1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “phủ định của phủ định để giải thích về sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội

15 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 291,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào những tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx – Lenin và thực tiễn lịch sử loài người, chúng ta có thể xác định hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa

Trang 1

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TRIẾT HỌC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Họ và tên: Nguyễn Văn Phong MSSV: 452547 Câu 6: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “phủ định của phủ định” để giải thích về sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

I) Khái quát về quy luật phủ định của phủ định

1 Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng

2 Nội dung của quy luật phủ định của phủ định

3 Ý nghĩa phương pháp luận

II) Lí giải sự vận động và phát triển của các loại hình thái

kinh tế – xã hội bằng phương pháp luận của quy luật

“phủ định của phủ định”

1 Khái niệm và kết cấu hình thái kinh tế - xã hội

2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định lí giải sự phát triển

KẾT LUẬN

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người luôn có sự đi kèm là sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội Căn cứ vào những tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx – Lenin và thực tiễn lịch sử loài người, chúng ta có thể xác định hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vât lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ xã hội đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên Hình thái kinh tế – xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt của hình thái kinh tế – xã hội tác động qua lại với nhau tạo nên các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Một trong các quy luật đó là quy luật phủ định của phủ định

Vì vậy, em đã chọn đề tài “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “phủ định của phủ định” để giải thích về sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội” Do có những hạn chế và sai sót khó tránh khỏi trong khi làm bài tập học kì rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện phương pháp học tập và nghiên cứu môn Triết học Marx-Lenin của các thầy các cô

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I) Khái quát về quy luật phủ định của phủ định

1 Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng

Phủ định: thế giới vật chất vận động và phát triển không ngừng; một dạng vật chất

nào đó sinh ra; tồn tại, mất đi được thay thế bằng 1 dạng vật chất khác, triết học gọi

sự thay thế đó là phủ định, là 1 yếu tố phải có trong quá trình vận động và phát triển của vật chất

Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, là mắt

khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ

Phủ định biện chứng có những đặc điểm sau:

- Tính khách quan: những nhà triết học theo quan điểm siêu hình cho rằng phủ định là nguyên nhân bên ngoài đưa lại, xem sự vật hiện tượng là cái bị cô lập, tách rời nhau,phép biện chứng duy vật khẳng định nguyên nhân của phủ định để cái mới ra đời thay thế cái cũ chính là kết quả giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật, vì vậy phủ định có tính khách quan, là yếu tố tất yếu của sự phát triển (ví dụ: CNXH phủ định chủ nghĩa tư bản chính là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản, vốn có, khách quan trong lòng xã hội tư bản, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất)

Trang 4

- Tính kế thừa: những nhà triết học theo quan điểm siêu hình, coi phủ định là xóa bỏ hoàn toàn cái cũ, chấm dứt sự liên hệ,sự vận động và sự phát triển của bản thân sự vật; còn quan điểm của những nhà triết học biện chứng duy vật thì phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển để tạo cái mới, ko thể là 1 sự phủ định tuyệt đối, PĐ sạch trơn mà là sự PĐ có kế thừa, cái mới ra đời trên cơ sở chọn lọc giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp của cái cũ, nó chỉ gạt bỏ đi những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phất triển( ví dụ: sự duy truyền của sinh vật; các hình thái kinh tế xã hội, trong xã hội loài người trong tư duy nhận thức của con người)

2 Nội dung quy luật phủ định của phủ định

Thế giới vận động ko ngừng thông qua quá trình phủ định của phủ định; tức là sự vật

mới ra đồi như là kết quả của sự phủ định biện chứng cái cũ, rồi đến lược nó bị cái mới hơn phủ định, cứ thế tạo ra khuynh hướng vận động và phát triển của sự vật từ thấp đến cao 1 cách vô tận theo hình xoắn ốc; sau mỗi chu kỳ của sự phát triển, sự vật lại trở lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở mới, cao hơn

