Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Quỳnh Trâm
Người hướng dẫn: PGS, TS Hà Công Anh Bảo
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được tríchdẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Quỳnh Trâm
Trang 4Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Giảng viên hướng dẫn PGS, TS Hà CôngAnh Bảo đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình bổ sung kiếnthức và hoàn thành Luận văn này.
Trong quá trình thực hiện Luận văn, chắc chắn không tránh khỏi những thiếusót và hạn chế Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn quan tâm
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 8 tháng 6 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Trâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG GỬI TIỀN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan về khách hàng gửi tiền tại NHTM… 6
1.1.1 Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM… 6
1.1.2 Khái niệm khách hàng gửi tiền tại NHTM 5
1.1.3 Phân loại khách hàng gửi tiền tại NHTM 7
1.2 Mục tiêu, vai trò của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 13 1.2.1 Mục tiêu của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 13
1.2.2 Vai trò của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 14
1.3 Các cách thức bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 16
1.3.1.Phòng chống rủi ro và đảm bảo an toàn cho khách hàng gửi tiền tại NHTM 18 1.3.2 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa khách hàng gửi tiền và NHTM 22
1.3.3 Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền trong trường hợp NTHM sáp nhập, mua lại, phá sản 24
1.3.4 Tổ chức bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 26
1.4 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM 28
1.4.1 Yếu tố khách quan 28
1.4.2 Yếu tố chủ quan 28
1.5 Kinh nghiệm của một số NHTM về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 33
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG GỬI TIỀN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRIBANK) 34
2.1 Tổng quan về Agribank 34
Trang 62.1.1 Quá trình phát triển 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động 35
2.2 Thực trạng bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Agribank 38
2.2.1 Trích lập dự trữ bắt buộc 39
2.2.2 Tham gia tổ chức bảo hiểm tiền gửi 40
2.2.3 Bảo mật thông tin khách hàng 40
2.2.4 Thông báo công khai lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các quyền, nghĩa vụ của khách hàng đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ đang cung ứng 43
2.2.5 Công bố thời gian giao dịch chính thức và không tự ý ngừng giao dịch vào thời gian đã công bố 44
2.2.6 Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền, bảo đảm thanh toán đủ, đúng hạn gốc và lãi của các khoản tiền gửi 44
2.2.7.Vấn đề đạo đức cán bộ, nhân viên… 54
2.3 Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Agribank 51
2.3.1 Một số kết quả đạt được 51
2.3.2 Hạn chế 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG GỬI TIỀN TẠI AGRIBANK 60
3.1 Định hướng của Agribank về tăng trưởng huy động vốn từ tiền gửi… 71
3.2 Đề xuất giải pháp thực hiện tại Agribank 60
3.3 Kiến nghị đối với quy định pháp luật 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 70
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 19Biểu đồ 1 Tổng nguồn vốn huy động tại Agribank 2015-2019… 53Biểu đồ 2 Tổng tiền gửi khách hàng tại Agribank 2015-2019… 53
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
NamBHTG Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
E -Banking Electronic-banking (dịch vụ ngân hàng điện tử)
IPCAS Hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt NamNHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
OCB Ngân hàng TMCP Phương Đông
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
TCTD Tổ chức tín dụng
Vietcombank Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
1.Các thông tin chung
1.1 Tên luận văn: Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
1.2 Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Trâm
1.3 Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
1.4 Bảo vệ năm: 2020
1.5 Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Công Anh Bảo
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá và làm rõ hơn cơ sở lý luận về bảo vệ quyền lợi khách hànggửi tiền tại NHTM
- Phân tích thực tiễn việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
- Đề xuất những kiến nghị đối với quy định pháp luật và giải pháp thực hiệngiúp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nâng cao hiệu quảcông tác bảo vệ quyền lợi của khách hàng gửi tiền
3.Những đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn làm sáng tỏ những lý luận cơ bản liên quan đến bảo vệquyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
- Thứ hai, luận văn phân tích thực tiễn việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửitiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, qua đó đưa racái nhìn tổng thể về công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, đánh giá các kết quả đạt được cũngnhư những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những mặt hạn chế
- Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo việcthực hiện bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM nói chung và tại Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nói riêng
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những định chế quan trọng, ngân hàng thương mại (NHTM) từkhi ra đời đến nay luôn giữ vai trò to lớn trong hệ thống tài chính quốc gia Trong
đó, vai trò chính của các NHTM là huy động nguồn vốn cho nền kinh tế CácNHTM có vai trò trong việc làm cầu nối đưa nguồn vốn tới các dự án đầu tư trongnền kinh tế bằng hoạt động kinh doanh tiền tệ, giúp nền kinh tế phát triển mạnh mẽhơn, hỗ trợ phần nào trong việc ổn định thị trường Việt Nam
Vốn của NHTM được hình thành bằng nhiều hình thức khác nhau như vốn tự
có, vốn tiền gửi, vốn từ việc phát hành giấy tờ có giá, ủy thác đầu tư, vốn tài trợ, nợChính phủ và Ngân hàng Nhà nước, trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm
tỷ trọng lớn nhất… Đối với bất kỳ ngân hàng nào, nguồn huy động từ tiền gửi củakhách hàng luôn là kênh quan trọng, nó vừa quyết định đến quy mô hoạt động vàquy mô tín dụng của ngân hàng, mặt khác quyết định đến khả năng thanh toán vàđảm bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế Thực tế chothấy vốn huy động tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm trên 50% tổngnguồn vốn của các NHTM Để có được nguồn vốn này, các ngân hàng cần phải tiếnhành huy động từ nhiều nguồn khác nhau như cá nhân thuộc các bộ phận dân cư,công ty kinh doanh, các công ty tài chính, cơ quan chính quyền, kho bạc nhà nước,bảo hiểm xã hội, tổ chức tín dụng khác…Với sự phát triển từng ngày của kinh tế xãhội, thu nhập và mức sống của dân cư ngày càng tăng lên, lượng tiền nhàn rỗi cũngtăng lên, người dân có nhu cầu được bảo đảm an toàn cho đồng tiền của mình vàkhai thác triệt để những lợi ích từ nó Vì vậy, nhu cầu gửi tiền tại các NHTM ngàycàng tăng cao và đa dạng về hình thức Gửi tiền ở ngân hàng là hình thức đầu tư antoàn, ổn định và ít rủi ro Đối với nhiều người, gửi tiết kiệm là một trong những lựachọn hàng đầu vì vừa đảm bảo an toàn vừa có thêm nguồn thu từ lãi suất tiền gửi.Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất, hay nói cách khác là kháchhàng cho ngân hàng vay tiền
Đối với NHTM nói chung và tại Agribank nói riêng, bảo vệ quyền lợi củakhách hàng gửi tiền góp phần giúp tăng trưởng hoạt động huy động vốn từ tiền gửi,đảm bảo an toàn hệ thống và giúp nâng cao vị thế của NHTM Hơn nữa, NHTM là
tổ chức có trình độ hiểu biết pháp luật, hệ thống quản lý chặt chẽ, khi giao dịch họ
có các mẫu hợp đồng soạn sẵn để bảo vệ tối đa lợi ích của mình Nhưng với kháchhàng, dù là cá nhân hay tổ chức thì sự hiểu biết pháp luật thường không nhiều, đặcbiệt tại Agribank, với đối tượng khách hàng phần lớn là cá nhân, hộ gia đình vùngnông nghiệp nông thôn
Trang 11Nhận tiền gửi là hoạt động diễn ra thường xuyên tại ngân hàng với số lượnggiao dịch lớn, cùng với đó là những rủi ro, tranh chấp có thể xảy ra Xuất phát từtính chất rủi ro và nguy cơ tranh chấp cao như vậy nên việc bảo vệ quyền lợi kháchhàng gửi tiền nói chung và tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam (Agribank) nói riêng là rất cần thiết Vì những lý do trên, cùng với nhận địnhAgribank là một ngân hàng thương mại lớn uy tín trên cả nước, với mạng lưới Chinhánh, Phòng giao dịch và số lượng khách hàng lớn, có thực tiễn huy động vốn
dưới hình thức nhận tiền gửi phong phú nên tôi lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại ngân hàng thươngmại, chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ pháp luật, tiêu biểu như:
- Luận văn Thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại Ngân hàng
thương mại theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Đào Thị Sao, người hướng dẫn khoa
học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy năm 2014, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác phẩm đã trình bày các vấn đề về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tạiNgân hàng thương mại ở Việt Nam dưới góc độ quy định pháp luật Thực trạng việc
áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại NHTM ở Việt Nam, từ đó đưa
ra một số kiến nghị nhằm bổ sung và hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này
- Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người gửi
tiền tại các tổ chức tín dụng” của tác giả Huỳnh Anh, người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thanh Bình năm 2010, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác phẩm cũng trình bày các vấn đề xoay quanh nội dung bảo vệ quyền lợicủa người gửi tiền tại dưới góc độ quy định pháp luật, từ đó đưa ra những hạn chế,bất cập trong quy định pháp luật và đề ra kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quyđịnh pháp luật
Một số Luận án Tiến sĩ có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi khách hàng củangân hàng thương mại như:
- Luận án Tiến sĩ: “Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện” năm 2012 của tác giả Vũ Hương Giang, Trường Đại học Ngoại
thương
Tác phẩm đã phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Namtrong điều kiện hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế Luận án phân tíchnhững giải pháp có tính chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hoạtđộng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Trang 12- Luận án Tiến sĩ: “Chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam – Thực trạng
và phương hướng hoàn thiện” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang,
Trường Đại học Ngoại thương
Tác phẩm đã tìm hiểu, khai thác các nội dung về chính sách bảo hiểm tiềngửi ở Việt Nam Nêu ra thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam và đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
và đạt được các mục tiêu đề ra
Nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu chỉnghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi khách hàng gửi tiềnhoặc dưới góc độ của bảo hiểm tiền gửi, nghiên cứu những vấn đề xoay quanh hoạtđộng bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam chứ không đi sâu vào tìm hiểu vai trò cũngnhư việc thực hiện các biện pháp của NHTM trong việc bảo vệ quyền lợi kháchhàng gửi tiền Thực tế đó cho thấy, hiện nay điều kiện kinh tế - xã hội đang ngàymột phát triển, việc cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài ngày một khốc liệt,
để có thể đảm bảo nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng cũng như nângcao vị thế của NTHM trong nước thì vấn đề bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền
cần được quan tâm Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” là cần
thiết, hữu ích và có tính ứng dụng cao trên thực tế
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở làm rõ lý luận của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tạiNHTM, cũng như phân tích thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi khách hàng gửitiền tại Agribank, đề tài sẽ đề xuất những giải pháp bảo vệ quyền lợi khách hàng gửitiền tại Agribank nói riêng và của NHTM nói chung
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra thì luận văn cần làm rõ các nhiệm vụnghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền lợi khách hànggửi tiền tại NHTM
- Phân tích thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tạiAgribank
- Đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế của hoạt độngbảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Agribank
- Đề xuất những giải pháp bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tạiAgribank nói riêng và của NHTM nói chung
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến quyền lợi của khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng thương mại nói chung và thực tiễn tại Agribank.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu tình hình thực hiện bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Agribank
-Phạm vi thời gian: Từ năm 2015-2020
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng tại các chi nhánh trong hệ thống Agribank
5.Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại và
hệ thống hóa lý thuyết để đưa ra những lý luận chung về bảo vệ quyền lợi kháchhàng gửi tiền tại NHTM, luận văn cũng sử dụng các phương pháp thu thập số liệu
vụ việc thực tế tại Agribank, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi khách hàng gửitiền tại Agribank, nêu ra những mặt được và chỉ ra tồn tại, hạn chế, từ đó đưa ra cácgiải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiềntại Agribank
6.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo… nội dung luậnvăn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngânhàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
- Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo vệquyền lợi khách hàng gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam
Trang 14CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI KHÁCH HÀNG GỬI TIỀN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về khách hàng gửi tiền tại NHTM
1.1.1 Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM
Cùng với cấp tín dụng, huy động vốn là một trong hai hoạt động quan trọngnhất của NHTM Trong đó, huy động vốn tiền gửi của NHTM mang tính đặc thùriêng, là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Chính
vì đặc thù này, NHTM thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi trong khi các tổchức tín dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi
Huy động vốn từ tiền gửi của NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho quá trình tái sảnxuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Nhờ đó, các NHTM biếnvốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, vừa thúcđẩy sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Quy mô của nguồn vốn tiền gửi thể hiện năng lực tài chính và uy tín củaNHTM Nguồn vốn huy động càng lớn càng thể hiện năng lực tài chính mạnh mẽ và
sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng, góp phần củng cố vị thế của ngân hàngtrên thị trường trong nền kinh tế
1.1.2 Khái niệm khách hàng gửi tiền tại NHTM
Vốn vừa có tính chất tiền đề, vừa có tính chất xuyên suốt cho quá trình hìnhthành và phát triển của NHTM Trong nhiều hình thức huy động vốn của NHTM, cóthể nói hình thức huy động vốn mang tính chủ đạo và hình thành nên đặc trưng củaNHTM là nhận tiền gửi hay nói cách khác là việc khách hàng gửi tiền vào ngânhàng Nhờ có hoạt động này đã hình thành nên nguồn vốn chiếm tỉ lệ lớn trong tổngnguồn vốn của NHTM Đây là nguồn vốn quan trọng bên cạnh vốn chủ sở hữu củaNHTM Tiền gửi chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng của NHTM sovới các tổ chức kinh tế khác, đó là “nơi chứa tiền” theo cách hiểu đơn giản nhất khinhắc đến các ngân hàng
Theo Từ điển kinh tế học thì Tiền gửi ngân hàng là tiền được gửi trong các
tài khoản ở ngân hàng (theo nghĩa đơn giản) Trên thực tế, nó chính là số liệu vềkhoản nợ của một ngân hàng đối với người gửi tiền Loại tiền này phát sinh từ vaitrò trung gian tài chính của ngân hàng Tiền gửi được giữ trong nhiều tài khoảnkhác nhau ở điều kiện sử dụng hay rút tiền ra Ở Anh, tài khoản vãng lai là tàikhoản có thể rút hoặc chuyển khoản bằng séc mà không cần báo trước, còn tài
Trang 15khoản tiền gửi là tài khoản phải báo trước một thời gian khi muốn rút tiền ra(Nguyễn Văn Ngọc, 2012, tr.536) Điều này có nghĩa là tiền gửi có mối quan hệchặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, khi có nguồn tiền huy độngtrong một khoảng thời gian nhất định, NHTM có thể triển khai dự án đầu tư trongnền kinh tế thông qua các hoạt động kinh doanh.
Luật các TCTD năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cácTCTD năm 2017 đã không đưa ra định nghĩa tiền gửi như các văn bản luật trước đó
mà quy định như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân
dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” Tác giả cho rằng khái niệm tiền gửi phải được “hoàn trả cho người gửi tiền”
là chưa thực sự chính xác vì tùy vào mục đích của người gửi tiền mà tiền gửi có thểđược hoàn trả lại cho người gửi tiền hoặc không Mục đích của việc gửi tiền có thể
là mở tài khoản để sử dụng các dịch vụ, lợi ích như dịch vụ thanh toán, gửi rút tiềnqua thẻ mà ngân hàng cung cấp, hai là khách hàng gửi tiền để hưởng lợi ích kinh tế
từ lãi suất của việc gửi tiền Như vậy, tiền gửi có thể được hoàn trả lại cho người gửitiền hoặc thanh toán cho người thứ ba theo yêu cầu của người gửi tiền tại các tổchức nhận tiền gửi
Tóm lại, có thể hiểu tiền gửi trong hoạt động ngân hàng một cách khái quátnhư sau: Tiền gửi là số tiền khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng dưới nhiều hìnhthức khác nhau, được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được hoàn trảcho người gửi tiền hoặc thanh toán cho người thứ ba theo yêu cầu của họ
Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn dưới hìnhthức nhận tiền gửi trong nhiều văn bản nhưng văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhấthiện nay là Luật các TCTD Luật các TCTD năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm
2017 quy định về “nhận tiền gửi” tại khoản 13 Điều 4: “Nhận tiền gửi là hoạt động
nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.” Như vậy, về cơ bản tiền gửi trong khái niệm
“nhận tiền gửi” tại Luật các TCTD năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017không khác biệt nhiều so với khái niệm “tiền gửi” quy định trong Luật các TCTD
1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2004 Luật các TCTD 1997, được sửa đổi bổsung năm 2004 có một phần riêng quy định về huy động vốn của các TCTD baogồm nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, vayvốn của ngân hàng nhà nước Theo đó, Luật này xác định phát hành giấy tờ có giákhông phải là hoạt động nhận tiền gửi Còn hiện nay, Luật các TCTD năm
2010 đưa “phát hành
Trang 16chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu” vào định nghĩa nhận tiền gửi, với tư cách là
một hình thức nhận tiền gửi Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung phân tích vềhoạt động nhận tiền gửi, không bao gồm hoạt động phát hành giấy tờ có giá
Từ các nội dung trên, có thể rút ra được khái niệm: Khách hàng gửi tiền tại
NHTM là cá nhân hoặc tổ chức phát sinh giao dịch thương mại phát sinh với NHTM, theo đó NHTM đồng ý vay của người gửi tiền một khoản tiền nhất định để làm vốn kinh doanh và cam kết hoàn trả số tiền đó cho người gửi tiền vào một thời điểm nhất định kèm theo một khoản lãi do hai bên thỏa thuận (nếu có).
1.1.2 Phân loại khách hàng gửi tiền tại NHTM
Phân loại theo chủ thể gửi tiền:
Theo quy định tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 Quyđịnh về tiền gửi tiết kiệm quy định đối tượng gửi tiền tiết kiệm và Thông tư số23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanhtoán của tổ chức, cá nhân tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửa đổi, bổsung bởi Thông tư 02/2019/TT-NHNN, có hai loại chủ thể gửi tiền tại NHTM là cánhân hoặc tổ chức
Cá nhân
Khách hàng cá nhân để tham gia vào giao dịch gửi tiền tại ngân hàng phảithỏa mãn một số điều kiện nhất định Trong đó, điều kiện cơ bản là phải có nănglực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia giao dịch và tự chịu trách nhiệmpháp lý về hành vi của mình Tùy vào từng hình thức gửi tiền và loại tiền mà phạm
vi chủ thể gửi tiền được quy định khác nhau
* Đối với tiền gửi tiết kiệm:
- Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam: Căn cứ quy định tại Điều 3 Thông
tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 Quy định về tiền gửi tiết kiệm quy địnhđối tượng gửi tiền tiết kiệm:
“1 Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ theo quy định của pháp luật.
2 Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
3 Công dân Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hoặc chưa đủ 15 tuổi thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; Công dân Việt Nam
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ”.
Trang 17-Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày31/12/2018 Quy định về tiền gửi tiết kiệm quy định đối tượng được tham gia gửi
tiết kiệm bằng ngoại tệ là “Công dân Việt Nam là người cư trú được gửi tiền gửi
tiết kiệm bằng ngoại tệ”.
Có thể thấy quy định tại Thông tư 48/2018/TT-NHNN đã thống nhất với quyđịnh tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 quy định chitiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp
lệnh ngoại hối quy định: “Người cư trú là công dân Việt Nam được sử dụng ngoại
tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc, lãi bằng đồng tiền đã gửi”, tức là chỉ có người cư trú là công dân Việt Nam
mới được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ Người nước ngoài nếu có nhu cầu gửi ngoại
tệ thì nộp ngoại tệ tiền mặt vào ngân hàng theo hình thức sử dụng dịch vụ giữ hộ vàkhách hàng phải nộp lệ phí cho dịch vụ
* Đối với tiền gửi thanh toán:
Căn cứ theo quy định tại tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán của tổchức, cá nhân tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửa đổi, bổ sung bởiThông tư 02/2019/TT-NHNN, cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chinhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
23/2014/TT-“ a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Người chưa đủ 15 tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ”.
- Đối với tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ: Căn cứ quy định tại khoản 14
Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ngoại hối 2013 “Người cư trú, người
không cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc sử dụng tài khoản ngoại tệ của các đối tượng quy định tại khoản này” Như vậy, so với tiền gửi tiết kiệm thì đối tượng
được mở tài khoản thanh toán có thêm người không phải là công dân Việt Nam.Quy định này mở rộng cơ chế hơn nhằm phục vụ nhu cầu sinh sống và làm việccủa người nước ngoài tại Việt Nam
Trang 18Tổ chức
Tương tự đối với khách hàng là cá nhân, khách hàng là tổ chức khi gửi tiềntại NHTM cũng phải thỏa mãn một số yêu cầu theo quy định pháp luật Riêng đốivới tiền gửi tiết kiệm chỉ áp dụng cho đối tượng chủ thể là cá nhân Do vậy, kháchhàng là tổ chức có thể gửi tiền dưới hình thức tiền gửi thanh toán
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán của tổ chức, cánhân tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửa đổi, bổ sung bởi Thông
tư 02/2019/TT-NHNN, tổ chức mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài phải đáp ứng yêu cầu“ Tổ chức được thành lập,
hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.”
- Đối với tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ: theo quy định tại khoản 14
Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ngoại hối 2013 “Người cư trú, người
không cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc sử dụng tài khoản ngoại tệ của các đối tượng quy định tại khoản này” Như vậy, đối tượng người không cư trú là tổ chức
cũng được phép mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép theo quyđịnh pháp luật
Thực tế, so với tiền gửi của tổ chức, tiền gửi của cá nhân hiện nay chiếm tỷ
lệ cao hơn trong tổng nguồn vốn huy động của các NHTM Mặt khác, hoạt độngnhận tiền gửi cá nhân có phạm vi tiền gửi được nhận rộng hơn, cụ thể: NHTM cóthể nhận tiền gửi của cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, trong khi đó pháp luật quy định đối với khách hàng là tổchức thì không có hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm Lý do pháp luật quy định nhưvậy là bởi lẽ một bộ phận lớn khách hàng cá nhân có tiền gửi nhàn rỗi lâu dài nên
có thể gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức dù dướibất cứ hình thức nào cũng là một phần trong hoạt động luân chuyển vốn thườngxuyên, Nhà nước cũng không khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp gửi tiền tiếtkiệm để hưởng lãi mà nguồn vốn đó phải được luân chuyển đưa vào nhằm mục tiêuphát triển nền kinh tế Đối với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn nói chungthì tổ chức, cá nhân gửi tiền sẽ không nhận được sổ/thẻ tiết kiệm, toàn bộ hoạtđộng giao dịch gửi tiền sẽ được lưu lại trên hệ thống ngân hàng; còn đối với tiềngửi tiết kiệm thì cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhậntrên sổ/thẻ tiết kiệm và được tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảohiểm tiền gửi Pháp luật hiện hành cũng quy định chỉ bảo hiểm tiền gửi của cá
Trang 19nhân, không bảo hiểm tiền gửi của tổ chức Bởi lẽ, mục tiêu lớn nhất của bảo hiểmtiền gửi là bảo vệ số đông người gửi tiền nhỏ lẻ, không có điều kiện tham gia đadạng hoạt động kinh doanh, không có điều kiện tiếp cận thông tin tham gia gửi tiềntại các TCTD Đối với tiền gửi của doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng thì đây làmột phần trong hoạt động luân chuyển vốn, được quản lý chặt chẽ bởi chế độ quảntrị doanh nghiệp nên không thể có vấn đề thiếu thông tin về tổ chức tín dụng màdoanh nghiệp gửi tiền Còn đối với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chứckhác có tiền gửi tại các tổ chức tín dụng thì hầu hết nguồn vốn có được từ huy độngnhằm thực hiện mục tiêu nhất định, chỉ tạm thời nhàn rỗi nên thường không kết dưvới số lượng lớn, sau mỗi đợt huy động phải công khai việc huy động, quản lý và
sử dụng để tạo lòng tin, sự đồng thuận và ủng hộ cao của các thành viên tham giađóng góp Ngoài ra, các tổ chức này cũng có bộ máy quản lý tài chính chuyên trách
để thu thập thông tin liên quan đến các tổ chức tín dụng
Phân loại theo kỳ hạn gửi tiền:
Phân loại theo kỳ hạn gửi tiền, tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn vàtiền gửi có kỳ hạn:
* Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi với thời gian không xác định.Thông thường, tiền gửi loại này để thực hiện các khoản chi trả phục vụ hoạt độngsản xuất kinh doanh hoặc vì mục đích chi tiêu, tiêu dùng Khách hàng gửi loại tiềnnày sẽ không được trả lãi hoặc trả lãi với mức lãi suất thấp Tiền gửi không kỳ hạnhầu hết là khoản tiền đang chờ thanh toán, không phải là tiền mà khách hàng nhànrỗi để dành nên khách hàng có thể rút ra hoặc sử dụng để thanh toán bất cứ lúc nàotheo nhu cầu Đối với tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng được sử dụng các công cụthanh toán để chi trả như séc, ủy nhiệm chi và các lệnh chi khác… Ngoài ra, kháchhàng có thể gửi tiền vào NHTM với thời gian không xác định với mục đích bảotoàn tài sản, gửi giữ tài sản mà không mang tính chất phục vụ thanh toán, khi cần
có thể rút ra để sử dụng Quy định về tiền gửi không kỳ hạn không có văn bản quyđịnh riêng mà được áp dụng theo Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán của tổ chức, cá nhân tại tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 02/2019/TT-NHNN và một phần tại quy định về tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn theo Thông tư
số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018
*Tiền gửi có kỳ hạn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày
31/12/2018 “Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín
dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín
Trang 20dụng với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng” Theo đó, tiền
gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào NHTM trên cơ sở có sự thỏathuận với NHTM về kỳ hạn gửi tiền hay thời gian rút tiền Về nguyên tắc, kháchhàng gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thỏa thuận Tuy nhiên, trên thực tế đểthu hút khách hàng gửi loại tiền gửi này, các NHTM có thể cho phép khách hàngđược rút tiền trước thời hạn với mức lãi suất được hưởng thấp hơn so với lãi suất
áp dụng đối với kỳ hạn đã thỏa thuận Đối với mỗi loại kỳ hạn, NHTM áp dụngmột mức lãi suất tương ứng trên nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao Cácloại kỳ hạn cụ thể do tổ chức nhận tiền gửi quy định và thường được chia ra baloại: Ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến dưới 60 tháng), dài hạn(từ 60 tháng trở lên)
Phân loại tiền gửi của khách hàng theo kỳ hạn từ ngắn hạn, trung hạn đến dàihạn và không thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng gửi tiền cũng nhưtại ngân hàng nhận tiền gửi Tiền gửi không kỳ hạn có thể rút bất cứ lúc nào, tạocho người gửi tiền sử dụng số tiền gửi một cách linh hoạt hơn nhưng lại không đượchưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp Do đó khi tham gia quan hệ tiền gửi dưới hình thứcnày, khách hàng thường sử dụng đồng thời với những dịch vụ mà tổ chức nhận tiềngửi cung cấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền linh hoạt của mình Tiền gửi có kỳ hạnràng buộc khách hàng phải tuân thủ theo kỳ hạn gửi tiền nhưng lại có mức lãi suấtcao hơn Khi có một lý do nào đó mà người gửi tiền theo kỳ hạn phải rút tiền trướchạn thì các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng báo trước một thời hạn nhất định
và khách hàng sẽ chỉ được hưởng lãi suất rất thấp như đối với tiền gửi không kỳhạn Đối với ngân hàng nhận tiền gửi, việc phân chia thành nhiều loại tiền gửi với
kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn phù hợp với nhóm khách hàng riêng giúp cho cácngân hàng thu hút được nhiều khách hàng tới gửi tiền và đồng thời tạo điều kiệncho NHTM sử dụng nguồn vốn huy động bằng nhận tiền gửi có hiệu quả, lập kếhoạch kinh doanh phù hợp Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì ngân hàng càng có lợithế sử dụng tiền gửi này để cho vay trung dài hạn, ổn định hơn và thu lại lợi nhuậncao hơn Tuy nhiên, đối với tiền gửi không kỳ hạn, do tính bất ổn định và không thể
dự đoán trước việc rút tiền của khách hàng nên ngân hàng không thể sử dụng toàn
bộ số vốn này để cho vay trung và dài hạn mà chỉ sử dụng theo một tỷ lệ nhất định
do Ngân hàng Nhà nước quy định Cụ thể: Với khách hàng gửi tiền, việc phân loại
kỳ hạn tiền gửi giúp đáp ứng nhu cầu của từng khách hàng nhất định bởi thời giannhàn rỗi của khoản tiền cũng như nhu cầu về thời gian gửi tại ngân hàng của mỗikhách hàng là khác nhau Quy định về tiền gửi có kỳ hạn được thực hiện theoThông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 và một phần về tiền gửi tiết kiệm
có kỳ hạn tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018
Phân loại theo mục đích gửi tiền:
Trang 21Theo mục đích gửi tiền của người gửi tiền, có thể phân loại tiền gửi cá nhânthành tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán:
*Tiền gửi tiết kiệm:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày
31/12/2018 Quy định về tiền gửi tiết kiệm: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được
người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng” Theo đó, tiền gửi tiết kiệm được hiểu
là khoản tiền của khách hàng được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xácnhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiếtkiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Có thểthấy, đây là loại tiền gửi mà pháp luật quy định riêng đối với trường hợp người gửitiền là cá nhân, nó được gửi ở các NHTM để được quản lí, cất giữ hộ hoặc để hưởnglãi theo định kỳ
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửitiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà ngườigửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làmviệc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửitiết kiệm, trong đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về
kỳ hạn gửi nhất định
*Tiền gửi thanh toán
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về khái niệm tiền gửi thanh toán.Tuy nhiên, quy chế pháp lý về tiền gửi thanh toán hiện được thực hiện theo Thông
tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoảnthanh toán của tổ chức, cá nhân tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửađổi, bổ sung bởi Thông tư 02/2019/TT-NHNN Theo đó, tiền gửi thanh toán là loạihình tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân gửi vào NHTM với mục đíchchủ yếu là để thực hiện các giao dịch thanh toán, chi trả qua Ngân hàng cho cáchoạt động mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trongđời sống hằng ngày bằng các phương tiện thanh toán như: séc lĩnh tiền mặt, ủynhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử một cách thường xuyên, an toàn,thuận tiện
Khác với cách phân loại tiền gửi theo kỳ hạn, pháp luật ghi nhận việc phânloại tiền gửi theo mục đích gửi tiền rõ ràng hơn bằng việc ban hành hai quy chếpháp lý riêng biệt cho tiền gửi tiết kiệm (Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày31/12/2018 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm) và tiền gửi thanh toán (Thông tư số23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanhtoán của tổ chức, cá nhân tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được sửa đổi, bổ
Trang 22sung bởi Thông tư 02/2019/TT-NHNN) Việc ghi nhận và điều chỉnh bằng quy chếpháp lý riêng đối với mỗi loại tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng củacác tổ chức nhận tiền gửi và khách hàng gửi tiền.
Ngoài các cách phân loại tiền gửi nêu trên, tiền gửi của khách hàng có thểđược phân biệt theo theo phương thức trả lãi thường áp dụng đối với tiền gửi tiếtkiệm như tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm trả lãi sau và tiết kiệm trả lãi định kỳ; theophương thức nộp gốc của tiền gửi tiết kiệm như tiết kiệm gửi một lần, tiết kiệm gửigóp định kỳ và tiết kiệm gửi góp không theo định kỳ; theo loại tiền bao gồm tiềngửi nội tệ và tiền gửi ngoại tệ
1.2 Mục tiêu, vai trò của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
1.2.1 Mục tiêu của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
Nhận tiền gửi là hoạt động có vai trò quan trọng trong quá trình vận hànhkinh doanh của NHTM Tiền gửi hình thành nên vốn huy động là cơ sở để ngânhàng thực hiện mọi hoạt động kinh doanh; việc thu hút khách hàng cũng chính làcách để nâng cao vị thế của NHTM trong thị trường kinh doanh Để duy trì hoạtđộng nhận tiền gửi từ khách hàng thì điều quan trọng nhất chính là làm thỏa mãnnhu cầu cũng như tạo dựng sự tin tưởng cho khách hàng Do đó, việc bảo vệ quyềnlợi khách hàng gửi tiền là yếu tố tiên quyết trong quá trình duy trì hoạt động củaNHTM Mục tiêu của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền có thể kể đến nhưsau:
Thứ nhất, tăng trưởng hoạt động huy động vốn từ tiền gửi Hoạt động huy
động vốn từ tiền gửi là tiền để để ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh Từnguồn vốn huy động được, các ngân hàng có thể quyết định quy mô hoạt động tíndụng, quyết định khả năng thanh toán và bảo đảm uy tín của NHTM, quyết địnhnăng lực cạnh tranh của NHTM,… Nguồn vốn dồi dào giúp cho ngân hàng mở rộngquy mô hoạt động, tăng cường quan hệ với các đối tác, tăng khả năng cạnh tranhvới các ngân hàng khác, hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi,
… Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiệntốt hơn Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM chính là bảo vệ nguồnvốn huy động tăng trưởng không ngừng
Thứ hai, đảm bảo an toàn hệ thống Không thể phủ nhận một điều rằng, để
đưa ra quyết định gửi tiền tại một NHTM, bất kỳ khách hàng nào cũng đều phải cânnhắc đến yếu tố sự bảo đảm an toàn tiền gửi của hệ thống Ngân hàng đó Chỉ khiNHTM gây dựng được uy tín và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng gửi tiền, nguồnvốn của ngân hàng mới có thể ổn định để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác,trong đó chủ yếu là hoạt động cho vay Nếu nguồn vốn huy động không ổn định thì
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến NHTM, khi đó các cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu sẽ
Trang 23không tiếp cận được nguồn vốn, không có vốn thể phát triển hoạt động kinh doanh,
từ đó dẫn đến trì trệ nền kinh tế Do vậy, mục tiêu của việc bảo vệ quyền lợi củakhách hàng gửi tiền cũng chính là bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và toàn
bộ nền kinh tế
Thứ ba, nâng cao vị thế của NHTM Việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi
tiền tại NHTM chính là nhằm mục tiêu nâng cao vị thế của NHTM Giữa một nềnkinh tế phát triển không ngừng với sự ra đời hàng loạt các tổ chức tín dụng Việcmột ngân hàng đảm bảo được quyền lợi của khách hàng gửi tiền đương nhiên sẽchiếm ưu thế hơn so với các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Lượng khách hàngtăng trưởng không ngừng thể hiện rõ quy mô hoạt động, vị thế của NHTM
1.2.2 Vai trò của việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
Mang tính chất là giao dịch/chuỗi giao dịch gắn liền với tài sản nên hoạtđộng nhận tiền gửi luôn chứa đựng không ít rủi ro Do vậy, việc bảo vệ quyền lợicủa khách hàng gửi tiền không chỉ có vai trò quan trọng đối với khách hàng gửitiền mà còn với cả các NHTM và toàn bộ nền kinh tế
Đối với khách hàng gửi tiền
Khách hàng gửi tiền vào NHTM thông qua tài khoản thanh toán hoặc gửitiền tiết kiệm tại ngân hàng Các hình thức nhận tiền gửi của NHTM tạo ra nhữnglợi ích quan trọng Việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng gửi tiền cũng chính là việcđảm bảo được mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào NHTM
Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM chính là việc đảm
bảo quyền con người Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Namluôn coi trọng việc bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “các quyền con
người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Do đó, việc bảo vệ
quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM cũng chính là việc đảm bảo quyền conngười một cách hợp pháp khi tham gia giao dịch tại NHTM
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM đem đến cho khách
hàng sự bảo đảm an toàn về tài sản do NHTM là tổ chức có chức năng nhận tiền gửichuyên nghiệp Là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, trong tổ chức và hoạtđộng, các NHTM luôn chú trọng việc xây dựng quy trình tác nghiệp chặt chẽ để bảođảm an toàn tài sản cho người gửi tiền cũng như sự an toàn của cả hệ thống ngânhàng Ngoài ra, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc quy định về nghĩa vụtham gia bảo hiểm tiền gửi và nghĩa vụ trích lập dự phòng bắt buộc đối với cácNHTM, các khoản tiền gửi của khách hàng tại NHTM sẽ trở nên an toàn hơn so với
Trang 24việc lựa chọn các hình thức đầu tư khác như mua vàng, ngoại tệ, chứng khoán haybất động sản,…
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM đảm bảo rằng
khách hàng gửi tiền được hưởng lãi từ tiền gửi và được NHTM cung ứng các dịch
vụ liên quan đến tài khoản theo nhu cầu Trên thực tế, không phải tất cả nhữngngười có khoản tiền tiết kiệm đều có khả năng kinh doanh hay đạt được thành côngkhi đầu tư tiền của vào các kênh đầu tư khác Vì vậy, khi có khoản tiền nhàn rỗi, rấtnhiều người lựa chọn gửi tiền vào các ngân hàng để hưởng lãi suất thay vì giữ tiềnmột chỗ Thực tiễn cho thấy các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm của NHTM ngày càngphong phú và đa dạng, phù hợp với các nhu cầu, mục đích khác nhau của kháchhàng
từ khách hàng là cá nhân thường có thời gian nhàn rỗi tương đối dài, là yếu tố thuậnlợi cho việc cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng Việc bảo vệ quyền lợikhách hàng gửi tiền chính là đảm bảo được nguồn vốn hoạt động ổn dịnh choNHTM, hay nói cách khác chính là đảm bảo sự sinh tồn của ngân hàng Mặt khác,khi một ngân hàng có được niềm tin của số đông khách hàng gửi tiền sẽ giúp nângcao vị thế của ngân hàng, thu hút thêm nguồn vốn từ các khách hàng tiềm năngkhác, giúp cho ngân hàng tăng nguồn vốn, mở rộng quy mô hoạt động
Đối với nền kinh tế - xã hội
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng có thể tập hợp được cáckhoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn khác nhau thành nguồntiền lớn tài trợ cho nền kinh tế hoặc cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng.Nền kinh tế có thêm một kênh thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau nhằm đápứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sựcung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ dànghơn Giả sử trong trường hợp quyền lợi của khách hàng gửi tiền không được đảmbảo, khách hàng có nguy cơ phải gánh chịu rủi ro không được hoàn trả lại hoặc chỉđược chi trả từ bảo hiểm tiền gửi một phần rất nhỏ số tiền đã gửi, hay từ giá trị phânchia tài sản ngân hàng trong trường hợp ngân hàng phá sản Điều này dẫn đến mộtcuộc khủng hoảng mất niềm tin khiến cho các tầng lớp dân cư đồng loạt đi rút tiền
Trang 25Thay vì gửi ngân hàng, tiền được cất giữ tại nhà, dẫn đến hệ quả thiếu nguồn vốncho việc đầu tư phát triển nền kinh tế Không chỉ dừng lại ở đó, tình trạng này cóthể sẽ tạo ra hiệu ứng phản ứng chuỗi khiến nhiều ngân hàng mất khả năng thanhtoán, gây ra cuộc khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế Do đó, việc bảo vệquyền lợi khách hàng gửi tiền sẽ giúp tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền, giúpNHTM duy trì hoạt động kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế -
xã hội Cũng thông qua hoạt động này, Nhà nước có thể kiểm soát, điều chỉnh chínhsách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế Với chính sách lãisuất huy động vốn hợp lý, hoạt động huy động vốn của các NHTM sẽ tăng khả năngkích thích tiết kiệm trong nhân dân Ngoài ra, chúng ta có thể đánh giá được trình
độ phát huy nội lực của quốc gia, khai thác tiềm năng của mọi nguồn vốn đang còntiềm ẩn, thu gom được một lượng tiền tương đối lớn trong nền kinh tế, giảm dầnlượng tiền mặt trong lưu thông
1.3 Các cách thức bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
Hiện nay, chưa có văn bản chuyên biệt nào quy định về bảo vệ quyền lợikhách hàng gửi tiền Nội dung này nằm trong các luật như Luật Ngân hàng Nhànước, Luật các Tổ chức tín dụng, Bộ Luật Dân sự, Luật Bảo hiểm tiền gửi… và cácvăn bản hướng dẫn Ngay tại Luật Bảo hiểm tiền gửi là văn bản pháp luật quy định
cụ thể nhất về quyền lợi người gửi tiền cũng chỉ hướng tới đối tượng khách hàng là
cá nhân Tuy nhiên, có thể hiểu rằng, trong quan hệ song phương giữa khách hàng
– chủ thể gửi tiền và NHTM - chủ thể nhận tiền gửi thì trách nhiệm của NHTM đốivới khách hàng gửi tiền cũng chính là quyền lợi cơ bản mà khách hàng cần có được.Điều 10 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi khách hàng như sau:
“ 1 Tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật và công bố công khai việc tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi tại trụ
4 Thông báo công khai lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các quyền, nghĩa vụ của khách hàng đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ đang cung ứng;
5 Công bố thời gian giao dịch chính thức và không được tự ý ngừng giao dịch vào thời gian đã công bố Trường hợp ngừng giao dịch trong thời gian giao dịch chính thức, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải niêm yết
Trang 26tại nơi giao dịch chậm nhất là 24 giờ trước thời điểm ngừng giao dịch Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép ngừng giao dịch quá 01 ngày làm việc, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 29 của Luật này”.
Tương ứng với mỗi loại tiền gửi khác nhau, pháp luật lại đưa ra những quyđịnh khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Có thể khái quát một sốquyền của khách hàng gửi tiền như sau:
- Đối với tiền gửi tiết kiệm, khách hàng gửi tiền có các quyền như: đượcthanh toán đầy đủ gốc, lãi tiền gửi tiết kiệm; chuyển quyền sở hữu thẻ tiết kiệm, đểlại thừa kế tiền gửi tiết kiệm, ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch; cầm cốthẻ tiết kiệm để vay vốn…
- Đối với việc mở tài khoản thanh toán, chủ tài khoản thanh toán có một sốquyền như ủy quyền cho người khác sử dụng tài khoản thanh toán của mình; sửdụng số tiền trên tài khoản thanh toán của mình để thực hiện các lệnh thanh toánhợp pháp, hợp lệ; lựa chọn sử dụng các phương tiện thanh toán, dịch vụ và tiện íchthanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung ứng; ủy quyền cho ngườikhác sử dụng tài khoản thanh toán; được cung cấp thông tin về các giao dịch thanhtoán, số dư trên tài khoản thanh toán của mình theo thỏa thuận với tổ chức cungứng dịch vụ thanh toán; được yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mởtài khoản tạm khóa, đóng tài khoản thanh toán khi cần thiết; được gửi thông báocho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán về việc phát sinh tranh chấp về tài khoảnthanh toán chung giữa các chủ tài khoản thanh toán chung;…
Có thể thấy, trong quan hệ gửi tiền, khách hàng với tư cách là bên gửi tiền
có rất nhiều quyền lợi Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa có quy định về quyềncủa người gửi tiền được cung cấp thông tin khi bên nhận tiền gửi bị rơi vào tìnhtrạng giám sát đặc biệt hoặc tình trạng kiểm soát đặc biệt Do hạn chế thông tin vềngân hàng thương mại rơi vào tình trạng giám sát hoặc kiểm soát đặc biệt nênkhách hàng giao dịch thường xuyên với ngân hàng vẫn gửi tiền (hoặc chuyển tiền)vào tài khoản của mình nhưng sau đó không rút hoặc không sử dụng được tiền gửi,
có nguy cơ bị mất hoặc không được hoàn trả đầy đủ do tình trạng khó khăn về tàichính của ngân hàng Do vậy, theo quan điểm của tác giả, quyền được cung cấpthông tin của khách hàng khi ngân hàng xuất hiện tình trạng nêu trên cũng là mộttrong những nội dung cần được pháp luật xem xét quy định cụ thể
Tại Việt Nam, sự kiện đổ vỡ của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trên phạm
vi toàn quốc những năm 90 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc và hậu quảlâu dài mà trước hết là lòng tin của khách hàng vào hệ thống ngân hàng Điều nàymột phần dẫn đến tâm lý lo ngại của người dân khi đứng trước lựa chọn gửi vốnnhàn rỗi vào ngân hàng Để có thể củng cố niềm tin của công chúng, vấn đề an toànhoạt động ngân hàng luôn phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các
Trang 27hoạt động ở cả khía cạnh hoạt động kinh doanh và khía cạnh quản lý nhà nước Vìvậy, một mặt pháp luật cần tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của các NHTM, tạo
sự ổn định và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng bằng các biện pháp bảo đảm antoàn đối với tiền gửi nói riêng và hoạt động huy động vốn nói chung; mặt khác mỗiNHTM cần có quy định cụ thể cũng như các biện pháp đảm bảo thực hiện tráchnhiệm bảo vệ quyền lợi khách hàng khi gửi tiền tại NHTM
1.3.1 Phòng chống rủi ro và đảm bảo an toàn cho khách hàng gửi tiền tại NHTM
Ngoài các biện pháp bảo vệ quyền lợi chung cho khách hàng gửi tiền đượccác NHTM áp dụng theo quy định pháp luật như: trích lập dự trữ bắt buộc, thamgia bảo hiểm tiền gửi thì việc bảo vệ bí mật thông tin khách hàng gửi tiền cũng làmột nội dung quan trọng, nhất là trong thời đại công nghệ số như hiện nay Mặtkhác, việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng gửi tiền cũng có sự khác biệt nhất địnhgiữa khách hàng gửi tiền trực tiếp giao dịch tại ngân hàng và khách hàng gửi tiềnqua hệ thống giao dịch điện tử Đối với khách hàng gửi tiền trực tiếp giao dịch tạiNgân hàng, Ngân hàng bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền bằng cách thực hiệnquy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật như việcnhận diện cá nhân, đối chiếu giấy tờ pháp lý, lấy chữ ký của khách hàng,… hayviệc thông báo mất các sổ tiết kiệm/thẻ tiết kiệm đang lưu hành, tránh kẻ gian trụclợi; sử dụng camera ghi lại hình ảnh giao dịch của khách hàng phục vụ việc tra soátkhi có khiếu nại của khách hàng hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.Trên thực tế, khách hàng gửi tiền, đặc biệt là khách hàng cá nhân trong nhiềutrường hợp không thể biết đầy đủ trình tự, thủ tục để NHTM nhận tiền gửi và tráchnhiệm của nhân viên ngân hàng phải làm gì để hoàn tất một giao dịch nhận tiềngửi Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến tiền gửi của khách hàng mànguyên nhân là từ phía nhân viên ngân hàng thì ngân hàng phải liên đới chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại Đối với khách hàng gửi tiền thực hiện các giao dịch qua
hệ thống giao dịch điện tử, việc đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền chủ yếuđược NHTM thực hiện thông qua các hình thức cảnh báo qua tin nhắn điện thoại,thiết lập dịch vụ tra cứu thông tin tài khoản, quy định hạn mức giao dịch qua hệthống giao dịch điện tử, thiết lập quy trình xác thực hai lớp, dữ liệu của khách hàngkhi lưu trữ, truyền trên mạng Internet phải được mã hóa hoặc che dấu và yêu cầukhách hàng bảo mật thông tin liên quan đến tài khoản và giao dịch của mình Ngoài
ra, khi có yêu cầu của khách hàng gửi tiền, ngân hàng có nghĩa vụ phong tỏa tàikhoản tiền gửi để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng
Thực hiện trích lập dự trữ bắt buộc
Theo quy định tại Thông tư số 30/2019/TT-NHNN ngày 27/12/2019 về thựchiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, dự
Trang 28trữ bắt buộc là số tiền mà các TCTD phải duy trì trên tài khoản thanh toán tạiNHNN với mục đích chính là để dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán tiền cho ngườigửi tiền khi TCTD gặp khó khăn về khả năng chi trả và khả năng thanh toán Đồngthời, nó là công cụ để Nhà nước điều chỉnh chính sách tiền tệ, đảm bảo an toàn chohoạt động huy động vốn của NHTM Dự trữ bắt buộc được tính toán trên cơ sở số
dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dựtrữ bắt buộc được Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ NHNN ban hànhQuyết định số 1158/QĐ-NHNN ngày 29/5/2018 về tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụngcho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo quy định, tỷ lệ dữtrữ bắt buộc của các TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài được tác giả tóm tắttại bảng như sau:
Bảng 1.Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD, Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài
Loại TCTD
Tiền gửi VND Tiền gửi ngoại tệ
Không kỳhạn và có kỳhạn dưới 12tháng
Kỳ hạn từ
12 thángtrở lên
Tiền gửi của
tổ chức tíndụng ở nướcngoài
Tiền gửikhác không
kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới
12 tháng
Tiền gửikhác có kỳhạn từ 12tháng trởlên
1 Quỹ tín dụng nhân dân,
Theo quyđịnh củaChính phủ
Theo quy định củaChính phủ
Theo quyđịnh củaChính phủ
Theo quyđịnh củaChính phủ
(Nguồn: Quyết định số 1158/QĐ-NHNN ngày 29/5/2018 về tỷ lệ dự trữ
bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng , chi nhánh ngân hàng nước
ngoài)
Tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là một loại bảo hiểm bắt buộc, không vì mục tiêulợi nhuận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của số đông khách hàng gửi tiền,nhất là những khách hàng gửi tiền cá nhân, bảo đảm cho sự an toàn của hệ thống
Trang 29ngân hàng, xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, ngăn chặn sự đổ vỡ của hệthống tài chính, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các NHTM có quy môkhác nhau trong nền kinh tế.
Quy định pháp luật điều chỉnh về Bảo hiểm tiền gửi gồm có Luật BHTG2012; Nghị định số 68/2013/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành Luật BHTG; Thông tư 24/2014/TT-NHNN ngày06/9/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số nội dung vềhoạt động bảo hiểm tiền gửi… Trong đó, quy định cụ thể rõ ràng về các đối tượngtham gia BHTG; quyền và trách nhiệm của các bên tham gia…
- Đối tượng tham gia bảo hiểm gồm có chủ thể nhận bảo hiểm, chủ thể thamgia bắt buộc và chủ thể hưởng quyền lợi
+ Chủ thể nhận bảo hiểm: là Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có tên giaodịch quốc tế là Deposit Insurance of Vietnam (DIV) Đây là tổ chức tài chính doNhà nước thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo antoàn vốn và tự bù đắp chi phí, được miễn nộp các loại thuế Các tổ chức tham giaBHTG nếu gặp khó khăn về khả năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trongtình trạng kiểm soát đặc biệt thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sẽ thực hiệncác biện pháp hỗ trợ bằng cách: Cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm;bảo lãnh các khoản vay để tổ chức tham gia BHTG có tiền chi trả tiền gửi được bảohiểm; mua lại các khoản nợ và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
+ Chủ thể tham gia bắt buộc: là các NHTM, ngân hàng này có trách nhiệmđóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trảtiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại NHTM đó trong trường hợp ngân hàng này mấtkhả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
+ Chủ thể hưởng quyền lợi bảo hiểm: là các khách hàng gửi tiền bằng đồngViệt Nam tại các NHTM tham gia BHTG
Một trong những nghĩa vụ quan trọng của tổ chức tham gia BHTG là nộpphí BHTG Tổ chức tham gia BHTG phải tuân thủ quy định của pháp luật vềmức phí BHTG, thủ tục nộp phí BHTG Trường hợp vi phạm nghĩa vụ nộp phíBHTG, tổ chức tham gia BHTG có thể phải gánh chịu các biện pháp chế tài dopháp luật quy định
Bảo mật thông tin của khách hàng
Vấn đề bảo mật thông tin của khách hàng là đề tài được dư luận quan tâm,nhất là khi việc rò rỉ, lộ bí mật thông tin khách hàng tại các NHTM ngày càng phổbiến, các đối tượng lợi dụng thông tin rò rỉ gây thiệt hại lớn đến tài sản của kháchhàng cũng như làm giảm uy tín của NHTM trong quá trình cung ứng các dịch vụcho khách hàng Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
Trang 30nghệ và truyền thông, các NHTM cũng đã triển khai nhiều dịch vụ thanh toán, dịch
vụ ngân hàng mới phù hợp với xu thế áp dụng công nghệ trong lĩnh vực ngân hàngcủa các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, song song với sự phát triểncủa các dịch vụ đó là các hành vi khai thác thông tin cũng tinh vi hơn, việc xâmphạm bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng cũng trở nên phổbiến hơn Vì vậy, việc đảm bảo bí mật những thông tin và dữ liệu của khách hàng làmột vấn đề cần thiết và có tính thực tế cao
Theo quy định tại Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã ghinhận quyền được bảo vệ bí mật thông tin của người tiêu dùng nói chung Theo đó,
“Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia
giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu” Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân vi phạm nghĩa vụ trên sẽ bị
xử phạt theo các chế tài quy định tại Điều 11, theo từng mức độ vi phạm sẽ áp dụngcác chế tài phù hợp như: bị xử lý kỷ luật, phạt vi phạm hành chính, truy cứu tráchnhiệm hình sự, phải bồi thường thiệt hại
Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng 2015 quy định nguyên tắc bảo vệ thông
tin cá nhân trong đó: “Chủ thể xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an
toàn thông tin mạng đối với thông tin do mình xử lý”; phải “xây dựng và công bố công khai biện pháp xử lý, bảo vệ thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân mình”.
Trong quá trình thu thập và sử dụng thông tin cá nhân, các chủ thể chỉ được thu thậpthông tin khi có sự đồng ý của cá nhân đó về phạm vi, mục đích của việc thu thập
và sử dụng thông tin đó; chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đíchkhác mục đích ban đầu sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; khôngđược cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập, tiếp cận,kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân
đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Luật này cũng ghi nhậntrách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ thông tin cá nhân trên mạngnhư: thiết lập kênh thông tin trực tuyến để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của tổchức, cá nhân liên quan đến bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng Định kỳhằng năm tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cánhân; tổ chức thanh tra, kiểm tra đột xuất trong trường hợp cần thiết
Bên cạnh đó, với sự ra đời của BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cóhiệu lực từ ngày 01/01/2018 thì việc thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khaihóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng được quy định Là tội phạm hình sự
và bị xử theo quy định tại Điều 291 của Bộ luật này Đây là quy định cụ thể nhất ghinhận quyền được bảo vệ bí mật thông tin giao dịch khách hàng đồng thời xác địnhtrách nhiệm của các cán bộ ngân hàng trong việc bảo vệ bí mật thông tin tài khoảncủa khách hàng Ngoài quy định này, BLHS 2015 còn có các quy định gián tiếp
Trang 31điều chỉnh vấn đề này như quy định tại Điều 356: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạntrong khi thi hành công vụ, Điều 357: Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ,Điều 361: Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tàiliệu bí mật công tác, Điều 362: Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu
1.3.2 Phương thức giải quyết tranh chấp giữa khách hàng gửi tiền và NHTM
NHTM nhận tiền gửi của khách hàng, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán là nội dung thường xuyên của hoạt độngkinh doanh tiền tệ và dịch vụ của các NHTM Do tính chất rủi ro của hợp đồngliên quan đến tài sản gắn liền với lợi ích, trong quá trình khách hàng gửi tiền vàNHTM giao kết hợp đồng không tránh khỏi tranh chấp từ rất nhiều nguyên nhânkhác nhau (từ phía khách hàng gửi tiền, từ phía NHTM hoặc do quy định phápluật không rõ ràng dẫn đến mâu thuẫn hai bên ) Để giải quyết tranh chấp giữakhách hàng gửi tiền và NHTM có 04 (bốn) phương thức giải quyết bao gồm:Thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án Các bên tranh chấp cóthể chọn lựa một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp hoặc sử dụng phốihợp nhiều phương thức
Thương lượng
Là phương thức được các bên lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớncác tranh chấp trong kinh doanh thương mại được giải quyết bằng phương thức này.Nhà nước khuyến khích các bên áp dụng phương thức tự thương lượng để giảiquyết các tranh chấp trên cơ sở tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên Đối vớitranh chấp giữa khách hàng gửi tiền và NHTM, việc áp dụng phương thức thươnglượng là cần thiết Nó giúp giải quyết các vấn đề vướng mắc một cách nhanh chóng,
vì lợi ích của cả hai bên Tuy nhiên, do kết quả thương lượng cần dựa trên thiện chícủa các bên, mà đối với các tranh chấp liên quan đến tài sản ảnh hưởng trực tiếp đếnlợi ích nên thường mất nhiều thời gian và phải làm nhiều lần
Hòa giải
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch sử
xã hội loài người trên nhiều lĩnh vực Hòa giải là việc các bên tranh chấp cùng
Trang 32nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồnggiữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua tự hòa giải hoặcthông qua bên trung gian (Hòa giải viên/trung tâm hòa giải) Tại Việt Nam, việc hòagiải tranh chấp Hợp đồng được coi trọng Các bên phải tự thương lượng, hòa giảivới nhau khi phát sinh tranh chấp Khi thương lượng, hòa giải bất thành mới đưa raTòa án hoặc trọng tài giải quyết Ngay cả khi ra đến Tòa án, các bên vẫn có thể tiếptục hòa giải với nhau Phương thức này giải quyết giải quyết tranh chấp giữa kháchhàng gửi tiền và NHTM có ưu điểm tiết kiệm chi phí Cùng tham gia hòa giải làTrung gian hòa giải có kĩ năng, kiến thức chuyên môn giúp các bên tranh chấp tìmđược hướng giải quyết đảm bảo quyền lợi của cả hai bên Tuy nhiên, khi đã có sựtham gia của bên thứ ba thì uy tín của NHTM không được đảm bảo và cũng khôngđem lại kết quả cao Một khi có bên thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải đểtrì hoản việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên cóquyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài vì hết thời hạnkhởi kiện Trong trường hợp này NHTM là tổ chức có trình độ hiểu biết pháp luậthơn sẽ dễ gây bất lợi cho khách hàng gửi tiền, đặc biệt là khách hàng cá nhân cótầm nhìn còn hạn chế.
Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bênthỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tạiTrọng tài Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ đưa ra phán quyết cógiá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên Phương thức giải quyết trọng tài cũngbắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Các bên đượcquyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên đểthành lập Hợp đồng (hoặc Ủy ban) Trọng tài giải quyết tranh chấp Khác vớithương lượng hòa giải, trọng tài là một cơ quan tài phán (xét xử) Tính tài pháncủa trọng tài thể hiện ở quyết định trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành Khikhách hàng gửi tiền và NHTM xử lý tranh chấp bằng phương thức này thì cầnphải có Thỏa thuận trọng tài thể hiện dưới hình thức văn bản và phải chỉ đíchdanh một trung tâm trọng tài cụ thể Phương thức này có ưu điểm thủ tục đơngiản, nguyên tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bíquyết kinh doanh, giữ được uy tín các bên
Tòa án
Khi tranh chấp hợp đồng phát sinh, nếu các bên không tự thương lượng, hòagiải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tòa án Đây là phương thức thường đượccác bên tranh chấp kinh doanh thương mại sử dụng nhiều bởi quá trình và kết quảgiải quyết tranh chấp mang tính bắt buộc, cưỡng chế thi hành Nhà nước có đủ biệnpháp và công cụ cưỡng chế nếu bên vi phạm cố tình không thực hiện theo phán
Trang 33quyết của Tòa án Ngoài ra, với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong quátrình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện khắc phục Tuy nhiên, đốivới riêng tranh chấp giữa khách hàng gửi tiền và NHTM thường ít muốn sử dụngphương thức này Bởi lẽ, NHTM với tư cách là “người vay tiền” đang muốn gâydựng uy tín và lòng tin công chúng thì đều không muốn công khai những sai phạmliên quan đến hoạt động kinh doanh của mình, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
vị thế của NHTM Mặt khác, hầu hết các tranh chấp xảy ra mà sai phạm từ phía cán
bộ nhân viên của NHTM sẽ yêu cầu chịu trách nhiệm cá nhân bằng cách bồi thườngthiệt hại cho khách hàng gửi tiền thông qua thương lượng và hòa giải
1.3.3 Bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền trong trường hợp NTHM sáp nhập, mua lại, phá sản
NHTM bản chất cũng là một doanh nghiệp, việc hoạt động kinh doanh củaNHTM có thể thuận lợi hoặc khó khăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Đến một thờiđiểm nào đó, vì nhiều nguyên do khác nhau, NHTM có thể đứng trước các nguy cơchia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc phá sản Khi NHTM rơi vào tình trạngnày, điều mà hầu hết mọi người quan tâm đó là quyền lợi của khách hàng tại cácngân hàng này, đặc biệt là khách hàng gửi tiền sẽ được giải quyết ra sao?
Trong phạm vi đề tài, tác giả phân tích việc bảo vệ quyền lợi của khách hànggửi tiền trong trường hợp NHTM sáp nhập, mua lại và phá sản
Trường hợp NHTM sáp nhập, mua lại
Theo quy định tại Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014: “ Một hoặc một số
công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” và “Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập”.
Như vậy, khi một hoặc một số NHTM cùng loại (sau đây gọi là ngân hàng bịsáp nhập) có thể sáp nhập vào một NHTM khác (sau đây gọi là ngân hàng nhận sápnhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sangngân hàng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của ngân hàng bị sáp nhập.Sau khi đăng ký doanh nghiệp thành công, ngân hàng bị sáp nhập sẽ chấm dứt tồntại; ngân hàng nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thờichịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụtài sản của ngân hàng bị sáp nhập Trong trường hợp này, ngân hàng nhận sáp nhập
sẽ là chủ thể kế thừa mọi nghĩa vụ đối với khách hàng gửi tiền của ngân hàng bị sáp
Trang 34nhập bao gồm nghĩa vụ thanh toán toàn bộ tiền gửi (tiền gốc và tiền lãi) cho kháchhàng gửi tiền theo đúng thời hạn trong hợp đồng Thời điểm những năm 2010 –
2012, khi hàng loạt sự thay đổi của các NHTM diễn ra, để củng cố niềm tin và tránhgây hoang mang cho công chúng, NHNN đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN về sáp nhập, hợp nhất và mua lại TCTD, trong đó tại khoản 2 Điều 5 quy
định: “TCTD tham gia sáp nhập, hợp nhất, mua lại phải đảm bảo không ảnh hưởng
đến quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là quyền lợi của người gửi tiền tại từng TCTD tham gia sáp nhập, hợp nhất, mua lại” Thực tế, tại Việt Nam thời điểm khi
SHB sáp nhập HBB, quyền lợi của khách hàng gửi tiền được hoàn toàn đảm bảo,đúng như lời phát biểu của ông Dương Quốc Anh – Chánh Thanh tra cơ quan giám
sát, Ngân hàng Nhà nước: “Đối với trường hợp HBB và SHB, toàn bộ quyền lợi của
người gửi tiền, các quyền, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của các bên liên quan với HBB sẽ tiếp tục được ngân hàng sáp nhập (trong trường hợp này là HBB) kế thừa và tiếp tục thực hiện Ngân hàng Nhà nước sẽ giám sát chặt chẽ và kịp thời chỉ đạo các ngân hàng tham gia sáp nhập thực hiện đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên tục, không gián đoạn, đầy đủ quyền
và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của các khách hàng khác tại HSB” (SBV, 2012) Do vậy, khách hàng gửi tiền tại NHTM
trong trường hợp sáp nhập, mua lại có thể yên tâm về quyền lợi của mình Với tưcách là cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi khách hàng gửitiền, NHNN sẽ theo sát chặt chẽ và đảm bảo cho quyền lợi của khách hàng gửi tiềntại các NHTM
Trường hợp NHTM phá sản
Phá sản ngân hàng – điều tưởng chừng như không thể này lại hoàn toàn cóthể xảy ra Mặc dù nguy cơ ngân hàng bị phá sản là rất nhỏ nhưng đối với kháchhàng gửi tiền tại NHTM thì đây lại là vấn đề luôn quan tâm Với chủ trương tái cơcấu mạnh mẽ ngành ngân hàng, tại Điều 146 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi đượcQuốc hội thông qua năm 2017, Chính phủ quyết định sẽ tiến hành cho phá sản cácTCTD hoạt động yếu kém Chẳng hạn các TCTD cơ cấu tổ chức rườm rà, tínhthanh khoản thấp, nợ xấu tăng cao, hoạt động trì trệ,… đến mức không thể phục hồi
dù qua thời gian được kiểm soát đặc biệt Tuy nhiên Chính phủ cũng nhấn mạnh sẽ
ưu tiên đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền Khi một TCTD tiến hành thủ tục phásản, việc thanh lí tài sản và các khoản nợ sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 101Luật phá sản 2014:
“1 Việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự như sau:
a) Chi phí phá sản;
Trang 35b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
c) Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ”.
Như vậy, trong trường hợp NHTM phá sản, khách hàng gửi tiền tại NHTM
sẽ được thanh toán số tiền gửi dựa trên cơ sở phân chia giá trị tài sản của NHTM bịphá sản Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BHTG: “ BHTG là sự bảođảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổchức tham gia BHTG lâm vào trình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho ngườigửi tiền hoặc phá sản” Tuy nhiên, thực tế hiện nay BHTG chỉ chi trả tối đa 75 triệuđồng/ khách hàng Điều này có nghĩa là, trường hợp NHTM mất khả năng thanhtoán thì khách hàng sẽ chỉ nhận được tối đa 75 triệu đồng tiền bảo hiểm bất kểkhách hàng gửi vào NHTM số tiền nhiều hay ít Mặt khác, BHTG chỉ áp dụng đốivới khách hàng gửi tiền là cá nhân, khách hàng gửi tiền là tổ chức không thuộc đốitượng được BHTG Đây cũng là vấn đề bất cập cần được xem xét và có hướng giảiquyết hợp lý phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và để khách hàng gửi tiền yêntâm khi “trao” tài sản cho NHTM
1.3.4 Tổ chức bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ,được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý lĩnh vực tiền tệ cũng như hoạt động ngânhàng, bao gồm hoạt động huy động vốn của các TCTD, trong đó có trách nhiệmtrong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của các
TCTD Theo quy định tại Điều 50 Luật NHNN năm 2010: “Thanh tra, giám sát
ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng” Vai trò của NHNN cũng
được ghi nhận tại khoản 2 Điều 8 Luật BHTG 2012: “Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm
Trang 36tiền gửi” Vai trò của NHNN trong việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền được
thể hiện rõ bằng việc ban hành các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnhvực tiền tệ, ngân hàng; hướng dẫn, tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ ngân hàngnâng cao ý thức khi tham gia giao dịch; tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, giám sátviệc thực hiện các quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh…
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN)
BHTGVN được thành lập năm 1999 và đi vào hoạt động năm 2000, là tổchức tài chính nhà nước, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ BHTGVN hoạt động không vìmục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần duy trì sự
ổn định của hệ thống các TCTD, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạtđộng ngân hàng Cụ thể, đối với người gửi tiền, hoạt động của BHTGVN góp phầncủng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người gửi tiền Đối với hệ thống các TCTD, BHTGVN tạo điềukiện thuận lợi cho hệ thống các TCTD phát triển lành mạnh, an toàn và huy độngtiền gửi cho đầu tư phát triển, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế đất nước pháttriển bền vững
Cơ sở pháp lý đầu tiên tại nước ta điều chỉnh hoạt động BHTG là Nghị định
số 89/1999/NĐ-CP về BHTG; tiếp theo là Nghị định số 109/2005/NĐ-CP (sửa đổi
bổ sung một số điều của Nghị định 89) và hiện nay là Luật Bảo hiểm tiền gửi số06/2012/QH13 Điều này thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn của Đảng, Nhà nước
ta đối với chính sách bảo vệ người gửi tiền Từ khi được thành lập, trải qua hơn 20năm với nhiều khó khăn và thách thức, BHTGVN đã chi trả tiền gửi được bảo hiểmcho người gửi tiền kịp thời, đúng quy định, góp phần nâng cao niềm tin công chúngđối với hệ thống tài chính, ngân hàng Đến nay, BHTGVN đang bảo vệ cho hơn 5triệu tỷ đồng tiền gửi tại 1.282 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong toàn hệthống ngân hàng Việt Nam (Phòng Tiếp thị truyền thông, 2020) Người gửi tiền cònđược BHTGVN bảo vệ gián tiếp thông qua các nghiệp vụ BHTG khác nhằm gópphần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng gắn với “vòng đời” của tổ chức thamgia BHTG như: Cấp và thu hồi chứng nhận tham gia BHTG, giám sát từ xa, kiểmtra tại chỗ, tham gia kiểm soát đặc biệt… Bên cạnh triển khai các hoạt động nghiệp
vụ, BHTGVN cũng tích cực tuyên truyền chính sách BHTG đến người gửi tiền vàđây được coi là một trong những mục tiêu hàng đầu của BHTGVN Khi người dânhiểu rõ chính sách BHTG, niềm tin của họ vào hệ thống ngân hàng sẽ cao hơn Rủi
ro đột biến rút tiền gửi sẽ ít có khả năng xảy ra, hệ thống ngân hàng vì thế sẽ hoạtđộng an toàn hơn
Hiện nay, tổ chức BHTG là tổ chức quan trọng thực hiện vai trò bảo vệquyền lợi khách hàng gửi tiền Tuy nhiên, quy định pháp luật về BHTG ở nước ta
Trang 37vẫn còn nhiều vướng mắc như mức phí, hạn mức bảo hiểm, việc kiểm tra, giám sátcủa BHTG đối với các NHTM… cần được làm rõ nhằm thể hiện được đúng vai tròcủa BHTG trong công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền nói riêng và hoạtđộng kinh doanh của NHTM nói chung.
1.4 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
1.4.1 Yếu tố khách quan
Quy định pháp luật và các văn bản liên quan
Các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng vốn dĩ là ngành hoạt động kinhdoanh đặc biệt, chứa đựng nhiều rủi ro, có ảnh hưởng lớn đến Nhà nước và các chủthể có liên quan, đòi hỏi phải có cơ chế pháp lý chặt chẽ và có chế độ bảo đảmquyền lợi của các chủ thể Đối với tiền gửi, chế độ dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiềngửi, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng gửi tiền,…được pháp luật chú trọng quyđịnh bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của khách hàng gửi tiền, duy trì sự ổnđịnh của hệ thống ngân hàng NHTM huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửicủa khách hàng sẽ phải thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn cho nguồn vốnhuy động từ nền kinh tế, như vậy mới tạo lòng tin cho người gửi tiền Về cơ bản,Nhà nước đã thiết lập một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, tạo cơ sở cho cácNHTM tiến hành hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Đồng thời, phápluật cũng hướng tới bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đáp ứng nhu cầu gửi tiền
và sử dụng các dịch vụ ngân hàng, lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mụcđích và yêu cầu của họ, tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền Tuy nhiên, do hệthống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều lĩnh vực pháp luật song song với nhau và
có luật chung - luật chuyên ngành Một vấn đề xảy ra trên thực tế có thể chịu sựđiều chỉnh của nhiều quy định pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau, do vậy sựthay đổi của quy phạm pháp luật này có thể kéo theo nhu cầu thay đổi quy phạmpháp luật khác có liên quan Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc bảo vệ các quyềnlợi khách hàng gửi tiền tại NHTM
Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nền kinh tếnói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Do vậy, phần nào nó cũng ảnh hưởngtới quyền lợi của các chủ thể tham gia trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể là quyền lợicủa khách hàng gửi tiền tại ngân hàng Chẳng hạn, một số chính sách pháp luật cóliên quan đến trực tiếp tới bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền có thể được điềuchỉnh xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội như: Chính sách lãi suất, chính sáchđiều chỉnh các loại tiền gửi, chính sách về bảo hiểm tiền gửi, chính sách về tỷ lệ bảođảm an toàn vốn tối thiểu của các TCTD… Cụ thể như về lãi suất, căn cứ vào quan
Trang 38hệ cung - cầu vốn; mức độ rủi ro thanh toán; rủi ro thị trường; lạm phát, tỷ suất lợinhuận bình quân của nền kinh tế; mức biến động của tỷ giá và lãi suất thị trườngquốc tế; chi phí quản lý kinh doanh của các TCTD, bao gồm cả chính sách thuế củaNhà nước đối với tiền gửi dân cư và hoạt động tín dụng,… Ngân hàng Nhà nướclượng hoá để xác định tính hợp lý và dự báo chiều hướng biến động của lãi suất thịtrường, từ đó có sự tác động thích hợp thông qua việc điều hành công cụ chính sáchtiền tệ để hướng lãi suất thị trường biến động phù hợp với các mục tiêu của chínhsách tiền tệ Hay như chính sách về tỷ lệ an toàn vốn tối tiểu của các ngân hàng,xuất phát từ tình hình thực tế chuẩn bị cho việc áp dụng chuẩn Basel II (Basel II làphiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và cácluật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) vào hệ thống các ngânhàng, NHNN đã ban hành Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quyđịnh tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoàigiảm từ mức 9% xuống mức 8%.
1.4.2 Yếu tố chủ quan
Cơ chế hoạt động của NHTM
NHTM là chủ thể trong mối quan hệ giao dịch đối với khách hàng gửi tiền và
có trách nhiệm trực tiếp đối với khách hàng cũng như khoản tiền gửi của khách hàng.Dựa trên các quy định pháp luật, mỗi NHTM có cách thức riêng để triển khai và thựchiện đồng nhất trong toàn hệ thống Hiệu quả của việc thực thi quy định pháp luậtcũng như quy định nội bộ về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là cơ chế hoạt động của riêng mỗi NHTM Đốivới người gửi tiền trực tiếp giao dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng bảo đảm quyền lợicho người gửi tiền bằng cách thực hiện quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, đảm bảotuân thủ quy định pháp luật như việc nhận diện thông tin cá nhân, đối chiếu giấy tờpháp lý, lấy chữ ký của khách hàng,…hay việc thông báo mất các sổ tiết kiệm/thẻtiết kiệm đang lưu hành, tránh kẻ gian trục lợi; sử dụng camera ghi lại hình ảnh giaodịch của khách hàng phục vụ việc tra soát khi có khiếu nại của khách hàng hoặctheo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế, khách hàng gửi tiền trongnhiều trường hợp không thể biết đầy đủ trình tự, thủ tục để NHTM nhận tiền gửi vàtrách nhiệm của nhân viên ngân hàng phải làm gì để hoàn tất một giao dịch nhậntiền gửi Do vậy, việc NHTM quy định cũng như kiểm soát cơ chế hoạt động cũngảnh hưởng trực tiếp đến công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền
Yếu tố kĩ thuật – công nghệ
Thông tin khách hàng hiện nay bị đánh cắp, mua bán như 1 loại hàng hóa,
mà pháp luật hiện hành thì chưa có quy định về loại tài sản là thông tin khách hàng.Căn cứ Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ về giữ bímật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
Trang 39ngoài và Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN ngày 17/12/2007 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước về độ mật của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trongngành Ngân hàng, thì bí mật nhà nước bao gồm cả thông tin khách hàng Do vậy,việc bảo mật thông tin khách hàng là trách nhiệm quan trọng của mỗi NHTM Với
sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin, đặc biệt tình hình tội phạm
sử dụng công nghệ cao gia tăng thì việc tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh,
an toàn hệ thống là vô cùng cần thiết cho hoạt động của Agribank cũng như cácNHTM khác Việc đầu tư vào các kĩ thuật công nghệ góp phần đảm bảo việc bảomật thông tin khách hàng cũng chính là bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền tại cácNHTM
Rủi ro đạo đức của cán bộ, nhân viên
Trong những năm gần đây, sự đòi hỏi về đạo đức nghề nghiệp đã được nhânrộng ra hầu hết các ngành nghề khác của xã hội Lĩnh vực ngân hàng cũng không làngoại lệ và càng được lưu tâm hơn khi hàng loạt các đại án xảy ra liên tiếp trongthời gian qua, trong đó vấn đề đạo đức của cán bộ, nhân viên bị lên án một cách sâusắc Cán bộ, nhân viên ngân hàng là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng,nếu không có tư tưởng đạo đức đúng đắn trong quá trình thực hiện giao dịch, quyđịnh nội bộ và tuân thủ pháp luật thì rất dễ xảy ra tình trạng trục lợi cá nhân, gây rathiệt hại lớn cho ngân hàng cũng như khách hàng Do đó, yếu tố rủi ro đạo đức củacán bộ, nhân viên cũng tác động đến công tác bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiềntại NHTM
1.5 Kinh nghiệm của một số NHTM về bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền
Với tính chất là giao dịch/chuỗi giao dịch gắn liền với tài sản, hoạt độngnhận tiền gửi của luôn chứa đựng không ít những rủi ro Vì vậy, việc bảo vệ quyềnlợi của khách hàng gửi tiền không chỉ có vai trò quan trọng đối với cá nhân gửi tiền
mà còn với cả các NHTM Khi quyền lợi của khách hàng gửi tiền được đảm bảo, lợiích đầu tiên của các NHTM đó là củng cố được niềm tin của khách hàng, giữ gìn uytín và văn hóa kinh doanh, là nền tảng cho việc phát triển và mở rộng quy mô hoạtđộng Theo thống kê từ báo cáo tài chính và thông tin công bố của 27 ngân hàngtrong nước, tính đến cuối năm 2019, tổng số dư tiền gửi khách hàng của nhóm ngânhàng này đạt hơn 7 triệu tỷ đồng (315 tỷ USD), tăng 15% so với cuối năm trước.Nhóm Big 4 ngân hàng gồm Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank vẫn lànhững cái tên dẫn đầu có số lượng tiền gửi khách hàng cao nhất.Trong đó, Agribank
là ngân hàng có số tiền gửi gia tăng nhiều nhất trong 1 năm, theo đó Agribank nhậnthêm hơn 243.000 tỷ đồng (hơn 10 tỷ USD) tiền gửi Tiếp đó là Vietcombank vớimức tăng hơn 126.000 tỷ đồng (gần 5,5 tỷ USD) Tiền gửi ở BIDV tăng thêm hơn124.000 tỷ đồng (5,4 tỷ USD), Vietinbank vẫn là ngân hàng được nhiều khách hàng
Trang 40lựa chọn gửi tiền với gần 67.000 tỷ tăng thêm năm qua (2,9 tỷ USD) (Vietnamdaily,2020) Không thể phủ nhận một điều rằng, để đưa ra quyết định gửi tiền tại mộtNHTM, bất kỳ khách hàng nào cũng đều phải cân nhắc đến yếu tố uy tín, sự bảođảm an toàn tiền gửi của hệ thống Ngân hàng đó Với số lượng NHTM gia tăng tạiViệt Nam, việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền ngày càng được quan tâm, đây
là yếu tố mang tính cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng lựachọn nơi uy tín để gửi gắm tài sản của mình Đối với các biện pháp bảo vệ quyền lợikhách hàng gửi tiền đã có quy định pháp luật cụ thể như: trích lập dự trữ bắt buộc,tham gia bảo hiểm tiền gửi, các NHTM đều thực hiện theo đúng quy định Ngoài ra,
do cơ chế chính sách đặc thù riêng mà mỗi NHTM lại có nhiều cách thức khác nhau
để thực hiện việc bảo vệ quyền lợi khách hàng gửi tiền Bên cạnh những mặt đạtđược thể hiện qua các số liệu tăng trưởng huy động vốn tiền gửi thì vẫn còn một sốhạn chế mà rất nhiều NHTM hiện nay gặp phải Cụ thể: trong quy trình thủ tục gửi,rút tiền; bảo mật thông tin khách hàng gửi tiền; vấn đề đạo đức của cán bộ, nhânviên…
Tại Vietinbank xảy ra vụ việc như sau: Trần Thị Thùy Dung (36 tuổi, ngụ thịtrấn Long Thành, huyện Long Thành, nguyên là giao dịch viên PGD Long Thành,VietinBank chi nhánh Đồng Nai) bị VKSND tối cao truy tố 2 tội danh là lạm dụngchức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo cáo trạngcủa VKSND tối cao, Dung là giao dịch viên làm việc tại VietinBank chi nhánhĐồng Nai từ năm 2007-2017 Do quá trình kinh doanh cá nhân bị thua lỗ, để có tiềntrả nợ và tiếp tục đầu tư, Dung đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao đểchiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của khách hàng do mình phụ trách tại PGD LongThành, VietinBank chi nhánh Đồng Nai (Nhật Minh, 2019) Sau khi vụ việc xảy ra,Vietcombank đã phối hợp chuyển cơ quan điều tra xử lý vụ án theo đúng trình tựquy định pháp luật
Một vụ việc khách hàng mất tiền trong tài khoản Vietcombank như sau: Một
số khách hàng tại Thái Nguyên là chủ thẻ Vietcombank cho biết vào sáng12/2/2018, khi vừa mới ngủ dậy họ đã tá hỏa khi nhận được nhiều tin nhắn thôngbáo biến động số dư trong tài khoản Vietcombank.Cụ thể, các giao dịch đều diễn ratrong khoảng rạng sáng 2-5h ngày 12/2 với cùng một phương thức Thông báo đầutiên các khách hàng này nhận được đều là thông báo xem số dư trong tài khoản, sau
đó là liên tiếp các giao dịch rút tiền với số tiền 3 triệu đồng/giao dịch cho tới khi hếttiền trong tài khoản Tuy nhiên sau đó không lâu, Chi nhánh này đã ngay lập tức báocáo lên Hội sở và xin phép linh hoạt xử lý hoàn trả giao dịch trong ngày hoặc chậmnhất lày ngày hôm sau để khách hàng yên tâm đón Tết Việc trình báo và làm việcvới cơ quan chức năng liên quan đến điều tra tội phạm công nghệ cao sẽ được tiếnhành đồng thời nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng (Hoàng Dung, 2018)