GiẢi pháp nâng cao chẤt lưỢng cho vay đỐi vỚi DNV&N tẠi NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung
Trang 1MỤC LỤC
1/ CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DNV&N CỦA NHTM 5
1.1/ TỔNG QUAN VỀ DNV&N 5
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 5
1.1.2 Những đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 6
1.1.3 Đặc điểm về thị trường: 7
1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 14
1.2/ CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DNV&N 18
1.2.1 Các phương thức cho vay của NHTM đối với DNV&N 18
1.2.2 Vai trò của vốn vay ngân hàng đối với DNV&N 19
1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay đối với DNV&N 23
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đối với DNV&N 24
2/ CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY DNV&N TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG 28
2.1/ KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHĐT&PT CHI NHÁNH QT 28
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHĐT&PT chi nhánh QT 28
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung 29
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT chi nhánh QT 35
2.2/ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA&NHỎ TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QT 42
2.2.1 Quy trình cho vay và các hình thức cho vay của NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 42
2.2.2 Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung 43
2.2.3 Đánh giá thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa nhỏ 46
3/ CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNV&N TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG 51
3.1/ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHĐT&PT CHI NHÁNH QT TRONG THỜI GIAN TỚI 51
3.2/ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯƠNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNV&N TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH.QUANG TRUNG 56
3.2.1 Chi nhánh cần xây dựng chiến lược cho vay riêng đối với các DNV&N 56
3.2.2 Xây dựng qui trình cho vay riêng đối với DNV&N 56
3.2.3 Hình thành bộ phận chuyên cho vay DNV&N 58
Trang 23.2.4 Đẩy mạnh chiến lược Maketing, các chương trình quảng cáo đem lại những thông tin cần thiết cho các DNV&N nhằm mở rộng thị phần hoạt động của Chi
nhánh 58
3.2.5 Bồi dưỡng, nâng cao trình độ phân tích, tổng hợp thông tin, thẩm định của các cán bộ tín dụng của Chi nhánh 60
3.2.6 Chi nhánh thực hiện đa dạng hóa các hình thức cho vay đối với các DNV&N 61
3.2.7 Ngoài việc đào tạo về nghiệp vụ, Chi nhánh cần tiến hành đào tạo nâng cao nhận thức của cán bộ về DNV&N 62
3.3/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62
3.3.1 Kiến nghị đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ 62
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 64
3.3.3 Kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước 65
Trang 3Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển toàn cầu, vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) đã được khẳng định rất rõ ràng rộng rãi khắp nơi ở hầu hết các nước trên thế giới bởi những ưu điểm và đóng góp của nó vào sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng.
Trên thực tế cho thấy các DNV&N hiện nay gặp rất nhiều khó khăn lớn, trước mặt
là vấn đề về vốn để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm Ở Việt Nam, việc giải quyết khó khăn về vốn cho các DNV&N đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng và Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng phải quan tâm giải quyết.
Do đó việc nghiên cứu thực trạng tín dụng ngân hàng nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng cho vay đối với DNV&N là một vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung được thành lập với nhiệm vụ được giao là huy động nguồn vốn và chiềm lĩnh thị phần trên địa bàn hoạt động Để thực hiện tốt chiến lược này, ngoài việc giữ vững khách hàng lớn truyền thống thì ngân hàng còn phải mở rộng thị trường đối với khách hàng là DNV&N
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc Dân và thực tập tại chi nhánh, do nhận thức được tính câp thiết và thực tiễn của vấn đề nên em đã
chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung”.
Trang 4Ngoài phần mở bài và kết luận, bài viết gồm 3 phần:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Chương II: Thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - ThS Nguyễn Thị Thuỳ Dương, các thầy
cô giáo, cán bộ khoa Ngân hàng _ Tài chính trường Đại học Kinh Tế Quốc Dâncũng như Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ Phòng Tín dụng II NHĐT&PT chi nhánhQuang Trung đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiếnthiết thực giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này!
Sinh viên
Vũ Thị Thuỳ Linh
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
1/ Chương 1: Lý luận chung về hoạt động cho vay đối với DN vừa và nhỏ của NHTM.
1.1/ Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trước tiên để hiểu về doanh nghiệp vừa và nhỏ chúng ta cần tìm hiểu khái niệmdoanh nghiệp như thế nào Xuất phát từ các mục đích nhu cầu khác nhau, người ta
có quan niệm khác nhau về doanh nghiệp Theo điều 3 - Luật doanh nghiệp năm
2000 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh”
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp, khi đề cập đến cácDNV&N là đề cập đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay qui môcủa doanh nghiệp Mỗi quốc gia khác nhau có đặc điểm kinh tế khác nhau vànhững đặc trưng riêng biệt nên khái niệm về DNV&N không thể đồng nhất Dovậy họ sử dụng các tiêu chí khác nhau để phân loại thế nào một doanh nghiệp làdoanh nghiệp vừa và nhỏ Mặt khác, ngay trong một quốc gia, tại các thời điểm,môi trường kinh tế khác nhau mà khái niệm về DNV&N cũng có sự khác nhau.Chính vì vậy, khái niệm DNV&N chỉ mang tính chất tương đối, nó thay đổi theotừng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định Một số quốc gia việc phân loạinày chỉ dựa trên số lượng nhân viên (ít hơn hay bằng 250 nhân viên) Một số nướckhác sử dụng chỉ tiêu mức Doanh thu hàng năm, và một số nước khác sử dụng cáctiêu chí khác nhau đối với các ngành khác nhau
Ví dụ một số khái niệm DNV&N ở một số nước trên thế giới như tại Malaysiadoanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 75 công nhân viên, không kểnhững người làm bán thời gian hoặc có vốn cổ phần không quá 1 triệu USD TạiNhật Bản:
Các doanh nghiệp vừa
Trang 6Khu vực Quy mô lao động/Vốn
Sản xuất, khai thác và chế biến <300 người/100 triệu Yên
Các doanh nghiệp nhỏ
Ở Việt Nam theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ vềtrợ giúp phát triển DNV&N đưa ra tiêu chí phân loại DNV&N như sau “Doanhnghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanhtheo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao độngtrung bình hàng năm không quá 300 người” Từ khái niệm này cho thấy, tuyệt đại
đa số doanh nghiệp của chúng ta nằm trong “bảng” Để hiểu rõ hơn về DNV&Ncần biết những đặc điểm nổi bật của nó trong phần tiếp sau đây
1.1.2 Những đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đặc điểm về cơ cấu tổ chức.
Các DNV&N có những đặc thù riêng về cơ cấu tổ chức đó là qui mô doanh nghiệpnhỏ, cơ cấu tổ chức giản đơn, phân tán, khả năng tổ chức liên kết với nhau và vớicác doanh nghiệp lớn kém Quan hệ giữa những người lao động trong doanhnghiệp cũng chặt chẽ theo địa phương, họ hàng gia đình…
Thông thường ở các DNV&N số lượng nhân viên ít, các nhân viên đôi khi đảmnhận nhiều công việc cùng một lúc Phần lớn các nhà kinh doanh trong DNV&Nđảm nhận luôn vị trí của nhà quản trị
Đại đa số các loại hình DNV&N mang tính chất sở hữu tư nhân dưới hình thứccông ty TNHH, Doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân,doanh nghiệp vốn nước ngoài…
Trang 71.1.3 Đặc điểm về thị trường:
Có được chỗ đứng trong thị trường hay thị phần kinh doanh là điều kiện tối quantrọng để bất cứ một doanh nghiệp nào tồn tại và phát triển Chiếm thị phần nhỏnhưng các DNV&N vẫn giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong cơ chế thịtrường
Những đặc thù về cơ cấu tổ chức đã tạo cho những DNV&N có tính nhạy cảm caođối với hoạt động sản xuất kinh doanh, linh hoạt ứng phó nhanh với nhu cầu thịtrường nhất là những nhu cầu nhỏ lẻ có tính khu vực, địa phương DNV&N có khảnăng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm laođộng dễ dàng và thậm chí chuyển địa điểm cũng dễ dàng hơn các doanh nghiệplớn Hơn nữa các DNV&N có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm có thể xảy ranên chủ doanh nghiệp có thể mạnh dạn đầu tư vào các ngành mới, sản phẩm mới
và tìm cách chiếm lĩnh thị trường
Các DNV&N trợ giúp các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụhàng hóa, phân phối sản phẩm đáp ứng nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng và 1 phầncho xuất khẩu
Đặc điểm về nhu cầu tài chính của DNV&N:
Đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và với DNV&N nói riêng vốn là điềukiện tiên quyết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như để phát triển.Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn tự có, vốn đi vay của bạn bè, ngườithân và các nguồn vốn vay ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác Nguồn vốnđáp ứng cho DNV&N gồm vốn tự có, nguồn vốn phi chính thức và nguồn chínhthức Cũng hợp lý khi cho rằng nguồn tài trợ chính cho khu vực này là các ngânhàng thương mại Không may, vì các lý do sau đây điều này thường không đúng
Về vấn đề tiếp cận các nguồn vốn, vấn đề “đầu tiên” có ý nghĩa quyết định, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn không nhỏ, nhất là các khoản vaytrung hạn, dài hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Đặc biệt, cáckhoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi dành cho các DNV&N ; việc đầu tư vào khuvực DNV&N, do nhận thức chưa thông thoáng, cho nên bị hạn chế rất nhiều
Trang 8Thông thường sự phát triển của khu vực này được thúc đẩy bởi hạn mức tín dụng
do các tổ chức nước ngoài cấp
Một số trường hợp, DNV&N được hỗ trợ bởi các chương trình đặc biệt của chínhphủ ví dụ như bảo lãnh tín dụng Nhu cầu tài chính của DNV&N thường thuộc 2loại sau:
o Chi phí vốn – Nhà xưởng và thiết bị;
o Vốn lưu động
Nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn bao gồm cảngắn hạn và dài hạn Nhu cầu vốn ngắn hạn xuất hiện mang tính thời vụ của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp chuyên sản xuất haycung ứng một sản phẩm nhất định trong thời gian thường là cố định trong năm.Cáckhoản vay ngắn hạn chủ yếu dựa trên những hợp đồng tiêu thụ sẵn, hoặc các hợpđồng cung cấp đã ký Quy mô khoản vay thường không lớn nhưng các DNV&Nthường vay nhiều lần với thời gian ngắn Vốn dài hạn dùng để tài trợ tài sản cốđịnh và mở rộng sản xuất Hầu hết các doanh nghiệp đều muốn mở rộng quy môhoạt động để trở thành các doanh nghiệp lớn hơn.Trong những năm gần đây tổng
dư nợ đối với các DNV&N đã tăng lên nhưng vẫn còn ở mức khiêm tốn
Ưu điểm nổi bật:
Các DNV&N có khả năng đổi mới công nghệ và khả năng chuyển hướng sản xuấtnhanh hơn các doanh nghiệp lớn Họ có thể đầu tư ít vốn nhưng vẫn có khả năngtrang bị công nghệ mới và tương đối hiện đại do vậy thường đạt năng suất và chấtlượng cao.Các DNV&N không cần diện tích đất quá lớn để sản xuất tập trung và
có khả năng sản xuất phân tán Do vậy đầu tư ban đầu cho cơ sở vật chất của cácdoanh nghiệp này cũng không quá tốn kém, tận dụng được nguồn lực phân tán, tạotính linh hoạt cao trong tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, các quyếtđịnh quản lý được thực hiện nhanh, từ đó góp phần vào tiết kiệm chi phí quản lýdoanh nghiệp
Trang 9Khi gặp những biến động trở ngại trong sản xuất kinh doanh, DNV&N có khảnăng chuyển hướng sản xuất nhanh mà các doanh nghiệp lớn không làm được Mặtkhác hiệu quả kinh tế cao, vốn thu hồi nhanh, tạo ra sự hấp dẫn trong đầu tư sảnxuất kinh doanh của nhiều cá nhân ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vựcnày.
DNV&N tạo điều kiện tự do duy trì cạnh tranh, hoạt động với số lượng đông đảo,thường không có tình trạng độc quyền, dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnhtranh Các DNV&N có tính tự chủ cao, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước
và vì mưu lợi các doanh nghiệp sẵn sàng khai thác cơ hội để phát triển mà khôngngại rủi ro Các DNV&N buộc phải duy trì phát triển nếu không sẽ bị phá sản.Chính điều đó làm cho nền kinh tế sôi động và thúc đẩy việc sử dụng tối đa cáctiềm năng của đất nước
Thứ ba hiện nay đa số các DNV&N hoạt động có hiệu quả mong muốn mở rộngsản xuất kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất để làm mặt bằng Việc xincấp đất, hoặc thuê đất của DNV&N bị cản trở bởi hồ sơ, thủ tục khá phức tạp Tấtnhiên có một số địa phương tạo điều kiện tương đối thuận lợi, nhưng đó chỉ là số
ít Trước sức ép của thời buổi “tấc đất tấc vàng”, có chủ doanh nghiệp đã phải thốtlên: “Nghĩ đến chuyện xin cấp đất, thuế đất tôi như nhìn thấy trên con đường có
Trang 10những tấm rào không thể vượt qua” Làm con đường, chỉ cho người ta đích nhưnglại xây rào quá dày, quá cao thì còn nói chuyện gì nữa”.
Thứ tư sức cạnh tranh còn thấp do tiềm lực tài chính nhỏ, thường bị động trong cácquan hệ thị trường, khả năng tiếp thị kém Chính vì vậy, vị thế của các doanhnghiệp này trên thị trường còn thấp
Thứ năm là khả năng hạn hẹp trong đào tạo nhân lực & cải tiến công nghệ, trình độquản lý nói chung bị hạn chế, ít được đào tạo cơ bản, ít có khả năng thuê chuyêngia cao cấp
Thứ sáu là các DNV&N thường gặp nhiều khó khăn trong việc thiết lập và mởrộng quan hệ hợp tác với nước ngoài Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệpnày còn bộc lộ nhiều yếu kém: trốn lậu thuế, một số doanh nghiệp trốn đăng kíkinh doanh hoặc đăng kí kinh doanh không đúng ngành nghề, làm hàng giả, hàngdởm, hoạt động phân tán khó quản lý
Thứ bảy là các DNV&N trong một số trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào
xu hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận củadoanh nghiệp lớn
Đặc điểm của DNV&N ở Việt Nam:
Do những lợi thế nhờ quy mô đem lại nên trong nền kinh tế doanh nghiệp lớnthường đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên, để cho nền kinh tế phát triển một cách cânđối, toàn diện và bền vững, thì cần phải có các DNV&N Các DNV&N ở ViệtNam ra đời từ rất sớm, được hình thành cùng với nghề thủ công, làng nghề truyềnthống ở nông thôn Ngoài mang những đặc điểm chung trên đây của DNV&N,DNV&N ở Việt Nam còn có một số đặc điểm riêng, và những hạn chế nội tại sau.Trước tiên, các DNV&N ở nước ta tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau: công tyTNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh, các doanh nghiệp tư nhân…Cácdoanh nghiệp này đều có trình độ khoa học công nghệ chủ yếu vẫn ở mức thấp vàchậm tiến bộ so với các nước khác trong khu vực Tình trạng máy móc thiết bị cũ,công nghệ lạc hậu đã và đang là nguyên nhân chính của tình trạng lãng phí trong
Trang 11sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong sảnxuất công nghiệp Ngay như đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt
là lĩnh vực có nhiều khả năng đổi mới công nghệ những vẫn còn gần 50% thiết bịdệt đã sử dụng trên 20 năm và hầu như đã hết khấu hao, 80% số máy dệt là máydệt thoi khổ hẹp nên chất lượng hàng dệt thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế,mới đáp ứng được khoảng 30% nguyên liệu cho may xuất khẩu Đối với ngànhmay mặc, thiết bị máy móc của ta lạc hậu từ 5 -7 năm, phần mềm điều khiển lạchậu từ 15 - 20 năm so với các nước Thái Lan, Trung Quốc Một bộ phận lớn cácDNV&N ở Việt Nam nằm ở các làng nghề, vùng truyền thống nên nó có tính độcđáo và sản phẩm dễ phù hợp với thị trường xuất khẩu như nghề mây tre nan, dệtthổ cẩm, thêu ren…
Thứ hai là tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp hầu như chưa qua đào tạo… Dovậy không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa Thậm chí còn có hiện tượngkhan hiếm lao động dẫn đến tình trạng tranh giành lao động có chất lượng tại cáctrung tâm công nghiệp Người lao động chưa được đào tạo và chuẩn bị tốt về tácphong công nghiệp nên thường phải đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu của doanhnghiệp Điều đó làm tăng đáng kể chi phí về sử dụng lao động Trong khi đó,nhiều doanh nghiệp còn có chưa quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng lao động
Thứ ba năng lực và hiệu quả quản lý doanh nghiệp nhìn chung còn thấp, không ítdoanh nghiệp chưa xây dựng nôi quy, chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc cácquyền dân chủ cổ đông, của người góp vốn… Các doanh nhân, các nhà quản lýdoanh nghiệp còn chưa được đào tạo, chỉ có khoảng hơn 30% chủ doanh nghiệp cóbằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên, nên còn thiếu hiểu biết đầy đủ để quản lý doanhnghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Một số doanh nghiệp có vị thế độcquyền chậm cải tiến quản lý, hạ giá thành, minh bạch đối với khách hàng cũng nhưtrong nội bộ doanh nghiệp Luật phá sản doanh nghiệp không phát huy được tácdụng đào thải các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, làm ảnh hưởng xấuđến môi trường kinh doanh, làm cho mức độ rủi ro trong kinh doanh cao, tổ chức
Trang 12sản xuất chưa hợp lý (ví dụ như ngành may mới chỉ huy động được khoảng 60%năng lực máy móc thiết bị hiện có).
Thứ tư năng lực thị trường của các doanh nghiệp còn yếu, không có chiến lược sảnxuất kinh doanh dài hạn cũng như chưa có kế hoạch chi tiết dài hạn về phát triểnthị trường, thiếu hiểu biết đầy đủ pháp luật về thương mại quốc tế và các nước…Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh, chưa tiến hànhnghiên cứu thị trường nên không biết rõ về khách hàng và các đối thủ cạnh tranhtrên thị trường trong nước và quốc tế Khả năng thiết kế và triển khai tạo mẫu mãsản phẩm còn yếu, sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, tính rủi ro còn nhiều
Vì vậy, khả năng xuất khẩu trực tiếp còn hạn chế và thường phải xuất khẩu giántiếp qua nước thứ 3 Do chưa nhận rõ vai trò của thương hiệu nên hầu hết cácdoanh nghiệp chưa quan tâm đến việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu Nhữngnăm gần đây, số doanh nghiệp đăng ký thương hiệu Việt Nam tuy có tăng nhưngvẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanhtrong thực tế.Trong số 100000 nhãn hiệu được bảo hộ ở nước ta thì số doanhnghiệp trong nước đăng ký chỉ chiếm có 20% Năm 2001 chỉ có 2085 nhãn hiệutrong nước được đăng ký trong khi đến năm 1999 đã có 25000 nhãn hiệu nướcngoài đăng ký ở Việt Nam Theo kết quả thăm dò, trong số các doanh nghiệp đượchỏi có đến 74% các doanh nghiệp đầu tư dưới 5% cho thương hiệu, 20% số doanhnghiệp không hề chi cho việc xây dựng thương hiệu Tình trạng đó dẫn đến nhữngthua thiệt lớn của một số doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu trên thị trường nướcngoài, chỉ đến khi các thượng hiệu có tên tuổi của ta đứng trước nguy cơ bị mấtnhãn hiệu, bị “đăng ký” mất tại một số nước trên thế giới thì các doanh nghiệp ViệtNam mới bừng tỉnh Ví dụ như các nhãn hiệu: Petro, Trung Nguyên bị lấy mất tên
ở Mỹ, Vinataba bị mất tên ở Campuchia…
Số lượng DNVVN chiếm trên 90% trong tổng số DN, song tổng số vốn cho sảnxuất, kinh doanh mới chỉ bằng 30% so với tổng vốn của các doanh nghiệp trong cảnước Điều này một mặt phản ánh khả năng thu hút vốn vào sản xuất, kinh doanhcủa các DNVVN còn thấp, mặt khác cho thấy các DNVVN chưa được quan tâm
Trang 13đầu tư vốn để mở rộng sản xuất DNVVN giải quyết nhu cầu vốn chủ yếu dựa vàothị trường tài chính phi chính thức, ít tiếp cận được các nguồn tín dụng chính thứcthông qua các tổ chức tín dụng do hạn chế về tài sản đảm bảo và thiếu các điềukiện khác
Một vấn đề khác nữa cũng hay được nhắc khi nói tới các DNV&N của chúng ta là,thường phải chịu thiệt thòi, phải gánh chịu những thông lệ và điều kiện cạnh tranhkhông bình đẳng ở thị trường trong nước; khả năng tiếp xúc thương mại, tiếp cậnvới thị trường trong nước và quốc tế rất khó khăn; điều kiện tiếp cận với thông tin
về văn bản, pháp luật, thị trường, tiến bộ công nghệ còn tản mạn và hạn chế.Trên đây là một số những hạn chế của các DNV&N nói chung và DNV&N ở ViệtNam nói riêng Xác định tầm quan trọng của DNV&N đối với phát triển kinh tế đấtnước theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, 5 năm trở lại đây, Chính phủ đã cónhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạtđộng, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này, trong nhiềunăm qua, thông qua nhiều cải cách về cơ chế, chính sách, Nhà nước ta đã khuyếnkhích và tạo điều kiện thuận lợi cho DNVVN phát triển Có thể thấy rõ, hệ thốngpháp luật, môi trường kinh doanh đang dần được cải thiện và ngày càng có chuyểnđộng tích cực Các DNV&N ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi vàbình đẳng hơn, tình trạng phân biệt, đối xử so với các DNNN giảm nhiều Đặc biệt,
ở một số yếu tố quan trọng, có tính chất sống còn với sự tồn tại và phát triển củacác DNV&N như việc tiếp cận với các nguồn vốn, công nghệ, đất đai, lao động,thông tin thị trường đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so với những nămtrước đây Đó là các Luật điều chỉnh như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệpNhà nước, Luật Hợp tác xã… và các văn bản dưới luật như Nghị định số 02/2000/NĐ- CP; Nghị định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 đã định nghĩa rõ loại hìnhDNVVN cũng như nêu rõ những giải pháp hỗ trợ cũng như nhiều biện pháp thúcđẩy phát triển DNVVN như: thành lập Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN,thành lập Uỷ ban xúc tiến DNVVN; thành lập Cục Phát triển DNVVN…Chính phủcũng đang có những chương trình hỗ trợ phát triển DNVVN với nguồn vốn từ ngân
Trang 14sách như: chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực; Chương trình hỗ trợ kỹthuật; Chương trình trợ giúp xúc tiến xuất khẩu; Chương trình hỗ trợ thông tin…Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế cũng có nhiều hỗ trợ cho phát triển DNVVN củaViệt Nam như: Uỷ ban Châu Âu, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Ngân hàngPhát triển Châu á (ADB), Công ty Tài chính Quốc tế và nhiều tổ chức phi Chínhphủ khác…Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hành lang pháp lý, môitrường kinh doanh như hiện nay chưa đáp ứng được với xu thế phát triển rất nhanh,rất đa dạng của các DNV&N Và điều đó đã trở thành thách thức lớn, thậm chí còn
là lực cản trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp giai đoạn hiện nay và nhữngnăm tới, các doanh nghiệp cần chủ đông tìm ra hướng giải quyết cho mình đồngthời phải phối hợp với sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng
1.1.4 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
Thực tế, các DNV&N không chỉ nhiều hơn về số lượng mà còn cho thấy tínhlinh hoạt và hiệu quả kinh tế xã hội tổng thể ngày một cao Các DNV&N đã đượcthừa nhận là đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì nhiều lý do:
Thứ nhất: Về số lượng các DNV&N chiếm ưu thế tuyệt đối Ở nước ta con số này
là 90% tổng số các doanh nghiệp, Nhật Bản và Đức là 99%
Thứ hai: Sự phát triển của các DNV&N góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng GNP
của mỗi nước Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã chothấy nó là phương tiện có hiệu quả để giải quyết việc làm và tăng thu nhập chongười lao động Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng lớn trong tổng sốdoanh nghiệp và đã đóng góp vào thu nhập quốc dân ngày càng cao
Trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp vào năm 2000, số doanh nghiệp (vàonăm 1999) trên toàn quốc chỉ là 27.700 doanh nghiệp tư nhân, 4.740 doanh nghiệpNhà nước và 1.076 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong số doanh nghiệpđăng ký hàng năm chỉ từ 3.000 - 5.000 doanh nghiệp trong đó chủ yếu là các doanhnghiệp tư nhân Tuy nhiên năm 2000 số doanh nghiệp đã đăng ký là 14.442 doanhnghiệp với tổng số vốn đăng ký là 13.851 tỷ đồng; con số tương ứng năm 2001 là
Trang 1519.659 doanh nghiệp và 25.504 tỷ đồng Năm 2003, tổng số DNVVN toàn quốc là120.000 trong đó Doanh nghiệp vừa nhỏ ngoài quốc doanh chiếm 96% cònDNVVN thuộc nhà nước chiếm khoảng 3,5% Sự lớn mạnh của khối doanh nghiệpnày rõ ràng đã tạo những cơ hội lớn cho việc mở rộng việc làm.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nôngthôn…ở nhiều nước trên thế giới, DNVVN đã có mức đóng góp tới 50% GDP,Việt Nam hiện nay có khoảng 120.000 DNVVN, đóng góp khoảng 27% GDP,31% sản lượng công nghiệp, tới 67% vào nguồn thu ngân sách từ thuế và tạo việclàm cho 26% tổng số lao động của cả nước
Việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ rõ ràng đã tạo được cơ hội phát huynội lực, huy động được tối đa các nguồn tiền nhàn rỗi trong công chúng vào pháttriển sản xuất kinh doanh
Thứ ba: DNV&N có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ
phận không thể thiếu được của nền kinh tế mỗi nước Nó là một bộ phận hữu cơgắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩydoanh nghiệp lớn phát triển, bổ sung các nhu cầu của nền kinh tế xã hội
Thứ tư: Các DNV&N cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kể Nó
đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú, đa dạng mà cácdoanh nghiệp lớn không thể làm được
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đa dạng về ngành nghề, tính nhạy cảm với thịtrường cao có nhiều thuận lợi trong việc sản xuất và cung cấp nhiều loại sản phẩm,dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu
Ngày nay trong thực tế tiêu dùng xã hội, có những mặt hàng mà người tiêudùng chỉ có nhu cầu ít và cá biệt song chất lượng, chủng loại mẫu mã, kiểu cáchkhông ngừng thay đổi Trong trường hợp này các doanh nghiệp lớn không thể đápứng được, trái lại các DNV&N do có qui mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnhhoạt động, dễ chuyển đổi cơ cấu kinh doanh ngay cả khi gặp khó khăn và năng
Trang 16động trong kinh doanh hơn các doanh nghiệp lớn nên có thể đáp ứng những nhucầu nói trên của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện Đặc biệt, cónhững hàng hóa người tiêu dùng có nhu cầu không thể sản xuất ở các doanh nghiệp
có qui mô lớn, kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao động thủ công,phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình
Ở Việt Nam, với những lợi thế so sánh về nguyên liệu từ nông - hải sản để sản xuấthàng hoá xuất nhập khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo rakhả năng vô cùng to lớn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất,gia công chế biến, đại lý khai thác các sản phẩm cho xuất khẩu Để cung cấp cácsản phẩm xuất khẩu này, các doanh nghiệp quy mô lớn do hạn chế về khu vực địa
lý và phương pháp tổ chức sản xuất nên chưa thích ứng để chiếm lĩnh thị trường.Các doanh nghiệp lớn muốn phát triển thị trường phải sử dụng các doanh nghiệpvừa và nhỏ làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói và thực hiện cáccông đoạn khác Không những thế, có các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu hútđược công nghệ, tổ chức sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm và tham gia xuấtkhẩu trực tiếp với thị trường nước ngoài ở nước ta hiện nay, doanh nghiệp vừa vànhỏ đóng góp khoảng 70% giá trị kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu là các hàng nôngthuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, may mặc, giầy da
Thứ năm: Các DNV&N góp phần thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm, giảm tỷ
lệ thất nghiệp Theo số liệu thống kê, Singapo mỗi năm thu hút khoảng 35,2% laođộng ở Malaixia là 48,8%, ở Hàn quốc là 37,2%, ở Nhật Bản là 55,2% và ở HồngKông là 59,3% Hàng năm nước ta có khoảng hơn 1 triệu người đến tuổi lao động,ước tính các DNV&N giải quyết khoảng 26% lao động cả nước ở Việt Nam cókhoảng 7,8 triệu lao động được thu hút vào làm việc ở trong các DNV&N Đây làmột cách phát triển góp phần giải quyết sức ép thất nghiệp đang ngày càng gia tăng
do dân số đông ở nước ta
Với việc giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, DNV&N đãtạo ra nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần giảm bớt chênh
Trang 17lệch về thu nhập các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữacác vùng của Đất nước và cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khácnhau Khả năng sản xuất phân tán nên có thể khai thác, phát huy các nguồn lực tạichỗ của các địa phương, các nguồn tài chính của dân cư trong vùng, đặc biệt là sửdụng lao động tại chỗ vừa tạo việc làm vừa tạo nguồn thu nhập cho dân cư trongvùng góp phần giảm bớt khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các vùng trong