Sự phát triển theo khuynh hướng phủ định của phủ đinh đã từng được các nhà biện

chứng tự phát nêu ra, song do chưa nhận thức sâu sắc tính biện chứng của quá trình phát triển nên đã tuyệt đối hóa tính ;lặp lại sau 1 chu kỳ phát triển, coi đó như là 1 quá trình diễn ra theo vòng tròn khép kín

Những nhà triết học duy vật biện chứng thì cho rằng sự vận động diễn ra theo nhiều

xu hướng, tính vô cùng vô tận của thế giới vật chất cũng được biểu hiện trong tính vô cùng vô tận của các khuynh hướng vận động; theo đó sự vận động theo vòng tròn khép kín chỉ là 1 trong những khuynh hướng có thể, đó ko phải là khuynh hướng duy nhất

Sự phát triển biện chứng thông qua nhiều lần phủ định biện chứng, chính là sự thống nhất loại bỏ, kế thừa và phát triển; mỗi lần phủ định biện chứng sẽ mang ;lại những nhân tố tích cực mới; do đó sự phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên ko ngừng; sự phát triển tiến lên ko ngừng đó, ko phái diển ra theo đường thẳng mà theo đường xoắn ốc, mỗi vòn xoáy biểu hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển

Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển do mâu thuẩn; mỗi lần phủ

định là kết quả đấu tranh chuyển hóa các mặt đối lập trong bản thân sự vật, sự phủ định lần thứ nhất được thực hiện một cách căn bản sẽ làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình; lần phủ định tiêp theo dẫn đến sự ra đời của sự vật mới mang nhiều đặc trưng đối lập với cái trung gian, như vậy về hình thức sẽ trở lại cái xuất phát

Trang 5

nhưng về thực chất ko phải giống nguyên cái cũ, mà dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn

Số lượng các lần phủ định trong 1 chu kỳ phát triển cụ thể, trong thực tế có thể nhiều hơn hay tùy theo tính chất của 1 quá trình phát triển cụ thể (ví dụ: hạt lúa: 2, tơ tằm: 4)

3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định

Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu biết 1 cách đúng đắn về xu hướng của

sự phát triển và được diển ra trong quá trình quanh co, phức tạp, đặc biệt là trong lĩnh vực đời sống xã hội

Quy luật phủ định của phủ định giúp ta có cái nhìn về xu thế của thời đại mà ta đang

sống, mặc dù hệ thống XHCN đã tan rã, qua đó xây dựng niềm tin tất thắng của CNXH đối với CNTB

Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu biết đầy đủ hơn về cái mới, cái mới là

cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật, nó luôn biểu hiện là giai đoạn cao về chất trong sự phát triển, trong lĩnh vực tự nhiên cái mới ra đời mang tính tự phát, trong lĩnh vực xã hội cái mới xuất hiện gắn liền với sự nhận thức và hoạt động

có ý thức của con người, qua đó xây dựng thái độ ủng hộ cái mới, đấu tranh loại trừ cái cũ trong đời sống xã hội

II) Lí giải sự vận động và phát triển của các loại hình thái kinh tế – xã hội bằng

phương pháp luận của quy luật

1 Khái niệm và kết cấu hình thái kinh tế - xã hội

1.1 Khái niệm

Căn cứ vào những tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx – Lenin và thực tiễn lịch sử loài người, chúng ta có thể xác định hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vât lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ xã hội đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy

1.2 Sự phát triển

Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên Hình thái kinh tế – xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt của hình thái kinh tế – xã hội

Trang 6

tác động qua lại với nhau tạo nên các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà hình thái kinh tế xã hội tuy

là phạm trù xã hội nhưng lại có khuynh hướng phát triển như một quy luật tự nhiên,

nó vận động phát triển từ thấp đến cao Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội nối tiếp nhau Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội, C.Marx đã đi đến kết luận rằng: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên.”

