịnhân văn là cốt lõi nhất, bản chất nhất được tiếp nối, kế thừa, phát triểnkhông ngừng Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Namkhông có thời đại, thế hệ nào không dùng đến sức mạnh của tinh thần nhânvăn trong đánh giặc, trong giành và giữ độc lập chủ quyền dân tộc.

Trong khuôn khổ của luận án, việc tiếp cận, lựa chọn những giá trị cốt

lõi xuyên suốt là tính chất nhân văn trong lĩnh vực hoạt động quân sự vì con người, vì nhân dân được kết tinh, biểu hiện qua những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, tính chất tự vệ, chính nghĩa mang giá trị nhân văn sâu sắc trong hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh

Tính chất tự vệ, chính nghĩa là đặc trưng cơ bản, xuyên suốt có giá trị

nhân văn cao cả trong lịch sử quân sự của dân tộc Mục đích hoạt động chuẩn

bị và tiến hành chiến tranh của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ là tự vệ, chính nghĩa, bảo vệ quyền con người, là “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

lấy chí nhân để thay cường bạo” Quyền con người và mở rộng ra là quyềndân tộc, là được sống hòa bình, ứng xử với nhau trên tinh thần đoàn kết tươngtrợ, giúp đỡ lẫn nhau, quyền mưu cầu hạnh phúc là lẽ tự nhiên Lịch sử đã ghinhận, trước những kẻ thù xâm lược, Việt Nam chưa bao giờ là quốc gia chiếm

ưu thế về lực lượng và phương tiện, chính ý chí vì hòa bình và tinh thần đoànkết dân tộc, vì quyền con người, vì hạnh phúc của nhân dân là sợi chỉ đỏ và làđộng lực kết nối mọi nhân tố thành một tổng lực đối kháng để đi đến thắng lợicuối cùng Hòa bình là mục tiêu của chiến tranh chính nghĩa “vì chính nghĩa,công lý của thế giới, vì đất nước giống nòi của Việt Nam, mà toàn quốc đồngbào ta nổi lên tranh đấu quyết giữ vững nền độc lập của ta”, “Dân Việt Namkhông muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình Nhưng nếu cầnphải hy sinh, cần phải kháng chiến để giữ quyền độc lập của Việt Nam, đểcho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh

và kháng chiến” [89, tr 104 - 105] Đây là nhân tố trụ cột của người Việttrước những lực lượng xâm lược trong lịch sử

Trang 34

Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh khi có giặc ngoại xâm đe dọa đếnhòa bình của dân tộc, trà đạp lên quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúc của dân tộc Việt Nam Tính chất chính nghĩa, nhân nghĩa đó quyđịnh và chi phối mục tiêu của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dântộc ta, là yếu tố quyết định động viên được toàn dân đánh giặc, là một trongnhững thành tố tạo nên giá trị nhân văn quân sự Việt Nam Điều này hoàn toànđối lập với những tổ chức quân sự của những nước tiến hành chiến tranh xâmlược, thực hiện mưu đồ bá chủ Vì thực hiện mục đích chiến tranh xâm lược,bành trướng, sẵn sàng tạo cớ và mượn cớ để gây chiến tranh cướp bóc, bấpchấp thủ đoạn trà đạp lên công lý, lẽ phải nên tổ chức quân sự của các nước đóđược xây dựng với quy mô lớn, hiếu chiến phản nhân văn.

Hoạt động quân sự với mục đích chính nghĩa là nội dung cơ bản, động

lực to lớn và được tiếp nối xuyên suốt lịch sử, là truyền thống nhân văn quân sựdân tộc Việt Nam và được phát triển đến đỉnh cao nhất, ngang tầm thời đại từkhi có Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng Nâng tầm nhân vănquân sự Việt Nam đến đỉnh cao gắn với bản chất cách mạng, nhân đạo, nhân vănchủ nghĩa Mác - Lênin Trong điều kiện Việt Nam là một nước thuộc địa nửaphong kiến, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch HồChí Minh xác định trước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xoá

bỏ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, thực hiện dânchủ, kế đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp công nhân,giải phóng xã hội, giải phóng con người

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ ChíMinh, quân và dân ta đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược có ưu thế hơnchúng ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự, khẳng định bản lĩnh

trí tuệ Việt Nam, tính chính nghĩa, cách mạng, nhân văn của Việt Nam mà

đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và đại thắng mùa Xuân(1975), giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nối tiếp những thắng lợi

đó, chúng ta tiếp tục giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ởbiên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Trong quá trình đó, sức mạnh của

Trang 35

dân tộc ta luôn được định hướng và quy tụ dưới ngọn cờ độc lập tự do, cáclực lượng chính trị và vũ trang cũng như mọi hoạt động đấu tranh chính trị

và đấu tranh vũ trang được sử dụng để tiến hành tổng khởi nghĩa, chiếntranh cách mạng, chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,phòng thủ quốc gia, giữ vững độc lập dân tộc, thể hiện sâu sắc tính chấtchính nghĩa, nhân văn, cách mạng

Thứ hai, tính chất dựa vào dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, bảo vệ quyền sống, phẩm giá của nhân dân trong hoạt động xây dựng và chiến đấu của quân đội

Ngay từ khi mới ra đời các tổ chức quân sự, cũng như trong suốt quátrình đấu tranh giữ nước chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, các tổ

chức quân sự và hoạt động vũ trang luôn dựa vào dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Chúng ta xây dựng lực lượng vũ trang không phải đi xâm lược

hay đô hộ dân tộc khác, mà để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của quốc gia,dân tộc, bảo vệ quyền sống của người dân Việt Nam Dù rằng, lực lượng vũtrang là công cụ bạo lực của giai cấp cầm quyền, nhưng điều đặc biệt tronglịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trải qua các triều đại phongkiến khác nhau mỗi khi có họa ngoại xâm thì đều đặt lợi ích của quốc giadân tộc lên trên hết, đặt sự sinh tồn của dân tộc lên trên hết Điều đó càngthể hiện tính chất nhân văn là đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động xây dựnglực lượng quân đội của dân tộc ta

Lịch sử đã minh chứng, tất cả những chiến công hiển hách chống ngoạixâm của dân tộc ta có được là do đã tin vào dân, biết dựa vào dân, phát huy đượcsức mạnh của toàn dân Nhờ tin vào dân, biết dựa vào sức mạnh của dân mà cáctriều đại phong kiến Việt Nam đã giành thắng lợi trong chống giặc ngoại xâm.Trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, ý thức về quyền lợi và phẩm giácon người gắn với lợi ích của dân tộc được đề cao nhằm khơi dậy, phát huy sứcmạnh chiến đấu của quần chúng Tư tưởng “trên dưới đồng lòng, anh em hòamục, cả nước góp sức, “cử quốc nghênh địch”, “tận dân vi binh”, “bách tính giai

Trang 36

binh” đã giúp tập hợp lực lượng và tạo nên động lực to lớn, có ý nghĩa quyếtđịnh để chiến thắng các đạo quân xâm lược hung hãn

Tuy còn những hạn chế nhất định về lập trường và nhãn quan giai cấp,song nhìn chung chủ trương dựa vào dân để bảo vệ đất nước của các triều đạiphong kiến về cơ bản là đúng đắn nên đã phát huy được sức mạnh vật chất vàtinh thần của các tầng lớp nhân dân phục vụ cho công cuộc kháng chiến, giànhđộc lập cho dân tộc Nhận thức đúng vai trò của nhân dân, quy tụ được lòng dân,tin vào sức mạnh của nhân dân có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của khởinghĩa Tư tưởng dựa vào dân để tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, động viênmọi tầng lớp góp sức người sức của vì cuộc chiến đấu tự vệ, chính nghĩa là cộinguồn cho tư tưởng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam sau này

Tổ chức quân đội thật sự là của dân, do dân và vì dân kể từ khi có Đảng tổ

chức và xây dựng Kế thừa và phát triển những kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũtrang trong lịch sử dân tộc, vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin về vũtrang quần chúng và xây dựng quân đội thường trực kiểu mới của giai cấp vô sản,thống nhất tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, Đảng ta và chủ tịch Hồ ChíMinh đã chăm lo xây dựng, giáo dục, rèn luyện quân đội không chỉ là công cụ bạolực, là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành với Đảng, Nhà nước, mà còn là công

cụ bạo lực, một tổ chức vũ trang của chính quần chúng nhân dân, chiến đấu cho lýtưởng giải phóng toàn diện và triệt để quần chúng nhân dân lao động

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, từ nhândân mà ra, dựa vào dân để xây dựng, vì nhân dân mà chiến đấu Từ nhân dân mà

ra, quân đội ta là con em của các tầng lớp nhân dân lao động, chủ yếu là nôngdân nhưng quân đội ta lại mang bản chất giai cấp công nhân, có sự thống nhấtchặt chẽ giữa bản chất triệt để cách mạng của giai cấp công nhân với tính nhândân, tính dân tộc chân chính Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân vớitính nhân dân và tính dân tộc thể hiện đặc sắc giá trị nhân văn trong tổ chức xâydựng Quân đội nhân dân Việt Nam

Vì nhân dân mà chiến đấu là một nét đặc trưng nổi bật trong bản chất,truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam Đặc trưng “vì nhân

Trang 37

dân mà chiến đấu” của Quân đội ta được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiếnđấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no, tự do, hạnhphúc của nhân dân Vì nhân dân mà chiến đấu trở thành động lực tinh thần to lớnthôi thúc lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội ta khắc phục mọi khó khăn, gian khổ,quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu, lý tưởng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Giữa quân với dân được ví như “cá vớinước”, trong chiến đấu sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do, đặt hạnh phúc của nhândân lên trên hết, trong thời bình sẵn sàng tham gia giúp đỡ nhân dân mọi mặt: xóađói giảm nghèo, dạy chữ, gặt lúa, khơi mương, cứu hộ, cứu nạn trong bão lũ, v.v Thực hiện 3 điều nên: “kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân” và 3 điều răn:

“không lấy của dân, không làm hại dân, không quấy nhiễu dân”

Hiện nay, chủ nghĩa nhân văn dân tộc Việt Nam nói chung, nhân vănquân sự Việt Nam nói riêng đã và đang biểu thị tính chất ngời sáng chínhnghĩa, yêu hòa bình của người Việt Nam Không chỉ Việt Nam đã tích cựctham gia có hiệu quả lực lượng giữ gìn hòa bình Liên Hợp Quốc, mà còn biểuthị là quốc gia có trách nhiệm cao trong hợp tác cùng các quốc gia dân tộc trênthế giới chống lại đại dịch toàn cầu COVID-19, hình ảnh những người lính Bộđội Cụ Hồ đã đồng cam cộng khổ cùng toàn dân khoanh vùng và dập tắt bệnhdịch, tạo môi trường không gian lành mạnh yêu thương, nhân ái, đoàn kết,đồng lòng triệu con tim chung nhịp đập quyết tâm, đồng hành vượt qua khókhăn, lan tỏa giá trị nhân văn, bồi đắp tình nhân ái, chung tay ngăn chặn dịchbệnh lan truyền trong cộng đồng

Chúng ta xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằmmục đích tự vệ, chính nghĩa, thấm đậm tính chất nhân văn sâu sắc Việt Nam chủtrương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chốngnước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ ViệtNam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lựctrong quan hệ quốc tế “Đây chính là giá trị gốc, cốt lõi, ổn định xuyên suốt, là bảnchất văn hóa quân sự Việt Nam” [17, tr 8] mang giá trị nhân văn sâu sắc

Trang 38

Giá trị nhân văn nói chung và nhân văn quân sự Việt Nam nói riêng là ởtính “Người” với những nội dung hài hòa, khoan dung, độ lượng, yêu thương, gắn

bó biểu thị trong quan hệ tập thể quân nhân; trong quan hệ quân - dân Trong nội

bộ tập thể quân nhân là coi trọng sự thuận hòa, thân thiết, yêu thương và kínhtrọng lẫn nhau giữa binh sĩ với binh sĩ, giữa cán bộ với binh sĩ, đó là tình nghĩa

“Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp Hòa rượu cùng uống, binh sĩmột dạ cha con” [155, tr 79] Đó cũng là tình yêu thương đồng chí đồng đội,đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lònggiúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí

Thứ ba, tính chất nhân văn cao cả bằng việc sử dụng nghệ thuật quân sự dân tộc độc đáo, sáng tạo trong hoạt động đấu tranh vũ trang

Nghệ thuật đấu tranh vũ trang hay nghệ thuật quân sự của dân tộc ViệtNam thể hiện ở các nội dung cơ bản là: nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhândân, thực hiện toàn dân đánh giặc; nghệ thuật chủ động tạo lực, tranh thời, dùngmưu để đánh địch; nghệ thuật kết hợp chặt chẽ phương thức tác chiến của bộ độichủ lực và chiến tranh nhân dân địa phương lấy lực lượng vũ trang ba thứ quânlàm nòng cốt; nghệ thuật phát huy cao độ nhân tố chính trị, tinh thần, kết hợpchặt chẽ các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và binh vận Nghệ thuật quân

sự đó không chỉ phản ánh sự sáng tạo độc đáo, đặc sắc trong hoạt động đấu tranh

vũ trang mà tầng sâu trong nó là giá trị nhân văn cao cả, bởi qua đó biểu thị việc

sử dụng sức mạnh chiến đấu khéo léo và khôn ngoan dành được thắng lợi to lớnnhưng hạn chế thấp nhất tổn thất về người và phương tiện Do đó, cũng là lịch sửsáng tạo và làm lan tỏa những giá trị nhân đạo, nhân văn cao cả

Nhìn lại dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước củadân tộc, nhân dân ta đã anh dũng, kiên cường, bất khuất đấu tranh giành vàgiữ nền độc lập, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Công cuộc đấu tranh đó

đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đó là nền nghệ thuật quân sự dân tộcđộc đáo, đặc sắc, thấm đẫm tính nhân văn Trong các cuộc đấu tranh giành vàgiữ nền độc lập dân tộc, chống lại ách đô hộ của ngoại bang, nhân dân ta luônđoàn kết thành một khối thống nhất với ý chí quật cường, không khuất phục

Trang 39

trước kẻ thù xâm lược hung bạo Trong mỗi thời kỳ lịch sử, dân tộc ta đều cóphương thức đấu tranh phù hợp để bảo vệ non sông, gấm vóc và cuộc sốngyên bình của nhân dân

Trong tình thế luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược mạnh vàtàn bạo, đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam ở mọi thời kỳ là động viêntoàn dân đánh giặc Để giữ vững giang sơn bờ cõi - “non sông nghìn thuởvững âu vàng”, các triều đại phong kiến Đại Việt đều nhất quán tư tưởng,quan điểm: cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của thế trận “làng - nước”,sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh vô địch, tạo thành thế trận thiên la,địa võng tiêu diệt quân địch đánh bại kẻ thù xâm lược Thực tế các cuộc chiếntranh xâm lược nước ta, kẻ địch có tiềm lực kinh tế - quân sự mạnh hơn hẳn

và triệt để phát huy ưu thế về binh lực, vũ khí, trang bị…, để thực hiện đánhnhanh, giải quyết nhanh, đè bẹp ý chí chiến đấu và buộc nhân dân ta phảikhuất phục Trước tình thế đó, các triều đại Nhà nước phong kiến Việt Namđều chú trọng thực hiện nhiều kế sách giữ nước, trong đó khơi dậy tinh thầnchiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất cho nhân dân là nét tiêu biểu Nhờ

đó, động viên được mọi tầng lớp trong xã hội quyết tâm chiến đấu vì nền độclập, tự do của dân tộc Ý chí quyết đánh của nhân dân cả nước được thể hiện

rõ trong Hội nghị Diên Hồng của các bô lão và hai chữ “Sát Thát” trên cánhtay của binh lính thời nhà Trần; hoặc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của BàTrưng, Bà Triệu Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa yêunước, tính chất nhân văn quân sự Việt Nam được biểu hiện đậm nét qua lờikêu gọi, động viên bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơnđộc lập tự do”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyếtgiành cho được độc lập,…”, đã thôi thúc tinh thần toàn dân đứng lên cầm vũkhí đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước

Quy luật khắc nghiệt của chiến tranh là mạnh được yếu thua và chiếntranh không thể tránh khỏi tổn thất Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam đượcthể hiện ở tạo sức mạnh tổng hợp bằng “lực, thế, thời, mưu, phát huy quyềnchủ động đánh địch”, hạn chế tối đa xương máu của nhân dân, của cán bộ,

chiến sĩ, nhưng phải giành được thắng lợi lớn nhất Có thể thấy đây là một

Trang 40

mâu thuẫn luôn đặt ra mà các dân tộc khác trong lịch sử thế giới khó có thểthực hiện được Giải quyết mâu thuẫn này, dân tộc ta đã hình thành cho mìnhmột phương châm, cũng như cách đánh phản ánh tính độc đáo của nghệ thuậtquân sự dân tộc Việt Nam, đồng thời sáng tạo và lan tỏa giá trị nhân văn quân

sự vô cùng to lớn Đó là kết hợp đánh địch bằng mưu kế; “mưu sinh ra kế, kế

đẻ ra thời, đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế” Đánh giặc không chỉ bằnglực mà quan trọng là bằng thế trận, bằng “dĩ đoản chế trường”, “đánh chắc,tiến chắc”, v.v Đặc biệt luôn tìm cách phân hóa, cô lập kẻ thù, tập trungđánh vào kẻ thù phản động nguy hiểm nhất Chẳng hạn, sau Cách mạng thángTám, Hồ Chí Minh đã khéo léo đuổi được 20 vạn quân Tưởng, quân Anh vềnước, làm giảm bớt kẻ thù, để giảm hy sinh, mất mát Ở gần cuối mỗi cuộcchiến mặc dù ở trên thế thắng nhưng ta đã mềm dẻo, tận dụng mọi cơ hội đểsớm kết thúc chiến tranh, cố gắng một cách cao nhất để không phải thêm mộtngười lính, người dân nào hy sinh, đất nước không rơi vào cảnh đổ nát, hoangtàn và tạo nền móng cho sự hòa bình tiếp sau Những phương châm chỉ đạo ấycho phép giải quyết một cách hiệu quả mâu thuẫn hạn chế thấp nhất hy sinhxương máu của nhân dân, quân sĩ và giành thắng lợi to lớn

Để giành thắng lợi, nghệ thuật quân sự Việt Nam phát huy cao độnhân tố chính trị, tinh thần, kết hợp chặt chẽ các mặt trận quân sự, chínhtrị, ngoại giao và binh vận Với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt “mưu phạt tâmcông”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, làmcho nghệ thuật quân sự dân tộc càng trở nên đặc sắc, độc đáo Tư tưởng đótiếp tục được vận dụng sáng tạo ở thời đại Hồ Chí Minh bằng nhiều hìnhthức phong phú, đa dạng mà rõ nhất là công tác địch vận Công tác nàyđược thực hiện hết sức hiệu quả, có tác dụng như một “vũ khí” sắc bén,một “sức mạnh mềm” không những kêu gọi được nhiều người lầm đường,lạc lối trở về với dân tộc, với chính nghĩa, cách mạng chống lại quân xâmlược mà còn giúp họ thấy rõ tính chất phi nghĩa của kẻ xâm lược

Tính chất nhân văn được biểu hiện sâu sắc ngay trong cách ứng xử giữacon người với con người - đặc tính của văn hóa giữ nước mang đậm tính chấtnhân văn Mối căm hận trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược có thể

Ngày đăng: 06/08/2021, 05:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2012), Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2012
2. Hoàng Anh (Chủ biên, 2016), Hoạt động - giao tiếp - nhân cách, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động - giao tiếp - nhân cách
Nhà XB: Nhà xuấtbản Đại học Sư phạm
3. Ph.Ăngghen (1878), “Chống Đuy-rinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.1995, tr. 15 - 450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy-rinh”, "C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
4. Lương Gia Ban (1999), Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa
Tác giả: Lương Gia Ban
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Vũ Văn Bách (2018), “Hệ giá trị văn hóa của thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới”, Tạp chí Triết học, số 4, tr. 74 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ giá trị văn hóa của thanh niên Quân đội nhândân Việt Nam trong thời kỳ mới”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Vũ Văn Bách
Năm: 2018
6. Trương Văn Bảy (2017), Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩquan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trương Văn Bảy
Năm: 2017
7. Lê Bằng (1998), “Lòng yêu nước thương nòi - một ưu thế tuyệt đối của quân đội ta”, Tạp chí quốc phòng toàn dân, số 4, tr. 28 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lòng yêu nước thương nòi - một ưu thế tuyệt đối củaquân đội ta”, "Tạp chí quốc phòng toàn dân
Tác giả: Lê Bằng
Năm: 1998
8. Trần Thái Bình (2009), Hồ Chí Minh - Sự hình thành một nhân cách lớn, Nhà xuất bản Tuổi trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh - Sự hình thành một nhân cách lớn
Tác giả: Trần Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Tuổi trẻ
Năm: 2009
9. Hoàng Đình Châu (2008), Phát huy nhân tố con người trong chiến tranh hiện đại, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nhân tố con người trong chiến tranhhiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2008
10.Hoàng Đình Châu (2012), Phẩm chất nhân cách của Bộ đội Cụ Hồ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẩm chất nhân cách của Bộ đội Cụ Hồ
Tác giả: Hoàng Đình Châu
Nhà XB: Nhàxuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2012
11.Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Đồng chủ biên, 2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trịtruyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị quốc gia
12.Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đứctrong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bảnchính trị quốc gia
Năm: 2003
13.Nguyễn Trọng Chuẩn (Chủ biên 2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thời Trần và thời Hồ), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học ViệtNam (từ đầu công nguyên đến thời Trần và thời Hồ)
Nhà XB: Nhà xuất bảnKhoa học xã hội
14.Lê Duy Chương (2008), Một số vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nâng cao chất lượng giáo dụcchính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở
Tác giả: Lê Duy Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân độinhân dân
Năm: 2008
15.Tô Xuân Dân, Đặc Quốc Bảo (2017), Giáo dục tư tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ hiện nay, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tư tưởng cách mạng, đạo đức,lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ hiện nay
Tác giả: Tô Xuân Dân, Đặc Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2017
16.Hoàng Thọ Diêu (1997), “Thanh niên quân đội xung kích sáng tạo tiếp bước cha anh xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 11, tr. 26 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên quân đội xung kích sáng tạo tiếpbước cha anh xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, "Tạp chí Quốc phòng toàndân
Tác giả: Hoàng Thọ Diêu
Năm: 1997
17.Dương Quốc Dũng (Chủ biên, 2015), Bản sắc văn hóa quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
18.Đồng Anh Dũng (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích sử dụng bạo lực cách mạng”, Tạp chí Giáo dục lý luận Chính trị quân sự, số 3, tr. 20 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích sử dụng bạo lựccách mạng”, "Tạp chí Giáo dục lý luận Chính trị quân sự
Tác giả: Đồng Anh Dũng
Năm: 2005
19.Đinh Xuân Dũng (2013), Văn hóa trong chiến lược phát triển của Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong chiến lược phát triển của ViệtNam
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
20.Đinh Xuân Dũng (Chủ biên, 2016), Công tác tư tưởng-văn hóa trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tư tưởng-văn hóa trong xây dựngquân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w