1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luận văn đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh ninh bình

73 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI (6)
    • 1.1. Du lịch và tài nguyên du lịch (6)
      • 1.1.1. Quan niệm về Du lịch (6)
      • 1.1.2. Quan niệm về tài nguyên du lịch (6)
        • 1.1.2.1. Quan niệm về tài nguyên (6)
        • 1.1.2.2. Quan niệm về tài nguyên du lịch (7)
      • 1.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn (9)
        • 1.1.3.1. Định nghĩa Tài nguyên du lịch nhân văn (9)
        • 1.1.3.2. Đặc điểm của Tài nguyên du lịch nhân văn (9)
        • 1.1.3.3. Phân loại tài nguyên nhân văn (10)
    • 1.2. Điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn (15)
  • CHƯƠNG 2. ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN TỈNH NINH BÌNH (19)
    • 2.1. Khái quát về tỉnh Ninh Bình (19)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (19)
      • 2.1.2. Lịch sử phát triển của Ninh Bình (20)
      • 2.1.3. Con người Ninh Bình (22)
      • 2.1.4. Văn hóa Ninh Bình (23)
    • 2.2. Điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Ninh Bình (24)
      • 2.2.1. Di tích lịch sử văn hóa (24)
      • 2.2.2. Lễ hội (30)
      • 2.2.3. Nghệ thuật ẩm thực (33)
      • 2.2.4. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống (38)
      • 2.2.5. Nghệ thuật dân gian truyền thống (41)
    • 2.3. Thực trạng hoạt động du lịch (46)
    • 2.4. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh Ninh Bình (47)
  • CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN (60)
    • 3.1. Định hướng phát triển du lịch Ninh Bình (60)
      • 3.1.1. Vị trí du lịch Ninh Bình trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (0)
      • 3.1.2. Vị trí, vai trò du lịch Ninh Bình đối với du lịch cả nước (61)
      • 3.1.3. Định hướng phát triển du lịch Ninh Bình (62)
        • 3.1.3.1. Khách du lịch (62)
        • 3.1.3.2. Chỉ tiêu về thu nhập du lịch (64)
        • 3.1.3.3. Chỉ tiêu về nhu cầu khách sạn (64)
        • 3.1.3.4. Chỉ tiêu về nhu cầu lao động trong du lịch (64)
    • 3.2. Những giải pháp (65)
      • 3.2.1. Bảo tồn và tôn tạo các di tích văn hóa – lịch sử vật thể và phi vật thể (65)
      • 3.2.2. Đầu tƣ xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo (0)
      • 3.2.3. Tuyên truyền quảng cáo cho các tài nguyên du lịch nhân văn và sản phẩm (67)
      • 3.2.4. Tập trung vào một số dự án ƣu tiên đầu tƣ để khai thác tôt hơn và có hiệu quả tài nguyên nhân văn ở Ninh Bình (0)
      • 3.2.5. Xây dựng các công trình kiến trúc (68)
  • KẾT LUẬN (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Du lịch và tài nguyên du lịch

1.1.1 Quan niệm về Du lịch

Du lịch từ lâu đã được xem là một sở thích và hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch không chỉ là nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội mà còn trở thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là giải pháp cứu cánh giúp phục hồi nền kinh tế yếu kém.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch tiêu biểu là:

Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ trong sách Địa Lý Du Lịch, du lịch được định nghĩa là hoạt động của con người trong thời gian rỗi, bao gồm di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên để nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao nhận thức văn hóa Điều 4 của luật Du lịch cũng khẳng định rằng du lịch liên quan đến các chuyến đi nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

1.1.2 Quan niệm về tài nguyên du lịch

1.1.2.1 Quan niệm về tài nguyên

Tài nguyên du lịch được coi là một loại hình đặc biệt của tài nguyên Trước khi khám phá sâu về tài nguyên du lịch, điều quan trọng là chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về tài nguyên.

Theo Phạm Trung Lương, tài nguyên được hiểu một cách rộng rãi là tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất cũng như trong không gian vũ trụ mà con người có thể khai thác để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn thông tin, vật chất và năng lượng được khai thác để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội Tài nguyên không chỉ là những thành tạo và tính chất tự nhiên mà còn là những công trình, sản phẩm do con người tạo ra, cùng với khả năng của loài người, tất cả đều được sử dụng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng.

1.1.2.2 Quan niệm về tài nguyên du lịch

Du lịch là ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt, ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ và hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch Tài nguyên du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ.

Tài nguyên du lịch là sự kết hợp giữa cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân văn, có thể được khai thác để phục vụ cho các hoạt động du lịch, đáp ứng nhu cầu về sức khỏe, nghỉ ngơi, tham quan và khám phá.

Theo Pirojnik, tài nguyên du lịch bao gồm tổng thể tự nhiên, văn hóa-lịch sử và các thành phần liên quan, giúp phục hồi và phát triển thể lực tinh thần, khả năng lao động và sức khỏe con người Những tài nguyên này đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc du lịch hiện tại và tương lai, đồng thời phụ thuộc vào khả năng kinh tế và kỹ thuật để sản xuất trực tiếp và gián tiếp các dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi.

Tài nguyên du lịch, theo Nguyễn Minh Tuệ, là tổng thể các yếu tố tự nhiên và văn hóa-lịch sử, cùng với các thành phần của chúng, đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và phát triển thể lực, trí lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người Những tài nguyên này được khai thác để phục vụ cho nhu cầu sản xuất dịch vụ du lịch, cả trực tiếp và gián tiếp.

Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, và các công trình sáng tạo của con người Những tài nguyên này không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch mà còn là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch.

Vai trò của tài nguyên du lịch đối với hoạt động du lịch

Tài nguyên du lịch là yếu tố cốt lõi hình thành sản phẩm du lịch và quyết định sự phát triển của hệ thống lãnh thổ du lịch Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với các phân hệ khác cùng môi trường kinh tế - xã hội, do đó, tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, sản phẩm du lịch cần phong phú, đặc sắc và mới mẻ, điều này xuất phát từ sự đa dạng của tài nguyên du lịch Số lượng, chất lượng và sự kết hợp của các loại tài nguyên, cùng với sự phân bố hợp lý, là yếu tố thu hút khách du lịch và ảnh hưởng đến đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực du lịch Tóm lại, tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả hoạt động du lịch.

Tài nguyên du lịch là yếu tố thiết yếu trong tổ chức lãnh thổ du lịch, bao gồm các cấp như khu du lịch, điểm du lịch, và vùng du lịch Việc quy hoạch phát triển du lịch cần chú trọng đến cơ sở hạ tầng, nguồn lao động và các phân hệ du lịch để phù hợp với tài nguyên hiện có Số lượng và chất lượng tài nguyên du lịch quyết định khả năng tổ chức đón tiếp du khách một cách hiệu quả.

Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của ngành du lịch, đóng vai trò cơ bản trong việc tổ chức và xây dựng hệ thống lãnh thổ du lịch, bất kể ở phân vị nào.

Hiệu quả phát triển du lịch của các hệ thống lãnh thổ phụ thuộc vào tài nguyên du lịch Do đó, các doanh nghiệp, địa phương và quốc gia cần tiến hành điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên du lịch trong quy hoạch phát triển Đồng thời, việc thực thi các chính sách và chiến lược quản lý, bảo vệ, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch cần được thực hiện một cách hợp lý và hiệu quả, hướng tới phát triển du lịch bền vững.

1.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.1.3.1 Định nghĩa Tài nguyên du lịch nhân văn

Theo luật du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố như truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử và cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, cũng như các công trình lao động sáng tạo của con người Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể này có thể được khai thác để phục vụ cho mục đích du lịch.

1.1.3.2 Đặc điểm của Tài nguyên du lịch nhân văn

Điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn

Các loại tài nguyên, bao gồm tài nguyên du lịch, không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tương hỗ trong cùng một không gian Do đó, sau khi đánh giá từng loại tài nguyên, cần thực hiện đánh giá tổng hợp Việc này thường được thực hiện qua các phương pháp như xây dựng thang điểm đánh giá, dựa vào tiêu chí thông dụng, đánh giá cảm quan, và khảo sát ý kiến của du khách Các yếu tố được xem xét bao gồm đặc điểm thẩm mỹ, mức độ thuận lợi cho sức khỏe, cũng như các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng và thể thao của con người.

1 Các bước kiểm kê một di tích kiến trúc nghệ thuật hoặc một công trình đương đại(DTLSVH)

- Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan:

+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thổ, tên gọi di tích

+ Giá trị về phong cảnh

Khoảng cách giữa di tích và thị trường khách du lịch, cùng với chất lượng và loại đường giao thông, cũng như các phương tiện di chuyển có thể sử dụng, đều ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và thu hút du khách.

- Lịch sử hình thành và phát triển gồm: thời gian, đặc điểm của thời kỳ khởi dựng và những lần trùng tu lớn

- Quy mô, kiểu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật, niên đại kiến trúc mỹ thuật

- Giá trị cổ vật cả về số lƣợng và chất lƣợng, vật kỷ niệm và bảo vật quốc gia

- Nhân vật được tôn thờ và những người có công tôn tạo,trùng tu

- Những tài nguyên nhân văn phi vật thể gắn với di tích: các giá trị văn học, phong tục, tập quán, lễ hội

- Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích

- Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích

- Giá trị xếp hạng: quốc tế, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng

- Đánh giá chung về những giá trị nổi bật cũng nhƣ khả năng khai thác cho mục đích phát triển du lịch

2 Các bước kiểm kê đánh giá lễ hội

Tiến hành điều tra về số lượng lễ hội, thời gian diễn ra, giá trị và quy mô, sức hấp dẫn đối với du khách của các lễ hội, cũng như cách thức bảo tồn, khôi phục và tổ chức quản lý các lễ hội Đồng thời, nghiên cứu môi trường diễn ra lễ hội tại từng điểm du lịch và các địa phương.

- Kiểm kê đánh giá cụ thể những lễ hội tiêu biểu:

+ Không gian diễn ra lễ hội

+ Lịch sử phát triển các lễ hội, các nhân vật đƣợc tôn thờ, các sự kiện lịch sử, văn hóa gắn với lễ hội

+ Thời gian diễn ra lễ hội

+ Quy mô của lễ hội mang tính quốc gia và địa phương

Các giá trị văn hóa và phong tục tập quán thể hiện rõ nét qua các lễ hội, trò chơi dân gian và các hoạt động văn hóa nghệ thuật được tổ chức Những sự kiện này không chỉ mang lại niềm vui mà còn góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng.

- Giá trị với hoạt động du lịch

Việc tổ chức và khai thác lễ hội hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, đồng thời bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa Những lễ hội này không chỉ là dịp để người dân gắn kết với nhau mà còn góp phần phát triển du lịch, thu hút khách tham quan và tạo cơ hội cho các hoạt động kinh tế địa phương Sự kết hợp giữa bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch sẽ mang lại lợi ích bền vững cho cộng đồng.

3 Tiêu chí đánh giá nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Điều tra và đánh giá về số lượng cũng như thực trạng của các nghề và làng nghề thủ công là rất quan trọng Phân bố và đặc điểm chung của những nghề và làng nghề truyền thống không chỉ có giá trị văn hóa mà còn đóng góp tích cực cho hoạt động du lịch tại các địa phương Việc quy hoạch các nghề và làng nghề này sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa.

Điều tra và đánh giá mỗi làng nghề bao gồm các bước và nội dung quan trọng như vị trí địa lý, lịch sử phát triển, và các nhân vật tiêu biểu Các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề truyền thống cũng cần được xem xét Ngoài ra, nghệ thuật sản xuất, lựa chọn nguyên liệu, và cơ cấu chủng loại sản phẩm cũng là những yếu tố quan trọng Đánh giá giá trị thẩm mỹ, môi trường làng nghề, việc tiêu thụ và giá cả sản phẩm, cũng như mức thu nhập và đời sống của cư dân là cần thiết Cuối cùng, tỷ trọng thu nhập từ nghề thủ công so với các hoạt động kinh tế khác và những giá trị văn hóa gắn liền với nghề truyền thống cũng cần được ghi nhận.

- Các cơ chế, chính sách cho đầu tƣ phát triển nghề, làng nghề, du lịch làng nghề và chính sách ƣu đãi với các nghệ nhân

Đầu tư vào việc bảo vệ và khôi phục các làng nghề đang trở thành một yếu tố quan trọng trong việc phát huy giá trị văn hóa, đồng thời góp phần nâng cao đời sống kinh tế-xã hội Việc khai thác và phát triển các giá trị văn hóa của làng nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm độc đáo mà còn thu hút du lịch, từ đó tạo ra nguồn thu nhập bền vững cho cộng đồng.

- Khả năng đầu tƣ phát triển du lịch làng nghề

4 Điều tra đánh giá các loại hình văn hóa nghệ thuật

Các giá trị văn hóa nghệ thuật là tài nguyên du lịch hấp dẫn, thúc đẩy phát triển du lịch tham quan giải trí và nghiên cứu Việc bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị này không chỉ làm phong phú thêm tài nguyên du lịch mà còn thu hút nhiều loại hình du lịch khác như du lịch sông nước, du lịch văn hóa các dân tộc, du lịch tham quan và du lịch lễ hội.

Việc điều tra và đánh giá các giá trị văn hóa nghệ thuật phục vụ du lịch bao gồm nhiều nội dung quan trọng như các loại nhạc cụ, hình thức biểu diễn, thời gian và môi trường biểu diễn, cùng với sự tham gia của các nghệ nhân Nghiên cứu này cũng xem xét nghệ thuật trình diễn nhạc cụ, các làn điệu dân ca, hình thức nghệ thuật truyền thống và bác học, cũng như lịch sử hình thành và phát triển của chúng Bên cạnh đó, không gian phân bố, các bài hát, giá trị lời ca, âm vực, nghệ thuật biểu diễn và các loại nhạc cụ được sử dụng trong các buổi biểu diễn cũng cần được phân tích Cuối cùng, việc đánh giá thực trạng và khả năng khai thác, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa nghệ thuật này là rất cần thiết.

Chương 1 là sự tổng kết một cách khái quát những vấn đề lý thuyết liên quan tới du lịch và các nguồn tài nguyên du lịch Đây là những vấn đề lý thuyết cơ bản đƣợc sử dụng để đánh giá tài nguyên du lịch của một tỉnh Những kiến thức này sẽ được áp dụng trực tiếp trong chương 2 để tiến hành điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn ở Ninh Bình.

ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN TỈNH NINH BÌNH

Khái quát về tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình là một tỉnh nhỏ nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Theo quy hoạch xây dựng phát triển kinh tế, Ninh Bình thuộc vùng duyên hải Bắc.

Bộ, có diện tích 1.400km2 với đường bờ biển dài 15km Hiện nay Ninh Bình có

Ninh Bình, một thành phố xinh đẹp, bao gồm 6 huyện: Hoa Lư, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Viễn, Yên Khánh, Yên Mô, cùng với thị xã Tam Điệp Nơi đây nổi bật với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, cùng với các di tích lịch sử văn hóa lâu đời, tạo nên sức hấp dẫn lớn cho du khách.

Ninh Bình nằm ở tọa độ 19°24’ – 20°27’ vĩ độ Bắc và 105°32’ – 106°27’ kinh độ Đông, giáp Thanh Hóa ở phía Tây Nam, Nam Định ở phía Đông và biển ở phía Nam Với vị trí chiến lược giữa miền Bắc và miền Trung, cũng như giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Mã, Ninh Bình không chỉ là nơi giao thoa văn hóa mà còn là địa bàn quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng với hệ thống đường quốc lộ kết nối các huyện, thành phố và thị xã Quốc lộ 1A chạy qua các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp, dài gần 40km Quốc lộ 10 nối từ Quảng Ninh qua Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đến Ninh Bình, đi qua huyện Yên Khánh và Kim Sơn Quốc lộ 12B kết nối thị xã Tam Điệp và Nho Quan với đường Hồ Chí Minh, tỉnh Hòa Bình và Vĩnh Phúc Mạng lưới giao thông tỉnh lộ thuận tiện, với các chuyến xe bus nội tỉnh và bến xe Ninh Bình nằm gần giao lộ giữa quốc lộ 1A và 10.

Ba dự án đường cao tốc đang được triển khai tại Ninh Bình bao gồm: đường cao tốc Ninh Bình - Cầu Giẽ, Ninh Bình - Thanh Hóa và Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Ninh Bình có địa hình phân chia thành ba vùng chính: vùng đồi núi phía Tây và Tây Bắc, vùng đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam Dãy núi đá vôi ở phía Tây chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, bắt nguồn từ vùng núi rừng Hoà Bình và tạo thành vùng phù sa cổ ven chân núi với nhiều hang động nổi tiếng như Tam Cốc, Bích Động, và Tràng An Ngoài ra, khu vực đồng chiêm trũng ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô cũng được bồi đắp bởi phù sa hàng năm, giúp đồng bằng tiến ra biển từ 80 - 100m, tạo nên vùng đất mới phì nhiêu và màu mỡ.

Mỗi vùng đều sở hữu những tiềm năng và thế mạnh riêng, nhưng ba vùng có thể hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau để phát triển nền kinh tế hàng hóa toàn diện, bao gồm cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản, hải sản, cũng như công nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến nông sản thực phẩm.

Khí hậu Ninh Bình có sự đa dạng do đặc điểm địa lý và địa hình, mang những nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ và ảnh hưởng từ khu vực Thanh Hóa Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu đồng bằng sông Hồng với nhiệt độ trung bình năm là 23,1°C Tổng lượng mưa trung bình hàng năm đạt 151,9mm, phân bố khá đồng đều, với 125 - 157 ngày mưa trong năm Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 11, là thời điểm lượng mưa tập trung nhiều nhất, chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm.

2.1.2 Lịch sử phát triển của Ninh Bình

Ninh Bình, tỉnh ven biển cực Nam của châu thổ sông Hồng, nằm giáp ranh với Hà Nam ở phía Bắc, Nam Định ở phía Đông và Đông Bắc, vịnh Bắc Bộ ở phía Đông Nam, Hòa Bình ở phía Tây Bắc, và Thanh Hóa ở phía Nam Vùng đất này đã thuộc Tượng quận từ thời Tần (255-207 TCN) và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, bao gồm thời Bắc thuộc lần thứ hai (207 TCN-542 TCN) dưới triều đại Hán thuộc quận Giao Chỉ, sau đó là Giao Châu dưới thời Ngô và Tấn Cuối đời Lương (502-542), Ninh Bình trở thành châu Trường Yên, và khi Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương, vùng đất này vẫn thuộc châu Trường Yên của nước Việt.

Vạn Xuân Trong giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 3 (603-905) đưới đời nhà Tùy và nhà Đường đất này vẫn là châu Trường Yên

Sau khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước và lập triều Đinh (968-980) tại Hoa Lư, vùng đất này được gọi là châu Đại Hoàng của nước Đại Cồ Việt Trong thời kỳ Tiền Lê (981-1009), tên gọi đổi thành châu Trường Yên Đến thời nhà Lý (1010-1225), khu vực này được gọi là phủ Trường Yên, sau đó lại trở về với tên châu Đại Hoàng Đầu thời Trần, nơi đây được gọi là lộ và sau đó đổi thành trấn Trường Yên.

10 (1398) đời Trần Thuận Tông đổi thành trấn Thiên Quan

Thời kỳ thuộc Minh (1407-1428) lại gọi là châu Trường Yên Đến triều

Dưới triều Lê Thái Tông (1433-1442), vùng đất Lê được chia thành 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan thuộc trấn Thanh Hoa, gồm 6 huyện Phủ Trường Yên bao gồm 3 huyện Gia Viễn, Yên Khang và Yên Mô, trong khi phủ Thiên Quan quản lý 3 huyện Phụng Hoá, Ninh Hoá và Lạc Thổ Thời Hồng Đức (1470-1498), Lê Thánh Tông đã nhập hai phủ này vào Sơn Nam thừa tuyên Trong thời kỳ Nhà Mạc (1527-1592), hai phủ được gọi là Thanh Hoa ngoại trấn, bị ngăn cách bởi dãy núi Tam Điệp với Thanh Hoa nội trấn Nhà Lê Trung Hưng đã đóng đô ở Thanh Hoa, quản lý từ phủ Trường Yên trở vào từ năm 1533, trong khi nhà Mạc cai quản từ phủ Trường Yên trở ra ngoài bắc Hai địa danh Thanh Hoa nội trấn và Thanh Hoa ngoại trấn bắt đầu hình thành từ đây Sau khi nhà Mạc bị diệt vào năm 1592, nhà Lê đã nhập hai phủ Trường Yên và Thiên Quan vào Thanh Hoa, tiếp tục gọi là Thanh Hoa ngoại trấn Thời Tây Sơn cũng sử dụng tên gọi Thanh Hoa ngoại trấn thuộc Bắc thành.

Dưới triều Nguyễn, Thanh Hoa ngoại trấn được chia thành 2 phủ là Trường Yên và Thiên Quan, bao gồm 6 huyện: Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn, Yên Hoá, Phụng Hoá và Lạc Thổ.

Năm 1806, Gia Long thứ 5 đã đổi tên Thanh Hoa ngoại trấn thành đạo Thanh Bình, thuộc trấn Thanh Hoa Đến năm 1821, Minh Mệnh thứ 2 đổi tên phủ Trường Yên thành phủ Yên Khánh Năm 1822, đạo Thanh Bình được đổi thành đạo Ninh Bình, nhưng vẫn thuộc trấn Thanh Hoa Phải đến năm 1829, Minh Mệnh thứ 10 mới chính thức đổi thành trấn Ninh Bình và bổ nhiệm các quan cai trị như Trấn thủ, Hiệp trấn và Tham hiệp giống như các trấn khác trong Bắc Thành Cũng trong năm 1829, huyện Kim Sơn được thành lập nhờ sự khai khẩn đất hoang của Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ.

Năm 1831, dưới triều Minh Mệnh, trấn Ninh Bình được đổi thành tỉnh Ninh Bình và Tổng trấn Bắc thành bị bãi bỏ theo chương trình cải cách hành chính Tỉnh Ninh Bình thời Nguyễn gồm 2 phủ và 7 huyện, trong đó Phủ Yên Khánh có 4 huyện: Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn (bao gồm cả 2 huyện Gia Viễn Hoa Lư và Kim Sơn) Phủ Thiên Quan (sau này đổi thành phủ Nho Quan vào năm 1862) bao gồm huyện Yên Hoà (trước đây gọi là Ninh Hoá, nay là một phần huyện Nho Quan và huyện Gia Viễn) và huyện Yên Lạc (trước là Lạc Thổ, sau là Lạc Yên, hiện nay thuộc huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình).

Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), tỉnh Ninh Bình thuộc khu 3 Ngày 25.1.1948, hợp nhất các khu 2, khu 3 và khu 11 thành Liên khu thì Ninh Bình thuộc Liên khu 3

Sau ngày thống nhất đất nước năm 1976, Ninh Bình đã hợp nhất với tỉnh Hà Nam để trở thành tỉnh Hà Nam Ninh Năm 1977, các huyện Nho Quan và Gia Viễn được hợp nhất thành huyện Hoàng Long, huyện Yên Mô và 10 xã huyện Yên Khánh hợp nhất thành huyện Tam Điệp, huyện Kim Sơn và 9 xã huyện Yên Khánh hợp nhất thành huyện Kim Sơn, và huyện Gia Khánh cùng thị xã Ninh Bình hợp nhất thành huyện Hoa Lư Hiện nay, Ninh Bình có diện tích 1387,5 km2 và dân số khoảng 930.000 người, bao gồm 8 đơn vị hành chính: thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư, huyện Yên Mô, huyện Yên Khánh và huyện Kim Sơn.

Tỉnh Ninh Bình có trên 90 vạn dân sinh sống ở 8 huyện, thành phố, thị xã với

Điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Ninh Bình

Do phạm vi giới hạn của đề tài nên tác giả chỉ tập trung điều tra đánh giá một số tài nguyên nhân văn tiêu biểu của tỉnh

2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa

Ninh Bình là một tỉnh có nhiều di tích văn hóa gắn với các triều đại Đinh,

Ninh Bình là nơi sở hữu hơn 800 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó có 78 di tích được công nhận và cấp bằng di tích quốc gia Những điểm đến tiêu biểu bao gồm Cố Đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, quần thể nhà thờ đá Phát Diệm, cùng với đền vua Đinh và vua Lê nằm trong quần thể Cố Đô Hoa Lư.

Bảng1: Mật độ các di tích trên địa bàn tỉnh

Huyện, thị xã, thành phố Những di tích và danh thắng cấp quốc gia

Những di tích xếp hạng cấp tỉnh

( Nguồn Sở văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình)

Khu di tích Cố đô Hoa Lư tọa lạc tại ranh giới giữa hai huyện Hoa Lư, Gia Viễn và thành phố Ninh Bình, thuộc tỉnh Ninh Bình Với diện tích tự nhiên lên đến 13.87 km², khu di tích lịch sử này nổi bật với cảnh quan thiên nhiên và giá trị văn hóa đặc sắc.

Khoảng cách từ khu di tích Cố đô Hoa Lư đến thủ đô Hà Nội, trung tâm cung cấp khách lớn nhất miền Bắc, là 90 – 100km qua Quốc lộ 1A Du khách có thể dễ dàng đến khu di tích bằng nhiều phương tiện phổ biến như xe khách, taxi hoặc xe máy.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh trở thành hoàng đế đầu tiên của nước Đại Cồ Việt, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng và chọn Hoa Lư làm kinh đô Kinh đô Hoa Lư tồn tại trong 41 năm, từ năm 986 đến năm 1009, bao gồm 12 năm triều đại nhà Đinh và 29 năm triều đại nhà Tiền Lê, với Lê Hoàn là hoàng đế đầu tiên của nhà Tiền Lê, mang hiệu Lê Đại Hành Trước khi chuyển đô về Thăng Long, Lý Công Uẩn đã lên ngôi tại Hoa Lư và lấy hiệu là Lý Thái Tổ.

- Quy mô, các giá trị kiến trúc: Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lƣ có diện tích 13,87 km² gồm:

Vùng bảo vệ đặc biệt có diện tích 3 km² bao gồm toàn bộ khu vực bên trong thành Hoa Lư, nơi có nhiều di tích lịch sử quan trọng như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, lăng vua Đinh, lăng vua Lê, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, bia Câu Dền, chùa Kim Ngân, và hang Bim.

Cổ Am, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, sông Sào Khê, một phần khu sinh thái Tràng An và các đoạn tường thành, nền cung điện nằm dưới lòng đất

Vùng đệm có diện tích 10,87 km² bao gồm cảnh quan hai bên sông Sào Khê và quần thể Tràng An, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử quan trọng như động Am Tiên, hang Quàn, hang Muối, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, hang Luồn, hang Sinh Dược, hang Địa Linh, hang Nấu Rượu, hang Ba Giọt, động Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, và hang Bói.

Các di tích quan trọng liên quan đến triều đại nhà Đinh bao gồm chùa Bái Đính, cổng Đông, cổng Nam, động Thiên Tôn, động Hoa Lư và đền thờ Đinh Bộ Lĩnh Những di tích này, mặc dù không nằm trong hai vùng chính, vẫn đóng vai trò thiết yếu đối với quê hương và sự nghiệp của triều đại.

Đền Vua Đinh Tiên Hoàng và đền Vua Lê Đại Hành, được xây dựng từ thời nhà Lý và phục hồi trong thời Hậu Lê, là hai di tích quan trọng của khu di tích, mang đậm kiến trúc cổ xưa Đền Đinh Tiên Hoàng, nằm trước núi Mã Yên với hình dáng giống cái yên ngựa, là nơi có lăng mộ vua Đinh và nổi bật với nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam thế kỷ 17 Công trình này còn lưu giữ nhiều cổ vật quý hiếm như gạch xây cung điện khắc chữ Đại Việt quốc quân, cột kinh Phật khắc chữ Phạn và các bài bia ký Đền thờ không chỉ vua Đinh Tiên Hoàng mà còn cả ba hoàng tử: Đinh Liễn, Đinh Đế Toàn và Đinh Hạng Lang.

Đền Vua Lê Đại Hành, cách đền Vua Đinh Tiên Hoàng 300 mét, có quy mô nhỏ hơn, tạo nên không gian gần gũi và huyền ảo Điểm độc đáo của đền là nghệ thuật chạm gỗ thế kỷ 17 với độ tinh xảo và điêu luyện Theo truyền thuyết, mẹ của vua Lê Đại Hành đã mơ thấy hoa sen trước khi sinh ra.

Lê Hoàn, trong lúc cấy ở ao sen, đã được bà mẹ ủ trong khóm trúc và được con hổ chúa rừng xanh ấp ủ Sau khi bà cầu xin, con hổ đã rời đi Truyền thuyết này đã ảnh hưởng đến nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam, nơi các nghệ nhân thể hiện các đề tài ca ngợi Lê Hoàn Đền thờ Lê Hoàn, Dương Vân Nga và Lê Long Đĩnh cũng là những điểm nhấn trong văn hóa và lịch sử địa phương.

Lễ hội Cố đô Hoa Lư, diễn ra vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, là một sự kiện văn hóa tiêu biểu không chỉ của khu di tích Hoa Lư mà còn của tỉnh Ninh Bình, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên nhân văn phi vật thể.

- Giá trị xếp hạng: khu di tích Cố đô Hoa Lƣ đƣợc xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia

Khu di tích Cố đô Hoa Lư, với vị trí địa lý thuận lợi và cảnh quan hấp dẫn, là một điểm đến thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Nơi đây không chỉ nổi bật với vẻ đẹp tự nhiên mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa của một kinh đô cổ, tạo cơ hội cho du khách khám phá và chiêm ngưỡng di sản văn hóa phong phú.

Chùa Bái Đính, có nghĩa là "hướng về núi Đính", tọa lạc tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư Quần thể chùa Bái Đính rộng 539 ha, bao gồm 27 ha khu chùa Bái Đính cổ và 80 ha khu chùa Bái Đính mới, cùng với các khu vực văn hóa, học viện Phật giáo, khu đón tiếp, công viên cảnh quan, đường giao thông, bãi đỗ xe, hồ Đàm Thị và hồ phóng sinh Nơi đây nằm gần đỉnh của một vùng rừng núi yên tĩnh, tạo nên khung cảnh thanh bình và tĩnh lặng.

Khoảng cách từ chùa Bái Đính đến trung tâm Hà Nội là 110km, cách thành phố Ninh Bình 15km và cách cố đô Hoa Lư 10km.

Hơn 1000 năm trước, Ninh Bình là nơi phát triển của ba triều đại Vua: Đinh, Tiền Lê và Lý, tất cả đều coi đạo Phật là Quốc giáo Sự quan tâm của các triều đại này đối với Phật giáo đã dẫn đến việc xây dựng nhiều chùa cổ, nổi bật là chùa Bái Đính nằm trên núi Đính.

Thực trạng hoạt động du lịch

Tỉnh Ninh Bình hiện đang đối mặt với tình trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn không đồng đều và kém hiệu quả Các điểm đến nổi bật như Cố đô Hoa Lư, chùa Bích Động và đền Thái Vi thu hút đông đảo du khách và đã được quy hoạch tốt, giúp giao thông đi lại thuận lợi Tuy nhiên, những địa điểm du lịch tâm linh lớn như Chùa Dâu, đền Quán Cháo và núi chùa Non Nước, mặc dù nằm gần quốc lộ 1A và thu hút khách hành hương từ khắp nơi, vẫn chưa được chú trọng khai thác để phục vụ du lịch.

Mạng lưới giao thông tại Ninh Bình đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, với hệ thống đường bộ rộng khắp và thuận tiện cho việc di chuyển Tỉnh hiện có 2.278,2 km đường bộ và 496 km đường sông, kết nối thành phố với các huyện và xã Đặc biệt, tất cả các xã phường đều có đường ô tô đến được nhờ vào việc nâng cấp và rải nhựa các tuyến đường từ tỉnh xuống huyện.

Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch được chú trọng với nhiều hạng mục như khu du lịch sinh thái Tràng An và dự án nạo vét tuyến giao thông thuỷ Bích Động - Hang Bụt - Thạch Bích - Thung Nắng được thực hiện đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cũng được đẩy mạnh, trong khi công tác vệ sinh môi trường và an ninh trật tự được đảm bảo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng Quy chế quản lý hoạt động bán hàng, xe ôm, chụp ảnh tại Khu chùa Bái Đính và phối hợp với Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, UBND xã Gia Sinh để mở lớp đào tạo và cấp thẻ cho các dịch vụ này Để tăng cường an ninh khu vực núi chùa Bái Đính, Giám đốc công an tỉnh đã thành lập cụm an ninh với 5-6 cán bộ công an chính quy, phối hợp với công an các xã, đặc biệt là công an xã Gia Sinh, để duy trì chế độ trực và bảo vệ an toàn cho khu vực.

Doanh thu thuần du lịch của tỉnh Ninh Bình đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua Cụ thể, từ 8,55 tỷ đồng năm 1995, doanh thu đã tăng lên 28 tỷ đồng vào năm 2000, với tốc độ tăng trưởng trung bình 26,78%/năm Đến năm 2005, doanh thu đạt 63,18 tỷ đồng, gấp 7,39 lần so với thời điểm bắt đầu quy hoạch, và năm 2006, toàn ngành du lịch Ninh Bình thu được 87,98 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng trung bình 23,6%/năm trong giai đoạn 2001 – 2006 Mặc dù tốc độ tăng trưởng đã chậm lại trong những năm tiếp theo, nhưng du lịch Ninh Bình vẫn duy trì được sự phát triển đáng khích lệ.

Ngành du lịch Ninh Bình, với sự tăng trưởng doanh thu ấn tượng, đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước.

Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh Ninh Bình

Dựa trên tài liệu điều tra và nghiên cứu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, cùng với kết quả khảo sát cá nhân về tài nguyên du lịch nhân văn tại tỉnh Ninh Bình, tôi đã tổng hợp và đưa ra những đánh giá chung nhất về tài nguyên du lịch của tỉnh này.

Ninh Bình, với vị trí địa lý thuận lợi giữa đồng bằng và miền núi, cùng khu vực trũng tiếp giáp Biển Đông, sở hữu địa hình đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch phong phú Tỉnh này có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan nghỉ dưỡng, thể thao mạo hiểm, vui chơi giải trí, sinh thái, và văn hóa – tín ngưỡng tâm linh Những di tích nổi bật như Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, Tam Cốc – Bích Động, và khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân sẽ thu hút du khách đến khám phá và trải nghiệm.

Long…đều có sức hấp dẫn đối với du khách

Ninh Bình, với lịch sử lâu đời và truyền thống đấu tranh kiên cường, đã hình thành một văn hóa đặc sắc Các lễ hội nổi bật như lễ hội Trường Yên, lễ hội đền Thái Vi và lễ hội chùa Bái Đính, cùng với những làng nghề thủ công truyền thống như làng thêu ren Ninh Hải, làng nghề chiếu cói Kim Sơn và làng chạm khắc đá Ninh Vân, tạo nên một hệ thống tài nguyên văn hóa phong phú, hấp dẫn cho phát triển du lịch.

Ninh Bình có vị trí giao thông thuận lợi với hệ thống đường sắt và đường bộ kết nối Bắc – Nam, cùng với đường Hồ Chí Minh, tạo điều kiện phát triển du lịch Nếu liên kết với các tỉnh, thành phố lớn ở đồng bằng Sông Hồng và miền núi Tây Bắc, Trung Bộ, Ninh Bình có thể xây dựng những tuyến du lịch hấp dẫn cho cả khách nội địa và quốc tế Theo tác giả Đặng Duy Lợi, việc đánh giá hiệu quả du lịch cần dựa vào 5 yếu tố chính.

1 Độ hấp dẫn Độ hấp dẫn là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu để thu hút khách du lịch

Khu vực đánh giá có tính chất tổng hợp, được xác định bởi vẻ đẹp phong cảnh, sự đa dạng địa hình, khí hậu thích hợp, và các hiện tượng tự nhiên độc đáo Độ hấp dẫn của khu vực được phân loại thành bốn mức: Rất hấp dẫn với trên 5 phong cảnh đẹp và 6 hiện tượng di tích độc đáo, Khá hấp dẫn với 3-5 phong cảnh và 2 hiện tượng di tích, Trung bình với 1-2 phong cảnh và 1 hiện tượng di tích, và Kém với phong cảnh đơn điệu chỉ đáp ứng 1 loại hình du lịch.

Để xác định độ hấp dẫn du lịch tại các huyện, thị xã trong tỉnh Ninh Bình, cần dựa vào những di tích đặc sắc và cảnh quan nhân văn tiêu biểu có chất lượng cao Đồng thời, việc kết hợp với khả năng đa dạng các loại hình du lịch cũng là yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

Bảng 6: Độ hấp dẫn khách du lịch

Huyện, thị xã, thành phố

Những di tích và danh thắng cấp quốc gia

Những di tích xếp hạng cấp tỉnh

Số loại hình du lịch

Kim sơn 4 17 21 3 9 Điểm tổng hợp

Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, 8 huyện và thị xã trong tỉnh Ninh Bình được đánh giá có mức độ hấp dẫn khá cao, với điểm trung bình đạt 9 điểm.

Dựa vào bảng thống kê, Hoa Lư nổi bật như một điểm đến hấp dẫn cho du khách với nhiều tài nguyên văn hóa phong phú và đa dạng loại hình du lịch Trong đó, 6 địa điểm thu hút khách du lịch đáng chú ý bao gồm Kim Sơn, TP Ninh Bình, Yên Khánh và Yên Mô.

Mô, Nho Quan, Gia Viễn và có 2 điểm có sức háp dẫn khách du lịch trung bình là TX Tam Điệp và huyện Yên Khánh

2 Thời gian hoạt động du lịch

Thời gian hoạt động du lịch phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thuận lợi nhất cho sức khỏe của du khách và thời gian thích hợp để tổ chức các hoạt động du lịch hiệu quả.

Thời gian hoạt động du lịch ảnh hưởng đến tính chất thường xuyên hoặc mùa vụ của du lịch, từ đó tác động trực tiếp đến chiến lược khai thác, đầu tư và kinh doanh tại các điểm đến du lịch.

Thời gian hoạt động du lịch của khu vực được đánh giá theo 4 bậc: Rất dài (trên 200 ngày có thể triển khai tốt và trên 180 ngày có khí hậu phù hợp), Khá dài (150 – 200 ngày triển khai tốt và 120 – 180 ngày khí hậu thích hợp), Trung bình (100 – 150 ngày triển khai tốt và 90 – 120 ngày khí hậu phù hợp), và Ngắn (dưới 100 ngày triển khai tốt và 90 ngày có khí hậu thích hợp).

Số ngày lý tưởng cho hoạt động du lịch và điều kiện khí hậu thuận lợi cho sức khỏe con người tại tỉnh Ninh Bình được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 7: Thời gian hoạt động du lịch

Huyện, thị xã, thành phố

Số ngày có thể triển khai du lịch

Số ngày có điều kiện thích hợp nhất

Kim sơn 200 - 210 150 - 210 12 Điểm tổng hợp

Theo đánh giá từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, thời gian hoạt động của 8 huyện và thị xã trong tỉnh cho thấy mức độ thuận lợi chung đạt 9,3 điểm, phản ánh tình hình phát triển khả quan của toàn tỉnh.

Huyện Hoa Lư và Kim Sơn là hai địa phương có thời gian hoạt động du lịch dài nhất, trong khi Tp Ninh Bình, Gia Viễn, Nho Quan, Yên Mô và Yên Khánh có thời gian hoạt động du lịch khá dài Ngược lại, thị xã Tam Điệp lại có số ngày hoạt động du lịch ngắn nhất trong tỉnh.

3 Sức chứa của khách du lịch

Sức chứa của khách du lịch tại mỗi khu vực được xác định là tổng sức chứa của các điểm du lịch, phản ánh khả năng và quy mô triển khai hoạt động du lịch Các chỉ tiêu này được thiết lập qua khảo sát, thiết kế và kinh nghiệm thực tế Cụ thể, sức chứa được phân loại như sau: rất lớn (trên 1000 người/ngày), khá lớn (500 – 1000 người/ngày), trung bình (100 – 500 người/ngày) và nhỏ (dưới 100 người/ngày).

Sức chứa khách du lịch tại các huyện và thị trên địa bàn tỉnh Nình Bình thể hiện trong bảng sau:

Bảng 8: Sức chứa khách du lịch

STT Huyện, thị xã, thành phố

Khả năng sức chứa tại điểm du lịch (người/ngày)

8 Kim sơn 600 - 1000 6 Điểm tổng hợp

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

Ngày đăng: 05/08/2021, 21:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo quy hoạch tổng thể du lịch Ninh Bình 2007 – 2015, Sở văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình Khác
2. Danh sách các lễ hội, Sở văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình Khác
3. Nguyễn văn Trò, Cố đô Hoa Lƣ, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc năm 2010 Khác
9. Trần Đức Thanh, Nhập môn khoa học du lịch, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003 Khác
10. Weside Google.com.vnwww.ninhbinh.gov.vn www.amthucvietnam.com Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w