Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN GIANG KHOA SƯ PHẠM & XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐỀ TÀI: “Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”
Kiên Giang, ngày tháng năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục tiêu của tiểu luận 1
3.Phương pháp nghiên cứu 1
4.Nội dung nghiên cứu 1
5.Kết cấu của tiểu luận 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN 3
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và các tiêu chí phân loại tài sản 3
1.2 Tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân 4
CHƯƠNG II: CÁCH XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 6
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 6
2.2 Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ 2014 8
CHƯƠNG III PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 10
3.1 Ly hôn 10
3.2 Ly hôn và chế độ tài sản luật định 10
3.3 Ly hôn và chế độ tài sản thỏa thuận 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình sự bền vững của quan
hệ hôn nhân của cả vợ lẫn chồng, đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình
mà Pháp luật đặt ra Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu
sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ chồng đã không còn hạnh phúc, nên Pháp luật đã dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan
hệ hôn nhân bằng việc ly hôn
Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Minh Hòa (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP HCM), tỷ lệ ly hôn/kết hôn ở Việt Nam là 31,4%, tức là cứ ba cặp kết hôn lại có một cặp ly hôn Nếu năm 2016 chỉ có 24.300 vụ ly hôn thì năm 2018 ước tính đã tăng lên 28.070 vụ Khi ly hôn, vợ, chồng thường xảy ra các tranh chấp về nhân thân và tài sản, đặc biệt là về tài sản Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan
hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kì hôn nhân, không có tính đền
bù ngang giá và không xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung vợ, chồng là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong các vụ giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án Hiện nay cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ ly hôn có tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn tạo ra rất nhiều khó khăn và
áp lực cho cơ quan tiến hành kiện tụng
Do vậy, với những lý do trên em xin quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu về cách xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn” Một vấn đề mang tính thời sự cao trong điều kiện đất nước ta hiện nay và các quy định pháp luật liên quan đến tài sản có ý nghĩa to lớn
2.Mục tiêu của tiểu luận
Em chọn nghiên cứu đề tài này với mục đích làm rõ quy trình, cơ sở pháp lý
để xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, cung cấp những thông tin cần thiết về Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014 và Luật Dân sự 2015 để người đọc có thêm hiểu biết
về vấn đề này
3.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, em đã bám sát Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định: “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Hôn nhân và Gia đình”, và Luật Dân sự 2015-chương VII Đồng thời bài
tiểu luận còn so sánh, phân tích, tổng hợp và tham khảo một số bài viết, bài nghiên cứu, văn bản pháp luật của các tác giả về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
4.Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu để làm sáng tỏ các nội dung sau:
Trang 5− Các vấn đề cơ bản về Hôn nhân và Gia đình như: khái niệm, đặc điểm và các quyền cơ bản của con người và tài sản
− Cách xác định tài sản chung của vợ chồng
− Cách phân chia tài sản chung khi vợ, chồng ly hôn
5.Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bài Tiểu luận của chúng em được cơ cấu gồm ba chương với các nội dung sau:
Chương 1: Các vấn đề chung về tài sản.
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và các tiêu chí phân loại tài sản
1.1.1 Khái niệm tài sản
1.1.2 Đặc điểm tài sản
1.1.3 Phân loại và các tiêu chí phân loại tài sản
1.2 Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.2.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
1.2.2 Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
1.2.3 Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Chương 2: Cách xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.1.1.Trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
2.1.2 Trường hợp đầu tư kinh doanh riêng
2.1.3.Trường hợp có lý do chính đáng khác
2.2 Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ 2014
Chương 3: Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
3.1 Ly hôn
3.1.1 Khái niệm ly hôn
3.1.2 Thuận tình ly hôn
3.1.3 Ly hôn theo yêu cầu của một bên
3.2 Ly hôn và tài sản luật định
3.2.1 Trường hợp vợ chồng đồng thuận về vấn đề chia tài sản
3.2.2 Trường hợp vợ chồng không đổng thuận về vấn đề chia tài sản 3.3 Ly hôn và chế độ tài sản thỏa thuận
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và các tiêu chí phân loại tài sản.
