Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Vai trò của nó đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một người biết lo bằng cả kho người hay làm”. Về sau, Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” 2, tr.178; và ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng. Bắt đầu từ quản lý theo kinh nghiệm, đến thế kỷ XX (đặc biệt vào những năm 40) ở phương Tây mới nghiên cứu có hệ thống vấn đề quản lý với sự xuất hiện hàng loạt công trình, như một “rừng lý luận quản lý” rậm rạp. Những lý thuyết đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý và thể hiện các tư tưởng triết học khác nhau, phát triển qua từng giai đoạn lịch sử. Thực tế cho thấy rằng một trong những cách học tốt nhất là nghiền ngẫm các bài học của quá khứ, song cũng không ít người cho rằng lịch sử không liên quan gì đến các vấn đề mà các nhà quản trị đang phải đối phó ngày nay. Thực ra các nhà quản trị vẫn dùng những kinh nghiệm và lý thuyết quản trị đã hình thành trong lịch sử vào nghề nghiệp của mình.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: TỔNG HỢP CÁC THUYẾT QUẢN LÝ CỔ ĐIỂN VÀ
TRUYỀN THỐNG, SO SÁNH CÁC TƯ TƯỞNG
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
Vị trí công tác:………
Đơn vị công tác:………
Hà Nội – 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang
4 Các thuyết quản lý cổ điển và truyền thống, so sánh các
Trang 3MỞ ĐẦU
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Vai trò của nó
đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một người biết lo bằng
cả kho người hay làm” Về sau, Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” [2, tr.178]; và ông hình dung quản lý
giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng
Bắt đầu từ quản lý theo kinh nghiệm, đến thế kỷ XX (đặc biệt vào những năm 40) ở phương Tây mới nghiên cứu có hệ thống vấn đề quản lý với sự xuất hiện hàng loạt công trình, như một “rừng lý luận quản lý” rậm rạp Những lý thuyết đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý và thể hiện các tư tưởng triết học khác nhau, phát triển qua từng giai đoạn lịch sử Thực tế cho thấy rằng một trong những cách học tốt nhất là nghiền ngẫm các bài học của quá khứ, song cũng không ít người cho rằng lịch sử không liên quan gì đến các vấn đề mà các nhà quản trị đang phải đối phó ngày nay Thực ra các nhà quản trị vẫn dùng những kinh nghiệm và lý thuyết quản trị đã hình thành trong lịch sử vào nghề nghiệp của mình
Nghiên cứu các lý thuyết quản lý nói chung và lý thuyết cổ điển và truyền thống nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp, công ty nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giúp các doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh tốt nhất Lý thuyết quản lý cổ điển và truyền thống là một di sản về quản trị đồ sộ, phong phú, là thành quả mà các nhà quản
trị ngày nay đang thừa hưởng Do vậy, nghiên cứu vấn đề “Tổng hợp các thuyết quản lý cổ điển và truyền thống, so sánh các tư tưởng” có ý nghĩa quan trọng.
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm quản trị
Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực Ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế) Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất
Quản trị nói chung theo tiếng Anh là "Management" vừa có nghĩa là quản
lý, vừa có nghĩa là quản trị, nhưng hiện nay được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị Tuy nhiên, khi dùng từ, theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ quản lý gắn liền với với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tức là quản lý ở tầm vĩ môi Còn thuật ngữ quản trị thường dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp [1, tr.267]
Có rất nhiều quan niệm về quản trị:
Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức;
Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động;
Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp; theo quan điểm hệ thống, quản trị còn là việc thực hiện những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức
và liên tục Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển
Nhiều người cùng làm việc với nhau trong một nhóm để đạt tới một mục đích nào đó, cũng giống như các vai mà các diễn viên đảm nhiệm trong một vở kịch, dù các vai trò này là do họ tự vạch ra, là những vai trò ngẫu nhiên hoặc tình cờ, hay là những vai trò đã được xác định và được sắp đặt bởi một người
Trang 5nào đó, nhưng họ đều biết chắc rằng mọi người đều đóng góp theo một cách riêng vào sự nỗ lực của nhóm
2 Lịch sử của quản trị
Từ những năm 1840 - 1890 khi những cơ sở sản xuất nhỏ, những công trường thủ công, xưởng thợ ra đời kèm theo nó là sự xuất hiện của những quản trị viên Họ là chủ sở hữu những cơ sở sản xuất nhỏ của mình và đồng thời là nhà quản trị
Sau năm 1890, nhiều xí nghiệp lớn, nhiều liên hiệp xí nghiệp ra đời và phát triển mạnh Để quản lý các doanh nghiệp có quy mô ngày càng lớn này và thích ứng với môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi, các nhà nước, các chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều đạo luật nhằm quy định quyền hạn và trách nhiệm của những xí nghiệp và liên hiệp xí nghiệp này
Trong quá trình cải tổ doanh nghiệp, không chỉ có các chủ sở hữu mà cả những luật gia cũng tham gia vào những chức vụ quan trọng của quản trị doanh nghiệp và hoạt động quản trị được thực hiện trong phạm vi những điều luật quy định
Tuy nhiên, trong giai đoạn trước năm 1910 chưa có những tác phẩm đáng
kể viết về quản trị doanh nghiệp, kể cả vấn đề tổng kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn Có chăng chỉ là những kinh nghiệm được sao chép, truyền lại qua các đời, từ các gia đình, dòng họ Vì vậy, quản trị doanh nghiệp chưa phải là môn khoa học chính thống
Từ năm 1910, nhiều công ty, nhiều tập đoàn sản xuất lớn được hình thành; nhiều ngân hàng xuất hiện nhằm phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn Các chức danh Giám đốc, Tổng Giám đốc ra đời Vấn đề quản trị doanh nghiệp càng được đặt ra cụ thể, chặt chẽ dưới các điều luật cụ thể
Vào năm 1911, tác phẩm quản trị doanh nghiệp có giá trị đầu tiên được xuất bản ở Mỹ Cuốn sách do nhà khoa học quản trị nổi tiếng F.W.Tây-lơ biên
soạn với tiêu đề: "Những nguyên tắc và phương pháp quản trị khoa học
-Principles and methods of scientice manngement" Cuốn sách chủ yếu đề cập
Trang 6vấn đề quản trị nhân sự: Làm thế nào để người lao động hoàn thiện và sử dụng
có hiệu quả công cụ lao động, thời gian làm việc để tăng năng suất lao động Sau Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1913 - 1918), tiếp đó là cuộc đại khủng hoảng kinh tế, tài chính đã làm cho hàng loạt các doanh nghiệp bị phá sản Nhiều doanh nghiệp còn trụ lại, được tổ chức lại hoặc hợp nhất với nhau Cơ chế quản lý mới ra đời thích ứng với thời kỳ mới Trên cơ sở này, giới quản trị doanh nghiệp mới xuất hiện với những nguyên tắc, phương pháp và kinh nghiệm quản lý mới [3, tr.190]
Sau đó lần lượt hàng trăm cuốn sách khác nhau, nhiều sách giáo khoa, bài báo về quản trị doanh nghiệp ra đời Những buổi hội thảo, hội nghị quốc tế, nhiều lớp học được tổ chức để làm sáng tỏ những vấn đễ cơ bản của quản trị doanh nghiệp trong điều kiện hiện đại Từ sau năm 1960, là thời kỳ sôi nổi, phát triển nhất của quản trị doanh nghiệp mà nhân loại đạt được từ nền kinh tế
tư bản phát triển tới nay Một công ty Mỹ trong năm 1960, đã phải chi tới 3.000.000 đô-la chỉ để phục vụ việc sưu tầm, thu thập, tổng hợp những tài liệu
về quản trị doanh nghiệp, nhằm bồi dưỡng cho những quản trị viên của công ty (chưa kể tiền lương và những chi phí khác phục vụ cho đội ngũ giáo sư, cán bộ giảng dạy )
Tóm lại, qua các giai đoạn phát triển của quản trị doanh nghiệp chúng ta
thấy nổi bật một vấn đề là: Xã hội từ chỗ chấp nhận từ từ đến chấp nhận hẳn vai trò của quản trị doanh nghiệp, mà gắn liền với nó là các quản trị viên có nghiệp
vụ và các cố vấn có năng lực vận dụng những kiến thức lý luận quản trị doanh nghiệp vào thực tiễn Ngày nay, nhất là những năm đầu của thập kỷ 90, ở hầu hết các nước đã hình thành một hệ thống trường lớp để đào tạo, bồi dưỡng các nhà quản trị doanh nghiệp tài ba đem lại
3 Bản chất của quản trị
Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất Nói chung, quản trị là một quá trình phức tạp mà các nhà quản
Trang 7trị phải tiến hành nhiều hoạt động từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực chất của quản trị là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất các yếu tố đầu ra theo chu trình quá trình hoạt động của một tổ chức, một doanh nghiệp
Những quan niệm trên cho dù có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở chỗ quản trị phải bao gồm ba yếu tố (điều kiện):
Thứ nhất: Phải có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và
một đối tượng quản trị tiếp Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động đó Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần
Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục
tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị được thực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động Về thuật ngữ chủ thể quản trị, có thể hiểu chủ thể quản trị bao gồm một người hoặc nhiều người, còn đối tượng quản trị là một tổ chức, một tập thể con người, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị đất đai, thông tin )
Thứ ba: Phải có một nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng
trong quá trình quản trị
4 Các thuyết quản lý cổ điển và truyền thống, so sánh các tư tưởng
* Phương Đông cổ đại
Ở Trung Hoa thời cổ đại, tư tưởng đức trị của Khổng Tử với triết lý Đạo
Nhân đã chi phối hoạt động quản lý, chủ yếu đối với việc quản lý xã hội, đất
nước (“trị quốc, bình thiên hạ”) bởi lẽ nền kinh tế thời đó chỉ là tiểu nông, thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ Cặp phạm trù Nhân – Lợi đã có ảnh hưởng nhất định đến quản lý qua tư tưởng nhân bản “làm cho dân giàu, nước mạnh”; được các đời sau kế thừa và phát triển
Đến thời Chiến quốc (280 – 233 trước CN), kinh tế khá phát triển song lại
kém ổn định về chính trị – xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ xướng tư tưởng pháp trị,
coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người Đó là tư tưởng duy
lý, duy lợi được tái hiện sau hơn 2000 năm ở phương Tây trong triết lý “con
Trang 8người kinh tế“ [4, tr.29] Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết
học đó để ngày càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý
* Các thuyết quản lý cổ điển và truyền thống phương Tây
Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cách mạng công nghiệp ở châu Âu (thế kỷ XVIII), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội Lý thuyết quản lý từng bước tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập -khoa học quản lý – từ đầu thế kỷ XX cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sau đó là chủ nghĩa xã hội
Từ “rừng lý luận quản lý” đó, các lý thuyết quản lý lần lượt được quy nạp
thành các trường phái quản lý với tư tưởng khác nhau Sự phân loại đó thực ra
chỉ có ý nghĩa tương đối; số lượng trường phái lúc đầu là 5, 6 và sau đó phát triển thành 11 trường phái gồm:
1) Trường phái quản lý theo quá trình làm việc (chính thống, cổ điển) 2) Trường phái quan hệ giữa người và người (thông qua con người)
3) Trường phái hành vi quần thể (hành vi của tổ chức)
4) Trường phái kinh nghiệm (so sánh các phương án)
5) Trường phái hệ thống hiệp tác xã hội (quan hệ văn hóa các tổ chức) 6) Trường phái hệ thống kỹ thuật xã hội (sản xuất, văn phòng, con người) 7) Trường phái phương pháp hệ thống (quan hệ hữu cơ trong tổng thể) 8) Trường phái lý luận về quyết sách (chọn phương án khả thi)
9) Trường phái toán học (dùng quan hệ toán học để thể hiện quyết sách) 10) Trường phái lý luận quyền biến (quản lý theo hoàn cảnh quan hệ với đối sách quản lý)
11) Trường phái vai trò giám đốc (qua hoạt động thực tiễn của người điều hành các cấp) [5, tr.252]
Mỗi trường phái về lý luận quản lý đều có cống hiến nhất định, cung cấp cho các nhà quản lý những kiến giải và phương pháp hữu hiệu (với tư cách là công cụ, phương tiện thay vì là nội dung quản lý) Việc phân loại các trường
Trang 9phái chủ yếu có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu về lý luận quản lý Điều đáng quan tâm hơn đối với các người làm quản lý thực tiễn là nội dung cụ thể của từng thuyết quản lý, bất kể thuộc trường phái nào miễn là có thể vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường quản lý hiện hữu
Tổng hợp các thuyết quản lý cổ điển và truyền thống tập trung chủ yếu ở một số nhà khoa học tiêu biểu sau:
Một là, trường phái cổ điển – Thuyết Taylor
Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, trường phái quản lý cổ điển – còn gọi là trường phái phổ biến – gồm hai thuyết quản lý chính: thuyết quản lý theo khoa
học (do F.W.Taylor là đại diện chủ yếu) và tiếp đó là thuyết quản lý tổng
quát (do H.Fayol đề xướng) Trường phái cổ điển đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản lý với những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hoạt động quản lý trong xã hội công nghiệp, mà những nội dung cơ bản của nó vẫn
có giá trị cao cho đến bây giờ
Frederick Winslow Taylor (1856 – 1916) xuất thân là một công nhân cơ khí ở Mỹ, kinh qua các chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư Với kinh nghiệm dày dặn của mình, ông đã phân tích quá trình vận động (thao tác) của công nhân, nghiên cứu quy trình lao động hợp lý (với các động tác không trùng lặp, tốn ít thời gian và sức lực) để đạt được năng suất cao Đó là sự hợp lý hóa lao động, theo nghĩa rộng là tổ chức lao động một cách khoa học Với các công trình nghiên cứu “Quản lý ở nhà máy” (1903), “Những nguyên lý quản lý theo khoa học” (Principles of scientific management) năm 1911, ông đã hình
thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở
Mỹ Thuyết này sau đó được Henry Ford ứng dụng qua việc lập ra hệ thống sản xuất theo dây chuyền dài 24km trong Nhà máy ôtô con đạt công suất 7000 xe mỗi ngày (là kỷ lục thế giới thời đó) Ngoài ra, Taylor còn viết nhiều tác phẩm
có giá trị khác Ông được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học” Nội dung tư tưởng quản lý theo khoa học dựa trên các nguyên tắc sau:
Trang 10Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp (chia nhỏ các phần việc) và xây dựng định mức cho từng phần việc Định mức được xây dựng qua thực nghiệm (bấm giờ từng động tác)
Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục) Các thao tác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ
Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ
về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân
Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ thể Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục
Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp
cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu (có hiệu quả cao), tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản
lý Các thuyết quản lý và trường phái quản lý khác vừa kế thừa thành tựu đó, vừa nâng cao những nhân tố mới để đưa khoa học quản lý từng bước phát triển hoàn thiện hơn
Hai là, thuyết quản lý của FAYOL
Trong khi thuyết quản lý theo khoa học của F.W.Taylor được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang châu Âu với ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ XX, thì ở Pháp xuất hiện một thuyết mới thu hút sự chú ý Qua tác phẩm chủ yếu “Quản lý công nghiệp và tổng quát” (Administration industrielle et générale) xuất bản năm 1949, Henri Fayol (người Pháp, 1841 – 1925) đã tiếp cận vấn đề quản lý ở