cả nước
Thứ sáu: Các DNV&N tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển có hiệu quả hơn Sự tham gia của rất nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏvào sản xuất kinh doanh làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm sản xuất tănglên rất nhanh Kết quả là làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớnbuộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới mặt hàng, giảm chi phí, tăngchất lượng để thích ứng với môi trường mới Cùng với việc phát triển các DNV&N
là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà sáng lập kinh doanh Đây là lực lượngrất cần thiết để góp phần làm thúc đẩy nền kinh tế ở Việt Nam phát triển
Thứ bảy: Các DNV&N đóng góp vào thu ngân sách Nhà nước:
Nhờ việc tăng nguồn hàng xuất khẩu cho các quốc gia, các DNV&N đã gópphần tăng thu Ngân sách Nhà nước Ngày nay, mối quan hệ giao lưu kinh tế, vănhóa giữa các quốc gia trên thế giới phát triển rộng rãi đã làm cho các sản phẩmtruyền thống trở thành một nguồn hàng xuất khẩu quan trọng Việc phát triển cácDNV&N đã tạo ra khả năng thúc đẩy khai thác tiềm năng của ngành nghề truyềnthống ở các địa phương mỗi nước như các ngành nghề thủ công mỹ nghệ… Bêncạnh đó sự tạo lập, phát triển các DNV&N một cách dễ dàng sẽ làm gia tăng sốlượng doanh nghiệp và gia tăng khả năng cung ứng sản phẩm và lao động dịch vụcho xã hội Cùng với điều đó sẽ làm tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Mặc
dù, đóng góp của mỗi DNV&N không lớn nhưng với số lượng đông đảo, DNV&Ncũng đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách Nhà nước
Trang 18Ở Việt Nam, các DNV&N hàng năm cũng đóng góp một khoản đáng kể cho Ngânsách Nhà nước thông qua các khoản thuế, phí, lệ phí, chiếm khoảng 65 – 70% tổngthu Ngân sách Nhà nước NHư vậy, các DNV&N đã đóng góp vào thu Ngân sáchNhà nước một lượng đáng kể, đóng vai trò quan trọng trong nề kinh tế.
1.2/ Cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1 Các phương thức cho vay của NHTM đối với DN vừa và nhỏ.
Cho vay từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàngđối với khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện đểđược cấp hạn mức thấu chi Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu vàtín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sảnxuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn của ngân hàng chỉ tham gia vàomột số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh
Cho vay theo hạn mức: đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏathuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tínhcho cả kì hoặc cuối kì Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức tíndụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhucầu vay vốn của khách hàng
Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép ngườivay được chi trội vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giớihạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi làhạn mức thấu chi Để được thấu chi khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạnmức thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngânhàng ) Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệmchi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả ( song trong hạn mức thấuchi ) Khi khách hàng có tiền nhập vào tài khoản tiền gửi ngân hàng thu nợgốc và lãi
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hànghóa Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và bắt đầu thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc
Trang 19quý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàngthỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cungcấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuậntrong một năm hoặc vài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thờihạn để cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa khách hàng và ngânhàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo dó ngân hàng cho phép kháchhàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng thỏa thuận Cho vay trảgóp thường được áp dụng cho những khoản vay trung và dài hạn, tài trợ chotài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán saocho phù hợp với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuếcủa dự án hoặc thu nhập hàng kì của người tiêu dùng )
Cho vay gián tiếp: phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Bêncạnh đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp Đây làhình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng cho vay quacác tổ, đội, Hội, nhóm như nhóm sản xuất, hội Nông dân, Hội Cựu chiếnbinh, Hội Phụ nữ…Các hội này thường liên kết các thành viên theo một mụcđích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗithành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xóa đói giảm nghèoluôn được các tổ chức này rất quan tâm
1.2.2 Vai trò của vốn vay ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đối với doanh nghiệp, vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào vay vốn các tổ chức tíndụng và vốn cổ phần Tuy nhiên, để phát hành cổ phiếu, trái phiếu đòi hỏi doanhnghiệp phải có qui mô lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có uy tín trên thịtrường, hơn nữa thị trường vốn của chúng ta hiện chưa hoàn chỉnh, hệ thống tổchức tài chính trung gian chưa đủ mạnh Do đó, có thể nói tín dụng là một “kênh”chủ yếu để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là DNV&N Đây là mộtlợi thế để các ngân hàng đẩy mạnh cho vay DNV&N thể hiện vai trò:
Trang 20Trung gian thu hút vốn và tài trợ vốn của ngân hàng thương mại.: Vai trò của
các ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp này hiện nay vàtương lai là hết sức quan trọng Ngân hàng thương mại có đầy đủ khả năng thựchiện tốt nhiệm vụ, vai trò của mình bởi những lý do sau đây:
Một là, các ngân hàng có khả năng huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế vàtrong mọi tầng lớp dân cư để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế cũng như chocác DNV&N Việc thực hiện việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn thíchhợp, khuyến khích người dân gửi tiền và ngân hàng làm cho nguồn vốn của kinhdoanh của ngân hàng thương mại tăng trưởng nhanh qua các năm Việc vốn ngânhàng tăng liên tục trong các năm, song khả năng hấp thụ vốn ngân hàng của cácdoanh nghiệp còn rất hạn chế, các DNV&N lại càng gặp khó khăn hơn trong việctiếp cận đồng vốn của ngân hàng do bị ràng buộc bởi những thể chế tín dụng, cũngnhư môi trường pháp lý chưa đồng bộ nên dẫn đến tình trạng ngân hàng thì ứ đọngvốn không cho vay được trong khi các doanh nghiệp thì thiếu vốn trầm trọng.Thứ hai, ngân hàng thương mại Việt Nam có một hệ thống chi nhánh rộng khắp đãtạo ra nhiều kênh cung cấp vốn tín dụng lan tỏa trực tiếp đến các DNV&N trong cảnước
Thứ ba, với mục tiêu đa dạng hóa các hình thức cho vay, sử dụng vốn linh hoạtNHTM đủ khả năng cung cấp vốn cho các DNV&N
Đứng về phía các doanh nghiệp khi nhận được đồng vốn tài trợ của ngân hàng vớinghĩa vụ phải hoàn trả lại gốc là lãi lại cho ngân hàng, thì họ phải có trách nhiệm
sử dụng đồng vốn này một cách hiệu quả để có tích lũy cũng như để có khả năngtrả nợ cho ngân hàng Chính điều này yêu cầu các doanh nghiệp phải thường xuyênđầu tư vào nâng cao công nghệ, dây truyền sản xuất, cải tiến và nâng cao chấtlượng cũng như thường xuyên phải đa dạng hóa các mẫu mã, nâng cao năng suất,giảm giá thành Bằng cách phải nỗ lực học hỏi, phải tiếp nhận tiến bộ khoa học
kỹ thuật, công nghệ Nhưng để làm được điều này thì các doanh nghiệp phải cóvốn, và ngân hàng lại là tổ chức cung cấp tín dụng tốt nhất, nó sẽ góp phần cung
Trang 21cấp một phần số vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp để có thể kinh doanh vàđứng vững trên thị trường.