Lịch sử xã hội do con người làm ra, con người tạo ra các quan hệ xã hội của mình và

đó là xã hội Nhưng sự vận động của xã hội lại tuân theo quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người mà nguồn gốc sâu xa của sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế – xã hội:

 Sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo nên sự thay đổi của quan hệ sản xuất

 Sự thay đổi của quan hệ sản xuất (với tư cách là cơ sở hạ tầng) sẽ khiến kiến trúc thượng tầng thay đổi

Do vậy, từ những yếu tố cấu trúc của mỗi một hình thái kinh tế – xã hội thay đổi dẫn đến hình thái kinh tế – xã hội này được thay thế bằng hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn Sự thay thế nhau như vậy giữa các hình thái kinh tế – xã hội là con đường phát triển chung của nhân loại

1.3 Các loại hình thái

Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, trong lịch sử loài người đã và sẽ tuần tự xuất hiện 05 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao, lần lượt là:

 Hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy);

 Hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ;

 Hình thái kinh tế – xã hội phong kiến;

 Hình thái kinh tế – xã hội chủ nghĩa tư bản;

 Hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa

2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định lí giải sự phát triển

2.1 Lí giải sự vận động phát triển của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy

Hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế – xã hội đầu tiên

và sơ khai nhất trong lịch sử loài người có các đặc trưng tiêu biểu: tư liệu lao động thô

sơ, chủ yếu sử dụng đồ đá, thân cây làm công cụ lao động; cơ sở kinh tế là sự sở hữu

Trang 7

chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động; quan hệ sản xuất là quan hệ bình đẳng, cùng làm cùng hưởng và là xã hội không có giai cấp; không có nhà nước và pháp luật

Theo quy luật phủ định của phủ định, hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên

thủy trước hết tồn tại dưới hình thức khẳng định Theo quan điểm của chủ nghĩa

Marx – Lenin, chế độ cộng sản nguyên thủy là thời kì chưa có nhà nước Khi mới thoát thai khỏi động vật, con người tụ tập thành từng bầy gọi là bầy người nguyên thủy Trải qua quá trình phát triển lâu dài, dưới tác động của nhiều yếu tố, con người dần liên kết với nhau theo huyết thống thành các tổ chức thị tộc Đây là các tổ chức gồm những người cùng huyết thống, cùng sinh sống ở một nơi và duy trì chế độ công hữu; tức là sở hữu chung, lao động chung và phân phối bình quân Trong thị tộc không có người giàu, người nghèo mà duy trì mối quan hệ bình đẳng, tự do Quyền lực công cộng trong thị tộc thuộc về toàn thể thị tộc, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng Duy trì trật tự trong thị tộc dựa trên sức mạnh của người đứng đầu và các công

cụ điều chỉnh xã hội khác như phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Nhiều thị tộc có mối quan hệ dòng máu xa gần hợp thành một bộ lạc, mỗi bộ lạc có tên gọi, địa giới riêng Các thành viên của bộ lạc nói cùng một ngôn ngữ, cùng theo một tín ngưỡng và thực hiện những nghi thức tôn giáo riêng Các thức tổ chức quyền lực của bộ lạc tương tự như trong thị tộc nhưng đã bước đầu thể hiện sự tập trung cao hơn

Tuy nhiên, hình thức kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy tồn tại trong một thời kì

lịch sử nhất định rồi dần dần, do nhiều yếu tố, nó đi đến hình thức phủ định của

chính nó là thoái hóa từng bước Theo Ăngghen, có hai nguyên nhân cơ bản làm cho

hình thức kinh tế – xã hội này lỗi thời nhường chỗ cho một hình thức kinh tế – xã hội

tiến bộ hơn đó là nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân xã hội Về kinh tế, sự phát triển

của công cụ lao động làm cho năng suất lao động ngày càng nâng cao, dần dần đủ cho tiêu dùng và có dư thừa làm nảy sinh mầm mống của chế độ tư hữu Đồng thời, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn đến cuộc phân công lao động trên quy mô lớn, chăn nuôi, thủ công nghiệp, thương nghiệp dần tách khỏi trồng trọt, trở thành ngành kinh tế độc lập Khi sản xuất được chuyên môn hóa thì chế độ tư hữu càng có điều kiện củng cố hơn trước Như vậy, công cụ lao động phát triển khiến cho sản xuất tiến hành riêng mà không cần cả cộng đồng và tư liệu sản xuất của cộng đồng dần

được định kì chia nhỏ để tiến hành sản xuất riêng theo mỗi gia đình Về xã hội, khi

sản xuất được tiến hành riêng với năng suất lao động và thời gian lao động khác nhau,

có những người sản xuất được nhiều của cải và trở nên giàu có, có những người lại trở nên nghèo khiến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ ràng Việc định kì chia lại tư liệu sản xuất vì vậy mà thưa dần và cuối cùng mất hẳn Tư hiệu sản xuất của cả cộng đồng dần thuộc về sở hữu riêng của các gia đình và họ có thể buôn bán, trao đổi hoặc

cho con cháu thừa kế Vì hai lí do này, nhu cầu sức lao động ngày càng tăng và sự

Trang 8

tương trợ giữa các gia đình mất dần, thay vào đó là xung đột giữ các thị tộc và cho vay nặng lãi, cầm cố tài sản…Tất cả những yếu tố này khiến xã hội thị tộc dần phân hóa thành các tầng lớp khác nhau là quý tộc và người nghèo, dẫn đến quan hệ huyết tộc trở nên lỏng lẻo, không còn sự ràng buộc những người cùng huyết thống phải làm

ăn sinh sống một nơi Điều đó dẫn đến lãnh thổ của một thị tộc, bộ lạc nay đã có những người của thị tộc, bộ lạc khác cùng làm ăn sinh sống, mất đi chế độ tiên quyết của chế độ thị tộc và khiến hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy thoái hóa

2.2 Lí giải sự vận động phát triển của hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ

Khi chế độ thị tộc tồn tại trong công xã nguyên thủy tan rã và hình thành nên xã hội

có Nhà nước, và cuộc cách mạng xã hội đầu tiên trong lịch sử loài người đã hình thành nên hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ Đặc trưng của hình thái này là

đã thay thế chế độ công hữu về từ liệu sản xuất sang chế độ tư hữu chủ nô, thay thế xã hội không có giai cấp thành xã hội có giai cấp đối kháng (chủ nô – nô lệ), thay thế chế

độ tự quản thị tộc bằng trật tự có nhà nước của giai cấp chủ nô Giai cấp chủ nô dùng

bộ máy cai trị của mình bóc lột tàn nhẫn sức lao động của nô lệ, nô lệ trong xã hội này được coi như một công cụ lao động biết nói Hình thái này cũng tạo ra kiểu nhà nước đầu tiên: Nhà nước chủ nô

Theo quy luật phủ định của phủ định, hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ

trước hết tồn tại dưới hình thức khẳng định, tức phủ định cũa hình thái kinh tế –

xã hội trước Về kinh tế, là chủ nô là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai và các

tư liệu sản xuất khác đều thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô, kể cả nô lệ Về xã hội,

trong nhà nước có các giai cấp đối kháng là chủ nô và nô lệ Xã hội chiếm hữu nô lệ chia thành ba giai cấp chính: Thứ nhất, giai cấp chủ nô, quý tộc là giai cấp thống trị

áp bức bóc lột vì chúng chiếm giữ được tư liệu sản xuất Thứ hai, giai cấp nông dân công xã nông thôn và tầng lớp thị dân thành thị, ở Hy Lạp, La Mã tầng lớp này được gọi là bình dân Nông dân và, thị dân có tài sản, có gia đình riêng nhưng bị nhà nước chủ nô bóc lột, khi phá sản có thể rơi xuống địa vị nô lệ Thứ ba, giai cấp nô lệ, nguồn chủ yếu từ các bộ lạc bại trận trong chiến tranh, không cùng huyết thống với giai cấp chủ nô, bị kẻ chiến thắng tước đoạt tài sản, ruộng đất, còn bản thân bị biến thành nô

lệ Theo pháp luật của nhà nước chủ nô, nô lệ không phải là con người, chỉ là tài sản đặc biệt của chủ nô, tài sản biết nói Chủ nô có thể giết, đánh đập đến tàn phế hoặc đem nô lệ ra chợ mua bán, đổi chác Ngoài phân chia xã hội thành giai cấp, kẻ thống trị còn phân chia xã hội thành các đẳng cấp Giai cấp chủ nô thuộc đẳng cấp quý tộc cao quý, nông dân thị dân thuộc đẳng cấp dưới, nô lệ chỉ là tài sản của chủ nô nên không không được xếp vào đẳng cấp nào Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, khái niệm nhân

dân không có nô lệ Mối quan hệ sản xuất chủ yếu trong xã hội là quan hệ giữa nhà

nước với thành viên công xã nông thôn Nhà nước là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất

Trang 9

nhưng kẻ trực tiếp chiếm hữu ruộng đất là các công xã nông thôn, công xã thay mặt cho nhà nước sở hữu ruộng đất và chia cho các thành viên trong công xã canh tác nộp thuế cho nhà nước

Tuy nhiên, hình thái kinh thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ cũng xảy ra những sự

kiện mang tính phủ định của chính nó Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô

lệ là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô là dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, nô lệ khởi nghĩa chống lại nhà nựớc và giại cấp chủ nô Khởi nghĩa của Xpáctacút lãnh đạo vào thế kỷ thứ I trước công nguyên đã làm rung chuyển đế quốc La Mã, đẩy chế độ

đó tới không thể cai trị như cũ được nữa Đấu tranh của nô lệ chống chủ nô là một trong những động lực góp phần giải thể chế độ đó để bước sang một hình thái kinh tế – xã hội cao hơn, đó là hình thái kinh tế – xã hội phong kiến Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ không phải bắt buộc đối với tất cả các dân tộc, nhiều dân tộc đã bỏ qua chế độ này, từ công xã nguyên thủy thẳng tiến lên chế độ phong kiến Vì khi công

xã nguyên thủy của quốc gia đó tan rã thì các quốc gia chung quanh đã hình thành và phát triển chế độ phong kiến như lịch sử của Mông Cổ, Nhật Bản, Nga, của các tộc người Giécmanh,…

2.3 Lí giải sự vận động phát triển của hình thái kinh tế – xã hội phong kiến

Giai cấp thống trị mới trong hình thái này là giai cấp quý tộc – địa chủ, giai cấp bị trị

là nông nô Phương pháp bóc lột sức lao động trong xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng hình thức bóc lột địa tô – người nông dân được giao đất đai và canh tác trên thửa ruộng của mình, đến kỳ hạn nộp tô thuế cho địa chủ So với hình thái chiếm hữu

nô lệ, hình thức lao động trong thời kỳ phong kiến đã tiến bộ hơn nhiều, tuy phải nộp

tô thuế nhưng nông dân vẫn có thể được giữ lại phải của cải dư thừa của mình Đồng thời nhiều tầng lớp, giai cấp mới đã xuất hiện trong xã hội

Theo quy luật phủ định của phủ định, hình thái kinh tế – xã hội phong kiến trước hết

tồn tại dưới hình thức khẳng định, tức phủ định cũa hình thái kinh tế – xã hội

trước Về kinh tế là quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sở hữu của địa chủ

phong kiến về ruộng đất và bóc lột nông dân thông qua phát canh, thu tô Hình thái này có một nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc do kết hợp với thủ công nghiệp đóng kín trong các điền trang thái ấp Trong các lãnh địa, trong các làng xã công xã nông thôn Quý tộc phong kiến khi được phân phong ruộng đất đã thành lập nên những điền trang thái ấp (ở châu Á) hoặc lãnh địa (ở Tây Âu), phát canh ruộng đất cho nông dân cư cày cấy và thu tô Ngoài tô cày cấy ruộng đất, người nông dân còn phải đi làm lao dịch (tô lao dịch) và nộp nhiều khoản sưu thuế khác cho quý tộc

phong kiến và cho nhà nước phong kiến Bóc lột địa tô là đặc trưng của chế độ phong

kiến, Karl Marx gọi kiểu bóc lột này là “cưỡng bức siêu kinh tế” Về xã hội, xã hội

phong kiến có kết cấu khá phức tạp, trong đó có hai giai cấp cơ bản là địa chủ phong

Trang 10

kiến và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp khác như thợ thủ công, thị dân,… Giai cấp địa chủ phong kiến được phân thành nhiều đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản,… Nông dân là bộ phận đông đảo nhất nhưng đồng thời cũng là đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất So với hình thái kinh tế

xã hội chiếm hữu nô lệ thì hình thái kinh tế xã hội phong kiến tiến bộ hơn Trước hết, người nông dân được pháp luật nhà nước thừa nhận là con người, họ có gia đình riêng, được tự do về thân thể, có một ít tài sản, ruộng đất Sau khi đã nộp tô cho, chủ đất (50% hoặc nhiều hơn), phần sản phẩm còn lại họ được hưởng Như vậy, về kinh tế người nông dân được hưởng thành quả lao động của mình

Tuy nhiên, hình thái kinh thái kinh tế – xã hội phong kiến cũng có những mâu thuẫn

mang tính phủ định của chính nó Trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa nông

dân với giai cấp quý tộc phong kiến là mâu thuẫn cơ bản Sự vận động của mâu thuẫn này dẫn tới những cuộc khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân rộng lớn Khởi nghĩa nông dân, chiến tranh nông dân làm cho các triều đại rung chuyển tận gốc rễ và sụp đổ, một triều đại mới được thay thế Đấu tranh của nông dân chống phong kiến là động lực phát triển của lịch sử thời kỳ trung đại Tuy nhiên, giai cấp nông dân chỉ có sức đập phá xã hội cũ mà không có khả năng xây dựng được một xã hội mới tiến bộ hơn với xã hội phong kiến, vì họ không đại diện cho Lực lượng sản xuất mới nên không phải là giai cấp lãnh đạo cách mạng Mọi cuộc đấu tranh của nông dân đều thất bại về mục tiêu chính trị Có một vài cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ được triều đại

cũ nhưng lãnh tụ của họ lại bước lên ngai vàng trở thành phong kiến, thiết lập một triều đại mới và lại quay lại áp bức bóc lột nông dân Về sau này giai cấp nông dân chỉ có thể chiến đấu dưới lá cờ của giai cấp tư sản hoặc của giai cấp công nhân mới thực hiện được khát vọng dân chủ và ruộng đất của mình

2.4 Lí giải hình thái kinh tế – xã hội tư bản

Hình thái kinh tế – xã hội tư bản xuất hiện đầu tiên ở châu Âu, phôi thai và phát triển trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức xác lập như một hình thái KTXH đầu tiên ở Anh và Hà Lan vào thế kỷ XVII Adam Smith (1723-1790) là người có đóng góp to lớn nhất xây dựng một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh về chủ nghĩa tư bản tự do hay tự do kinh tế Những nét đặc trưng cơ bản của hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa là:

 Quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ và coi như quyền thiêng liêng của con người

 Cá nhân dùng sở hữu tư nhân để kinh doanh trong điều kiện thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế

Ngày đăng: 04/08/2021, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w