1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tổ chức dạy học chủ đề Các nước tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1945 nhằm phát triển năng lực và phẩm chất học sinh ở trường Trung học phổ thông_2

92 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nước Tư Bản Chủ Nghĩa Giai Đoạn 1918-1945
Trường học trường trung học phổ thông
Chuyên ngành lịch sử
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chương trình SGK lịch sử 11, HS học các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh 1918-1939, sau hai bài nữa các em mới học bài 17 mà bài 17: chiến tranh thế giới thứ hai thể hiện rõ tình

Trang 1

MỤC LỤC Trang

Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn trong dạy học lịch sử theo chủ đề

nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh ở trường THPT

3

Chương 2: Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề “Các nước tư bản chủ

nghĩa giai đoạn 1918-1945” nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học

sinh ở trường THPT

8

2.4 Xây dựng bảng mô tả các mức độ nhận thức năng lực, phẩm chất 22 2.5 Biên soạn câu hỏi / bài tập theo đinh hướng phát triển năng lực, phẩm

chất

25

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm về việc xây dựng, tổ chức dạy học

chủ đề các nước tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1945 nhằm phát

triển năng lực, phẩm chất học sinh ở trường THPT

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN

Chiến tranh thế giới thứ nhất CTTGI

Chiến tranh thế giới thứ hai CTTGII

Trang 4

PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Dạy học lịch sử ở trường THPT không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, mà còn phát triển năng lực và phẩm chất cho các em Trên cơ sở đó, các em sẽ được phát triển một cách toàn diện Song muốn thực hiện được chức năng, nhiệm vụ đó cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo tư duy của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành và lòng say mê, ý chí vươn lên trong học tập

Nhưng trên thực tế hiện nay, phần lớn các GV dạy lịch sử ở các trường THPT chỉ chú ý truyền thụ kiến thức lịch sử, ít quan tâm đến nhu cầu tìm hiểu, khám phá lịch sử của học sinh nên không tạo được hứng thú học tập lịch sử cho các em Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh không quan tâm học lịch sử, tâm lý nhàm chán, đối phó trong học lịch sử Hậu quả là phần lớn học sinh không nắm được kiến thức lịch sử cơ bản, mơ hồ về sự kiện, nhầm lẫn kiến thức, điều này thể hiện rõ trong kết quả các kì thi THPT quốc gia những năm gần đây

Vậy, vấn đề đặt ra là làm sao khôi phục được bức tranh lịch sử sinh động trước mắt các em, làm thế nào để học sinh có hứng thú, ấn tượng sâu sắc về bài học lịch sử? Đây là một câu hỏi lớn cho nghành giáo dục, đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy lịch sử Bản thân tôi cũng rất trăn trở trong việc tìm ra những phương pháp dạy học tích cực Thông qua thực tiễn dạy học, tôi nhận thấy dạy học theo chủ đề ở các trường THPT có vai trò và ý nghĩa to lớn, là một trong những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, đồng thời góp phần phát triển năng lực và phẩm chất học sinh Bởi

vì, dạy học theo chủ đề là một mô hình mới với sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực Giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo

về định hướng đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho giáo viên nhằm đổi mới mạnh

mẽ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh thông qua việc xây dựng và dạy học theo chủ đề Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như đồng nghiệp, tôi thấy việc dạy học chủ đề theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất chưa phổ biến

Các chủ đề được xây dựng trong thời gian vừa qua chủ yếu là theo các chương/bài được xây dựng trong SGK, nội dung kiến thức còn dàn trải mà chưa

đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể xuyên suốt một giai đoạn lịch sử hoặc một nhân

Trang 5

vật lịch sử nên về cơ bản không có cái “mới”, cái “khác” trong chủ đề so với nội dung bài học sách giáo khoa nên chưa kích thích được sự tò mò, hấp dẫn và khả năng tổng hợp của HS

Mặt khác, chương trình giáo dục phổ thông mới đã được xác định sẽ dạy theo chủ đề và chuyên đề Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử đều hướng tới hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho người học Vì vây, việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề là cần thiết, góp phần đổi mới đổi mới phương pháp dạy học theo đinh hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh

Nhận thức được tầm quan trọng đó, bản thân tôi nhận thấy nếu tổng hợp được kiến thức của từng chương/bài lại và đi sâu vào một lĩnh vực của các chương/bài, mổ xẻ nó thì HS sẽ hứng thú học hơn và phát triển được các năng lực, phẩm chất chung cũng như NL, PC riêng của bộ môn

Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Tổ chức dạy học chủ đề

“Các nước tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1945” nhằm phát triển năng lực

và phẩm chất học sinh ở trường Trung học phổ thông làm đối tượng nghiên

cứu Hi vọng công trình nghiên cứu này, sẽ góp phần giúp học sinh hứng thú và hiểu biết sâu sắc về lịch sử các nước tư bản chủ nghĩa nói riêng, về lịch sử thế giới nói chung Qua đó phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS

2 Điểm mới, đóng góp của sáng kiến

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và tổ chức dạy

học theo chủ đề trong môn Lịch sử ở trường THPT, đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học chương trình hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử năm 2018

- Sắp xếp, xây dựng cấu trúc nội dung chủ đề bài giảng mới thông qua việc xâu chuỗi những vấn đề theo chiều sâu các giai đoạn lịch sử của các nước TBCN từ năm 1918 đến năm 1945

- Đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học theo chủ đề nói chung và chủ đề “các nước tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1945" nhằm phát triển năng lực và phẩm

- Kết quả này giúp tôi và đồng nghiệp vận dụng trong quá trình dạy học thực

tiễn, đề tài cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho HS, GV trong quá trình dạy và học

Trang 6

PHẦN II:NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THEO CHỦ ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM

CHẤT HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Dạy học theo chủ đề là một xu hướng dạy học có tính khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp học sinh có đủ phẩm chất và năng lực giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện tại Nhận thức rõ điều này ở nước

ta, Bộ GD&ĐT đã tăng cường công tác chỉ đạo, xây dựng các chủ đề vào quá

trình giảng dạy Cụ thể:

- Ngày 25/6/2013, Bộ GD&ĐT ban hành Công văn số 791/HD-BGDĐT về việc Hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông Việc xây dựng các chủ đề liên môn là một trong số các hoạt động theo yêu cầu của công văn

- Ngày 8/10/2014, Bộ GD&ĐT ban hành Công văn5555/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng Công văn chính là cơ sở quan trọng nhất cho việc thiết kế và tổ chức các chủ đề và chuyên đề trong DHLS ở trường phổ thông

-Ngày 03/10/2017, Bộ GD&ĐT ban hành Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH

về việc Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất HS từ năm 2017-2018

-Ngày 26/12/2018, Bộ GD&ĐT tạo ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT

về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông Đối với môn Lịch sử, việc dạy học theo các chủ đề và chuyên đề được chính thức xác nhận và sẽ triển khai trong tương lai

- Ngày 20/03/2019, Bộ GD&ĐTban hành Công văn số 1106/BGDĐT_GDTrH Công văn quy định rõ: căn cứ vào đặc điểm từng vùng miền, các địa phương nghiên cứu, lựa chọn những nội dung phù hợp để biên soạn theo chủ đề và hướng dẫn các nhà trường tổ chức thực hiện…

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

Thông qua những hoạt động trong quá trình học tập chủ đề, giải quyết những nhiệm vụ chuyên môn và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, HS sẽ hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và NL chung theo định hướng của

Trang 7

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và năng lực chuyên biệt theo định hướng của chương trình các bộ môn

Dạy học theo chủ đề có các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, nội dung kiến thức của các CĐ dạy học liên quan đến một hay

nhiều lĩnh vực, chuyên ngành

Thứ hai, dạy học theo CĐ ngoài những nội dung chuyên môn còn hướng

tới những vấn đề của cuộc sống, định hướng nghề nghiệp cho HS

Thứ ba, dạy học theo CĐ, HS sẽ được tìm hiểu, khám phá, kiến thức mới

và kinh nghiệm của bản thân HS cũng sẽ được khai thác tối đa

Thứ tư, dạy học theo CĐ phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác

và sáng tạo ở HS thông qua việc giải quyết chuỗi hoạt động mang tính thực hành, gắn với thực tiễn

Thứ năm, GV cũng phải tích cực chủ động hơn để dạy học theo chủ đề đạt

hiệu quả cao nhất

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Đối với giáo viên

Để có kết luận xác đáng, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học

sinh và phía giáo viên

Đối tượng điều tra khảo sát là GV, HS ở trường tôi đang công tác và các trường THPT trên địa bàn huyện

Phương pháp: gửi phiếu điều tra qua email/ facebook kết hợp với phỏng vấn

* Nội dung: (Phiếu điều tra phụ lục 1)

Dựa trên kết quả khảo sát GVcác trường tôi công tác và GV THPT trên địa bàn tôi nhận thấy:

- Các trường THPT đã và đang tiến hành dạy học theo CĐ.Tuy nhiên việc dạy học theo CĐ chưa được tiến hành không thường xuyên Trong hoạt động dạy học, việc xây dựng các CĐ dạy học theo hướng PTNL, PC còn nặng về hình thức, chưa thực sự đầu tư nên hiệu quả chưa cao Phần lớn GV chưa mạnh dạn

sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng PTNL, PC Việc vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng PTNL, PC hiện nay của một số

GV còn chưa được thường xuyên, thiếu linh hoạt, mang tính rập khuôn, máy móc nên chưa gây được hứng thú học tập cho HS

- Việc xây dựng CĐ mới chỉ dừng lại chủ yếu là xây dựng theo CĐ tương ứng với các chương/bài trong sách giáo khoa Các CĐ lịch sử được xây dựng chưa thật sự đi sâu vào một vấn đề hay một nhân vật lịch sử còn ít, vì phần lớn giáo viên còn ngại đảo lộn, sắp xếp lại kiến thức chương trình trong sách giáo khoa

Trang 8

- Căn cứ vào nội dung phần hai SGK lịch sử 11 học về lịch sử thế giới hiện đại

từ năm 1917 đến năm 1945, bản thân tôi và các đồng nghiệp đều khẳng định nội dung các nước TBCN có vị trí quan trọng trong chương trình lịch sử 11 cũng như tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại.Trong giai đoạn lịch sử thế giới hiện đại, tình hình các nước TBCN giai đoạn 1918-1945 có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ quốc tế và có tác động không nhỏ đến tình hình nước ta

- SGK lịch sử 11hiện hành chỉ trình bày riêng lẽ các nước tư bản trong chương II: các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh theo từng bài: Bài 11: Tình hình các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939), bài 12: Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939); Bài 13: Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939) Cách bố cục, sắp xếp như vậy rời rạc, thiếu tính hệ thống, khó so sánh, khó đánh giá, có những nội dung kiên thức trùng lặp

- Mặt khác, trong chương trình SGK hiện hành, sắp xếp, cấu trúc như sau: chương II: các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939), gồmcác bài 11, bài 12, bài 13, bài 14, rồi sau đó là chương III:các nước châu á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939); tiếp đến chương IV -bài 17: chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945 Tổng thời lượng của chương II và chương IV là 6 tiết Như vậy sau khi dạy các nước CNTB giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939), sau hai bài nữa (bài 15, bài 16) mới dạy bài 17 mà trong bài 17: cuộc chiến tranh thế giới thứ hai thể hiện rất rõ tình hình các nước TBCN giai đoạn (1939-1945), các mối quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa, cũng như mối quan hệ giữa các nước TBCN với Liên Xô, với các nước thuộc địa, phụ thuộc Như vậy, cách sắp xếp bố cục của chương trình SGK lịch sử 11 hiện hành không những sẽ ngắt quãng mạch kiến thức, mà còn dẫn đến dàn trải kiến thức, rời rạc, thiếu tính hệ thống, có những nội dung kiến thức trùng lặp nên giáo viên rất khó khăn trong việc tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao

1.2.2 Đối với học sinh

Dựa trên kết quả khảo sát phiếu điều tra HS (phụ lục 1) và trao đổi trực tiếp với

học sinh trường tôi công tác và các trườngTHPT trên địa bàn tôi nhận thấy:

- Hầu hết học sinh đều cho rằng chương trình SGK thì khô cứng, không hấp dẫn, nhiều mốc thời gian sự kiện khó nhớ, khó thuộc, một số giáo viên chưa có phươngpháp dạy học tích cực, hiệu quả nên chưa truyền được niềm đam mê, sự hứng thú cho các em

- Đa số học sinh còn cảm thấy xa lạ, chưa quen với việc học tập theo CĐ Các emđã quen học theo chương/bài trong sách giáo khoa

- Phần lớn các em còn lúng túng với phương pháp dạy học mới, dạng bài tập vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn

Trang 9

- Phần lớn HS chưa biết cách sử dụng các kiến thức thực tiễn và kiến thức liên môn trong giải quyết các bài tập và làm bài kiểm tra

- Khi học bài 11, bài 12, bài 13, bài 14, bài 17 theo chương trình SGK lịch sử 11 hiện hành, các em chỉ nắm được các sự kiện diễn ra trong các giai đoạn lịch sử của từng nước TBCN riêng biệt, nhưng cũng có sẽ những đơn vị kiến thức trùng lặp, thiếu tính liên hệ tổng thể, bao quát đầy đủ Như vậy, các emkhó khăn trong việc so sánh, đánh giá các nước TBCN trong cùng một giai đoạn lịch sử

Theo chương trình SGK lịch sử 11, HS học các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh (1918-1939), sau hai bài nữa các em mới học bài 17 mà bài 17: chiến tranh thế giới thứ hai thể hiện rõ tình hình chủ nghĩa tư bản giai đoạn 1939-1945, cách sắp xếp, bố cục như vậy sẽ ngắt quảng mạch kiến thức, ngắt quảng mạch suy nghĩ, tu duy của HS.Các em khó so sánh đặc điểm của các nước

tư bản chủ nghĩa, khó đánh giá được những bước phát triển thăng trầm của các nước tư bản chủ nghĩa , những tác động của các nước tư bản chủ nghĩa đến quan

hệ quốc tế cũng như tình hình Việt Nam

- Trong SGK chủ yếu là kênh chữ cung cấp thông tin, những nội dung tích hợp của văn học, địa lí, âm nhạc vào bài dạy gần như không có, kênh hình ảnh để

HS khai thác còn ít, vì vậy chưa tạo điều kiện cho HS tham gia các hoạt động học tập và hình thành PTNL, PC trong học tập

Với cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên, tôi đã sắp xếp, cấu trúc lại một số kiến thức quan trọng của Chương 2 và chương 4 Từ đó,xây dựng cấu trúc nội dung bài giảng mới thông qua việc xâu chuỗi những vấn đềtheo chiều sâu các giai đoạn lịch sử của các nước tư bản chủ nghĩa từ năm 1918 đến năm 1945nhằm làm nổi bật bức tranh của các nước tư bản chủ nghĩa từ 1918- 1945 Làm rõ những bước phát triển thăng trầm của các nước tư bản chủ nghĩa tác động đến quan hệ quốc tế cũng như tình hình Việt Nam Đồng thời chủ đề cũng khai thác những vấn đề trọng tâm về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai 1939-

1945 Sau khi xây dựng, kết cấu chủ đề, tôi tiến hành tổ chức dạy học chủ đề

“Các nước TBCN giai đoạn 1918-1945” với các phương pháp dạy học tích cực góp phần phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh

- Thiết kế và tổ chức dạy học CĐ với các phương pháp, kĩ thuật dạy học đa dạng, phong phú phát huy tích cực, chủ động, hứng thú cho HS Qua đó phát triển NL, PC cho các em

Trang 10

- Khi thiết kế chủ đề, GV cần lựa chọn nội dung nổi bật, cốt yếu và có tính vấn

đề của LS Cần chú trọng các CĐ thể hiện mối quan hệ và sự tác động của lịch

sử thế giới với lịch sử dân tộc, hay LS địa phương

- Để tổ chức dạy học theo CĐ lịch sử theo định hướng phát triển NL, PC học sinh một cách hiệu quả theo tôi nên tiến hành các bước:

Bước 1: Nêu vấn đề, thu hút sự chú ý của HS vào nội dung trọng tâm của chủ

đề bằng cách GV đặt HS vào tình huống có vấn đề thông qua các bài tập nhận thức;sử dụng phim tư liệu; thơ ca; tổ chức trò chơi; sử dụng tranh ảnh, lược đồ…tạo không khí thoải mái nhưng cũngtạo ra sự “trở ngại” trong tư duy định hướng nhận thức của HS.Từ đó,gây sự tập trung chú ý, kích thích trì tò mò, mong muốn tìm hiểu, khám phá kiến thức mới cho HS

Bước 2: Cung cấp và hướng dẫn HS khai thác các nguồn sử liệu để tìm hiểu

nội dung chủ đề lịch sử.(Nguồn sử liệu do GV cung cấp qua bài giảng hoặc HS

có thể tự tìm hiểu SGK, tư liệu tham khảo, đồ dùng trực quan, mạng internet Thông qua nghiên cứu sử liệu giúp khôi phục lại sự kiện, hiện tượng, phản ánh nội dung kiến thức CĐ một cách chính xác, sinh động Đây là cách giúp HS từng bước thực hiện nhiệm vụ học tập với các phương pháp dạy học tích cực của

GV Qua đó, HS chủ động chiếm lĩnh các nội dung kiến thức của chủ đề để phát triển các năng lực, phẩm chất cần thiết

Bước 3: Tổ chức, hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận, đánh giá về các sự

kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử trong chủ đề.GV cần sử dụng linh hoat, đa dạng, phong phú các phương pháp dạy học như ( thuyết trình, nêu vấn đề, dự án, tích hợp liên môn, đồdùng trực quan, trao đổi, đàm thọai, tranh luận,) kĩ thuật dạy học : (đóng vai, khăn trải bàn, nhóm, tổ chức trò chơi, )để khai thác và phát triển các năng lực, phẩm chất HS

Bước 4: Cũng cố, đánh giá, kiểm tra hoạt động nhận thức, đánh giá kết quả

thực hiện nhiệm vụ của HS Trên cơ sở sản phẩm học tập của các em, GV cho

HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau, G V nhận xét, bổ sung, kết luận giúp HS hệ thống những vấn đề cốt lõi của chủ đề, đồng thời hướng dẫn các em mở rộng cũng cố kiến thức bằng việc tự học ở nhà, tự nghiên cứu; chuẩn bị nôi dung bài mới

-Tổ chức DHCĐ trong môn lịch sử được thực hiện qua một chuỗi hoạt động học tập của HS Trong mỗi hoạt động học tập, GV hướng dẫn HS thực hiện các bước: chuyển giao nhiệm vụ học tập (yêu cầu rõ ràng, phù hợp với khả năng của

HS, hình thức sinh động, hấp dẫn, tạo động cơ và hứng thú để HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ ; thực hiện hiện vụ học tập HS,(GV là ngươi tư vấn, hỗ trợ, giúp

đỡ thực hiện nhiệm vụ) ; HSbáo cáo thảo luận trình bày sản phẩm học tập cụ thể

; đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ (, HS đánh giá lẫn nhau; Gv nhận xét, đánh giá kết quả của HS rút ra kết luận

Trang 11

Cách tổ chức DHCĐ như thế này chính là cách GV dạy cho HS cách học và cách tự học tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức trực quan sinh động – tư duy trừu tượng-thực tiễn, vừa mang đặc trưng của bộ môn

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA GIAI ĐOẠN 1918 – 1945 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

2.1.Nội dung chủ đề

Chủ đề gồm một số nội dung kiến thức

I CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NHỮNG NĂM 1918-1929

1 Sự thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai- Osinhtơn

Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã gây thảm họa hết sức nặng nề đối với nhân loại Kết cục của chiến tranh đã tác động rất lớn đến tình hình thế giới, đặc biệt đối với các nước chủ nghĩa tư bản Sau chiến tranh thế giới thứ nhất nền kinh tế châu Âu bị kiệt quệ Từ chỗ là trung tâm của nền tài chính quốc

tế trong những năm 1870-1914, các nước châu Âu sau chiến tranh đếu trở thành con nợ của Mĩ Trong khi đó Mĩ và Nhật Bản là hai nước tư bản ngoài châu Âu không bị chiến tranh tàn phá, lại được hưởng những lợi thế từ cuộc chiến tranh nên vươn lên phát triển nhanh chóng Trong quá trình chiến tranh, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và việc thành lập Nhà nước Xô Viết đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện chính trị thế giới Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới nữa Điều này đã trở thành một thách thức to lớn đối với các nước tư bản chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vấn đề sau chiến tranh các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị hòa bình ở Vécxai (1919-1920) và Oa-sinh-tơn (1921-1922) để kí kết hòa ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi Một trật tự thế giới mới được thiết lập thông qua các văn kiện được kí ở Vécxai và Oa-sinh-tơn, thường được gọi là hệ thống Vécxai-Oasinhtơn

Với hệ thống Vécxai-Oasinhtơn, một trật tự thế giới mới được thiết lập, phản ánh tương quan lực lượng mới giữa các nước tư bản Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Nhật Bản, giành được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước bại trận, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Đồng thời, ngay giữa các nước tư bản thắng trận cũng nảy sinh những bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi Chính vì thế, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là tạm thời và mỏng manh Nhằm duy trì trật tự thế giới mới, Hội Quốc liên - một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên được thành lập với sự tham gia của 44 nước thành viên

2 Tình hình các nước chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1918-1929)

Trang 12

2.1 Giai đoạn 1918-1923

Về kinh tế: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước châu Âu bị tàn phá

nặng nề, nền kinh tế kiệt quệ Các nước tư bản châu Âu đã bỏ ra khoản lớn cho chi phí của cuộc chiến tranh : Pháp là 24,2 tỉ USD, Anh: 35,3, tỉ USD, Đức: 37,7

tỉ USD Những khoản chi phí khổng lồ cho chiến tranh đã biến phần lớn các nước tư bản châu Âu, kể cả những nước thắng trận đều trở thành con nợ của Mĩ Thiệt hại về người trong chiến tranh đã làm mất đi nguồn nhân lực chủ yếu trong các ngành sản xuất ở các nước tư bản châu Âu Cùng với sự thiếu hụt về lực lượng lao động là tình trạng lạm phát bao trùm phần lớn các nước châu Âu Tỉ lệ lạm phát ở Anh, Pháp tăng gấp đôi và ở Đức lên đến mức kỉ lục Chiến tranh cũng gây ra những thiệt hại về đầu tư nước ngoài Trong đó, Đức là nước thiệt hại lớn nhất, gần như mất toàn bộ tổng giá trị đầu tư nước ngoài

Về chính trị - xã hội: Do hậu quả của chiến tranh thế giới và tác động của

cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi năm 1917, một cao trào cách mạng

đã bùng nổ ở hầu khắp các nước châu Âu năm 1918-1923.Cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị sau chiến tranh đã dẫn tới sự xuất hiện tình thế cách mạng ở một số nước châu Âu Trong cao trào cách mạng (1918-1923), các Đảng cộng sản được thành lập ở nhiều châu Âu như ở Đức, Áo, Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan…Trong bối cảnh đó, các nước tư bản châu Âu đều phải tìm cách đối phó với phong trào cách mạng trong nước cũng như làn sóng đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc

2.2 Giai đoạn 1924-1929

Đến cuối năm 1923, về cơ bản các nước tư bản châu Âu đã vượt qua thời kì khủng hoảng kinh tế - xã hội sau chiến tranh Đến đầu năm 1924 các nước tư bản châu Âu đã bước vào thời kì ổn định về kinh tế và chính trị

Về kinh tế:Từ năm 1924, hầu hết các nước tư bản bước vào giai đoạn phát

triển phồn vinh kinh tế Hai nước tư bản ngoài châu Âu là Mĩ và Nhật Bản hầu như không bị thiệt hại lớn, mặt khác lại được hưởng những lợi thế từ chiến tranh, đã vươn lên phát triển nhanh chóng

Sự phồn vinh của Mĩ được thể hiện ở mức tăng trưởng cao của các ngành kinh tế Chỉ trong vòng 6 năm, sản lượng công nghiệp tăng 69% Năm 1929, Mĩ chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới, vượt qua sản lượng công nghiệp của

5 cường quốc là Anh, Pháp, Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại Mĩ đứng đầu thế giới về các nghành công nghiệp sản xuất ô tô, thép, dầu mỏ…Về tài chính, từ chổ phải vay nợ châu Âu 6 tỉ đô la trước chiến tranh Mĩ đã trở thành chủ nợ của thế giới (Anh và Pháp nợ Mĩ 10 tỉ đô la).Năm 1929, Mĩ nắm 60% số vàng dự trữ của thế giới

Nhật Bản là nước thứ hai sau Mĩ thu được nhiều lợi trong chiến tranh thế giới thứ nhất Lợi dụng sự suy giảm khả năng kinh tế của các nước tư bản châu

Âu trong chiến tranh, Nhật Bản đã tăng cường sản xuất hàng hóa và xuất khẩu

Trang 13

Nhờ những đơn đặt hàng quân sự làm cho sản xuất công nghiệp của Nhật Bản tăng trưởng với tốc độ cao Chỉ trong vòng 6 năm (1914-1919), sản lượng công nghiệp tăng gấp 5 lần, tổng giá trị xuất khẩu tăng gấp 4 lần, dự trữ vàng và ngoai

tệ tăng gấp 6 lần Khác với các nước tư bản Tây âu và Mĩ, sự ổn định của Nhật Bản chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, năm 1926, sản lượng công nghiệp mới phục hồi trở lại và vượt mức trước chiến tranh Nhưng chưa đầy một năm sau, mùa xuân năm 1927, cuộc khủng hoảng tài chính lại bùng nổ ở thủ đô Tôkio làm

30 ngân hàng phá sản Nền công nghiệp chủ yếu dựa vào xuất khẩu của Nhật Bản ngày càng gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với Mĩ và các nước Tây Âu

Cuối năm 1923, nước Đức, từng bước khắc phục tình trạng hỗn loạn về tài chính, tạo đà cho nền kinh tế khôi phục và phát triển Từ năm 1925, sản xuất công nghiệp Đức phát triển mạnh Năm 1929 đã vượt qua Anh, Pháp, đứng đầu châu Âu Qúa trình sản xuất diễn ra mạnh mẽ, các tập đoàn tư bản độc quyền lớn xuất hiện thâu tóm những ngành kinh tế chính của Đức

Về chính trị - xã hội:

Giai đoạn tăng trưởng cao của kinh tế Mĩ trong thập niên 20 gắn liền với

sự cầm quyền của các tổng thống thuộc Đảng Cộng Hòa Chính phủ của Đảng Cộng Hòa một mặt đề cao sự phồn vinh của nền kinh tế, mặt khác thi hành chính sách ngăn chặn công nhân đấu tranh, đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ trong phong trào công nhân Những người lao động thường xuyên phải đối mặt với nạn thất nghiệp, bất công xã hội và nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen Đời sống người lao động ngày càng giảm sút Điều đó đã thúc đẩy phong trào đấu tranh của họ

Ở Đức, chế độ cộng hòa Vaima được củng cố, quyền lực của giới tư bản độc quyền được tăng cường, chính phủ tư sản thi hành chính sách đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân Các đảng tư sản công khai tuyên truyền tư tưởng phục thù cho nước Đức Về đối ngoại, địa vị quốc tế của nước Đức dần được phục hồi với việc nước này tham gia hội Quốc Liên, kí kết một số hiệp ước với các nước tư bản châu Âu và Liên Xô

Trong những năm đầu thập niên 20 của thế kỉ XX, Chính phủ Nhật Bản

đã thi hành một số cải cách chính trị và giảm bớt căng thẳng trong quan hệ với các cường quốc khác Đến cuối thập niên 20, chính phủ của tướng Ta-na-ca – một phân tử quân phiệt- đã thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại hiếu chiến

II CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA NHỮNG NĂM 1929-1939

1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thừa 1929-1933

Trong những năm 1924-1929, các nước tư bản chủ nghĩa bước vào giai đoạn ổn định và phát triển đã đẩy mạnh sản xuất hàng hóa một cách ồ ạt Sự phát triển kinh tế chạy theo lợi nhuận, theo chủ nghĩa tự do thái quá, không có

kế hoạch dài hạn cho sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng dẫn đến cuộc khủng

Trang 14

hoảng kinh tế thừa Tháng 10-1929, khủng hoảng kinh tế thừa bùng nổ ở Mĩ, bắt đầu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, sau đó lan ra toàn bộ thế giới tư bản Cuộc khủng hoảng kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932

Ngày 29/10/1929 là ngày hoảng loạn chưa từng có trong lịch sử thị trường chứng khoán Niu Oóc Giá một loại cổ phiếu được coi là đảm bảo nhất sụt xuống 80% Vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tiếp diễn không gì ngăn cản nổi, phá hủy nghiêm trọng các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp nước Mĩ Năm 1932, khủng hoảng kinh tế diễn ra trầm trọng nhất: sản lượng công nghiệp chỉ còn 53,8% (so với năm 1929), 11,5 vạn công ti thương nghiệp, 58 công ti đường sắt bị phá sản, 10 vạn ngân hàng (chiếm 40% tổng số ngân hàng) phải đóng cửa, 75% dân trại phá sản…

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã giáng đòn nặng nề vào nền kinh tế Đức Năm 1932, sản xuất công nghiệp giảm 47% so với những năm trước cuộc khủng hoảng Hàng năm nhà máy xí nghiệp đóng cửa

Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thừa đã làm cho nền kinh tế Nhật Bản giảm sút trầm trọng Sản xuất công nghiệp đình đốn Khủng hoảng xẩy ra nghiêm trọng trong nông nghiệp, do lệ thuộc vào thị trường bên ngoài của ngành này So với năm 1929, sản lượng công nghiệp năm 1931 giảm 32,5%, nông phẩm giảm 1,7 tỉ yên, ngoại thương giảm 80% Đồng yên sụt giá nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng kinh tế thừa chẳng những tàn phá nặng nề nền kinh tế các nươc tư bản chủ nghĩa mà còn gây hậu quả nghiêm trọng về chính trị - xã hội Hàng triệu người thất nghiệp Số người thất nghiệp lê ở Mĩ lên tới hàng chục triệu, Nhật Bản số công nhân thất nghiệp 3 triệu, ở Đức hơn 5 triệu người Nông dân mất ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói, túng quẩn Nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình, tuần hành của những người thất nghiệp diễn ra ở khắp các nước

2 Con đường các nước tư bản chủ nghĩa giải quyết hậu quả khủng hoảng kinh tế (1929-1933)

Cuộc khủng hoảng kinh tế thừa (1929-1933) đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Để cứu vãn tình thế, các nước tư bản buộc phải xem xét lại con đường phát triển của mình Hai xu hướng khác biệt nhau trong việc giải quyết hậu quả cuộc khủng hoảng và tìm kiếm con đường phát triển đã được các nước tư bản lựa chọn: Nhóm các nước tư bản gồm Mĩ, Anh, Pháp tiến hành những những cải cách kinh tế - xã hội để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng và đổi mới quá trình quản lí, tổ chức sản xuất; Nhóm các nước tư bản gồm các nước Đức, Italia, Nhật Bản thiết lập các chế độ độc tài phát xít- nền chuyên chính khủng bố công khai của những thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất

Trong nhóm thứ nhất, Mĩ là nước đi đầu trong cuộc cải cách kinh tế - xã

hội nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Ở nước Mĩ,tổng thống Mĩ dơ-ven đã thực hiện một hệ thống chính sách, biện pháp của nhà nước trên các

Trang 15

Ru-lĩnh vực kinh tế- tài chính và chính trị-xã hội được gọi chung là chính sách mới

Bằng sự can thiệp tích cực của nhà nước vào đời sống kinh tế, chính phủ ven đã thực hiện các biện pháp giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi sự phát triển kinh tế thông qua các đạo luật về ngân hàng, phục hưng công nghiệp, điều chỉnh nông nghiệp Trong các đạo luật đó, đạo luật phục hưng công nghiệp là quan trọng nhất Nhìn chung, trong thập niên 30, với việc thực hiện chính sách mới đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản của nước Mĩ trong cơn khủng hoảng nguy kịch Nhà nước đã tăng cường vai trò của mình trong việc cứu trợ người thất nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, khôi phục sản xuất, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và góp phần làm cho nước Mĩ duy trì được chế độ dân chủ tư sản

Về đối ngoại, chính phủ Ru-dơ-ven đề ra chính sách láng giềng thân thiện nhằm cải thiện quan hệ với các nước Mĩ Latinh, vốn được Mĩ coi là “sân sau” của mình và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô Đối với các vấn đề quốc

tế, trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh bao trùm thế giới, quốc hội Mĩ đã thông qua hàng loạt đạo luật để giữ vai trò trung lập trước các cuộc xung đột quân sự với bên ngoài nước Mĩ Chính sách đó đã góp phần khuyến khích chủ nghĩa phát xít tự do hành động, gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

Các nước Anh, Pháp cũng lần lượt thực hiện những biện pháp cải cách kinh tế- xã hội nhằm giải quyết những hậu quả của cuộc khủng hoảng

Trong nhóm thứ hai, các nước tư bản gồm Đức, Italia, Nhật Bản đi theo

con đường phát xít hóa chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai, thực hiện chính sách xâm lược thuộc địa để cứu vãn tình trạng khủng hoảng Ở Đức : Đảng Quốc xã ngày càng mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng Đứng đầu là Hít-le ra sức tuyên truyền tư tưởng phục thù, chống cộng sản và phân biệt chủng tộc, chủ trương phát xít hóa bộ máy nhà nước, thiết lập chế độ độc tài khủng bố công khai Giới đại tư bản ngày càng ủng hộ lực lượng phát xít Đảng Cộng sản Đức kiên quyết đấu tranh, song không ngăn cản được quá trình ấy Đảng Xã Hội Dân Chủ - đảng có ảnh hưởng trong quần chúng lao động

đã từ chối hợp tác với những người cộng sản Ngày 30/1/1933, tổng thống đen-bua chỉ định Hit-le làm thủ tướng Chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức Chính phủ Hít le thiết lập nền chuyên chính độc tài công khai khủng bố các Đảng phái dân chủ tiến bộ, tuyên bố hủy bỏ hiến pháp Vaima, tự xưng là quốc trưởng suốt đời Về kinh tế: tổ chức nền kinh tế theo hướng tập trung, mệnh lệnh, phục vụ nhu cầu quân sự Các ngành công nghiệp dần được phục hồi, đặc biệt là công nghiệp quân sự, các ngành giao thông vận tải, xây dựng đường sá được tăng cường để giải quyết nạn thất nghiệp và phục vụ nhu cầu quân sự Năm 1938, tổng sản lượng công nghiệp Đức tăng 28% so với giai đoạn trước khủng hoảng và vượt một số nước tư bản Tây Âu

Trang 16

Hin-Chính phủ Mutsolini ở Italia trong những năm 1933-1934 cũng tiến hành

tổ chức nền kinh tế theo hướng tập trung đặt dưới sự chỉ huy của nhà nước và

mở rộng ngành sản xuất phục vụ nhu cầu quân sự giống như nước Đức phát xít

Khác với Đức, quá trình phát xít hóa diễn ra thông qua sự chuyển đổi từ chế độ dân chủ tư sản đại nghị sang chế độ chuyên chế độc tài phát xít, ở Nhật Bản do có sẵn chế độ chuyên chế thiên hoàng, quá trình này diễn ra thông qua việc quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa Do những bất đồng trong nội bộ giới cầm quyền Nhật về cách thức tiến hành chiến tranh xâm lược, quá trình quân phiệt hóa kéo dài trong suốt thập niên 30.Cùng với việc quân phiệt hóa bộ máy nhà nước, tăng cường chạy đua vũ tranh, giới cầm quyền Nhật đẩy mạnh xâm lược Trung Quốc Tháng 9/1931, Nhật Bản đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc Miền Bắc Trung Quốc trở thành bàn đạp cho những cuộc phiêu lưu quân sự mới của Nhật Bản Nước Nhật trở thành lò lửa chiến tranh ở châu Á và trên thế giới