1.1.1 Khái niệm tài sản
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan
hệ pháp luật nói riêng Khái niệm về tài sản cho đến nay vấn chỉ mang tính chất liệt
kê, khái quát chưa mang tính tổng hợp tài sản Tài sản được đề cập tại Điều 105 BLDS 2015: “ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Trong đó, vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình Tuy nhiên chỉ những vật nằm trong sự chiếm hữu của con người và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự thì được coi là tài sản Tiền theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự
1.1.2 Đặc điểm tài sản
Xem xét trong nhiều quan niệm về tài sản, cũng như từ khái niệm tài sản được quy định tại Điều 107 BLDS 2015 có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của tài sản như sau:
− Một là, tài sản có giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền Tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác
− Hai là, tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền (cả về vật chất lẫn tinh thần)
− Ba là, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự, chính bởi như thế khái niệm về tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kì để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó
− Bốn là, khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp lí Pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhà nước với các quan hệ xã hội Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhận một loại tài sản thì nó
sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Sự quy định đâu là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự
1.1.3 Phân loại tài sản
Tài sản thường được chia thành hai loại lớn: tài sản lưu động và các tài sản
có tính thanh khoản Tài sản lưu động là một trong những thứ có thể chuyển đổi thành tiền một cách nhanh chóng với ít hoặc không ảnh hưởng đến giá nhận Ví dụ,
cổ phiếu, thị trường tiền tệ và trái phiếu chính phủ là tài sản lưu động Tài sản có tính thanh khoản, mặt khác, là những tài sản mà không thể được chuyển đổi thành
Trang 7tiền mặt một cách nhanh chóng mà không mất mát đáng kể về giá trị Ví dụ về các tài sản có tính thanh khoản gồm: nhà ở, đồ cổ và các đồ sưu tầm khác
Khi thực hiện việc phân chia tài sản thì cần tuân theo các tiêu chí sau đây:
− “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi
ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng
có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phân tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng
− Công sức đóng góp của vợ , chồng vào việc tạo lập , duy trì và phát triển khối tải sản chung ” là sự đóng góp về tài sản riêng , thu nhập , công việc gia đình
và lao động của vợ , chồng trong việc tạo lập , duy trì và phát triển khối tài sản chung Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con , gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn
− “ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất , kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập ” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ , chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề ; cho vợ , chồng đang hoạt động sản xuất , kinh doanh được tiếp tục được sản xuất , kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phân giá trị tài sản chênh lệch Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất , kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ , chồng và con chưa thành niên , con đã thành niên nhưng mất năng lọc hành vi dân sự
Ví dụ : Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy
xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung , Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ , giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh , tạo thu nhập Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng
− “ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền , nghĩa vụ của vợ chồng ” là lỗi của
vợ hoặc chồng vi phạm quyền , nghĩa vụ về nhân thân , tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn , Ví dụ : Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình , không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền , lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên Giá trị tài sản chung của vợ chồng , tài sản riêng của vợ , chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết
sơ thẩm vụ việc
1.2 Tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
1.2.1 Khái niệm tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
Trang 8− Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu thập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu thập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
− Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
− Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung
1.2.2 Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.”
Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau thì người được ủy quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong phạm vi được ủy quyền
1.2.3 Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng có thể hiểu là nghĩa vụ phát sinh khi một hoặc cả hai bên vợ chồng thực hiện hành vi vì lời ích gia đình hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của vợ chồng Nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của
vợ chồng, các thành viên khác trong gia đình, bảo đảm nhiệm vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái, vợ chồng cần phải tạo lập một khối tài sản chung Nhưng nhiều khi tài sản chung của vợ chồng không đủ đáp ứng nhu cầu của gia đình, vợ chồng phải vay mượn tiền bạc, tài sản của người khác
Đó chính là các khoản nợ mà vợ chồng có nghĩa vụ phải thanh toán, trả cho chủ nợ Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“ Vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm với giao dịch mà vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập”.
Như vậy, nếu một bên vợ, chồng vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì món nợ ấy được đảm bảo thanh toán bằng tài sản của vợ chồng Cả vợ
và chồng đều phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đó cho chủ nợ Ngoài ra, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định còn về nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung như sau:
Trang 9“ Giấy đăng kí quyền sở hữu tài sản chung phải đăng kí tên của cả hai vợ chồng Giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng kí quyền sở hữu, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận giữ vợ chồng.
Vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó”
CHƯƠNG II: CÁCH XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN.
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tại ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
2.1.1 Trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng :
Theo quy định tại Điều 278 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ như sau:
“Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình.”
Như vậy, có thể thấy khi thực hiện nghĩa vụ riêng rẽ có những đặc điểm sau:
- Có nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ: Đây là loại nghĩa vụ được xác định là nhiều người Theo đó có thể phát sinh các quan hệ giữa các chủ thể sau: + Nhiều người có nghĩa vụ với một người có quyền Ví dụ: A, B, C thực hiện
ký các hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng X;
+ Nhiều người có nghĩa vụ với nhiều người có quyền Ví dụ: M, N, H thực hiện ký các hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng X, Y, Z
Đặc điểm này của nghĩa vụ riêng rẽ giúp phân biệt với loại nghĩa vụ một người, nghĩa vụ hoàn lại, nghĩa vụ bổ sung
- Mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ: về nguyên tắc, nếu pháp luật không có quy định khác hoặc các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thỏa thuận
Trang 10khác mà phát sinh nghĩa vụ nhiều người thì mỗi người được xác định là có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ nhau
- Mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình: Điểm khác biệt cơ bản giữa nghĩa vụ riêng rẽ và các loại nghĩa vụ khác ở chỗ, khi phát sinh loại nghĩa vụ này, mỗi chủ thể chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình mà không phải thực hiện nghĩa vụ thay cho người khác Đặc điểm này của nghĩa vụ riêng rẽ lại một lần nữa khẳng định các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự luôn độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý Khi chủ thể tham gia vào quan hệ nghĩa vụ qua đó làm phát sinh các quyền, lợi ích nhất định thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản một cách tương xứng với những quyền và lợi ích đó Khi pháp luật không quy định, các chủ thể không thỏa thuận khác, việc chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình tạo ra địa vị pháp lý cho chính họ
2.1.2 Trường hợp đầu tư kinh doanh riêng :
Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:
"1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung" Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung được đưa vào kinh doanh: "Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.”
Theo quy định của pháp luật, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc một bên đưa một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung (theo quy định tại Điều 33 nêu trên) vào kinh doanh, và người này có quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan tới khối tài sản trên Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn chứng cứ để giải quyết khi xảy ra tranh chấp thì pháp luật yêu cầu thỏa thuận trên phải được lập thành văn bản và có xác nhận của vợ, chồng
Vậy, bạn và chồng buộc phải lập văn bản thể hiện nội dung thỏa thuận đưa một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung vào việc kinh doanh của người chồng Nội dung thỏa thuận cần thể hiện chi tiết đối tượng của hợp đồng gồm loại tài sản, số lượng tài sản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng,
Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh: “Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan