Đặt vấn đề Rất nhiều loài hoa và cây cảnh đã được nuôi cấy in vitro thành công nhưng hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức vi nhân giống mà chưa được khai thác về khía cạnh điều
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Trang 2STT Họ & Tên Mã sinh viên Lớp
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 33 Lịch sử hình thành
Trang 4Trong lĩnh vực hoa cây cảnh, nuôi cấy in vitro đã
khẳng định vai trò không thể thay thế và đem lại
hiệu quả kinh tế to lớn
Trong lĩnh vực hoa cây cảnh, nuôi cấy in vitro đã
khẳng định vai trò không thể thay thế và đem lại
hiệu quả kinh tế to lớn
1 Đặt vấn đề
Rất nhiều loài hoa và cây cảnh đã được nuôi cấy in vitro thành công nhưng hầu hết các nghiên cứu mới
chỉ dừng lại ở mức vi nhân giống mà chưa được
khai thác về khía cạnh điều khiển ra hoa in vitro.
Trang 5Trong các nghiên cứu về sinh lý thực vật được xem là rất quan trọng với mục đích tìm ra
nguyên lý, cơ chế của tự nhiên để có sự lựa chọn phù hợp khi tác động lên thực vật với
những mục tiêu xác định
“ Cơ chế của sự nở hoa ở thực vật” được xem
xét ở góc độ in vitro các nhà nghiên cứu đã
tìm ra nhiều phát sinh hình thái ở thực vật, tránh sự tác động của các chất được sản sinh
in vivo từ lá và rễ.
Trang 61 Đặt vấn đề
Để phục vụ nhu cầu thưởng thức, thưởng ngoạn hoa đa dạng, ngày nay, ngoài các phương thức trồng hoa trên giá thể truyền thống là đất thì phương thức trồng hoa trong môi trường nhân
tạo đang rất được quan tâm
Để phục vụ nhu cầu thưởng thức, thưởng ngoạn hoa đa dạng, ngày nay, ngoài các phương thức trồng hoa trên giá thể truyền thống là đất thì phương thức trồng hoa trong môi trường nhân
tạo đang rất được quan tâm
Tuy nhiên, vai trò của các yếu tố tham gia điều khiển
quá trình ra hoa in vitro ở cây trồng như quang chu kỳ,
nhiệt độ, chất điều hòa sinh trưởng cũng như thành phần đa, vi lượng trong môi trường nuôi cấy cần được
tiếp tục nghiên cứu và làm rõ
Tuy nhiên, vai trò của các yếu tố tham gia điều khiển
quá trình ra hoa in vitro ở cây trồng như quang chu kỳ,
nhiệt độ, chất điều hòa sinh trưởng cũng như thành phần đa, vi lượng trong môi trường nuôi cấy cần được
tiếp tục nghiên cứu và làm rõ
Hiện nay ở Việt Nam đã có những hiểu biết bước
đầu về cơ chế hình thành hoa in vitro
Hiện nay ở Việt Nam đã có những hiểu biết bước
đầu về cơ chế hình thành hoa in vitro
Trang 71 Đặt vần đề
Hoa hồng là một trong những loài hoa phổ biến nhất thế giới bởi màu sắc đa dạng, hình dáng đẹp
và hương thơm quyến rũ
Hoa hồng là một trong những loài hoa phổ biến
nhất thế giới bởi màu sắc đa dạng, hình dáng đẹp
và hương thơm quyến rũ
Hoa hồng được trồng khắp mọi nơi làm hoa cắt
và hoa trồng chậu đem lại giá trị kinh tế cao
Hoa hồng được trồng khắp mọi nơi làm hoa cắt
và hoa trồng chậu đem lại giá trị kinh tế cao
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định được ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng và các yếu
tố vi lượng đến quá trình ra hoa ở một số giống hoa hồng thương mại, tạo cơ sở cho việc phát triển các quy
trình kỹ thuật chủ động điều khiển ra hoa in vitro trên
Trang 82 Nuôi cấy mô thực vật
Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là phạm trù khái niệm chung cho tất cả các loại nuôi cấy nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật, trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng.
Bao gồm:
Nuôi cấy cây non và cây trưởng thành
Nuôi cấy cơ quan: rễ, thân, lá, hoa, quả, bao phấn, noãn chưa thụ tinh.
Nuôi cây phôi: phôi non và phôi trưởng thành
Nuôi cấy mô sẹo (callus)
Nuôi cấy tế bào đơn (huyền phù tế bào)
Nuôi cấy Protoplast: nuôi cấy phần bên trong của tế bào
thực vật sau khi tách vỏ, còn gọi là nuôi cấy tế bào trần.
Trang 92 Nuôi cấy mô thực vật
Các nghiên cứu về sự nở hoa trong ống nghiệm
thường được tiến hành theo một trong ba hướng sauBao gồm:
Nuôi cấy thực vật hoàn chỉnh (Cây in vitro có đầy
đủ rễ, thân, lá)
Nuôi cấy mô dạng chồi và cụm chồi
Nuôi cấy các bộ phận của thực vật chưa có đỉnh sinh trưởng (Mô sẹo, mô lá, rễ, cơ quan hoa, tế bào trần )
Trang 10Lịch sử hình thành
3
1938
1939 1902 1922 1934 1941 1948 1955 1957
Học thuyết hiện đại về tế bào học được công
bố do hai nhà khoa học M.J Scleiden (nhà nghiên cứu thực vật) và T Schwann (nhà nghiên cứu động vật) đề xuất:“Mọi cơ thể sinh vật phức tạp đều gồm nhiều đơn vị nhỏ là các tế bào hợp thành Các tế bào đã phân hóa đều mang các thông tin có trong tế bào đầu tiên và là những đơn vị độc lập, từ đó có thể xây dựng lại toàn bộ cơ thể“
M.J Scleiden T Schwann
Nhà khoa học Haberlandt lần đầu tiên đưa
các giả thuyết của Scleiden và Schwann
vào thực nghiệm
Haberlandt cho rằng: có thể tạo cá thể hoàn
chỉnh từ việc nuôi cấy tế bào
Tuy nhiên, Haberlandt đã không thành
công trong việc nuôi cấy tế bào thực vật do
những hạn chế về phương tiện kỹ thuật,
kiến thức khoa học thời bấy giờ. Haberlandt
Năm 1922, Kotte nhà khoa học Mỹ lặp lại thí nghiệm của Haberland với đỉnh sinh trưởng tách
từ đầu rễ loài cây họ hoà thảo Trong môi trường lỏng có chứa dinh dưỡng khoáng và đường glucose, đầu rễ sinh trưởng rất mạnh tạo thành một hệ rễ bao gồm cả rễ phụ Tuy vậy, sinh trưởng của mẫu tồn tại một thời gian, sau đó chậm dần và ngừng lại, mặc dù tác giả đã chuyển qua môi trường mới
Kotte
Năm 1934, giai đoạn thứ hai trong lịch sử nuôi cấy mô thực vật.
Gautheret tiến hành các nghiên cứu và thành công nuôi cấy mô phân sinh (tượng tầng) một số cây thân gỗ Gautheret xác nhận tác dụng của chất kích thích sinh trưởng trên mô sẹo của IAA và nhóm 3 vitamin do White khởi xưởng Cùng với Nobercourt (1939), Gautheret thành công trong việc duy trì sinh trưởng của
mô sẹo cà rốt trên môi trương rắn có chứa thạch agar
Năm 1941, nhà khoa học Overbeck chứng minh tác dụng kích thích sinh trưởng của nước dừa trong nuôi cấy phôi từ mẫu cây họ cà.
Frederick Campion Steward
Steward xác nhận tác dụng của nước dừa trên mô sẹo cà rốt Sau
đó nhiều chất kích thích sinh trưởng nhân tạo thuộc nhóm auxin
đã được nghiên cứu và tổng hợp thành công.
Folke K Skoog
Nhà khoa học Skoog phát hiện vai trò của
một hợp chất có tác dụng kích thích phân
bào, và đặt tên là Kinetin Sau này, các nhà
khoa học nghiên cứu tỉ mỉ hơn vai trò của
Kinetin và xếp vào nhóm cytokinin Đây là
những tiền đề kỹ thuật cho xác lập môi
trường nuôi cấy cho nhiều loài thực vật.
Skoog và Miller công bố các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ kinetin/auxin đối với sự hình thành mô sẹo cây thuốc lá Khi giảm thấp tỷ lệ kinetin/auxin, mô sẹo có xu hướng tạo
rễ Ngược lại nếu tỷ lệ kinetin/auxin tăng lên, mô sẹo phát sinh chồi.
Carlos O Miller
White - nhà khoa học Mỹ, nuôi cấy thành công trên cây cà chua với môi trường lỏng chứa dinh dưỡng khoáng, đường và dịch chiết nấm men và
có thể thay thế nước chiết nấm men bằng hỗn hợp ba loại vitamin nhóm B.
Went & Thimann phát hiện chất điều hoà sinh trưởng (hormon) đầu tiên
acid-B-indolacetic (1AA).
Trang 11Lịch sử hình thành 3
1958 1960 1966 19671968 19711972 1977 19801992 Now
Kerint và Sterward tạo được phôi và cây hoàn chỉnh từ tế bào thượng tầng cây cà rốt
Năm 1966, Guha và cộng sự thành công trong nuôi cây tạo cây đơn bội
Từ năm 1980 đến 1992 có nhiều thành công mới trong lĩnh vực công nghệ gen thực vật
Hiện nay, nuôi cấy mô tế bào thực vật đang ở giai đoạn thứ 4, nuôi cấy mô được ứng dụng khá phổ biến trong nhân giống cây trồng, chọn tạo giống, tạo đột biến, tạo sinh khối, sản xuất các hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học các ứng dụng về nuôi cấy mô tế bào thực vật nói riêng và công nghệ tế bào thực vật nói chung đang trở thành công cụ có hiệu quả trong việc tạo ra sản phẩm đặc thù phục vụ con người.
Năm 1960 Morelddax thành công trong nhân
giống in vitro loài lan Cymbidium từ mẫu
nuôi cấy là đỉnh sinh trưởng
Nhà khoa học Cooking lần đầu tiên dùng enzyme phân hủy thành tế bào và tạo ra số lượng lớn tế bào trần trên nhiều loại cây trồng khác nhau.
Năm 1967- 1968, lần lượt Nichko Nakato và cộng sự tạo được cây đơn bội từ bao phấn hoa thuốc lá
Năm 1971, Takebe tái sinh thành công cây thuốc lá từ tế bào trần
Năm 1972, Carlson và cộng sự lần đầu tiên thực hiện lai tế bào soma hai loài khác nhau, tạo được cây từ dung hợp tế
bào trần của 2 loài thuốc lá Nicotiana
glauca và N langsdorfi
Trang 134.1 Tính toàn năng của tế bào
4 Cơ sở kỹ thuật
Haberlandt (1902) là người đầu tiên đưa ra quan điểm rằng mỗi tế bào bất kỳ của một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh.
Theo quan điểm của sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng
rẽ đã phân hóa đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền cần thiết và đủ của cả cơ thể sinh vật đó Khi gặp điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh
Đó là tính toàn năng của tế bào
Trang 144.2 Sự phân hóa tế bào
4 Cơ sở kỹ thuật
Sự phân hóa tế bào là quá trình tế bào trải qua quá trình thay đổi về cấu trúc, hình dạng để thực hiện chức năng đặc thù nhất định.
Ví dụ: Mô dậu làm nhiệm vụ quang hợp, mô bì làm nhiệm vụ bảo vệ, nhu mô làm nhiệm vụ dự trữ, mô dẫn làm chức năng dẫn nước và dẫn dinh dưỡng
Quá trình phân hóa tế bào có thể biểu thị:
Tế bào phôi sinh → Tế bào phân hóa có chức năng riêng biệt.
Trang 155 Chất điều hòa sinh trưởng ở thực vật
Một khi thực vật đạt được độ tuổi nở hoa, các yếu tố môi trường như nhiệt độ ánh sáng và chất dinh dưỡng
có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành và biệt hóa chồi hoa
Những ảnh hưởng này được thực vật cảm nhận gián tiếp thông qua các chất có tác dụng kích thích hoặc ức chế sự nở hoa trong cơ thể chúng
Năm 1937, Chailakhyan đã đưa ra giả thuyết hormon chuyên biệt cho sự nở hoa, nhưng đến nay vẫn chưa tổng hợp được chất này
Trang 16Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu cho thấy sự nở hoa dường như là kết quả của sự tương tác giữa các chất điều hòa sinh trưởng thực vật như cytokinin, auxin,
GA, ethylene, acid abscisic (ABA) và những chất khác
đã biết hoặc chưa biết
Điều này càng thể hiện rõ hơn qua các nghiên cứu khảo sát sự nở hoa trong ống nghiệm và vai trò của các chất điều hòa sinh trưởng có vị trí quan trọng
5 Chất điều hòa sinh trưởng ở thực vật
Trang 17Các cytokinin là dẫn xuất của adenine, đây là những hormon liên quan chủ yếu đến sự phân chia tế bào, sự thay đổi ưu thế ngọn và phân hóa chồi trong nuôi cấy mô.
BA hay 6-benzyladenin là cytokinin nhân tạo
TDZ hay Thidiazuron có tác dụng như cytokinin nhưng không là dẫn xuất của adenine Ở nồng độ thấp, TDZ cảm ứng tái sinh chồi trực tiếp Ở nồng độ cao, TDZ cảm ứng hình thành mô sẹo và những cấu trúc bất thường Ở nồng độ quá cao, TDZ cảm ứng hình thành mô sẹo và phôi sinh dưỡng từ mô sẹo
Bổ sung BA, TDZ vào môi trường nuôi cấy có tác dụng
kích thích sự ra hoa in vitro như cây hoa hồng (Wang et al.,
2002; Kantamaht et al., 2010)
5 Chất điều hòa sinh trưởng ở thực vật
Trang 18• Các nguyên tố khoáng vi lượng được sử dụng ở nồng độ
thấp hơn 30mg/lít môi trường, các nguyên tố thường sử
dụng là Fe, B, Mn, I, Mo, Zn, Ni, Co
• Các nguyên tố này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
của enzyme
6 Chất khoáng vi lượng
Trang 19Bảng 1 Chất khoáng vi lượng thường dùng trong nuôi cấy mô
6 Chất khoáng vi lượng
Trang 20• AgNO3 và CoCl2 là hai chất có
khả năng điều khiển quá trình sinh
trưởng, phát triển của chồi thông
qua tác động vào quá trình trao
đổi ethylene (Biddington, 1992)
• Bổ sung hai hợp chất này vào môi
trường nuôi cấy có thể phát sinh
cơ quan, cảm ứng ra hoa sớm
thông qua ức chế hoạt động của
nghiên cứu của tác giả Pua EC, Chi GL
Trang 21(1976a).
Trang 237.1 Mục tiêu và yêu cầu7.1 Mục tiêu và yêu cầu
Trang 24 Mục tiêu
• Xác định được ảnh hưởng để điều khiển sự ra hoa in vitro
tạo môi trường tối ưu để có được tỷ lệ ra hoa cao
• Thúc đẩy quá trình chọn tạo các giống hoa mới cũng như làm đa dạng hóa sản phẩm và đáp ứng nhu cầu về chơi và thưởng thức hoa
• Xác định nguyên lý, cơ chế nở hoa ở thực vật trong điều
Trang 25 Vật liệu nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng đoạn thân bánh
tẻ chứa mầm ngủ ba giống hoa hồng vàng, hồng đỏ và hồng trắng thu thập tại Mê Linh - Vĩnh Phúc
Phương pháp nghiên cứu
• Đoạn thân bánh tẻ mang mắt ngủ (không quá già cũng không quá non), không sâu bệnh, sinh trưởng tốt được rửa sạch dưới vòi nước, ngâm trong xà phòng loãng 15 phút, rồi rửa lại dưới vòi nước chảy đến khi sạch xà phòng
• Sau đó, trong tủ cấy vô trùng, mẫu được ngâm trong cồn 70% trong 1 phút, rửa lại bằng nước cất vô trùng trước khi được khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 15 phút
và cuối cùng được rửa bằng nước cất vô trùng từ 3-5 lần
7.2 Vật liệu và phương pháp
Trang 26 Tạo vật liệu khởi đầu và điều khiển ra hoa in vitro
• Đoạn thân hoa hồng sau khi khử trùng được chuyển sang môi trường MS + 30g/l sucrose trong ba tuần để cảm ứng tạo chồi
• Các chồi sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh, thân mập có từ
3-4 lá, cao 1-1,5cm sau đó được chuyển sang môi trường MS+30g/l sucrose có bổ sung BA, TDZ, AgNO3, và CoCl2 ở các nồng độ khác nhau để kích thích chồi hoa hồng ra hoa
trong điều kiện in vitro
• Môi trường nuôi cấy được điều chỉnh pH 5,8 trước khi hấp
khử trùng ở nhiệt độ 121℃C trong 20 phút
• Điều kiện nuôi cấy in vitro: 16h sáng/8h tối, cường độ ánh
sáng 2000-2500lux, nhiệt độ 25±2℃C
7.2 Vật liệu và phương pháp
Trang 27 Bố trí thí nghiệm, theo dõi và xử
lý số liệu
• Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi công thức lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp lại
30 mẫu
• Các chỉ tiêu được theo dõi và đo đếm sau 3-10 tuần tùy từng thí nghiệm
• Số liệu được xử lý thống kê theo chương trình Excel và
IRRISTAT 5.0
Trang 287.3 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh
trưởng và chất khoáng vi lượng đến sự ra
hoa in vitro ở cây hoa hồng
Trang 29• Hình 4 Bài báo nghiên cứu
của Kantamaht et al (2010)
đã điều khiển ra hoa in vitro
cây hoa hồng giống Rosa
Trang 30• BA không có tác động cảm
ứng ra hoa in vitro ở cả ba
giống hoa hồng này Tỷ lệ
chồi ra hoa in vitro là 0% ở tất
• Điều này chứng tỏ, bên cạnh
chất điều tiết sinh trưởng,
phản ứng ra hoa in vitro của
hoa hồng phụ thuộc rất lớn
vào kiểu gen
Hình 5 Nhiễm sắc thể chứa
gen.
Trang 31Bảng 2 Thể hiện tỷ lệ chồi ra hoa của các giống hồng đang
nghiên cứu
BA
(mg/l)
Hoa hồng trắng
Hoa hồng vàng
Trang 32Đối với tác dụng kích
thích sự ra hoa in vitro,
đã có nhiều nghiên cứu
thành công khi bổ sung
TDZ vào môi trường
Trang 33• Hình 9 Vu et al
(2006) đã cảm ứng thành công ra hoa
in vitro cho hoa
hồng trên môi
trường ½ MS + 0,2; 0,5 hoặc 1,0 mg/l TDZ với tỷ lệ hình thành hoa đạt 11,1; 12,5 và 25%
Trang 34TDZ có ảnh hưởng khác
nhau đến ra hoa in vitro
của các giống hoa hồng nghiên cứu
Khác với trường hợp bổ sung BA, bổ sung TDZ đã
kích thích sự ra hoa in vitro của giống hoa hồng
vàng với tỷ lệ chồi ra hoa dao động từ 55,6-72,2% trên môi trường bổ sung 0,2-0,6 mg/l TDZ
Tỷ lệ chồi ra hoa đạt cao nhất (72,2%) tại nồng độ 0,2 mg/l TDZ
Trang 35Bảng 3 Ảnh hưởng của TDZ đến ra hoa in vitro của
các giống hồng đang nghiên cứu sau 6 tuần nuôi cấy.