Quá trình quân phiệt hóa bộ máy nhà nước ở Nhật và phát xít hóa ở Đức, Italia cùng với cuộc chạy đua vũ tranh ở các nước này dẫn tới sự hình thành ba

lò lửa chiến tranh thế giới Như vậy với sự lựa chọn con đường giải quyết hậu quả cuộc khủng hoảng kinh tế thừa đã làm cho quan hệ giữa các cường quốc tư bản chuyển biến ngày càng phức tạp Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập: một bên là Mĩ, Anh, Pháp vơi một bên là Đức, Italia, Nhật Bản và cuộc chạy đua

vũ trang ráo riết đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới

III CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NHỮNG NĂM

1939-1945

1 Các nước tư bản và con đường dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai

Sự phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản về kinh tế và chính trị

đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất một trật tự thế giới mới được hình thành theo hệ thống Hòa ước Vécxai – Oasinhtơn Chính sự phân chia và phát triển không đều đã khiến cho mâu thuẫn giữa các nước TBCN ngày càng gay gắt, đe dọa nền hòa bình mong manh của thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) bùng nổ đã đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, sự xuất hiện của CNPX cùng với việc tăng cường chạy đua vũ trang, đẩy mạnh xâm lược ở nhiều khu vực trên thế giới Trong những năm 30 chủ nghĩa phát xít hình thành ở Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản, các nước này đã liên kết với nhau thành liên minh phát xít – được gọi là phe Trục Khối này tăng cường và đẩy mạnh các hoạt động quân sự gây chiến tranh xâm lược ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.Sau khi chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc (1931), từ năm 1937, Nhật Bản mở rộng xâm chiếm trên toàn lãnh thổ Trung Quốc Phát xít I-ta-li-a xâm lược Ê-ti-ô-pi-a

Trang 17

(1935) Sau khi lên cầm quyền, Hít-le ngang nhiên xé bỏ Hòa ước Vécxai hướng tới thành lập một nước “Đại Đức”

Trong bối cảnh đó, Liên Xô chủ trương hợp tác với các nước Anh, Pháp,

Mĩ để chống CNPX và nguy cơ chiến tranh Chính phủ Anh, Pháp, Mĩ đều có chung một mục đích là muốn giữa nguyên trật tự thế giới có lợi cho mình Họ lo

sợ sự bành trướng của phát xít nhưng vẫn thù ghét cộng sản Giới cầm quyền Anh, Pháp không liên kết chặt chẽ với Liên Xô để chống CNPX Trái lại họ thực hiện chính sách nhượng thực hiện chính sách nhượng bộ phe phát xít hòng đẩy chiến tranh về phía Liên Xô Đỉnh cao là việc Anh, Pháp kí hiệp ước Muyních (9/1938) trao vùng Xuyđét của Tiệp Khắc cho Đức, đổi lại Đức cam kết chấm dứt mọi cuộc thôn tính ở Châu Âu Với Đạo luật trung lập (8/1935), giới cầm quyền Mĩ thực hiện chính sách không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài châu

Mĩ Chính sách đó của Mĩ đã góp phần khuyến khích CNPX tự do hành động, gây cuộc CTTG II Trên thực tế đã diễn ra một cuộc đấu tranh ngày càng căng thẳng và chằng chéo giữa ba lực lượng : Khối Trục phát xít, khối Anh-Pháp-Mĩ

và Liên Xô

Chính quyền các nước phát xít đã lợi dụng chính sách thỏa hiệp, nhượng

bộ phát xít của các cường quốc phương Tây và chính sách đối ngoại của giới cầm quyền Mĩ là không can thiệp vào các sự kiện xẩy ra ngoài châu Mĩ đó để thực hiện mục tiêu gây chiến tranh Trước khi khai chiến, Đức đã đàm phán với Liên Xô Liên Xô chủ trương đàm phán với Đức vì đây là giải pháp tốt nhất để tránh một cuộc chiến tranh và bảo vệ lợi ích quốc gia trong tình thế bị cô lập Ngày 23/8/1939, Bản hiệp ước Xô – Đức không xâm lược nhau được kí kết.Rạng sáng 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan Hai ngày sau đó, Anh, Pháp buộc phải tuyên chiến với Đức CTTG II bùng nổ

Như vậy, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ trước hết là do những mâu thuẫn về quyền lợi, về thị trường thuộc địa gay gắt giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau Sự phân chia quyền lợi giữa các nước tư bản theo hệ thống Vecsxai- Osinhtơn chứa đựng những mâu thuẫn Chính vì thế, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian sau chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ là tạm thời và mỏng manh Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thừa 1929-1933 đã làm cho những mâu thuẫn giữa các nước tư bản thêm sâu sắc Sự xuất hiện của CNPX cùng với việc tăng cường chạy đua vũ trang, đẩy mạnh xâm lược ở nhiều khu vực trên thế giới Các thế lực phát xít Đức – Italia- Nhật Bản là thủ phạm gây ra chiến tranh thế giới thứ hai Tuy nhiên, chính sách dung dưỡng, nhượng

bộ phe phát xít của Anh, Pháp cùng với chính sách đối ngoại của giới cầm quyền Mĩ là không can thiệp vào các sự kiện xẩy ra ngoài châu Mĩ đã tạo điều kiện cho phe phát xít gây chiến Chính phủ các nước tư bản mặc dù có mâu thuẫn với nhau nhưng đều có chung mục tiêu chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nói chung Do vậy, khác với chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế

Trang 18

giới thứ hai còn gắn với mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội

và âm mưu tiêu diệt nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới

2 Các nước tư bản chủ nghĩa trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)

Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại Kéo dài trong 6 năm, chiến tranh đã bao trùm gần như toàn bộ các châu lục và diễn ra trên nhiều mặt trận, hầu hết các nước bị lôi cuốn vào vòng chiến

Giai đoạn từ tháng 9/1939 đến tháng 6/1941

Rạng sáng 1/9/ 1939, Đức bất ngờ tấn công Ba Lan Hai ngày sau, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tuy vậy, sau khi tuyên chiến, Anh-Pháp không có hành động quân sự nào đáng kể nhằm vào Đức, và quân Đức đã có thể rảnh tay để nhanh chóng đánh bại Ba Lan

Hành động này của Anh, Pháp thể hiện chính sách nhượng bộ phát xít, hòng đẩy chiến tranh về phía Liên Xô Trong lúc đó, giới cầm quyền Mĩ vẫn thực hiện chính sách không can thiệp vào các sự kiện xẩy ra ngoài châu Mĩ Mặc

dù tuyên bố là trung lập nhưng tổng thống Mĩ F Roosevelt vẫn cố gắng tìm cách thuyết phục Quốc hội bãi bỏ luật cấm bán vũ khí cho các bên tham chiến Quốc hội Mĩ đã chấp thuận việc bán vũ khí cho các nước tham chiến trong CTTGII theo phương thức trả tiền mặt và tự chuyên chở Chính sách này đem lại nguồn lợi nhuận rất lớn cho nước Mĩ

Với ưu thế về quân sự, quân Đức áp dụng chiến thuật “Chiến tranh chớp nhoáng” và chiếm được Ba Lan sau gần 1 tháng Sau khi chiếm được Ba Lan, Tháng 4/1940, quân Đức chuyển hướng tấn công từ phía đông sang phía tây, chiếm hầu hết các nước tư bản châu Âu như Đan Mạch, Na Uy, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua và đánh thẳng vào Pháp.Chính phủ Pháp rời Pari chạy về Tua Nước Pháp nhanh chóng bại trận và kí Hiệp định đình chiến (22/ 6/1940) Tháng 7/1940, quân Đức thực hiện kế hoạch đổ bộ “Sư tử biển”, sau đó là chiến dịch

“tia điện không trung” của không quân tiến đánh nước Anh Trước tình hình đó,

Mĩ và Anh kí kết một bản hiệp ước, theo đó Mĩ cung cấp cho Anh 50 tàu khu trục, để đổi lấy việc quân Anh đặt các căn cứ không quân và hải quân ở Newfoundland và Đại Tây Dương Với ưu thế về không quân và hải quân của Anh, đồng thời do sự viện trợ của Mĩ dành cho Anh bắt đầu từ tháng 9/1940, kế

hoạch đổ bộ lên nước Anh của Đức không thực hiện được

Tháng 9/1940, nhằm cũng cố khối liên minh phát xít, tại Béclin ba nước phát xít Đức-Italia - Nhật Bản kí Hiệp ước Tam cường, nhằm tăng cường trợ giúp lẫn nhau về mọi mặt và công khai việc phân chia thế giới: Đức, Italia ở châu Âu, Nhật Bản ở Viễn Đông

Từ tháng 10/1940, Đức chuyển sang thôn tính các nước Đông và Nam châu Âu Các nước Rumani, Hunggari, Bugari trở thành chư hầu của Đức và bị Đức chiếm đóng Bằng vũ lực quân sự, quân Đức thôn tính Nam Tư và Hi Lạp Như vậy, trong giai đoạn nhứ nhất của chiến tranh, do chính sách dung

Trang 19

dưỡng, thỏa hiệp của Anh, Pháp cùng với việc giới cầm quyền Mĩ thực hiện chính sách không can thiệt vào các sự kiện xẩy ra bên ngoài châu Mĩ và ưu thế

áp đảo về quân sự của Đức phe phát xít giành quyền chủ động Đến giữa năm

1941, Đức đã thống trị phần lớn châu Âu tư bản chủ nghĩa và ráo nết chuẩn bị cho cuộc tấn công Liên Xô

Giai đoạn từ tháng 6/ 1941đến 1/1942:

Từ cuối 1940, với ưu thế về quân sự, quân Đức đã thông qua kế hoạch tấn công Liên Xô với chiến thuật “chiến tranh chớp nhoáng”, đánh nhanh thắng nhanh Rạng sáng 22/6/1941, với một lực lượng hùng hậu cùng với trang thiết bị hiện đại cùng với yếu tố bất ngờ Đức tấn công và nhanh chóng tiến sâu vào lãnh

thổ của Liên Xô Lần đầu tiên, quân Đức vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của

quân và dân Liên Xô Đến 12/1941, Hồng quân Liên Xô phản công quyết liệt đẩy lùi quân Đức ra khỏi cửa ngõ thủ đô Mát-xcơ-va Chiến thắng Mátxcơva đã làm phá sản Chiến lược "Chiến tranh chớp nhoáng" của Đức

Sau thất bại ở Mátxcơva, quân Đức chuyển mũi nhọn tấn công xuống phía nam nhằm chiếm vùng lương thực và dầu mỏ quan trọng nhất của Liên Xô Mục tiêu chủ yếu là đánh chiếm Xtalingrat, thành phố được mệnh danh là “nút sống” của Liên Xô Cuộc chiến đấu kéo dài hơn hai tháng, nhưng quân Đức không thể chiếm được thành phố này

Ở Bắc Phi, tháng 9/1940, quân đội Italia tấn công Ai Cập Cuộc chiến này diễn ra trong thế giằng co, không phân biệt thắng bại giữa liên quân Đức-Italia với liên quân Anh – Mĩ

Tháng 6/1940, trong khi chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở châu Âu, Nhật Bản công bố chính sách xây đựng khu vực Thịnh vượng chung Đại Đông Á và từng bước triển khai chính sách xâm lược Đông Nam Á Tháng 9/1940,quân đội Nhật kéo vào Đông Dương, nhưng vấp phải sự phản đối của Mĩ, quan hệ Mĩ – Nhật trở nên căng thẳng Ngày 7/12/1941, quân Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng – căn cứ hải quân chủ yếu của Mĩ ở Thái Bình Dương Hạm đội Mĩ

bị thiệt hại nặng nề Sự kiện này đã chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa biệt lập

Mĩ , Tổng thống Mĩ F Roosevelt chính thức tuyên chiến với Nhật Bản mới sau

đó là Đức và Italia Như vậy chiến tranh đã lan rộng toàn thế giới và lôi cuốn tất

cả các cường quốc tư bản tham chiến

Trong thời gian chiến tranh, các nước tham chiến đều đẩy mạnh nền kinh

tế theo hướng tập trung cao độ Các ngành công nghiệp luyện kim, hóa chất được mở rộng và tăng cường sản xuất đến mức tối đa nhằm phục vụ cho công nghiệp quân sự Các nước tư bản đẩy mạnh khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản, ở các nước thuộc địa để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh

Hành động xâm lược của CNPX thúc đẩy các quốc gia liên minh chống

kẻ thù chung Sự tham chiến của Liên Xô đã làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự của cuộc chiến Cuộc chiến tranh vĩ đại của nhân dân Liên Xô đã cổ vũ

Trang 20

mạnh mẽ phong trào kháng chiến của nhân dân các nước bị phát xít chiếm đóng Việc thành lập một liên minh quốc tế chống phát xít đã trở thành một đòi hỏi bức thiết của các lực lượng dân chủ và yêu chuộng hòa bình Các chính phủ Anh, Mĩ

đã dần thay đổi thái độ, bắt tay với Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống CNPX Ngày 1/1/1942, tại Oa-sinh-tơn, đại diện 26 nước (đứng dầu là Liên Xô, Mĩ, Anh) đã ra một tuyên bố chung gọi là Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc Các nước tham gia tuyên ngôn cam kết cùng nhau tiến hành cuộc chiến đấu chống phát xít với toàn bộ lực lượng của mình

Giai đoạn này với việc Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai từ cuộc chiến tranh từ phi nghĩa giữa các nước

đế quốc tranh giành thuộc địa sang cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình Sự kiện Mĩ tham chiến đã làm cho chiến tranh lan rộng toàn thế giới và lôi cuốn tất cả các cường quốc tư bản tham chiến Sự hình thành của khối Đồng minh chống CNPX đánh dấu CNTB và

CN XH đã cùng đứng trên một chiến tuyến chống lại kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít

Giai đoạn từ tháng 1/1942 đến tháng 8/1945

Sau cuộc tập kích vào Trân Châu cảng, Nhật Bản mở một loạt các cuộc tấn công vào các nước Đông Nam Á và bành trướng ở khu vực Thái Bình Dương Đến năm 1942, quân phiệt Nhật đã thống trị khoảng 8 triệu đất đai với 500

triệu dân ở Đông Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương

Ở mặt trận Xô - Đức, từ tháng 11/1942 đến 2/1943, Hồng quân Liên Xô phản công và giành thắng lợi lớn ở Xta-lin-grat, tạo ra bước ngoặt, làm xoay chuyển của cuộc chiến tranh thế giới, kể từ đây Liên Xô và phe Đồng minh

chuyển sang tấn công đồng loạt trên các mặt trận

Ở mặt trận Bắc Phi, Tháng 10/1942, liên quân Anh – Mĩ giành thắng lợi trong trận En A-la-men (Ai Cập), giành lại ưu thế ở Bắc Phi và chuyển sang phản công trên toàn mặt trận Từ tháng 3/1945 đến tháng 5/1945, liên quân Anh – Mĩ quét sạch quân Đức ra khỏi lục địa châu Phi

Ở Italia, sau khi quân Đồng minh đánh chiếm đảo Xixilia (7/1943) và bắt giam Mútxôlini, một chính phủ mới đã được thành lập, đầu hàng đồng minh Phát xít Italia sụp đổ Nhưng quân Đức đã đối phó kịch liệt, giải thoát cho Mút-xô-li-ni và lập lại chính phủ phát xít ở miền Bắc I-ta-li-a Hơn 30 sư đoàn quân Đức được điều sang Italia, kéo dài sự kháng cự tới tháng 5 – 1945 mới chịu khuất phục

Ở Thái Bình Dương, sau khi hoàn thành kế hoạch xâm chiếm Đông Nam

Á, Nhật Bản sử dung chính sách “châu Á của người châu Á” nhằm mục tiêu gạt

bỏ ảnh hưởng của các nước thực ân phương tây ở khu vực này Về kinh tế, từ tháng 7/1942, quân đội Nhật chiếm đóng ở các nước Đông Nam Á kiểm soát toàn bộ các ngành kinh tế then chốt của các quốc gia trong khu vực Chính sách

vơ vét bóc lột của quân đội Nhật đã gây ra một thảm họa chưa từng có đối với

Trang 21

các nước trong khu vực, làm tan biến ảo tưởng về sứ mệnh xây dựng Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Ácủa Nhật Tuy nhiên sau khi mở rộng xâm lược châu Á- Thái Bình Dương, Nhât Bản đã gặp những khó khăn trong việc chiếm đóng và kiểm soát những khu vực rộng lớn Từ mùa hè năm 1942, quân đội Nhật mất dần ưu thế ban đầu Từ tháng 8 - 1942 đến tháng 1 - 1943quân đội Mĩ đánh bại Nhật trong trận Guađancanan đã tạo ra được bước ngoặt quan trọng và chuyển sang phản công, lần lượt đánh chiếm các đảo ở Thái Bình Dương

Ở mặt trận Xô – Đức, đầu năm 1944, cuộc tổng phản công của Hồng quân Liên Xô diễn ra với 10 chiến dịch lớn nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ của mình Tiếp đó, Hồng quân tiến vào giải phóng các nước Đông Âu

và tiến sát tới biên giới nước Đức

Mùa hè năm 1944, Mĩ – Anh và quân đồng minh mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu đổ bộ tại Noóc-măng-đi (miền Bắc nước Pháp) Sự chuẩn bị đầy đủ và

ưu thế tuyệt đối về quân sự đã đưa tới thắng lợi của quân đồng minh tại Noóc măng-đi Phong trào khởi nghĩa vũ trang diễn ra khắp nơi, giải phóng nhiều vùng rộng lớn và nước Pháp cũng được giải phóng Quân Đồng minh tiến vào giải phóng các nước Bĩ, Hà Lan, Lúcxămbua, chuẩn bị tấn cồng nước Đức

-Đầu tháng 2/ 1945, trong bối cảnh thất bại của CNPX đang đến gần, Hội nghị nguyên thủ ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh họp tại Ianta từ ngày 4 đến 11/2/1945 Hội nghị đạt được những thỏa thuận quan trọng trong việc thống nhất mục tiêu tiêu diệt tận gốc CNPX Đức, quân phiệt Nhật, Liên Xô cam kết

sẽ tham chiến chống Nhật sau khi nước Đức đầu hàng.; thống nhất thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới; phân chia các khu vực chiếm đóng nước Đức và châu Âu; đề ra việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh Theo đó, châu âu được chia thành hai phần: các nước Trung và Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, các nước Tây và Nam Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ, Anh, Pháp

Ở Viễn Đông, các nước thỏa thuận việc Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật và các điều kiện kèm theo, việc quân đội Mĩ chiếm đóng ở Nhật Bản Các khu vực còn lại của châu Á (Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á)… vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước tư bản châu Âu như trước Những quyết định của các cường quốc tại hội nghị Ianta cũng như những thỏa thuận sau đó trở thành khuôn khổ của rật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai

Tháng 2/1945, quân Đồng minh tấn công quân Đức từ mặt trận phía Tây Tháng 4/1945, Hồng quân Liên Xô mở cuộc tấn công vào Béclin- sào huyệt cuối cùng của phát xít Đức, đập tan sự kháng cự của hơn 1 triệu quân Đức Ngày 30/ 4/1945, Hồng quân cắm cờ thắng lợi trên nóc toà nhà Quốc hội Đức Hítle tự sát dưới hầm chỉ huy Ngày 9/ 5 /1945, nước Đức kí văn bản đầu hàng không điều kiện Chiến tranh chấm dứt ở châu Âu

Ở mặttrận Thái Bình Dương, từ tháng 10/ 1944 đến tháng 8/1945, liên quân Mĩ - Anh triển khai cuộc tấn công đánh chiếm Miến Điện và quần đảo Philippin Từ cuối năm 1944, Mĩ tăng cường uy hiếp, đánh phá các thành phố lớn của Nhật Bản bằng không quân

Trang 22

Trong bối cảnh chiến tranh đã kết thúc ở châu Âu và đang đi vào hồi kết

ở châu Á- Thái Bình Dương, tháng 7/1945 tại Pốtxđam (Đức) nguyên thủ ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh đã gặp nhau để giải quyết các vấn đề ở châu Âu sau chiến tranh và việc đánh bại hoàn toàn phát xít Nhật

Ngày 6/8/1945, Mĩ ném bom nguyên tử xuống Hirôsima làm 8 vạn người chết Ngày 8/8/1945 Liên Xô tấn công đạo quân Quan Đông Nhật gồm 70 vạn quân ở Mãn Châu Ngày 9/8/1945, Mĩ ném tiếp quả bom nguyên tử thứ hai hủy diệt thành phố Nagaxaki giết hại 2 vạn người Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng không điều kiện CTTG II kết thúc

Như vậy, với sự hình thành khối đồng minh chống phát xít, các nước TBCN đã phối hợp cùng Liên Xô đẩy nhanh quá trình tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Phe Đồng minh liên tiếp giành thế chủ động trên chiến trường, phản công tiêu diệt CNPX, giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh

Thảm họa chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) đã tác động rất lớn đến nhiều nước trên thế giới Với việc thực hiện chiến lược động viên các nguồn lực

để phục vụ cho guồng máy của chiến tranh của các nước đế quốc tư bản tham chiến đã gây ra sự mất cân bằng trong sự phát triển kinh tế cũng như những khủng hoảng rất lớn trong đời sống chính trị, xã hôi, văn hóa của nhiều nước đế quốc tư bản cũng như hệ thống thuộc địa và phụ thuộc

IV MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA GIAI ĐOẠN 1918-1945

Giai đoạn 1918-1945, các nước tư bản chủ nghĩa đã trải qua những bước

phát triển thăng trầm đầy biến động gắn với những cuộc khủng hoảng mang tính chất chu kì, trong đó nặng nề nhất là cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) Cuộc khủng hoảng này đã tác động đến tình hình kinh tế, chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, dẫn đến các nước đế quốc bị phân hóa thành hai khối đối lập: một bên là các nước Mĩ, Anh, Pháp với một bên là các nước Phát xít Đức, Italia, Nhật Bản Điều này đã làm cho quan hệ giữa các cường quốc tư bản chuyển biến ngày càng phức tạp Cả hai khối đế quốcđẩy mạnh chạy đua vũ trang chưa từng có trong lịch sử phát triển mà hệ lụy của nó là sự bùng nổ cuộc

Chiến tranh thế giới thứ hai

Trong giai đoạn 1918 –1945, những biến động của CNTB đã làm cho những mâu thuẫn vốn có (mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với đế quốc; mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa, phụ thuộc với các nước đế quốc; giữa công nhân

và nhân dân lao động với giai cấp tư sản trong các nước tư bản) ngày càng gay gắt, đồng thời làm nảy sinh những mâu thuẫn mới (mâu thuẫn giữa các nước

Mĩ, Anh, Pháp và khối phát xít – Đức, Itali, Nhật Bản; mâu thuẫn giữa các nước

tư bản chủ nghĩa với Liên Xô)

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa về vấn đề thuộc địa ngày càng trở càng sâu sắc, đặc biệt khi hệ thống Vecsxai – Oasinhtơn được thiết lập Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc tư bản còn được đẩy lên đỉnh điểm với sự xuất

Trang 23

hiện của chủ nghĩa phát xít cùng với việc đẩy mạnh chạy đua vũ tranh để tiến hành cuộc chiến tranh thế giới chia lại thị trường thuộc địa

Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản chủ nghĩa tăng cường đẩy mạnh bóc lột các nước thuộc địa và phụ thuộc cũng như giai vô sản trong nước để bù đắp những tổn thất của CTTG I, những cuộc khủng hoảng mang tính chất chu kì và dốc vào chiến tranh CTTG II Chính sách khai thác, bóc lột của các nước đế quốc tư bản đã làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với các nước thuộc địa, phụ thuộc, giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

ở chính quốc thêm gay gắt Vì thế sau CTTG I, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển mạnh mẽ

Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga (1917), Nhà nước Xô Viết thành lập, đã làm cho CNTB bị phá vở một mảng lớn, chủ nghĩa tư bản không còn là 1 hệ thống duy nhất trên thế giới Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của Liên Xô là một thách thức to lớn đối với chủ nghĩa tư bản nói chung, buộc các nước tư bản phải điều chỉnh trong chính sách đối ngoại Hệ thống các nước tư bản vừa mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau, vừa hợp tác để cùng hạn chế sức mạnh của nhà nước XHCN Liên Xô

2.2 Xác định mục tiêu chủ đề

- Về kiến thức: Học xong chủ đề, học sinh cần đạt:

+ Trình bày được các giai đoạn phát triển của các nước TBCN (1918 – 1945) + Hiểu được hoàn cảnh, nội dung, tính chất của trật tự thế giới mới theo hệ thống hòa ước Véc-xai-Oa-sinh-tơn và hệ quả của nó

+ Nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 + Biết được tình hình nước Đức, Mĩ, Nhật Bản giai đoạn 1918-1945

+ So sánh đặc điểm của các nước tư bản giai đoạn 1918-1945

+Trình bày về các nước tư bản chủ nghĩa và con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai

+ Biết được thái độ, trách nhiệm của các nước tư bản chủ nghĩa đối với cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

+ Hiểu được vai trò của các nước tư bản chủ nghĩa trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Qua đó, giúp học sinh nhận thức, đánh giá một cách khách quan và khoa học về vai trò của Liên Xô, các nước đồng minh, của nhân dân chống phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình

+ So sánh nguyên nhân, kết cục cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai

+ Học sinh sử dụng kiến thức liên môn: Địa lí, văn học, âm nhạc, tin học, hội họa, giáo dục công dân để giải quyết các vấn đề đặt ra trong tiết dạy học

Trang 24

+ Kiến thức liên môn địa lí : để xác định các vị trí diễn ra hội nghị Vecsxai- Osinhtơn; sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu trước và sau khi trật tự thế giới mới được thiết lập; diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai để đánh giá thái độ, trách nhiệm của các nước tư bản trong việc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; đánh giá vai trò các nước trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít…

+Kiến thức Âm nhạc: trong việc tìm hiểu các bài hát trong chiến tranh thế giới thứ

hai

+ Kiến thức về văn hóa du lịch trong việc giải quyết các vấn đề sau:

Tìm hiểu các địa danh lịch sử có gắn với cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

+ Kiến thức văn học trong việc giải quyết các vấn đề sau:

Tìm hiểu các sách, báo, nhận địnhviết về hòa ước Vecxai- Osinhtơn; cuộc khủng hoảng kinh tế thừa và cuộc chiến thế giới thứ hai

+ Kiến thức giáo dục công dân trong việc giải quyết các vấn đề sau: Quy luật

phát triển kinh tế , đặc biệt là mối quan hệ giữa cung và cầu Trách nhiệm công dân công cuộc bảo vệ tổ quốc, đối với hòa bình thế giới, …

+ Kiến thức môn Tin học: Kĩ năng tìm kiếm thông tin trên mạng, Kĩ năng chụp

ảnh và quay video, kĩ năng tạo lập bài thuyết trình bằng Power Point., Kĩ năng

vẽ bản đồ tư duy bằng phần mềm iMindMap

+ Cảm thụ hội họa: khai thác các bức tranh biếm họa

- Về thái độ

+ Nhìn nhận khách quan về quá trình phát triển và bản chất của CNTB

+ Nhận thức được hậu quả của các cuộc chiến tranh phi nghĩa, sẵn sàng đấu tranh chống lại những tư tưởng phản động đi ngược với lợi ích nhân loại

+ Bồi dưỡng lòng yêu mến hòa bình và ý thức xây dựng một thế giới hòa bình,

+ Ủng hộ cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ và giải phóng của nhân dân thế giới

+ Năng lực chung: giải quyết vấn đề, tự học, giao tiếp, hợp tác, sử dụng ngôn

ngữ, sử dụng công nghệ thông tin

+ Năng lực chuyên biệt môn Lịch sử:Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch

sử; Thực hành lịch sử: khai thác kênh hình có liên quan đến chủ đề; Xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng và tác động giữa các sự kiện lịch sử với nhau;

Trang 25

So sánh các sự kiện lịch sử: quá trình phát xít hóa chính quyền để thoát khỏi khủng hoảng của nước Đức và Nhật Bản; so sánh thái độ, trách nhiệm của các nước tư bản trong việc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; so sánh vai trò của các nước trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít;Nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử; Thông qua sử dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình; liên

hệ kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra

+ Chăm chỉ: chăm chỉ học tập, tinh thần tự học, tham gia tích cực các hoạt động học tập cá nhân, tập thể, nhóm mà GV yêu cầu

+ Nhân ái: yêu con người, yêu cái đẹp, sẵn sàng cảm thông chia sẽ, lên án việc xâm chiếm thuộc địa, bóc lột con người, lên án chiến tranh

2.3 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

- Giáo viên: Kế hoạch dạy học, phiếu học tập, bảng biểu, tranh ảnh, máy tính

kết nối máy chiếu

- Học sinh: Sách vở, bút màu, bút viết, giấy Ao, tìm hiểu các tư liệu về các nước

tư bản chủ nghĩa giai đoạn 1918-1945; tìm hiểu lịch sử Việt Nam giai đoạn 1918-1945

- Sưu tầm các tranh ảnh tư liệu về kết cục chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai; Lược đồ diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai, hậu quả cuộc khủng hoảng kinh

tế thừa,về Hít-le, Rudoven

- Đọc kĩ nội dung chủ đề trước khi học trên lớp

Thông hiểu

- Lý giải được sau Chiến tranh thế giới thứ nhất một trật

tự thế giới mới được thiết lập - hệ thống Vécxai – Oasinhtơn

- Lí giải được những mâu thuẫn của các nước tư bản

chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ nhất

Trang 26

- Nắm được quá trình phát xít hóa bộ máy nhà nước ở Đức và quá trình quân phiệt hoá bộ máy nhà nước ởNhật Bản

- Trình bày được những chính sách về chính trị, kinh tế, đối ngoại của nước Đức thời Hítle

-Trình bày được những điểm cơ bản trong Chính sách mớicủa Tổng thống Mĩ Rudơven và tác dụng của nó trong việc đưa nước Mĩ thoát khỏi cuộc khủng hoảng

Thông hiểu

- Rút ra đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thừa 1929-1933

- Giải thích được tác động của cuộc khủng hoảng kinh

tế 1929 - 1933 đến tình hình Việt Nam

- Lí giải được sự thắng thế của CNPX ở Đức

- Lí giải được tại sao Anh, Pháp , Mĩ chọn con đường cải cách trong khi đó Đức, Italia, Nhật Bản chọn con đường phát xít hóa bộ máy nhà nước

- Hiểu được khái niệm, bản chất của chủ nghĩa phát xít

Vận dụng

cơ bản

- Nhận xét được về ảnh hưởng của việc Hít-le lên nắm quyền đối với nước Đức và thế giới

Trang 27

- So sánh được với quá trình phát xít hóa bộ máy Nhà nước ở Đức và quá trình quân phiệt hóa bộ máy nhà

- Liên hệ những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thừa đối với Việt Nam

-Nhận xét được hậu quả của việc Hít-le lên nắm chính quyền

- Rút ra đặc điểm quá trình quân phiệt hoá của Nhật Bản và quá trình phát xít hóa bộ máy nhà nước ở Đức

- Nhận xét đượcChính sách mới do chính quyền Tổng thống Rudơven đề ra đối với nền kinh tế Mĩ

- Liên hệ chính sách Rudơven với việc giải quyết khủng hoảng kinh tế của các nước hiện nay (vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế)

Đánh giá vai trò của chính sách mới của Tổng thống Ru-dơ-ven đối với nước Mĩ

Nhận xét được cách thức thoát khỏi khủng hoảng của Đức, Mĩ, Nhật và rút ra bài học

-Nêu được kết cục của Chiến tranh thế giới thứ hai

- Trình bày được tình hình các nước TBCN giai đoạn 1918-1945

Thông hiểu

-Phân tích được nguyên nhân sâu xa của chiến tranh thế giới thứ hai

-Hiểuđược thái độ của Liên Xô - Anh – Pháp – Mĩ trước những hành động xâm lược của phe phát xít

- Giải thích được tại sao quân Đức nhanh chóng chiến

Trang 28

được các nước Châu Âu

- Hiểu được khi Liên Xô tham chiến, tính chất của cuộc chiến tranh thay đổi

-Lí giải nguyên nhân sự phát triển thăng trầm của các

nước tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn 1918-1945

-Đánh giá được âm mưu và hành động tàn bạo của Mĩ khi ném bom nguyên tử sát hại thường dân Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai

- Liên hệ với tình hình Việt Nam (1939-1945)

-Liên hệ, rút bài học,trách nhiệm của bản thân trong cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới hiện nay

- Rút ra quy luật phát triển của các nước TBCN

- Đánh giá các nước TBCN giai đoạn 1918-1945 -Vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các bài tập của chủ đề và thực tiễn cuộc sống

2 5 Biên soạn các câu hỏi và bài tập theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất trong chủ đề

GV đánh giá kết quả làm câu hỏi, bài tập của HS thông qua 3 mức độ: Mức độ đầy đủ: Hs trả lời chính xác, đầy đủ đáp án

Mức tương đối đầy đủ: HS trả lời đúng một số đáp án nhưng chưa đầy đủ

Mức không tính điểm: HS chọn các đáp án khác, hoặc không trả lời

Trang 29

* Câu hỏi, bài tập mức độ nhận biết:

Trắc nghiệm

Câu 1 Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị

hòa bình tại đâu, vào thời gian nào?

A Pari ( 1919-1920) và Luân Đôn (1920 – 1921)

B Vécxai (1919 – 1920) và Oasinhtơn (1921-1922)

C Luân Đôn (1919 – 1920) và Oasinhtơn (1921 – 1922)

D Oasinhtơn (1919 – 1920) và Vécxai (1921 – 1922)

Hướng dẫntrả lời: Mức độ đầy đủ: Đáp án B

Câu 2 Văn kiện kí kết từ các hội nghị hòa hình được tổ chức sau Chiến tranh

thế giới thứ nhất đã đưa đến hình thành một trật tự thế giới mới, đó là

A trật tự đa cực B trật tự Oasinhtơn

C trật tự hai cực D trật tự Vécxai – Oasinhtơn

Hướng dẫntrả lời: Mức độ đầy đủ: Đáp án D

Câu 3: Điền dữ liệu đúng vào các ô trống sau:

Các nước thắng trận, trước hết là…(1)…, giành được nhiều quyền lợivề kinh tế

và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước …(2)…, đặc biệt là các…(3)…Đồng thời, ngay giữa các nước…(4)…cũng nãy sinh những bất đồng do…(5)…

A Tư bản thắng trận B Bại trận C Mâu thuẫn về quyền lợi

D Anh, Pháp, Mĩ, Nhật E Dân tộc thuộc địa và phụ thuộc

Hướng dẫn trả lời

Mức độ chính xác: đáp án 1-D, 2-B, 3-E, 4-A,5-C,

Câu 4: Tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên được thành lập nhằm duy

trì trật tự thế giới mới là

A Liên Hợp Quốc B Hội Quốc Liên

C Liên Minh Châu Âu D.ASEAN

Trang 30

A Hậu quả chiến tranh thế giới thứ nhất tàn phá, cao trào cách mạng bùng nổ mạnh mẻ ở các nước tư bản chủ nghĩa

B Sản xuất một cách ồ ạt, chạy theo lợi nhuận trong những năm1924-1929 dẫn

đến cung vượt qua cầu

C Hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ, người dân không đủ tiền mua hàng hoá

D Tác động của cao trào cách mạng thế giới 1918-1923 làm cho chính trị các nước tư bản chủ nghĩa khủng hoảng, kéo theo khủng hoảng kinh tế

1 Nhật Bản xâm lược Trung Quốc

2 Là cuộc khủng hoảng kt thừa, trầm trọng và kéo dài nhất trong lịch sử các nước tư bản

3 Khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra đầu tiên ở Mĩ

4 Chính phủ Hít-le lên cầm quyền

5 Số người thất nghiệp cao nhất ở Mĩ là 13 triệu người

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: a-3; b-2; c-4; d-5; e-1

Câu 8:Trước CTTG thứ hai, các nước Anh-Pháp- Mĩ đã thực hiện đường lối

như thế nào đối với các nước phát xít?

A Thỏa hiệp, nhượng bộ B Kiên quyết đấu tranh

D Hòa bình, thương lượng C Công khai ủng hộ phe phát xít

Hướng dẫn trả lời: Mức độ chính xác: Đáp ánA

Câu 9 : Hai nhóm nước đối lập nào được hình thành sau cuộc khủng hoảng kinh

tế (1929-1933) ?

A Mĩ, Anh, Pháp đối lập với Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản

B Mĩ, Anh, Đức đối lập với Pháp, I-ta-li-a, Nhật Bản

C Mĩ, I-ta-li-a, Nhật đối lập với Đức, Anh, Pháp

D Đức, Áo, Hung đối lập với Mĩ,Anh,Pháp

Hướng dẫn trả lời: Mức độ chính xác: Đáp ánA

Câu 10: Giai đoạn đầu của CTTG thứ hai ưu thế thuộc về

A phe Anh- Pháp- Mĩ B phía Liên Xô

C phe phát xít Đức, I-ta-li-a, Nhật D cả hai bên ở thế cầm cự

Trang 31

B Quân Đồng minh vượt sông Ranh vào nước Đức

C Hít-le tự tử dưới hầm chỉ huy

D Hội nghị Pốt-xđam khai mạc

Hướng dẫn trả lời: Mức độ chính xác: Đáp án A

Câu hỏi tự luận

Câu 1:Nêu kết cục của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã gây ra những

thảm họa hết sức nặng nề đối với nhân loại: Khoảng 1,5 tỉ người bị lôi cuốn vào vòng khói lửa, 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương, nền kinh tế châu Âu bị kiệt quệ Nhiều thành phố, làng mạc, nhà cửa, nhiều công trình văn hóa bị phá hủy trong chiến tranh Chi phí cho chiến tranh lên tới 85 tỉ đôla Các nước châu Âu đều trở thành con nợ của Mĩ Riêng Mĩ được hưởng lợi trong chiến tranh nhờ bán vũ khí, đất nước không bị bom đạn tàn phá, thu nhập quốc dân tăng gấp đôi, vốn đầu tư ra nước ngoài tăng 4 lần Nhật Bản chiếm lại một

số đảo của Đức, nâng cao vị thế ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương

Trong quá trình chiến tranh, giành thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và việc thành lập Nhà nước Xô viết đánh dấu bước chuyển lớn trong cục diện chính trị thế giới

Câu 2: Hội nghi hòa bình ở Vec-xai (1919-1920) Oa-sinh –tơn (1921-1922)

được kí kết trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào?Nhằm mục đích gì?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận đã

tổ chức Hội nghị hóa bình ở Vecsxai (1919-1920) và Oasinhtơn (1921-1922)để

kí hòa ước và các nước hiệp ước phân chia quyền lợi và thiết lập trât tự thế giới mới sau chiến tranh

Câu 3: Trình bày nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng 1929-1933

- Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ:Giai đoạn 1924-1929, các nước tư bản ổn định và phát triển nên

sản xuất hang hóa một cách ồ ạt, chạy theo lợi nhuận, theo chủ nghĩa tự do thái

Trang 32

quá, không dẫn kế hoạch dài hạn cho sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng dẫn đến cung lớn hơn cầu

Câu 4:Nguyên nhân nào dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ?

- Hướng dẫn trả lời Mức độ đầy đủ

- Nguyên nhân sâu xa:

Do quy luật phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị của CNTB cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước tư bản Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa ngày càng gay gắt.Việc phân chia thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất thông qua hòa ước Vescxai- Osinhtơn được thiết lập đã phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước tư bản chủ nghĩa Do mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nước tư bản bại trận với các nước tư bản thắng trận, ngay cả các nước tư bản thắng trận cũng nãy sinh những bất đồng Chính vì thế hệ thống hòa ước Vecxai- Osinhtơn

là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

Cuộc khủng hoảng kinh tế thừa 1929-1933, làm cho những mâu thuẫn trên thêm sâu sắc Hậu quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thừa là việc lên cầm quyền của CNPX ở một số nước, với ý đồ gây chiến tranh để chia lại thế giới Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập: một bên là Mĩ, Anh, Pháp với một bên là Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản và cuộc chạy đua vũ trang ráo riết dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.Thủ phạm gây chiến tranh là phát xít Đức, Nhật Bản, Italia Nhưng các nước: Mĩ với chính sách trung lập; Anh, Pháp với chính sách dung túng, nhượng bộ phát xít, muốn đẩy chiến tranh về phía Liên Xô đã tạo điều kiện cho phát xít gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

Câu 5: Nêu kết cục cuộc chiến tranh thế giới thứ hai?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn

của các nước phát xít Đức, Italia và Nhật Bản Thắng lợi vĩ đại thuộc về các dân tộc trên thế giới đã kiên cường chiến đấu chống CNPX Trong cuộc chiến đấu ấy,

ba cường quốc Liên xô, Mĩ, Anh là lực lượng trụ cột, giữ vai trò quyết định trong

việc tiêu diệt CNPX Hậu quả nặng nề đối với nhân loại Hơn 70 quốc gia với

1700 triệu người bị cuốn vào vòng chiến, khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu

người bị tàn phế Nhiều thành phố, làng mạc và nhiều cơ sở kinh tế bị tàn phá

Giai đoạn đầu khi Liên Xô chưa tham chiến CTTG II mang tính chất là các cuộc chiến tranh đế quốc, xâm lược, phi nghĩa Khi Liên Xô tham chiến đã làm cho tính chất của cuộc chiến tranh thay đổi, từ cuộc chiến tranh đế quốc trở thành cuộc chiến tranh của các lực lượng dân chủ, tiến bộ chống chủ nghĩa phát xít Chiến tranh thứ hai kết thúc dẫn đến những thay đổi căn bản trong tình hình thế giới

Trang 33

* Câu hỏi, bài tập mức độ thông hiểu:

Câu 1 Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước tư bản thắng trận

đã tổ chức hội nghị hòa bình để nhằm mục đích gì?

A Hợp tác kinh tế C Bàn về cách giải quyết hậu quả của chiến tranh

B Hợp tác về quân sự D Kí hòa ước và hiệp ước nhằm phân chia quyền lợi

Hướng dẫn trả lời : Mức độ chính xác: đáp án D

Câu 2:Tháng 1-1942, mặt trận Đồng minh thành lập nhằm mục đích

A chống lại sự tấn công của phát xít Đức ở Châu Âu

B trả thù sự tấn công của Nhật vào hạm đội Mĩ

C đoàn kết và tập hợp các lực lượng trên toàn thế giới để tiêu diệt CNPX

D liên kết giữa khối phát xít và khối các nước đế quốc để chống Liên Xô

Hướng dẫn trả lời : Mức độ chính xác: đáp án C

Câu 3: Trong CTTG thứ hai, chiến thắng nào của quân Đồng minh tạo nên bước

ngoặt làm xoay chuyển tình thế chiến tranh?

A Chiến thắng Xta-lin-grát ( 2/1943)

B Chiến thắng Liên quân Anh, Mĩ đổ bộ vào Bắc Pháp(6/6/1944)

C Chiến thắng của Hồng quân Liên xô trong chiến dịch công phá Béc-lin (9/5/1945)

D Mĩ ném bom nguyên tử vào Nhật Bản ( ngày 6 và ngày 9/8/1945)

Hướng dẫn trả lời : Mức độ chính xác: Đáp án A

Câu 4: Chiến thắng nào đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng”

của Hít le :

A Chiến thắng Mát-xcơ-va B Chiến thắng Xta-lin-gơ-rat

C Chiến thắng En A-la-men D Chiến thắng Gu-a-đan-ca-nan

Hướng dẫn trả lời: Mức độ chính xác: Đáp án A

Câu 5: Từ tháng 3  5/1945, quân đội nước nào đã quét sạch liên quân Đức –

Italia khỏi lục địa châu Phi:

A Liên quân Mỹ -Liên xô B.Liên quân Anh-Mỹ

C Liên quân Anh-Liên xô D.Liên quân Liên xô-Mỹ- Anh

Hướng dẫn trả lời:Mức độ chính xác: đáp án B

Câu6: Em hãy điền vào chỗ trống trong các câu sau:

Trang 34

Đức, Ý,(1) là những nước không có hoặc có ít.(.2) ,ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và thị trường, đã đi theo con đường.(3) chế độ chính trị để cứu vãn tình trạng khủng hoảng

- Hướng dẫn trả lời: Mức độ đầy đủ: 1- Nhật: 2- thuộc địa; 3- Phát xít hóa Câu hỏi Tự luận

Câu 1: so sánh về sự thay đổi của bản đồ chính trị châu Âu trước và sau chiến

tranh thế giới thứ nhất

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: - Qua lược đồ, các quốc gia không có trên bản đồ chính trị

Châu Âu: Áo-Hung Các quốc gia mới ra đời: Áo, Hung, Tiệp Khắc, Nam Tư và

Ba Lan Các quốc gia có thay đổi về lãnh thổ:Đức bị mất 1/8 đất đai, 1/12 dân số;Áo chỉ còn 6 triệu dân là người Đức; Hung-ga-ri chỉ còn giữ được 1/3 lãnh thổ Ru-ma-ni được sát nhập vào Áo và Hung-ga-ri, Các quốc gia khác như: I-ta-li-a, Ba lan, Bun-ga-ri cũng có những thay đổi đáng kể về lãnh thổ Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời ( Liên Xô)

Câu 2: - Rút ra đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ? Phân

tích hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 -1933 ? Theo em hậu quả nào

là nghiêm trọng nhất đối với nhân loại? Tại sao?

Hướng dẫn trả lời : Mức độ dầy đủ

1 Đặc điểm: Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế thừa, kéo dài, phạm vi rộng lớn, tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản

2 Hậu quả:

+ Về kinh tế: Tàn phá nặng nề nền kinh tế các nước tư bản Phá hủy nghiêm

trọng các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp nước Mĩ Năm 1932, khủng hoảng kinh tế diễn ra trầm trọng nhất: sản lượng công nghiệp chỉ còn 53,8% (so với năm 1929), 11,5 vạn công ti thương nghiệp, 58 công ti đường sắt bị phá sản, 10 vạn ngân hàng (chiếm 40% tổng số ngân hàng) phải đóng cửa, 75% dân trại phá sản…Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã giáng đòn nặng nề vào nền kinh tế Đức Năm 1932, sản xuất công nghiệp giảm 47% so với những năm trước cuộc khủng hoảng Hàng năm nhà máy xí nghiệp đóng cửa Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thừa đã làm cho nền kinh tế Nhật Bản giảm sút trầm trọng Sản xuất công nghiệp đình đốn Khủng hoảng xẩy ra nghiêm trọng trong nông nghiệp, do lệ thuộc vào thị trường bên ngoài của ngành này So với năm 1929, sản lượng công nghiệp năm 1931 giảm 32,5%, nông phẩm giảm 1,7 tỉ yên, ngoại thương giảm 80% Đồng yên sụt giá nghiêm trọng

+ Về chính trị - xã hội: hàng triệu người thất nghiệp Số người thất nghiệp ở Mĩ

lên tới hàng chục triệu, Nhật Bản số công nhân thất nghiệp 3 triệu, ở Đức hơn 5 triệu người Nông dân mất ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói, túng quẩn

Trang 35

Nhiều cuộc đấu tranh, biểu tình, tuần hành của những người thất nghiệp diễn ra

ở khắp các nước

+ Về quan hệ quốc tế:

Quan hệ giữa các cường quốc tư bản ngày càng phức tạp và dần hình thành

2 khối đế quốc đối lập Một bên là Mĩ, Anh, Pháp và một bên là Đức, Italia, Nhật Bản => Chủ nghĩa phát xít xuất hiện Cuộc chạy đua vũ trang ráo riết giữa

2 khối đế quốc này đã báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới

- Hậu quả nghiêm trọng nhất là: Chủ nghĩa phát xít xuất hiện

- Giải thích: Khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện => Cuộc chạy đua vũ trang ngày càng ráo riết, báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới

Câu 3: Vì sao chủ nghĩa phát xít lại thắng thế ở Đức ?

- Hướng dẫn trả lời:

Mức độ dầy đủ:

Đức là quê hương của chủ nghĩa quân phiệt, là nước bại trận bị thiệt hại nặng bởi chiến tranh thế giới thứ nhất Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 -1933) làm cho nền kinh tế Đức bị tàn phá nghiêm trọng Năm 1932, sản xuất công nghiệp giảm 47% so với những năm trước khủng hoảng Hàng nghìn nhà máy xí nghiệp phải đóng cửa Số người thất nghiệp lên đến 5 triệu người Mâu thuẫn xã hội và cuộc đấu tranh của quần chúng lao động đã dẫn tới cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng Giai cấp tư sản cầm quyền không đủ mạnh để duy trì chế độ cộng hòa tư sản, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng đó

Giới đại tư bản ngày càng ủng hộ lực lượng phát xít Đảng xã hội dân chủ

từ chối hợp tác với những người cộng sản Điều đó đã tạo điều kiện cho các thế lực phát xít lên cầm quyền ở Đức Ngày 30-1-1933, Tổng thống Hin-đen-bua chỉ định Hít –le làm thủ tướng và thành lập chính phủ mới, mở ra một thời kì đen tối trong lịch sử nước Đức

Câu 4: Giải pháp các nước tư bản giải quyết hậu quả cuộc khủng hoảng?vì sao

các nước có sự lựa chọn như vậy?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Anh, Pháp, Mĩ lựa chọn con đường cải cách vì:đó là những

nước có hệ thống thuộc địa rộng lớn, giàu tài nguyên, thỏa mãn với hệ thống

Vecsxai-Osinhtơn, có truyền thống dân chủ, thị trường tiêu thụ rộng lớn

Đức, Nhật, Italia: lựa chon con đường phát xít hóa vì: đó là những nước bất mãn với hệ thống Vecsxai- Osinhtơn, ít thuộc địa, nghèo tài nguyên, có thuyền thống quân phiệt hiếu chiến, thị trường tiêu thụ hẹp

Câu 5: So sánh quá trình quân phiệt hoá Nhật với quá trình phát xít hóa ở Đức Hướng dẫn trả lời

Trang 36

Mức độ đầy đủ: Ở Đức quá trình quân phiệt hoá diễn ra thông qua sự chuyển

đổi từ chế độ dân chủ tư sản đại nghị sang chế độ độc tài phát xít Ở Nhật, do có sẵn chế độ Thiên hoàng nên quá trình này diễn ra thông qua quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa Quá trình quân phiệt

hóa bộ máy nhà nước ở Nhật kéo dài trong suốt thập niên 30

Câu 6: Phân tích thái độ, hành động, trách nhiệm của các nước TBCN đối với

cuộc chiến tranh thế giới thứ hai

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: - Thái độ của Anh, Pháp, Mĩ trước chiến tranh thế giới thứ hai:

+ Mĩ là nước giàu mạnh nhất, nhưng lại theo "chủ nghĩa biệt lập" ở Tây bán cầu, không tham gia Hội Quốc liên và không can thiệp vào các sự kiện ở bên ngoài

châu Mĩ, muốn mượn tay phát xít tiêu diệt Liên Xô

+ Anh và Pháp vừa lo sợ sự bành trướng của phát xít, vừa thù ghét chủ nghĩa cộng sản, nên không liên kết với Liên Xô để chống phát xít, mà thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít để đổi lấy hoà bình, đồng thời đẩy chiến tranh về phía Liên Xô

+ Tại Hội nghị Muyních (9-1938), Anh và Phápđã kí một hiệp định trao vùng Xuy - đét của Tiệp Khắc cho Đức, để đổi lấy sự cam kết của Hítle về việc chấm dứt mọi cuộc thôn tính ở châu Âu

- Thái độ của Đức, Nhật Bản, Italia

+ Liên kết với nhau thành lập phe trục Béc-lin-Rô-ma-Tô-ki-ô

+ Tăng cường hoạt dộng quân sự và gây chiến tranh ở nhiều khu vực trên thế giới

- Trách nhiệm: Thủ phạm gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai là chủ nghĩa phát xít, nhưng các nước Mĩ, Anh và Pháp phải chịu một phần trách nhiệm về sự bùng nổ cuộc chiến tranh

- Thái độ của Liên xô:Trước hành động bành trướng của CNPX, Liên Xô chủ trương hợp tác với các nước để chống phát xít, chống chiến tranh, đứng về phái các dân tộc bị CNPX chiếm đóng, đã ra sức ngăn chặn sự bùng nổ của chiến tranh

- Thái độ các nước trong chiến tranh thế giới thứ hai:

+ Liên xô: kiên quyết chống CNPT, chống chiến tranh, kêu gọi các nước thành lập phe đồng minh chống phát xít

+Anh, Pháp, Mĩ: thay đổi dần thái độ, từ chính sách nhượng bộ phát xít, hòng đẩy chiến tranh về phía Liên Xô đến bắt tay với Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít

Trang 37

+ Đức, Nhật Bản, Italia: Kích động, tạo nên các mâu lớn Trực tiếp gây cuộc chiến tranh đẫm máu đối với nhân loại

* Câu hỏi, bài tập mức độ vận dụng cơ bản:

Câu 1: Kết cục cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất gợi cho em suy nghĩ gì?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Suy nghĩ về kết cục: chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến

tranh đế quốc phi nghĩa, để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với nhân loại Vì thế chúng ta cần yêu hòa bình, giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế bằng con đường hòa bình, ngăn chặn sự bùng phát chiến tranh Khi chiến tranh diễn ra cần liên kết các lực lượng dân chủ chống chiến tranh

Câu 2: Hít –le lên nắm quyền thủ tướng đã tác động như thế nào đến nước Đức

và tình hình thế giới?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Hít le lên nắm quyền thủ tướng với những chính sách phản

động đã đưa nước Đức vào thời kì lịch sử đen tối Với chính sách phản động hiếu chiến, Hítle ra sức chạy đua vũ trang, đặt thế giới đứng trước nguy cơ cuộc chiến tranh và thực tế cuộc chiến tranh thế giới đã diễn ra để lại hậu quả nghiêm

trọng cho nhân loại, mà thủ phạm chính là phát xít Đức

Câu 3: Việc Liên Xô tham gia chiến tranh đã tác động như thế nào đến cuộc

chiến tranh thế giới thứ hai?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Việc Liên xô tham gia chiến tranh thế giới thứ hai đã làm thay

đổi tính chất cuộc chiến tranh Chuyển cuộc chiến tranh từ phi nghĩa giữa các nước đế quốc tranh giành thuộc địa sang cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình

* Câu hỏi, bài tập mức độ vận dụng cao:

Trắc nghiệm

Câu 1.Trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã

A giải quyết được những mâu thuẫn giữa các nước tư bản

B xác lập được mối quan hệ hòa bình, ổn định trên thế giới

C giải quyết được những vấn đề cơ bản về dân tộc và thuộc địa

D làm nảy sinh những bất đồng do mâu thuẫn giữa các nước tư bản về vấn đề quyền lợi

Gợi ý trả lời: Mức độ chính xác: Đáp án D

Trang 38

Câu hỏi tự luận

Câu 1 Từ kết cục cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất em rút ra được bài học gì

cho bản thân?

Gợi ý trả lời

Mức độ đầy đủ:

Chiến tranh thế giới thứkết thúc đã để lại những hậu quả vô cùng nặng nề

đối với nhân loại Từ đó, nhân loại cần tránh những cuộc xung đột quân sự , đấu tranh để bảo vệ hòa bình thế giới hiện nay Cố gắng giải quyết các tranh bằng

giải pháp hoà bình, trách xa bạo lực …

Câu 2: Nêu quan điểm của em về các nhận định sau khi nói về hòa ước Vecsxai- Osinhtơn:

Nguyên soái Phốc - Nguyên Tổng tư lệnh quân Đồng minh ở châu Âu đã nói:

“Đây không phải là hòa bình Đây là cuộc lưu chiến trong 20 năm”

Uyliam Bulit - cộng tác viên đắc lực của Uyn-xton khẳng định: Hội nghị hòa bình chỉ làm được một việc là chuẩn bị những xung đột quốc tế trong tương lai ”

Theo Lê nin nhận định “trật tự thiết lập trên miệng núi lửa”

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ:

Đồng ý với các nhận định trên Bởi vì hòa ước Vec-xai -Oa-sinh –tơn được thiết lập đã phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước tư bản chủ nghĩaCác nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Nhật Bản, giành được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước bại trận, đặc biệt la các dân tộc thuộc địa va phụ thuộc Đồng thời ngay giữa các nước thắng trận cũng nãy sinh những bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi chính vì thế quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là tạm thời và mỏng manh

Câu 3: Em có nhận xét gì về tính chất của hệ thống hòa ước Vescxai –

Osinhtơn?

Gợi ý trả lời

Mức độ đầy đủ:

Rõ ràng hệ thống Vec-xai -Oa-sinh -tơn mang tính chất đế quốc chủ nghĩa,

nó mang lại quyền lợi nhiều nhất cho các nước Anh, Pháp, Mĩ xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của nhiều quốc gia, dân tộc, gây nên những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ các nước đế quốc Chính vì thế, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là tạm thời và mong manh

Trang 39

Câu 4: Quan sát bức hình châm biếm này em liên tưởng đến sự kiện nào sau

chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc? Hiểu biết của em về sự kiện lịch sử đó?

Hướng dẫn trả lời

- Mức độ đầy đủ: Bức hình châm biếm trên nói đến sự kiện Hội nghị Véc-xai

Tại Hội nghị này đã đưa người Đức lên máy chém vì: Với hòa ước Vec-xai sinh -tơn, Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/2 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than, 2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt Đức bị mất 1/8 đất đai, và bồi thường chiến phí nặng nề

-Oa-Câu 5: Trât tự thế giới mới theo theo hệ thồng Vescxai- Osinhtơn đã tác động

như thế nào đến quan hệ quốc tế ?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Trật tự hòa ước Vescxai- Osinhtơn đã phản ánh tương quan lực

lượng giữa các nước tư bản Do mâu thuẫn về quyền lợi, gây nên những mâu thuẫn vốn của các nước đế quốc càng thêm gay gắt, đồng thời xuất hiện thêm những mâu thuẫn mới Chính vì thế quan hệ hòa bình giữa các nước TBCN trong thời gian này chỉ là tạm thời và mỏng manh Trât tự thế giới mới theo hệ thồng Vescxai- Osinhtơn là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai

Câu 6: Hội nghị Vescxai gợi cho em nhớ đến sự kiện lịch sử nào trên hành trình

tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc? Sự kiện lịch sử đó có ý nghĩa lịch sử như thế nào?

Hướng dẫn trả lời

Mức độ đầy đủ: Tại hội nghị Vécxai, Nguyễn Tất Thành gửi đến cho các đại

biểu tham dự hội nghị Bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An nam Sự kiên này tạo tiếng vang lớn đến các nhà yêu nước của các nước trên thế giới đang hoạt động ở Paris cũng như trong dư luận ở Pháp và ở Đông Dương.Sau sự kiện này

đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức một điều sâu sắc đó là: muốn được giải

Trang 40

phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng bản

Mức độ đầy đủ: -Tranh “Người khổng lồ”: tượng trưng cho nhà nước hai tay

nắm tất cả các ngành, các đầu mối, mạch máu kinh tế kéo lên, nhằm khôi phục

và phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội

Ngày đăng: 05/08/2021, 13:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w