Như vậy, ngân hàng với vai trò trung gian của mình sẽ thực sự là người bạn củacác doanh nghiệp, chủ thể kinh tế nói chung, đặc biệt đối với các DNV&N nóiriêng, giúp đỡ các DNV&N mở rộng qui mô, cải tiến kỹ thuật, huy động các nguồnnhân lực, vật lực vào quá trình sản xuất kinh doanh với năng suất và chất lượnghơn trước
Tín dụng ngân hàng góp phần phát huy các ngành nghề truyền thống, là công cụ tài trợ cho các ngành nghề kinh tế kém phát triển, và mũi nhọn:
Ngày nay, Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thìcần phải tổng hợp sự nỗ lực của toàn dân trong mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnhvực kinh tế Điều đó đòi hỏi tất cả các khu vực kinh tế đều phải cố gắng hết mình,phải tạo ra được sự phát triển bền vững, trong đó phải để đến sự phát triển của cácDNV&N vì như ta biết trong tổng số các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay cácdoanh nghiệp này chiếm đến trên 90% Tuy nhiên các doanh nghiệp này sản xuấtvẫn còn ở tình trạng thấp kém, chưa phát triển hết tiềm năng của nó, điều này dorất nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân và thiếu vốn Chính vì thế,tín dụng ngân hàng sẽ là một hình thức hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, kĩ thuật đưa côngnghệ tiên tiến vào sản xuất sẽ góp phần khuyến khích các doanh nghiệp nâng caochất lượng mẫu mã các sản phẩm đặc biệt những sản phẩm truyền thống của nhữnglàng nghề truyền thống: làm đồ kỹ nghệ, làm giấy, làm nón, làm đồ gỗ đáp ứngnhu cầu xuất khẩu, đem lại thu nhập, tạo đà cho sự phát triển chung của nền kinh tếđất nước
Tín dụng ngân hàng có vai trò hỗ trợ ban đầu để hình thành các DNV&N:
Ngân hàng không những hỗ trợ cho DNV&N trong quá trình hoạt động và phát triển mà còn hỗ trợ họ ngay từ khi mới hình thành và đi vào hoạt động ban đầu, nếu như không có sự hỗ trợ của ngân hàng thì các DNV&N gặp nhiều khó khăn thậm chí không thành lập được Nhận biết điều này rất rõ đối với loại hình là công
Trang 22ty cổ phần, một số cổ đông đã đi vay vốn của ngân hàng để góp vốn cổ phần hình thành nên vốn điều lệ
Hoạt động cho vay của ngân hàng thúc đẩy các DNV&N hoạt động có hiệu quả hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh:
Như chúng ta biết hoạt động cho vay phải được dựa theo nguyên tắc hoàn trả và cólãi do đó sẽ kích thích các doanh nghiệp sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn CácDNV&N khi quyết định vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh thì họ đều phảituân thủ theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi theo đúng hợp đồng đã thỏa thuận Dovậy, họ phải cân nhắc tính toán kỹ lưỡng việc bỏ những đồng vốn của mình làmsao có hiệu quả nhất: một mặt vẫn phải trả được nợ, đồng thời cũng phải tạo rađược đồng lãi để đảm bảo tiếp quá trình hoạt động và có tích lũy để mở rộng Đóchính là các doanh nghiệp đang tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Nhờ vậy ngân hàng đã góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế của cácDNV&N để đảm bảo sản xuất có hiệu quả Thúc đẩy các doanh nghiệp này pháttriển
Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định chính trị giải quyết công ăn việc làm
Tạo ra công ăn, việc làm đó là một trong những thế mạnh của các DNV&N.Các DNV&N hiện đang là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động-nhất là ở nông thôn tăng thêm mỗi năm, đồng thời còn tiếp nhận số lao động trongcác doanh nghiệp nhà nước dôi ra qua việc cổ phần hóa, giao, bán, khoán, chothuê, phá sản doanh nghiệp hiện đang được triển khai
1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay đối với DN vừa và nhỏ.
Chất lượng của khoản vay được đo lường theo các chỉ tiêu về khả năng thu hồivốn, khả năng sinh lãi cho ngân hàng Một khoản vay chất lượng và hiệu quả khikhoản tín dụng đó đem lại lợi nhuận cho cả ngân hàng và khách hàng Tức là ngânhàng có thể thu được cả nợ gốc và lãi theo đúng như hợp đồng tín dụng, còn các
Trang 23doanh nghiệp sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã định và đem lại lợi nhuậncho mình.
Xét về khả năng sinh lãi cho ngân hàng: chúng ta xem xét các chỉ tiêu sau
Doanh số cho vay: tỷ trọng doanh số cho vay DNV&N trong tổng doanh số cho
vay của ngân hàng Doanh số cho vay lớn thể hiện số lượng cũng như quy môkhoản vay đối với DNV&N là lớn
Vòng quay vốn: là một chỉ tiêu đánh giá tần suất sử dụng vốn của ngân hàng trong
một thời kỳ
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ/Dư nợ bình quân
Nếu vòng quay vốn càng lớn thì ngân hàng sẽ có một số nhân tiền lớn, do vậy lãithu được từ vốn vay cao hơn tức là đồng vốn sử dụng hiệu quả hơn và ngược lại
Sử dụng chỉ tiêu này còn có tác dụng dự báo xem lĩnh vực đầu tư này cóhiệu quả không để xác định định hướng cho kỳ tới
Xét về khả năng thu hồi vốn, và tổn thất:
Hệ số nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ)*100%
Chỉ tiêu này dùng để phản ánh tình hình nợ khó đòi, nợ quá hạn, để có những biệnpháp xử lý Nếu tỷ lệ này quá cao thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình hoạtđộng của ngân hàng
Tỷ lệ vốn có khả năng tổn thất = (Nợ quá hạn khó đòi/Tổng dư nợ)*100%
Tỷ lệ này phản ánh, đánh giá tỷ lệ vốn có nguy có bị mất
Ngoài ra còn được thể hiện qua những chỉ tiêu: khả năng thu hút khách hàng củangân hàng, mức độ an toàn tín dụng,
Doanh số cho vay cao, hệ số nợ quá hạn, tỷ lệ vốn có khả năng tổn thất thấp chứng
tỏ chất lượng cho vay đối với DNV&N cao và ngược lại
Về mặt xã hội, người ta có thể đánh giá hiệu quả của công tác cho vay thông quacác chỉ tiêu sau: (Thông qua đơn vị tiếp nhận đồng vốn của ngân hàng tác độngđến nền kinh tế)
Trang 24- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Sự gia tăng số hộ giàu, giảm số hộ nghèo
- Góp phần giải quyết công ăn việc làm
- Nâng cao mức thu nhập cho người dân
- Sự đóng góp chung vào quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế của đất nước.Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
- Giảm bớt sự chênh lệnh giữa nông thôn và thành thị
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Các nhân tố chủ quan.
* Từ phía ngân hàng
+ Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng bao gồm các quy định của ngân
hàng như giới hạn mức cho vay với khách hàng, kỳ hạn của khoản tín dụng, lãisuất cho vay và mức lệ phí, các hình thức cho vay được thực hiện, sự bảo đảm vàkhả năng thanh toán nợ, hướng giải quyết các khoản nợ có vấn đề Chính sách tíndụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay, nó giúp cho cán bộ tín dụng thựchiện cho vay đúng với yêu cầu của ngân hàng Toàn bộ hoạt động cho vay như thếnào đều do chính sách đề ra, vì vậy nên chính sách tín dụng cần được xây dựnghợp lý, đúng đắn mang tính linh hoạt cao Với mức lãi suất đa dạng phù hợp vớiphương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẻ làm tăng hiệu quả vốn vay
+ Quy trình cho vay: quy trình cho vay là quy định các bước cần thiết phải
thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ, bảo đảm an toàn vốn tín dụng được bắtdầu từ khi phân tích nhu cầu vốn cho đến khi thu nợ vay cả vốn và lãi Một quytrình cho vay không rõ ràng sẽ làm khó khăn cho án bộ tín dụng cũng như đối vớikhách hàng vay, làm mất nhiều thời gian và chi phí Vì vậy nếu một quy trình rõ
Trang 25ràng thì tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn nhanh chóng, kịpthời sẻ làm tăng hiệu quả vốn vay.
+ Chất lượng nhân sự: chất lượng nhân sự thể hiện ở trình độ nghiệp vụ, khả
năng giao tiếp, kiến thức tổng hợp, trách nhiệm với công việc và đạo đức của cán
bộ tín dụng Khách hàng đánh giá ngân hàng qua cán bộ tín dụng, cán bộ tín dụng
là hình ảnh của ngân hàng Vì vậy cán bộ tín dụng phải tạo niềm tin và sự hài lòng
là một yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng đến với ngân hàng
* Các nhân tố từ phía doanh nghiệp
Đây là nhân tố tác động quan trọng tới hiệu quả vốn vay của các ngân hàng.Chất lượng vốn vay không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn phụ thuộc vàongười sử dụng vốn vay
+ Phương án sản xuất kinh doanh của dự án vay vốn
Một dự án mà phương án sản xuất kinh doanh không khả thi, khả năng tạolợi nhuận thấp thì món vay đó không hiệu quả, rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệplàm tổn thất vốn của ngân hàng Ngược lại, một phương án kinh doanh tốt sẽ đemlại lợi nhuận cho doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng sẻ hoàn thành nghĩa vụ đốivới ngân hàng
+ Công tác kế toán của DNV&N: một trong những điều kiện đẻ ngân hàng
xét duyệt cho vay là tình hình tài chính của doanh nghiệp Các báo cáo tài chính làtài liệu để ngân hàng xem xét tình hình của doanh nghiệp và theo dõi quá trình sửdụng vốn vay Nếu các báo cáo lập không chính xác sẻ gây khó khăn cho ngânhàng khi thẩm định hồ sơ vay vốn
+ Trình độ quản lý của DNV&N: trình độ quản lý doanh nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sử dụng vốn vay Trình độ quản lý tốt sẻ cho kết quả kinhdoanh tốt Hiện nay các DNV&N ở nước ta có trình độ quản lý còn kém, công tácquản lý sơ hở cho nên làm ăn không hiệu quả, gây thất thoát vốn, mất khả năngthanh toán dẩn đến phá sản Đôi khi tổn thất của ngân hàng là do đạo dức của
Trang 26người kinh doanh Người vay vốn ngân hàng làm những việc trái với những thoảthuận trong hợp đồng cho vay gây khó khăn cho ngân hàng.
Nguyên nhân khách quan
- Môi tường pháp lý:
Trong những năm gần đây, Nhà nước có những chính sách hổ trợ và pháttriển kinh tế ngoài quốc doanh nên ngân hàng có thêm thị phần để mở rộng chovay Nhưng thực tế, chưa có nhiều chủ trương chính sách ưu đãi đối với DNV&N.Các điều kiện cho vay là hàng rào ngăn cản các DNV&N tiếp cận với nguồn vốncủa ngân hàng
Hiện nay, môi trường pháp lý cho ngành ngân hàng còn nhiều vấn đề tranhcãi như là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và sử lý tài sảnthế chấp tại ngân hàng Những nguyên nhân này đã gây khó khăn khi xử lý tài sảnthế chấp và giải toả các khoản nợ khó đòi
- Môi trường kinh doanh
Hiện nay, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng, khó dự đoán, thiếu tính ổnđịnh, gây tâm lí lo lắng cho các nhà đầu tư
Môi trường kinh tế này có tác dộng rất lớn tới các chính sách của Ngân hàngcũng như việc ra quyết định vay vốn đầu tư cảu các doanh nghiệp Nó tác động tớitác động tới hiệu quả cho vay của ngân hàng thông qua các biến số kinh tế như tỷgiá, lạm phát tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất… Các chỉ tiêu này tác động đến khảnăng cho vay, đồng thời tác động trực tiếp lên chi phí của ngân hàng
Vì thế để đánh giá một yếu tố thuộc môi trường vĩ mô tác động như thế nàotới hiệu quả cho vay của mình thì các ngân hàng phải phân loại được các kháchhàng chủ yếu mà mình phục vụ, từ đó có chiến lược phù hợp
Bên cạnh đó, những biến động về kinh tế, chính trị trong khu vực và thế giới cũnggây ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và ngân hàng vì nó ảnh hưởng
Trang 27toàn nền kinh tế khi có sự tác động đến cán cân thương mại, hối đoái, biến độngtrên thị trường
Trước những nhân tố có thể xảy ra bất cứ lúc nào, buộc các ngân hàng, cũng nhưnhững doanh nghiệp phải theo dõi thường xuyên những biến động để có những giảipháp hữu hiệu nhất góp phần nâng cao hoạt động của mình
Trang 282/ Chương 2: Thực trạng cho vay DN vừa và nhỏ tại NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung.
2.1/ Khái quát về hoạt động của NHĐT&PT chi nhánh QT
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHĐT&PT chi nhánh QT
Ngân hàng đầu tư & phát triển ( NHĐT&PT) Việt Nam (BIDV) được thànhlập vào ngày 26/04/1957, là một doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, với chức năngchủ yếu ban đầu là cấp phát theo công trình và dự án nhà nước Trải qua gần 50năm, giờ đây BIDV đã phát triển thành một trong những ngân hàng thương mại lớnnhất ở Việt Nam hoạt động kinh doanh đa năng trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng,dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, phục vụ các khách hàng thuộc mọi thànhphần kinh tế, phục vụ cho đầu tư phát triển từ các nguồn vốn của Chính Phủ, các tổchức kinh tế tài chính – tín dụng trong và ngoài nước Ngân hàng đã trải qua 3 giaiđoạn phát triển chính với các tên gọi khác nhau phù hợp với từng thời kỳ cũng nhưmục tiêu hoạt động tương ứng:
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/01/1957
Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Việt Nam từ ngày 26/04/1981
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam từ ngày 14/01/1990
Ngày 01/04/2005 Ngân hàng đầu tư và phát triển Quang Trung chính thứccông bố khai trương Chi nhánh cấp I thứ 76 thuộc khối Ngân hàng của BIDV tạidịa diểm 53 Quang Trung- Hà Nội Sự ra đời hoạt động của chi nhánh Ngân hàngQuang Trung là một bước cụ thể hoá của chiến lược phát triển đến 2010, kế hoạchkinh doanh 2005-2007 của BIDV nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu khách hàng,
cơ cấu sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tronghội nhập kinh tế quốc tế
Chi nhánh ngân hàng đầu tư & phát triển Quang Trung hoạt động theo môhình Ngân hàng bán lẻ, cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa năng trên nềncông nghiệp hiện đại để thoả mãn nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng tiệních cao cho khách hàng Nhiệm vụ của ngân hàng đầu tư & phát triển Quang Trung
Trang 29là cung ứng vốn, dịch vụ cho khu vực dân doanh, cụ thể là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Trong tương lai Ngân hàng đầu tư và phát triển Quang Trung sẽ tiến tới trởthành một trong những chi nhánh đầu tiên đưa các sản phẩm dịch vụ mới củaBIDV đến với khách hàng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHĐT&PT chi nhánh Quang Trung.
Mô hình NHĐT&PT Quang Trung bao gồm ban giám đốc và 13 phòng ban, tổkhác, với số nhân viên 153 cán bộ được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 30Phòng Tín dụng
Cá nhân
Phòng Thanh toán Quốc tế
Phòng Kiểm tra Kiểm soát nội bộ
Phòng Điện toán Phòng Hành chính
Quản trị
Phòng Kế hoạch Nguồn vốn
Phòng Tổ chức Cán bộ
Phòng Tiền tệ Kho quỹ
Trang 31a Ban giám đốc:
- Giám đốc: chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chịutrách nhiệm trước NHĐT&PT Việt Nam về hoạt động chung của ngân hàng vàquản lý hoạt động của các phòng ban
- Phó giám đốc: giúp giám đốc chỉ huy điều hành các chức năng quản trị theo sựphân công và uỷ quyền của giám đốc, đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc
về nhiệm vụ được giao.Cụ thể:
+ Phó giám đốc thứ nhất chịu trách nhiệm quản lý hoạt động tín dụng
+ Phó giám đốc thứ hai chịu trách nhiệm quản lý về hoạt động thanh toánquốc tế, hoạt động tài chính, kế toán
b Phòng tín dụng:
- Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ tín dụng theo phạm vi được phân công theo đúngpháp quy và quy trình tín dụng (tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, dự án, giới thiệu sảnphẩm, phẩm tích thông tin, nhận hồ sơ, xem xét quyết định cho vay…) đối với mỗikhách hàng
- Đầu mối tham mưu dề xuất với giám đốc chi nhánh, xây dựng văn bản hướng dẫnchính sách, phát triển khách hàng
- Chịu trách nhiệm Marketing tín dụng, bao gồm thiết lập mở rộng, phát triển hệthống khách hàng, tư vấn cho khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ và các vấn
đề có liên quan
- Quản lý hồ sơ tín dụng theo quy định phối hợp với các phòng khác theo quytrình tín dụng
c Phòng thẩm định:
- Trực tiếp thực hiện công tác thẩm định, tái thẩm định theo quy định của nhà nước
và các quy trình nghiệp vụ liên quan (quy trình thẩm định, cho vay và quản lý tíndụng, bảo lãnh…) đối với các dự án, khoản vay, bảo lãnh, đánh giá tài sản bảo đảmcông nợ (tính pháp lý, giá trị, tính khả mại…
Trang 32- Đầu mối tham mưu, đề xuất với Giám đốc chi nhánh xây dựng những văn bảnhướng dẫn công tác thẩm định.
- Chịu trách nhiệm quản lý thông tin về kinh tế kĩ thuật, thị trường phục vụ côngtác thẩm định đầu tư
- Tham gia ý kiến về chính sách tín dụng của chi nhánh
- Đầu mối tham mưu Giám đốc chi nhánh xây dựng chính sách tín dụng, các vănbản hướng dẫn công tác tín dụng
- Chịu trách nhiệm về việc thiết lập vận hành hệ thống quản lý rủi ro, an toàn pháp
- Trực tiếp thực hiện, xử lý, tác nghiệp và hạch toán kế toán giao dịch với kháchhàng
- Đề xuất, tham mưu với giám đốc chi nhánh về chính sách phát triển dịch vụ mới,cải tiến quy trình giao dịch
- Thực hiện cho vay cầm cố chứng từ có giá do phòng hoặc do Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam phát hành
f Phòng thanh toán quốc tế:
Trang 33- Thực hiện các giao dịch với khách hàng đúng quy trình tài trợ thương mại vàhạch toán kế toán các nghiệp vụ liên quan mà phòng thực hiện trên cơ sở hạn mứccho vay, bảo lãnh đã được phê duyệt, thực hiện nghiệp vụ phát hành bảo lãnh đốiứng theo đề nghị của ngân hàng nước ngoài, thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền quốc
tế nếu được giao
- Chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc phát triển và nâng cao hiệu quả hợp tác kinhdoanh đối ngoại của chi nhánh, chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, đảmbảo an toàn tiền vốn tài sản của ngân hàng, khách hàng trong các giao dịch kinhdoanh đối ngoại
- Tiếp thị, tiếp cận phát triển khách hàng, giới thiệu sản phẩm, thực hiện quản lýthông tin, tham gia ý kiến, phối hợp với các phòng
g Phòng tiền tệ - kho quỹ:
- Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quản lý kho tiền và quỹ nghiệp vụ (tiền mặt,
hồ sơ tài sản thế chấp, cầm cố, chứng từ có giá, vàng, bạc, đá quý, tài sản do kháchhàng gửi giữ hộ…)
- Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quỹ (thu chi, xuất nhập) phát triển các giaodịch ngân quỹ, phối hợp chặt chẽ với phòng Dịch vụ khách hàng thực hiện nghiệp
vụ thu chi tiền mặt tại quầy, phục vụ thuận tiện, an toàn cho khách hàng giao dịchmột cửa
- Thực hiên công tác hậu kiểm đối với toàn bộ hoạt động tài chính kế toán của chinhánh bao gồm cả chi nhánh cấp 2, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm theo quy trình
Trang 34luân chuyển và kiểm soát chứng từ, kiểm soát, lưu trữ, bảo quản, bảo mật các loạichứng từ, sổ sách
- Trực tiếp thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng theo đúng quy định
m Phòng kiểm tra nội bộ:
- Xây dựng trình giám đốc chi nhánh duyệt chương trình, kế hoạch giải pháp kiểmtra nội bộ phù hợp với chương trình kế hoạch chung của hệ thống kiểm tra nội bộcủa NHĐT&PT Việt Nam
n Tổ quản lý giải ngân:
- Căn cứ tờ trình đề xuất cấp tín dụng của các Phòng tín dụng đã được cấp có thẩmquyền phê duyệt, dự thảo các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vaytheo đúng quy định
- Thực hiện chức năng quản lý giải ngân đối với các hợp đồng tín dụng đã đượccấp có thẩm quyền ký duyệt
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT chi nhánh QT
Tình hình hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT chi nhánh QT năm 2005
Chi nhánh Quang Trung được thành lập trên cơ sở tách Phòng giao dịch QuangTrung - Sở Giao Dịch đi vào hoạt động từ 1/4/2005, trong năm 2005 Chi nhánh đãđạt một số kết quả sau: