THỰC TRẠNG VỀ DÂN SỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH ĐẮK LẮK Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 13.125 km2, dân số 1.869.322 người, mật độ dân số 135 ngườikm². Trong đó dân số sống tại thành thị 462.013 người, chiếm 24,7%, dân số sống tại nông thôn 1.407.309 người, chiếm 75,3%, dân số nam 942.578 người, nữ đạt 926.744 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,75 ‰. Có 13 Tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người. Trong đó, Công giáo với 265.760 người, Tin lành với 181.670 người, Phật giáo với 126.660, Cao đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác. Có 49 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc kinh với 1.161.533 người, Êđê 298.534 người, Nùng 71.461 người, Tày 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như Mnông 40.344 người, Mông 22.760 người, Thái 17.135 người, Mường 15.510 người...
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi trung tâm của khu vực Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp Gia Lai; phía đông giáp các Phú Yên, Khánh Hoà; phía nam giáp các Lâm Đồng, Đắk Nông; phía tây giáp tỉnh Mondulkiri của Campuchia với đường biên giới dài 193 km Độ cao trung bình 400-800m, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442m so với mực nước biển
Đắk Lắk có địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc: Nằm ở phía Tây và cuối dãy Trương Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm Riêng vùng phía Đông do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600-1800 mm
Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng rừng lớn nhất nước với nhiều chủng loại
gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phốt pho, than bùn, đá quý… có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô Bên cạnh hệ thống sông suối
Trang 2khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea sô…
Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 13.125 km2, dân số 1.869.322 người, mật
độ dân số 135 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị 462.013 người, chiếm 24,7%, dân số sống tại nông thôn 1.407.309 người, chiếm 75,3%, dân số nam 942.578 người, nữ đạt 926.744 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 0,75 ‰ Có 13 Tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người Trong đó, Công giáo với 265.760 người, Tin lành với 181.670 người, Phật giáo với 126.660, Cao đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác Có 49 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc kinh với 1.161.533 người, Êđê 298.534 người, Nùng 71.461 người, Tày 51.285 người Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông 40.344 người, Mông 22.760 người, Thái 17.135 người, Mường 15.510 người
Kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản, tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái Đánh giá về việc thực hiện Nghị quyết năm 2020 đề ra 18 chỉ tiêu chủ yếu, có 14 chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt kế hoạch Trong đó, có một số chỉ tiêu đạt kết quả nổi bật so với năm 2019 như: Huy động vốn đầu tư toàn xã hội được 42.141 tỷ đồng, đạt 100,34% KH
(tăng 24,95%) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 83.500
tỷ đồng, đạt 101,03% KH (tăng 11,26%) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 8.625 tỷ đồng, đạt 101,71% KH (tăng 16,51%) Có 1.425 doanh nghiệp đăng ký mới, đạt 115,85% KH, (tăng 21,07%); có 10.374 doanh nghiệp đang hoạt động, đạt
100% KH Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,36%, đạt 100% KH Tỷ lệ trường học đạt chuẩn
quốc gia đạt 100,42% KH (tăng 1,91%) 61/152 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng 40,1% (đạt 100% KH) Tỷ lệ che phủ rừng 38,74%, đạt 100% KH…
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong từng lĩnh vực vẫn còn tồn tại, hạn chế: Do tác động của dịch bệnh Covid-19, nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế của tỉnh bị tác động tiêu cực Một số nhà máy sản xuất công nghiệp tạm thời bị gián đoạn, sản lượng tồn kho lớn và giảm lao động tạm thời Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của tỉnh giảm cả lượng và giá trị so với năm 2019 Doanh thu từ du
lịch đạt 625 tỷ đồng, bằng 46,99% KH (giảm 40,52% so với năm 2019), điều này
Trang 3phần nào làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong năm 2020 Tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu đề ra Công tác cải cách hành chính tuy đã có nhiều chuyển biến, nhưng chưa tạo được thói quen thực hiện thủ tục hành chính cấp độ 3, cấp độ 4 trong một số bộ phận dân cư Tai nạn giao thông giảm về số vụ và số người bị thương nhưng số người chết tăng so với cùng
kỳ năm trước…
Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi chọn đề tài: “Dân số và Đặc điểm kinh tế các dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk” làm tiểu luận của mình.
2 Mục đích, yêu cầu
Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu điều kiện phát triển kinh tế xã hội, phân
bổ dân cứ của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk
Tìm hiểu xác định rõ nguyên nhân kết quả đạt được, những hạn chế còn vướng mắc Từ đó rút ra kinh nghiệm, giải pháp, đề xuất, kiến nghị trong việc phẩn
bổ dân cư và phát triển kinh tế các dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk
3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện, tôi đã sử dụng phương pháp khái quát, tổng hợp, phân tích làm căn cứ đánh giá, nhận xét, giải quyết nội dung
mà đề tài đặt ra
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG VỀ DÂN SỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH ĐẮK LẮK
1 Về dân số và nguồn lao động
1.1 Dân cư và phân bố dân cư
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, nằm ở khu vực trung tâm có diện tích tự nhiên là 13.125 km2, chiếm khoảng 24% diện tích của vùng Tây
Nguyên Toàn tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính (13 huyện, 01 thị xã và 01 thành
phố); 184 xã, phường, thị trấn; 2478 thôn, buôn, tổ dân phố trong đó có 608 buôn
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Dân số toàn tỉnh 1.869.322 người, mật độ dân số
135 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị 462.013 người, chiếm 24,7%, dân số sống tại nông thôn 1.407.309 người, chiếm 75,3%, dân số nam 942.578 người, nữ đạt 926.744 người Có 52 xã khu vực I, 87 xã khu vực II, 45 xã khu vực
III; có 46 xã đặc biệt khó khăn (01 xã biên giới) và 231 thôn, buôn đặc biệt khó
khăn được đầu tư chương trình 135 giai đoạn 2017-2020 Có 446.297 hộ dân,
57.180 hộ nghèo, chiếm 12,81% (trong đó có 37.067 hộ nghèo người dân tộc thiểu
số, chiếm tỷ lệ 6,836%), số hộ cận nghèo 43.376 hộ, chiếm 9,72% Dân số tỉnh
phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk…
Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân
di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là
di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái Với đặc điểm có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Êđê, M'nông, Gia Rai… với những lễ hội cồng chiêng, đua thuyền, đua voi; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các
Trang 5nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk
1.2 Nguồn lao động
Số người trong độ tuổi lao động tỉnh Đắk Lắk năm 2020 là 1.127.663 người,
(chiếm 60,15%) Lao động tham gia làm việc trong các ngành kinh tế có 1.104.867
người, trong đó lao động trong ngành nông lâm nghiệp, thủy sản là 714.618 người
(chiếm 64,68%); Lao động ngành công nghiệp - xây dựng là 111.031 người (chiếm 10,05%); Lao động ngành thương mại, dịch vụ là 279.218 người (chiếm 25,27%).
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu lao động Theo đó, cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm ở ngành nông lâm nghiệp, thủy sản và tăng ở các ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu lao động Năm
2015, lao động nông nghiệp chiếm 67,07% trong cơ cấu lao động toàn tỉnh thì đến năm 2019, lao động nông nghiệp chỉ còn khoảng 64,68% Tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn khá cao, chiếm 2,12% tổng lao động năm 2020 Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng
từ 13,28% năm 2015 lên 15% năm 2020
Để đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra, trước hết cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Tuy nhiên, đến nay toàn tỉnh mới có khoảng 25% dân số tốt nghiệp THPT, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm trên 50%, nhưng lao động có trình độ chuyên môn cao mới tương đương 15%, tập trung phần lớn ở các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ ở khu vực thành phố, thị xã Trong đó 40% lao động là đồng bào dân tộc thiểu số, là nguồn nhân lực khá dồi dào
Mặc dù, cơ cấu lao động của tỉnh chuyển dịch đúng hướng, nhưng tốc độ chuyển dịch còn chậm So với tỉ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản của
cả nước hiện nay thì tỉ trọng lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh còn đang ở mức cao, dẫn tới áp lực về tao việc làm và tăng thu nhập còn lớn, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ngay trong nội bộ
Trang 6Vì vậy, trong thời gian tới cần phải nâng cao và phát triển về chất lượng cũng như
số lượng để bảo đảm nhu cầu về nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
2 Về kinh tế
2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giai đoạn 2015-2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của
Đắk Lắk là 6,38% (theo giá so sánh 2010) Trong đó ngành nông, lâm ngư nghiệp
tăng 4,33%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,40% và thương mại - dịch vụ tăng 6,98% Đây là mức tăng trưởng cao của khu vực phi nông nghiệp, đây là yếu tố quyết định tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực trong giai đoạn này
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nói trên, cơ cấu kinh tế của tỉnh Đắk Lắk đã từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp, đồng thời giảm tỷ trọng của ngành nông, lâm ngư, nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tuy nhiên mức độ chuyển dịch còn chưa cao Cụ thể, đến năm 2020 cơ cấu kinh tế
ngành nông lâm nghiệp của Đắk Lắk giảm còn 32,75% so với năm 2015 (42,58%), ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên 15% so với năm 2015 (12,31%), ngành thương mại và dịch vụ tăng lên 47,33% so với năm 2015 (40,79%), thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,81%/năm so với năm 2015 (4,32%).
2.2 Các ngành kinh tế
2.2.1 Ngành nông lâm ngư nghiệp
Sản xuất nông, lâm nghiệp có bước phát triển khá, giữ vai trò quan trọng và chủ yếu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị của địa phương Quy mô, năng lực và giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước Năm
2015 giá trị sản xuất đạt 57.377 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là nông nghiệp với
56.201 tỷ đồng chiếm (97,95%), đến năm 2020, giá trị sản xuất của nông lâm ngư
nghiệp đạt 64.369 tỷ đồng, trong đó sản xuất nông nghiệp chiếm 96,73% giá trị toàn ngành nông, lâm, thuỷ sản
Xét sự tăng trưởng của các lĩnh vực sản xuất trong nội bộ ngành, trong giai đoạn 2015-2020 theo giá hiện hành cho thấy: Sản xuất nông nghiệp tăng 0,51%,
thủy sản tăng 8,05% (trong đó nuôi trồng tăng 17,09%, khai thác tăng 23,80%),
riêng ngành Lâm nghiệp tăng cao 20,47% Trong lĩnh vực sản xuất nông lâm
Trang 7nghiệp, thủy sản của tỉnh thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm vị trí ngành chủ đạo với tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành
2.2.2 Ngành công nghiệp
Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch tích cực, đã tạo được sự thay đổi trong cơ cấu nội bộ ngành theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác và nâng cao năng lực cạnh tranh, tích cực
mở rộng thị trường; hoạt động, đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong các năm qua khá ổn định; Các sản phẩm chế biến nông sản có sản lượng, giá trị lớn như: Cà phê, đường mía, tinh bột sắn ngày càng phát triển do nguồn nguyên liệu ổn định; chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh được nâng cao, cơ bản đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
Tính đến hết năm 2019 toàn tỉnh Đắk Lắk có hơn 5.400 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó khoảng 98% là doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn dao động từ 01-200 tỷ đồng Các doanh nghiệp lớn chiếm tỷ lệ rất ít và hầu hết tập trung tại thành phố Buôn Ma Thuột như: Công ty TNHH Cà phê Trung Nguyên, nhà máy bia Sài Gòn - chi nhánh miền Trung Tây Nguyên, công ty TNHH MTV Cao Su Đắk Lắk, Tập đoàn gỗ Trường Thành có thị trường tiêu thụ mạnh trong
và ngoài nước, những doanh nghiệp này tích lũy được kinh nghiệm và kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế khá hoàn thiện
Công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp: Hiện có khoảng 300 cơ sở chế tạo máy nông nghiệp trên toàn tỉnh, chủ yếu là chế tạo các thiết bị xát vỏ cà phê quả khô và tươi, chế biến cà phê tươi quy mô nông hộ; bơm tưới cơ, bơm điện, bơm hỏa tiễn; thiết bị chế biến nông sản như lúa, ngô, sắn Toàn tỉnh có khoảng 1.361
cơ sở sản xuất công nghiệp - TTCN, chủ yếu hoat động dưới hình thức hộ cá thể gồm: Khai thác đá, sản phẩm gỗ và lâm sản, sản phẩm từ kim loại, dệt may, phân
vi sinh
2.2.3 Ngành thương mại - dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ của tỉnh Đắk Lắk tăng từ 53.490 tỷ đồng năm 2015 lên 78.509 tỷ đồng năm 2019, trong giai đoạn 2015-2019 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 10,07%/năm Hoạt
Trang 8động thương mại, dịch vụ đã cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân trong tỉnh
Xuất nhập khẩu: Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tăng từ 500 triệu USD năm
2015 lên 620 triệu USD năm 2019, bình quân giai đoạn 2015-2019 tăng
5,53%/năm, các sản phẩm chủ yếu là cà phê nhân, tinh bột sắn, ong mật (trong đó
sản lượng xuất khẩu cà phê nhân chiếm 59,04%, tinh bột sắn chiếm 33,37%, ong mật chiếm 2,05,) Kim ngạch nhập khẩu của tỉnh tăng từ 07 triệu USD năm 2010
lên 85 triệu USD năm 2019, bình quân trong giai đoạn 2015-2019 tăng 86,67%/năm, chủ yếu là nhập khẩu phân bón và máy móc trang thiết bị
Toàn tỉnh có 148 chợ được xếp hạng, trong đó có 02 chợ hạng Một (chiếm
1,35%), 15 chợ hạng Hai (chiếm 10,13%), 131 chợ hạng Ba (chiếm 88,52%).
Ngoài ra trên toàn tỉnh có 08 siêu thị, trung tâm thương mại, tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Buôn Ma Thuột và các trung tâm huyện, thị xã, ngoài ra Đắk Lắk còn có Chợ đầu mối Tân Hòa là một trong những trung tâm lớn về giao thương nông sản của các tỉnh Tây Nguyên, có chức năng thu mua nông sản, tạo thuận lợi cho thương mại các sản phẩm nông sản của tỉnh, kết nối sản phẩm của địa phương với vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ Cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống, lưu thông hàng hóa, nhất là các sản phẩm nông, lâm, thủy sản và các mặt hàng phục vụ cho sản xuất nông lâm ngư
Hệ thống tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 48 đơn vị, trong
đó 34 chi nhánh cấp I ngân hàng thương mại, 02 chi nhánh Ngân hàng Chính sách
và 12 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với 216 điểm giao dịch ngân hàng, hình thành mạng lưới các tổ chức tín dụng rộng khắp các huyện, thị xã, thành phố để cung ứng vốn cho người sản xuất
Riêng đối với các chương trình, chính sách tín dụng cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 53.985 tỷ đồng, chiếm 56% tổng dư nợ với hơn 400.000 khách hàng còn dư nợ; Cho vay một số lĩnh vực như cà phê đạt 21.092 tỷ đồng, chiếm 21,9% tổng dư nợ; cho vay hồ tiêu đạt 3.453 tỷ đồng với 19.444 khách hàng còn dự nợ; cho vay tiêu dùng đạt 18.610 tỷ đồng, chiếm 19,3% tổng dư nợ với gần 90.200 khách hàng còn dư nợ Việc tạo ra thị trường vốn tín dụng như trên giúp cho hệ
Trang 9thống tài chính tín dụng tham gia trực tiếp vào nông nghiệp, gắn thị trường vốn tín dụng với thị trường tiêu thụ nông sản Ngân hàng và tổ chức tín dụng trở thành nhà đầu tư vào nông nghiệp, cùng chia sẻ lợi ch và rủi ro Góp phần hỗ trợ ổn định đời sống dân cư và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp nhất là các ngành nghề nông thôn tại địa phương
3 Về cơ sở hạ tầng thiết yếu
3.1 Về giao thông
Hiện nay, hệ thống giao thông của tỉnh tương đối kiện toàn, nhất là hệ thống mạng lưới giao thông nông thôn đã được phân bổ hợp lý, có những tuyến nối với đường quốc gia, đường tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, luân chuyển hàng hóa, đặc biệt là lưu thông hàng hoá, hạ tầng các khu vực làng nghề, ngành nghề nông thôn
Là tỉnh có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng nối liền với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung với chiều dài 7.083 km đường
bộ các loại, tuy nhiên mật độ giao thông chưa cao, chất lượng còn thấp, tỷ lệ đường cấp phối và đường đất còn lớn vào mùa mưa lũ, giao thông đi lại khó khăn ở những vùng xa xôi hẻo lánh của một số huyện như Ea Sup, Krông Ana, Lắk
Chất lượng đường bộ: Quốc lộ 14, 26, 27, có tổng chiều dài 763 km, trong
đó đường được nhựa hóa 468 km, chiếm 66,76%; Tỉnh lộ có 11 tuyến, có tổng chiều dài trên 352km, chủ yếu là đường cấp 4 miền núi, tỷ lệ nhựa hóa đạt 96,01%; Đường huyện có tổng chiều dài 806 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 88%, còn lại là đường đất và cấp phối; Đường trục xã, đường lên thôn, đường ngõ xóm, đường giao thông nội đồng dài 6.342 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 60,7% trong đó đường trung tâm cụm xã
và xã đã được nhựa hóa toàn phần Đường mặt cấp phối đá dặm 2.302 km bằng 36,2%, còn lại là đường đất tự nhiên
3.2 Về thủy lợi
Hiện nay có 782 công trình thủy lợi (118 đập dâng, 57 trạm bơm và 607 hồ
chứa nước với tổng dung tích hồ chứa khoảng 650 triệu m 3 ) chưa bao gồm các
công trình có diện tích tưới không đáng kể; kiên cố hóa kênh mương các loại được
642,4 km/1.782,6 km (kênh chính 396,3 km, kênh nhánh 246,1 km).
Trang 10Các công trinh thủy lợi đang tưới với tổng diện tích khoảng 230 nghìn ha, trong đó lúa Đông Xuân 30 nghìn ha, lúa vụ Mùa 53,4 nghìn ha, cà phê 132,3 nghìn ha, hoa màu và cây khác 14,6 nghìn ha và đáp ứng được gần 80,5% diện tích cây trồng có nhu cầu nước tưới Tuy nhiên, nguồn nước từ công trinh thủy lợi phục
vụ tưới cho hoa màu và các loại cây trồng khác còn ở mức thấp
3.3 Về hệ thống lưới điện
Có 635 trạm biến áp với tổng dung lượng 74.169 KVA Đắk Lắk được cấp điện chủ yếu từ các nguồn: Trạm 220/110/22 KV Krông Buk; trạm 110 KV Buôn
Ma Thuột; nguồn thủy điện Dray H’Linh tổng công suất lắp đạt 12.480 KW; nguồn Diesel Eatam gồm 14 tổ máy, tổng công suất lắp đạt 8.060 KW Tổng công suất lắp đặt các loại nguồn điện trên địa bàn tỉnh đạt 64.563 KW, công suất thường xuyên có thể huy động đạt 60.500 KW
Hệ thống lưới điện tỉnh bao gồm các cấp điện áp 220, 110, 35, 22, 15, 10
KV dài trên 1.516 km Lưới điện quốc gia đã kéo tới 15/15 huyện, thị xã, thành phố; 100% số xã, phường có điện lưới quốc gia Tỷ lệ số hộ dùng điện trên địa bàn tỉnh đến 2019 đạt 99,8%
4 Mức sống, thu nhập người dân tộc thiểu số
4.1 Mức sống
Người dân tộc thiểu số vốn có thói quen trồng trọt và chăn nuôi, hoạt động trồng trọt của người dân tộc thiểu số chủ yếu là lúa, cây ăn trái, rau màu, trồng rừng và cây công nghiệp, do địa hình chủ yếu là đồi núi cao, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu nước tưới, người dân tộc thiểu số phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước tự nhiên, trong nhiều năm gần đây nhiều hộ dân đã chuyển dần sang trồng các cây ăn trái và cây công nghiệp có nhu cầu về nước tưới ít hơn Chỉ những vùng mà hệ thống thủy lợi đảm bảo nước tưới cho người dân thì họ trồng lúa và rau màu Tuy nhiên thu nhập từ cây lúa hiện nay là tương đối thấp không đảm bảo được hết nhu cầu sống tối thiểu của người dân cho nên nguồn thu nhập chính của người dân tộc thiểu số tại đây vẫn từ các cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như
cà phê, hồ tiêu