Văn hóa không chỉ là đời sống tinh thần, bản sắc văn hóa mà còn là một lĩnhvực trọng yếu của đời sống xã hội, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sựhoàn thiện nhân cách của mỗi c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM 3
1.1 Tính thống nhất văn hóa Việt Nam 3
1.2 Tính đa dạng văn hóa Việt Nam 4
II NHỮNG GIÁ TRỊ THỂ HIỆN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM 5
2.1 Những giá trị thể hiện tính đa dạng 5
2.2 Những giá trị thể hiện tính thống nhất 7
III NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM LÀ NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT MÀ ĐA DẠNG 9
3.1 Nền văn hóa việt nam là nền văn hóa thống nhất 9
3.2 Nền văn hóa việt nam là nền văn hóa đa dạng 11
IV Ý NGHĨA CỦA ĐA DẠNG VĂN HÓA 13
V GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾP TỤC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA NỀN VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 16
5.1 Thực trạng Nền văn hóa việt nam hiện nay 16
5.2 Giải pháp đề xuất 16
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4Văn hóa không chỉ là đời sống tinh thần, bản sắc văn hóa mà còn là một lĩnhvực trọng yếu của đời sống xã hội, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sựhoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân, sự vững chắc của mỗi cộng đồng và rộnghơn là sự phát triển của mỗi quốc gia Sẽ không thể có một sự phát triển nhanh
và bền vững nếu không phát huy được nội lực của chính quốc gia đó Mà nội lựcquan trọng nhất của mỗi một quốc gia chính là con người, là những sáng tạo củacon người quốc gia đó Chính vì vậy “khơi dậy khát vọng phát triển đất nướcphồn vinh, hạnh phúc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Namtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Đó là lí do nhóm chúng em lựa chọn đề tài: “Nền văn hóa Việt Nam là nền vănhóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam”
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Là để hiểu rõ được sự đa dạng và phong phú văn hóa Việt Nam, các sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, của các vùng, các địa phương trong nước Nghiên cứu sự thống nhất văn hóa Việt Nam trải qua các thời kìlịch sử, hàng năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Qua tài nghiên c u này nhóm em có cái nhìn c th và nh ng hi u bi t sâuđề ứ ụ ể ữ ể ế
s c h n v n n v n hóa t n c ta c ng nh tính th ng nh t mà a d ng c aắ ơ ề ề ă đấ ướ ũ ư ố ấ đ ạ ủ
v n hóa trong c ng ng các dân t c Vi t Nam T ó giúp chúng ta hi u bi tă ộ đồ ộ ệ ừ đ ể ế
h n v s a d ng trong v n hóa c n c t ó kh i d y và phát huy lòng yêuơ ề ự đ ạ ă ả ướ ừ đ ơ ậ
n c, có nh ng nh n th c, hi u bi t úng n v trách nhi m c a mình trongướ ữ ậ ứ ể ế đ đắ ề ệ ủcông cu c phát tri n và i m i t n c hi n nay.ộ ể đổ ớ đấ ướ ệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nền văn hóa lâu đời, bài tiểu luận đi sâu nghiên cứu sự thống nhất
mà đa dạng của văn hóa trong cộng đồng các dân tộc Mỗi dân tộc có một truyềnthống và bản sắc riêng nhưng hòa quyện lại tạo nên nền văn hóa thống nhất
Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận đi sâu nghiên cứu nền văn hóa Việt Nam, từ đó làm rõ vấn đề nềnvăn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc
Trang 6NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Tính thống nhất văn hóa Việt Nam
Thống nhất là sự đồng tình, hợp tác, cùng chung ý kiến, cùng chung mục tiêu, nhất trí với nhau và không mâu thuẫn nhau để cùng nhau hợp hành một thể Ví
dụ như sự thống nhất nhân đân các vùng miền các đồng bào dân tộc đứng lên chống giặc ngoại xâm
Việt Nam có một cộng đồng văn hoá khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này Đó là cộng đồng văn hoá Đông Sơn Cộng đồng văn hoá ấy phát triển cao so với các nền văn hoá khác đương thời trong khu vực, có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á, vì có chung chủng gốc Nam Á (Mongoloid phương Nam)
và nền văn minh lúa nước.Những con đường phát triển khác nhau của văn hoá bản địa tại các khu vực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả v.v )
đã hội tụ với nhau, hợp thành văn hoá Đông Sơn
Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ
về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế
kỷ 21 Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại tạo ra sự thống nhất về tinh thần yêu nước,
sự đoàn kết các dân tộc anh em và sự thống nhất về văn hóa
Trang 71.2 Tính đa dạng văn hóa Việt Nam
Đa dạng văn hóa thường dùng để chỉ sự cùng tồn tại của nhiều nền văn hóa, dạng thức văn hóa và nhiều cách biểu đạt văn hóa khác nhau ở một vùng nói riêng hoặc Việt Nam nói chung
Đa d ng v n hóa là c tr ng c a xã h i loài ng i, b i th nó là i u ki n ạ ă đặ ư ủ ộ ườ ở ế đ ề ệ
c n thi t cho phát tri n, th m chí cho s sinh t n c a con ng i a d ng v n ầ ế ể ậ ự ồ ủ ườ Đ ạ ăhóa là kh i ngu n c a b n s c, c a i m i và sáng t o, giúp liên k t m i ng i ở ồ ủ ả ắ ủ đổ ớ ạ ế ọ ườtrên th gi i Nó là ng l c thúc y phát tri n, không ch t ng tr ng kinh t , ế ớ độ ự đẩ ể ỉ ă ưở ế
mà còn làm phong phú h n cu c s ng trí tu , tình c m, o c và tinh th n.ơ ộ ố ệ ả đạ đứ ầ
Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, vùng đồng bằng, vùng cao Xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hoá chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hoá bản địa vững chắc nên
đã không bị ảnh hưởng văn hoá ngoại lai đồng hoá, trái lại còn biết sử dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó làm đa dạng cho nền văn hoá dân tộc
Giai đoạn văn hoá Việt Nam hiện đại được hình thành kể từ những năm
20 - 30 của thế kỷ 20, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
Mác - Lênin Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền văn minh thế giới hiện đại, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hoá Việt Nam hứa hẹnmột đỉnh cao lịch sử mới
Trang 8II NHỮNG GIÁ TRỊ THỂ HIỆN TÍNH THỐNG NHẤT
VÀ ĐA DẠNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM
Bề dày lịch sử lâu dài hàng ngàn năm gắn với sự trải dài lãnh thổ từ Bắcchí Nam, đưa đến sự hình thành những giá trị văn hoá, hợp thành một hệ
thống mà chúng ta gọi là nền văn hoá Việt Nam Đi sâu nghiên cứu nền văn
hoá ấy, chúng ta thấy nổi lên tính cộng đồng bao gồm ba trục: gia đình - làng
- nước và xu thế nhân văn hướng về con người, về cộng đồng dân tộc, tìmthấy ở con người những tiềm lực của những đức tính tốt đẹp Hai điểm ấygắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên hạt nhân của nền văn hoá Việt Nam, từ đótạo nên nhiều giá trị văn hoá khác
Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc,thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặctrưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học
2.1 Những giá trị thể hiện tính đa dạng
Về triết học và tư tưởng: Tư tưởng, triết học Việt Nam chịu nhiều ảnh
hưởng tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
Về phong tục, tập quán: Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất
là vào mùa xuân, nông nhàn Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọngnhất là các lễ hội nông nghiệp như cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ; các
lễ hội nghề nghiệp như đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe Ngoài ra, còn cócác lễ hội kỷ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo
và văn hóa, hội chùa Lễ hội có hai phần, phần lễ mang ý nghĩa khấn cầu
Trang 9và tạ ơn; phần hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng gồm nhiều trò chơi,cuộc thi dân gian.
Về tín ngưỡng và tôn giáo: nước ta có sự du nhập vào nhiều tôn giáo Từ
thế kỷ XV, do nhu cầu xây dựng đất nước thống nhất, chính quyền tậptrung, xã hội trật tự, Nho giáo thay chân Phật giáo trở thành Quốc giáodưới triều Lê Nho giáo đã bám chắc vào cơ chế chính trị - xã hội, vào chế
độ học hành khoa cử, vào tầng lớp nho sĩ, dần chiếm lĩnh đời sống tinhthần xã hội Nhưng Nho giáo cũng chỉ được tiếp thụ ở Việt Nam từng yếu
tố riêng lẻ, nhất là về chính trị - đạo đức, chứ không lấy cả hệ thống Kitôgiáo đến Việt Nam vào lúc chế độ phong kiến khủng hoảng, Phật giáo suyđồi, Nho giáo bế tắc, để trở thành chỗ an ủi tinh thần cho một bộ phận dânchúng nhưng trong một thời gian dài không hoà đồng được với văn hóaViệt Nam
Về ngôn ngữ: Trải qua nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dưới
các triều đại phong kiến, ngôn ngữ chính thống là ngôn ngữ Hán, nhưngcũng là thời gian tiếng Việt tỏ rõ sức sống đấu tranh tự bảo tồn và phát
triển Chữ Hán được đọc theo cách của người Việt, gọi là cách đọc Hán
-Việt và được -Việt hóa bằng nhiều cách tạo ra nhiều từ -Việt thông dụng.
Tiếng Việt phát triển phong phú đi đến ra đời hệ thống chữ viết ghi lại
tiếng Việt trên cơ sở văn tự Hán vào thế kỷ X, gọi là chữ Nôm Đến thời
kỳ thuộc Pháp và chống Pháp thuộc, chữ Hán dần bị loại bỏ, thay thếbằng tiếng Pháp dùng trong ngôn ngữ hành chính, giáo dục, ngoạigiao Thê kỷ XVIII, chữ Quốc ngữ ra đời và dần được hoàn thiện, phổcập, trở thành công cụ văn hóa quan trọng Đến cuối thế kỷ XIX đã cósách báo xuất bản bằng chữ Quốc ngữ Với sự ra đời chữ Quốc ngữ, có lợithế đơn giản về hình thể kết cấu, cách viết, cách đọc, văn xuôi tiếng Việthiện đại thực sự hình thành, tiếp nhận thuận lợi các ảnh hưởng tích cực
Trang 10của ngôn ngữ văn hóa phương Tây Bên cạnh tiếng Việt phổ thông, một
số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có chữ viết riêng ngôn ngữ riêng
Về văn học: Văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, có hai thành phần là
văn học dân gian và văn học viết Sáng tác dân gian gồm thần thoại, sửthi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, tục ngữ, ca dao với nhiềumàu sắc các dân tộc ở Việt Nam
Về nghệ thuật: Việt Nam có khoảng 50 nhạc cụ dân tộc Thể loại và làn
điệu dân ca Việt Nam rất phong phú khắp ba miền Bắc, Trung, Nam: từngâm thơ, hát ru, hò đến hát quan họ, trống quân, xoan, đúm, ví - giặm, caHuế, bài chòi, lý, ngoài ra còn có hát xẩm, chầu văn, ca trù Nghệ thuậtsân khấu cổ truyền có chèo, tuồng tương đối phong phú, đa dạng Bêncạnh đó, nghệ thuật chạm khắc đá, đồng, gốm đất nung ra đời rất sớm.Sau này gốm tráng men, tượng gỗ, khảm trai, sơn mài, tranh lụa, tranhgiấy phát triển đến trình độ nghệ thuật cao Đã có hàng nghìn di tích vănhóa, lịch sử được Nhà nước xếp hạng
2.2 Những giá trị thể hiện tính thống nhất
Về triết học và tư tưởng: tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
được dung hợp và Việt hóa đã góp phần vào sự phát triển của xã hội vàvăn hóa Việt Nam
Xã hội nông nghiệp đã tạo ra tính cách đặc thù của con người Việt Nam
Đó là một lối tư duy thiên về kinh nghiệm cảm tính hơn là duy lý, ưa hìnhtượng hơn khái niệm, nhưng uyển chuyển linh hoạt, dễ dung hợp, dễ thíchnghi Đó là một lối sống nặng tình nghĩa, đoàn kết gắn bó với họ hàng,
Trang 11làng nước Đó là một cách hành động theo xu hướng giải quyết dung hoà,đồng thời cũng khôn khéo giỏi ứng biến đã từng nhiều lần biết lấy nhuthắng cương, lấy yếu chống mạnh trong lịch sử Trong các bậc thang giátrị tinh thần, dân tộc Việt Nam đề cao các chữ Nhân, Nghĩa, Đức, Phúcđứng hàng đầu bảng giá trị đời sống.
Về phong tục, tập quán: Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội
của người Việt Nam nói chung đều gắn với tính cộng đồng làng xã Cáctết chính là tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ,tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu,
Về tín ngưỡng và tôn giáo: Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã
bao hàm tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tínngưỡng sùng bái con người Các tôn giáo bên ngoài du nhập vào ViệtNam không làm mất đi tín ngưỡng dân gian bản địa mà hoà quyện vàonhau làm cho cả hai phía đều có những biến đổi nhất định, tạo nên nétriêng của tín ngưỡng Việt Nam
Về ngôn ngữ: Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếng Việt và chữ
Quốc ngữ giành được địa vị độc tôn, phát triển dồi dào, là ngôn ngữ đanăng dùng trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp học, phản ánh mọi hiện thựccuộc sống
Về văn học: Văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, có
công lớn gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhândân Văn học viết xuất hiện sau văn học dân gian, với nhiều tác giả, tácphẩm nổi tiếng, có giá trị lớn trong kho tàng văn học nước nhà và thế giới
Về nghệ thuật: tất cả các hình thức nghệ thuật đều thể hiện văn hóa lối
sống, con người, tinh thần của dân tộc Việt Nam Đó chính là truyền
Trang 12thần lạc quan, sự khéo léo, tỉ mỉ, thể hiện trình độ tay nghề nghệ thuậtcao.
III NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM LÀ NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT MÀ ĐA DẠNG
3.1 Nền văn hóa việt nam là nền văn hóa thống nhất
Lòng yêu nước là truyền thống quý báu
Thấm nhuần sâu sắc rằng, lòng yêu nước là một giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, được sinh dưỡng bởi những cư dân một nước nông nghiệp luôn gắn
bó, cố kết, đùm bọc, che chở và giúp đỡ lẫn nhau để chống lại thiên tai, địch họa
và cả dịch bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Dân ta có một lòngnồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗikhi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước phải trở thành động cơ để trước hết gắn kết mọi người dân Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực tế cho thấy, từ trong các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, rộng khắp ở mọi cấp, mọi ngành, khắp các địa phương trong cả nước đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các đoàn viên, thanh niên, các sinh viên thủ khoa, các doanh nhân giỏi, các chiến sĩ thi đua trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Gần đây nhất, những tấm gương của đội ngũ y, bác sĩ, chiến sĩ quân đội trong cuộc chiến chống dịch bệnh, sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân cả nước trong cuộc chiến chống "giặc dịch
Trang 13Covid-19" để "không để một ai bị bỏ lại phía sau" chính là biểu hiện sinh động nhất của tình thần nghĩa yêu nước Việt Nam
Phong tục tập quán
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tínhcộng đồng làng xã Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tết chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có
lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe ) Ngoài ra làcác lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo và vănhoá (hội chùa) Lễ hội có 2 phần: phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn, phần hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian
Đảng lãnh đạo và giữ gìn bản sắc dân tộc
Ðảng ta đã luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa và con người Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa, xây dựng con người vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, Văn kiện các kỳ Ðại hội Ðảng đã nhất quán khẳng định tầm quan trọng của việc phát huy vai trò của văn hóa và sức mạnh của con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng